LÊ TRỌNG HƯNGVẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN PHẦN II, III Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG C
Trang 1LÊ TRỌNG HƯNG
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN
LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
-TÀI CHÍNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ĐỒNG THÁP - NĂM 2012
Trang 2LÊ TRỌNG HƯNG
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II, III) Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Viết Quang
ĐỒNG THÁP, 9/2012
Trang 3Luận văn được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Trần Viết Quang, khoa Giáo dục Chính trị, Trường đại học Vinh luôn quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quí thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị trường đại học Vinh đã đóng góp ý kiến, tạo điều kiện thuận lợi để tôi được hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng biết ơn các nhà nghiên cứu, các học giả đã xuất bản những
ấn phẩm có liên quan đến đề tài, làm cơ sở lý luận cho tác giả thực hiện luận văn Xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiều mặt của trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long, Bộ môn Lý luận Chính trị, sinh viên khóa 7 Cao đẳng chính quy và sinh viên hai lớp K7- KTDN 1, K7 – KTDN2, trường Cao đẳng Kinh tế
- Tài chính Vĩnh Long để tôi thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới những người thân trong gia đình, bạn bè, những người luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ về nhiều mặt trong suốt quá trình tôi hoàn thành khóa học.
Đồng Tháp, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Lê Trọng Hưng
Trang 4CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích 5
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Cơ sở lý luận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa của đề tài 7
7 Giả thuyết khoa học 7
8 Bố cục của luận văn 7
B NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II, III) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG 9
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) 9
1.2 Thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III) ở Trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài chính Vĩnh Long 34
Kết luận chương 1 46
Trang 6CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II, III) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH
TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG 48
2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 48
2.2 Nội dung thực nghiệm 49
2.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 81
Kết luận chương 2 85
Chương 3 QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG 86
3.1 Quy trình vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III) 86
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III) ở Trường Cao đẳng Kinh tế -Tài chính Vĩnh Long 100
Kết luận chương 3 108
C KẾT LUẬN 111
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
E NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 122
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên củathông tin và tri thức Thông tin và tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyềnlực tối ưu của mỗi quốc gia Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật
và công nghệ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức củanhân loại cũng như tốc độ ứng dụng vào đời sống xã hội tạo nên sự đa dạngcủa thế giới Tình hình đó đã làm thay đổi những quan niệm về giáo dục.Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc giatiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thểđong đếm được Giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinhnghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang
bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực nội sinh,phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên,học tập suốt đời Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cảicách, đổi mới giáo dục (GD) là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách,trong đó, đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) là khâu then chốt nhấttrong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới GD
Nhận thức được việc đổi mới PP giảng dạy và học tập là một trongnhững vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng như Bộgiáo dục và đào tạo đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổimới PP dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học “Đổi mới phương pháp dạy vàhọc, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực đào tạo của người học, coi trọngthực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét họcvẹt, học chay” Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2005 (điều 5 khoản 2) đã ghi: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho ngườihọc năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn
Trang 8lên” Bộ giáo dục và đào tạo cũng có thông báo số: 4157/TB-BGDĐT, kếtluận của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Nguyễn Thiện Nhân tại Hội thảoGiảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học, Cao đẳng”, nhằm tích cực hoáhoạt động học tập, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và năng lực tựhọc, tự nghiên cứu của người học Nhà giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc tổchức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn người học giữ vai trò chủđộng trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học”.
Trong những năm qua, việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác – Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượnggiảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin theođúng tính chất của một môn học
Cùng với nhiều trường Đại học, Cao đẳng trong nước, Trường Caođẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long rất chú trọng việc đổi mới phương phápgiảng dạy Giáo viên Bộ môn Mác – Lênin đã tham gia những khóa bồidưỡng về chuyên môn nghiệp vụ do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức, các lớphọc về nghiệp vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, hội thi giáo viên giỏi,v.v Tuy nhiên, phần lớn các giảng viên chủ yếu giảng dạy theo phương phápthuyết trình truyền thống, mà chưa vận dụng các phương pháp dạy học tíchcực, do đó, chưa phát huy được tính tích cực của sinh viên trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức
Xuất phát từ thực tế nói trên và từ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp
giảng dạy, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin (phần II, III) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long” làm đề tài
luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 9Liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ trước đến nay có rất nhiều nhàkhoa học trong và ngoài nước bàn tới dưới nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà tư tưởng thời cổ đại như Khổng Tử, Socrate hay các tư tưởngthời Phục hưng như Jean Jacqes Rouseau, S.Mong-te-xki-ơ đã bàn nhiềuđến vấn đề giáo dục, đặc biệt là vấn đề phát huy tính tích cực, sáng tạo củangười học
Và vấn đề đổi mới PPDH theo hướng vận dụng các PPDH tích cực vàoquá trình dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực,sáng tạo của người học cũng đã và đang được các nhà nghiên cứu, các nhàquản lý giáo dục trên thế giới và Việt Nam bàn đến, đặc biệt là trong nhữngnăm gần đây
- Liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng cácphương pháp dạy học tích cực đã có một số công trình tiêu biểu như: Luậnvăn thạc sĩ của Trần Thị Hồng“Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trongdạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 ở trường Trung học phổ thông ĐôngSơn I, tỉnh Thanh Hoá” (2006); Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Minh: “Kếthợp phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học tích cực đểnâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 - phần thứ nhất(Qua thực tế các trường Trung học phổ thông Hải Phòng) (2007); Luận vănThạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Ngân: “Vận dụng các phương pháp dạy học tíchcực trong phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương phápluận khoa học” ở trường Trung học phổ thông hiện nay” (Qua thực tế một sốtrường Trung học phổ thông tỉnh Nghệ An) (2008); Luận văn Thạc sĩ củaNguyễn Thị Thảo: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạyhọc phần “Công dân với đạo đức” chương trình Giáo dục công dân lớp 10nhằm nâng cao nhận thức của học sinh Trung học phổ thông về các giá trị đạođức truyền thống của dân tộc” (Qua khảo sát một số trường Trung học phổthông thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa)
Trang 10Nhóm công trình này đã chỉ ra được quan niệm về PPDH tích cực, cácPPDH tích cực cụ thể, những đặc trưng của các PPDH tích cực và đưa ra cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu vận dụng các PPDH tích cực Các công trình đãđưa ra được một số quy trình và điều kiện vận dụng các PPDH tích cực vàomột số bài cụ thể trong chương trình GDCD lớp 10 Tuy nhiên, đây là những
đề tài nghiên cứu và áp dụng trong chương trình GDCD bậc THPT Chưa đưa
ra được những quy trình và giải pháp vận dụng các PPDH tích cực trongQTDH môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin (phần II) trình
độ Cao đẳng
- Nhóm các bài viết đăng trên báo và các tạp chí có liên quan đến vấn
đề này gồm có: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng
dạy học phần “Lý luận dạy học địa lý” nhằm phát huy năng lực tự học, tự
nghiên cứu cho sinh viên sư phạm địa lí của tác giả Đậu Thị Hòa, Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục, số 3/2006; Sổ tay Phương pháp giảng dạy và đánh giá,
Trường Đại học Nha Trang, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà
Nẵng, số 2 (25)/ - 2008; Nâng cao hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm
trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin của
tác giả Nguyễn Trung Hiếu, Tạp chí Giáo dục, số 6 – 2009
Các công trình nêu trên đều khẳng định vai trò của phương pháp thảoluận nhóm là phương pháp tích cực, sáng tạo của người học và tìm kiếm cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp này trong dạy học
- Đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy các môn Lý luậnchính trị trong các trường đại học và cao đẳng có các bài viết, các công trình
nghiên cứu như: Phùng Văn Bộ, Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và
nghiên cứu triết học, Nxb Giáo dục, 2001; Lê Hữu Ái: “Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các môn Mác- lênin ở các trường Đại học”, Tạp chí
Nghiên cứu lý luận, số 1/2000; PGS.TS Đoàn Minh Duệ: “Hướng tới việc
dạy học môn triết học có hiệu quả hơn, Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới
Trang 11phương pháp giảng dạy học tập môn triết học Mác- Lênin trong các trường Đại học toàn quốc”, Hà Nội, tháng 12/2002.
TS Trần Viết Quang: “Bồi dưỡng thế giới quan và phương pháp luận
khoa học cho sinh viên thông qua việc giảng dạy triết học Mác- Lênin”, Đề
tài KHCN cấp Bộ/2000; “Hướng tới việc dạy, học môn triết học có hiệu quả
hơn” Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy học tập
môn triết học Mác- Lênin trong các trường Đại học toàn quốc, Hà nội, 12/2002
Các công trình nêu trên đều đề cập đến vấn đề đổi mới phương phápgiảng dạy theo hướng phát huy tích tích cực của sinh viên ở các trường đạihọc
Như vậy, các công trình, các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnhkhác nhau của việc đổi mới PPDH theo hướng vận dụng các PPDH tích cựcvào quá trình dạy học cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, cho đến thờiđiểm hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu mộtcách có hệ thống và cụ thể về việc vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạymôn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin (phần II) nhằm pháthuy tính tích cực của sinh viên thì chưa có công trình nào nghiên cứu mộtcách có hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ tính tất yếu của việc vận dụng các PPDH tích cựctrong giảng dạy và từ thực nghiệm sư phạm, luận văn đưa ra quy trình và giảipháp vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) ở Trường Cao Đẳng Kinh tế - Tàichính Vĩnh Long
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên thì luận văn có các nhiệm vụ sau:
Trang 12- Làm rõ sự cần thiết vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy môn
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III).
- Khảo sát, đánh giá thực trạng vận dụng các PPDH tích cực trong
giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II,
III) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long
- Tiến hành thực hiện các giáo án thực nghiệm dạy học một số chương
trong môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III)
ở trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long
- Xây dựng quy trình và đề ra giải pháp vận dụng các PPDH tích cực
trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần
II, III).
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc dạy học trên lớp, với phương pháp thảo luậnnhóm, phương pháp đàm thoại (vấn đáp), phương pháp nêu vấn trong giảng
dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III).
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng một số PPDH tích cực trong
giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần
II,III) ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam về giáo dục; nội dung, chương trình môn học Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác- Lênin (phần II, III) dùng cho sinh viên khối không
chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trình độ Đại học, Cao đẳng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp quan sát
6 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ thêm yêu cầu, quy trình và giải pháp vận dụng
các PPDH tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin (phần II, III).
- Với những kết quả đạt được, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(phần II, III) ở các trường đại học, cao đẳng.
7 Giả thuyết khoa học
Giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin ởcác trường đại học nói chung và ở trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài chính VĩnhLong nói riêng có những hạn chế nhất định Các phương pháp dạy học tích
cực, nếu được vận dụng một cách khoa học trong giảng dạy học phần Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin (phần II, III) sẽ phát huy được
tính tích cực cho sinh viên, qua đó nâng cao được chất lượng và hiệu quảgiảng dạy môn học ở Trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài chính Vĩnh Long
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các phương
pháp dạy học tích cực vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ
nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) ở Trường Cao đẳng Kinh tế -Tài chính Vĩnh
Long
Trang 14Chương 2: Thực nghiệm vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin (phần
II, III) ở Trường Cao đẳng Kinh tế-Tài chính Vĩnh Long.
Chương 3: Quy trình và giải pháp vận dụng các phương pháp dạy học
tích cực vào giảng dạy dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa
Mác-Lênin (phần II, III)
Trang 15B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG
DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II, III) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III)
1.1.1 Lý luận về phương pháp dạy học tích cực
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Tư tưởng nhấn mạnh đến vai trò tích cực, chủ động của người học, xemngười học là chủ thể của quá trình nhận thức đã có từ rất lâu Vào thế kỷ XVII,J.A.Komensky đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm,phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phépngười giáo viên dạy ít hơn và sinh viên học nhiều hơn” Tư tưởng này bắt đầu
rõ nét vào khoảng thế kỷ XVIII – XIX và đã trở nên rất phổ biến trong thế kỷ
XX Đặc biệt, trào lưu giáo dục hướng vào người học xuất hiện đầu tiên ở Mỹ,sau đó ảnh hưởng sang Tây Âu và sang châu Á mà chủ yếu là ở Nhật Bản, thểhiện ở các thuật ngữ “Dạy học hướng vào người học”, “Dạy học lấy người họclàm trung tâm”
Theo quan điểm của PGS.TS.Vũ Hồng Tiến cho rằng phương pháp dạyhọc tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ nhữngphương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tíchcực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy
Trang 16tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tíchcực của người dạy Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thìgiảng viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động [29; 1].
Theo Từ điển tiếng Việt: Tích cực trái với tiêu cực, có ý nghĩa, có tácdụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển Tỏ ra chủ động, có những hoạt độngnhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển như: đấu tranh tích cực, phươngpháp phòng bệnh tích cực Theo một nghĩa khác, Tích cực là đem hết khảnăng và tâm trí vào việc làm [30; 981]
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tổ chức cho người học
học tập thông qua các hoạt động Tạo mọi điều kiện để người học tham giacác hoạt động một cách sáng tạo, tự giác, tích cực, chủ động Do đó vận dụngcác phương pháp dạy học tích cực, giảng viên với vai trò là người hướng dẫnrèn luyện cho sinh viên phương pháp tự học, phát huy sự tìm tòi độc lập, sángtạo của từng sinh viên hoặc thông qua từng nhóm sinh viên, thông qua thảoluận nhóm, thâm nhập thực tế của sinh viên theo mục tiêu của chương trình,bài học Giảng viên tổng hợp các ý kiến, những kinh nghiệm, vốn hiểu biếtcủa từng sinh viên và tập thể lớp học để xây dựng nội dung bài học.
Chúng tôi nhận thức rằng phương pháp dạy học tích cực là một tập hợpcác phương pháp mà khi vận dụng vào dạy học người dạy đóng vai trò là ngườihướng dẫn, tổ chức cho người học thực hiện các hoạt động học tập để từngbước lĩnh hội được các nội dung tri thức của môn học, đạt được các mục tiêucủa bài học
1.1.1.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học thì người họcđóng vai trò là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động dongười dạy tổ chức và chỉ đạo, thông qua các hoạt động này người học được tựmình khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thunhững tri thức đã được sắp đặt sẵn thông qua sự thuyết giảng của người dạy
Trang 17Như vậy, “Tri thức trở thành kiến thức thực sự khi người học chiếm lĩnh nóbằng chính sức lao động, sức sáng tạo của mình” [17; 13] Phương pháp dạyhọc tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủđộng, tính độc lập và tính sáng tạo của người học, nhằm hướng tới việc hoạtđộng hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học
Phương pháp dạy học tích cực bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
- Đối với người học phải tập trung cao độ trong học tập, chủ động tìmtòi khám phá nội dung học tập, chủ động giải quyết các vấn đề phù hợp vớikhả năng hiểu biết của mình, đề xuất các ý tưởng sáng tạo và tự nguyện trìnhbày, diễn đạt các ý kiến của mình
- Đối với người dạy phải luôn luôn linh hoạt, mềm dẻo, sẵn sàng tạo cơhội để cho người học tham gia và làm chủ hoạt động nhận thức Người dạyxây dựng được môi trường có khả năng thúc đẩy người học tự điều khiển hoạtđộng học tập, cung cấp những nhiệm vụ học tập có mức độ phù hợp với đốitượng người học, tạo điều kiện cho người học được phép lựa chọn, tự lập kếhoạch, tự đưa ra mục đích hoạt động, tự mình hoặc hợp tác để thực hiệnnhiệm vụ học tập, cuối cùng tự nhận xét đánh giá kết quả học tập của bảnthân Người dạy chỉ là người tổ chức và hướng dẫn quá trình nhận thức chongười học
- Nội dung kiến thức giảng dạy không đi sâu vào từng chi tiết cụ thể màsắp xếp thành các vấn đề liên kết hoặc sắp xếp theo nguyên lí cơ chế để kíchthích tư duy và tính chủ động sáng tạo của người học trong cách giải quyếtcác vấn đề
1.1.1.3 Một số yêu cầu đối với việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
Trong những thập kỷ gần đây, phương pháp dạy học tích cực phát triểnvới những hình thức mới Bởi vì mục tiêu của dạy học đặt ra không chỉ là dạyhọc mà còn là đào tạo Vì thế sự xuất hiện phương pháp giáo dục theo mục
Trang 18tiêu, với chương trình học được thiết kế mềm dẻo theo khả năng và công cụtrí tuệ, cho phép giải quyết thành công những mục tiêu đề ra, nhằm đào tạonăng lực thích nghi, tự chủ, giáo dục ý chí hành động, ý thức, trách nhiệm, tựgiác.
Trong quá trình giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) nói riêng, phương pháp dạy
học tích cực được vận dụng một cách tương đối phổ biến ở các trường đạihọc, cao đẳng trên cả nước Để vận dụng tốt các phương pháp dạy học tíchcực nhằm mang lại hiệu quả trong giảng dạy, đòi hỏi phải thực hiện nghiêmtúc các yêu cầu như:
Một là, do đặc điểm của môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin (phần II, III) được Bộ giáo dục và Đào tạo tích hợp từ môn
Kinh tế chính trị và môn Chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sở những nguyên
lý cơ bản khái quát nhất cô đọng nhất, vì vậy, việc vận dụng PPDH môn họcnày cũng hết sức đa dạng, mỗi chương, mỗi phần đòi hỏi một cách thức giảngdạy phù hợp Trong khi đó, mỗi PPDH đều có mặt tích cực và mặt hạn chế, đểphù hợp với từng chương, từng phần riêng của giờ giảng Vì vậy, không nênquá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một PPDH nào đó Cần thiết phải lựachọn và vận dụng kết hợp một số PPDH một cách hợp lý vào bài giảng
Hai là, trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học - công nghệ và của kinh tế tri thức, trình độ nhận thức của đội ngũgiảng viên ở các trường Đại học, Cao đẳng trên phạm vi cả nước ngày càngđược nâng cao để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ chuyên môn việc vận dụng
PPDH vào môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần
II,III) nói chung, đặc biệt là vận dụng các PPDH tích cực cần phải thường
xuyên được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện Điều này được thực hiện thôngqua những kinh nghiệm trong giảng dạy của giảng viên và được khái quát về
Trang 19lý luận để phù hợp với thực tế luôn biến đổi, phù hợp với nội dung khoa họccủa môn học.
Tuy nhiên, để vận dụng tốt các PPDH tích cực trong giảng dạy môn
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II,III) thì đòi hỏi
người giảng viên cần phải có sự đầu tư, suy nghĩ, công phu và nghiêm túctrong việc lựa chọn PPDH tích cực nào cho phù hợp để phục vụ nội dung củatừng chương, từng phần giảng Nhằm khai thác một cách tối ưu nhất nhữngthế mạnh của phương pháp đó
Ba là, phương tiện dạy học được coi là yếu tố có ý nghĩa quan trọng
trong việc vận dụng các PPDH tích cực, do đó, giảng viên cần phải biết khaithác các phương tiện này Cùng với xu hướng đổi mới giáo dục, hiện nay cáctrường Đại học, Cao đẳng trong cả nước từng bước trang bị nhiều phương tiệndạy học hiện đại có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình truyền đạt trithức tới người học Xu hướng chung của thế giới hiện nay là sử dụng đaphương tiện trong dạy học Đó là các thiết bị máy tính, projector, máy ảnh kỹthuật số, máy quay phim, các thiết bị âm thanh, mạng Internet…
Ở Việt Nam, quá trình dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin (phần II, III) ở các trường Đại hoc, Cao đẳng trên cả nước
nói chung thường sử dụng một số phương tiện dạy học như: Tivi, băng hình,đĩa hình, phim video, phim truyền hình, các phương tiện kỹ thuật số như máyảnh kỹ thuật số, máy quay phim, máy tính, phần mềm máy tính học trựctuyến Phương tiện dạy học không chỉ có tác dụng minh họa bài giảng mà còn
có tác dụng tới việc hình thành, phát triển, củng cố tri thức khoa học chongười học
1.1.1.4 Một số phương pháp dạy học tích cực
* Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp đàm thoại: là phương pháp trong đó giảng viên đặt ra câu hỏi
để sinh viên trả lời, hoặc sinh viên có thể tranh luận với nhau và với cả giảng
Trang 20viên; qua đó sinh viên lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chấthoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
Vấn đáp tái hiện: giảng viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu sinh viên nhớ lại
kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp táihiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện phápđược dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài
nào đó, giảng viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minhhoạ để sinh viên dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi
có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giảng viên dùng một hệ thống
câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng sinh viên từng bước phát hiện ra bảnchất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự hammuốn hiểu biết Giảng viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận –giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xácđịnh
Đánh giá về phương pháp đàm thoại (vấn đáp)
Ưu điểm: Điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của sinh viên, kích
thích tính tích cực hoạt động nhận thức của họ Bồi dưỡng cho sinh viên nănglực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, súctích Giúp giảng viên thu được tín hiệu ngược từ sinh viên một cách nhanh,gọn, kịp thời để kịp điều chỉnh hoạt động của mình và của sinh viên Đồngthời qua đó mà sinh viên cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnhhoạt động nhận thức – học tập của mình Ngoài ra, thông qua đó mà giảngviên có khả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp và của từng sinhviên
Nhược điểm: nếu vận dụng phương pháp này không khéo sẽ dễ làm mất
thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại
Trang 21giữa giảng viên và một vài sinh viên, không thu hút toàn lớp tham gia vàohoạt động chung Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máymóc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo củasinh viên.
*Phương pháp nêu vấn đề:
Phương pháp nêu vấn đề được xem như một cách xây dựng tổng thểmột đề cương giảng dạy hoặc là một trong những cách được người dạy ápdụng để xây dựng đề cương giảng dạy cho một môn học Phương pháp nàyxuất hiện vào năm 1970 tại trường Đại học Hamilton - Canada, sau đó đượcphát triển nhanh chóng tại Trường Đại học Mastricht - Hà Lan
Việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học này đã được tiếnhành tại một số trường và thu được những kết quả đáng kể Theo Nguyễn
Ngọc Quang, phương pháp dạy học nêu vấn đề là: “một hệ phương pháp
phức hợp” Vậy thực chất phương pháp dạy học nêu vấn đề là gì? Và dạy như
thế nào? Các nhà nghiên cứu, giảng viên đã đưa ra nhiều nhận định khácnhau, nhưng nhìn chung không có sự khác biệt và mâu thuẫn lớn
Nhà giáo dục Ba Lan V.Okon cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là toàn bộcác hoạt động như tính chất, tình huống có vấn đề, diễn đạt các vấn đề, chú ýgiúp đỡ cho sinh viên những vấn đề cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tracách giải quyết đó và cuối cùng là hệ thống hóa và cũng cố các kiến thức đãtiếp thu được” [16;103] Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theophương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường được thể hiện như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức có nghĩa là giảng viên phải
tạo ra tình huống có vấn đề sinh viên phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinhcần giải quyết
- Giải quyết vấn đề, đặt ra có nghĩa là người giảng viên phải hướng cho
sinh viên đề xuất cách giải quyết vấn đề cũng như lập được kế hoạch giảiquyết vấn đề và thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề đó như thế nào
Trang 22- Kết luận vấn đề, là việc thảo luận kết quả và đánh giá kết quả nghiên
cứu nhằm khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra trước đó Trên cơ sở đóphát biểu kết luận và đề xuất vấn đề mới
Như vậy thực chất của dạy học nêu vấn đề là việc giảng viên đặt câuhỏi hoặc nêu vấn đề và tình huống có vấn đề, còn sinh viên thì tự lực suynghĩ, thảo luận, giải đáp vấn đề dưới sự định hướng của giảng viên Quá trìnhsuy nghĩ, thảo luận, giải đáp là điều kiện tốt để kích thích tính năng động sángtạo, sự độc lập suy nghĩ, sinh viên dần dần tiếp thu kinh nghiệm hoạt độngsáng tạo hình thành phong cách học tập.Trong quá trình đó, giảng viên vừa làngười cung cấp thông tin, truyền đạt kiến thức (bằng cách nêu vấn đề) để sinhviên lĩnh hội, vừa là người kích thích tự giác, tích cực suy nghĩ sáng tạo củasinh viên trong học tập đồng thời tạo ra bầu không khí dân chủ giữa thầy vàtrò để đạt hiệu quả cao trong học tập
Tuy nhiên, cần lưu ý trong quá trình đó giảng viên không phải là ngườiđộc quyền đưa ra các vấn đề và phương pháp giải quyết các vấn đề đó mà cầnkhêu gợi, gợi mở cho sinh viên suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo để đưa ra cách giảiquyết mới, ý tưởng mới Thậm chí trong các ý tưởng mới đó lại là một vấn đềmới được đặt ra và có thể vấn đề mới đó vượt qua khả năng kiểm soát củagiáo viên, đòi hỏi người giáo viên phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ.Chính vì vậy, Anbe Anhxtanh đã viết: “Khi tôi giảng, tôi tạo điều kiện để sinhviên có thể dạy tôi” Như vậy, dạy học theo phương pháp nêu vấn đề là quátrình dạy cho sinh viên không những nắm được những tri thức cần thiết trongchương trình đào tạo mà cao hơn thế nữa là biết vận dụng những tri thức đóvào để giải quyết các vấn đề và tình huống gặp phải trong học tập và công tácsau này
Rõ ràng là, điểm mấu chốt của phương pháp dạy học nêu vấn đề chính
là “phương pháp dạy phương pháp”, đó là một phương pháp dạy đại học hiệnđại Tác động của thầy dù là quan trọng đến đâu, có hiệu lực đến mấy vẫn là
Trang 23ngoại lực, vẫn chỉ là hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện Sức tự học, tựnghiên cứu của sinh viên dù còn yếu kém đến đâu vẫn là nội lực quyết định sựphát triển của bản thân người học Yêu cầu của phương pháp dạy học này làkhông chỉ truyền thụ cho sinh viên một lượng tri thức khoa học cần thiết màcái cần đạt tới là giáo dục, xây dựng cho sinh viên có một phương pháp khoahọc trong nghiên cứu tìm hiểu và giải quyết mọi vấn đề gặp phải trong quátrình học tập trước mắt và trong quá trình công tác sau này.
Khi vận dụng phương pháp dạy học này, có ý kiến cho rằng vai trò củagiảng viên được giảm nhẹ Ngược lại, nếu xét về bản chất của phương pháp,
ta thấy công việc của người thầy trở nên cực kỳ khó khăn Thầy phải nghiêncứu cho một bài giảng công phu hơn, phải kết hợp tốt chuyên môn khoa học
và năng lực sư phạm I.V.Lênin đã từng nói: “Không ai thay thế được ôngthầy trong nhà trường” Như vậy, người giảng viên có vai trò quyết định trongviệc thực hiện phương pháp dạy học này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquả đào tạo
Đánh giá về phương pháp nêu vấn đề
Ưu điểm: Sinh viên nắm vững được tri thức với các phương pháp lĩnh
hội khác nhau Phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng lòng ham học và khảnăng tự học của sinh viên Rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiệnđại thông qua kỹ năng biết đặt và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trongquá trình học tập và trong cuộc sống thực tế Giảng viên kiểm tra, đánh giánăng lực của sinh viên thông qua các hoạt động học tập như tiếp cận và xử lýtình huống, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề
Nhược điểm: Phụ thuộc vào trình độ, năng lực vận dụng phương pháp
của giảng viên và trình độ nhận thức của sinh viên Giảng viên sẽ cần nhiềuthời gian trong quá trình chuẩn bị thiết kế bài giảng và triển khai bài giảngtrên lớp
* Phương pháp thảo luận nhóm:
Trang 24Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 7 đến 10 người Tuỳ mụcđích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay cóchủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, đượcgiao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau Nhóm tự bầu nhómtrưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc.trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lạivào một vài người hiểu bết và năng động hơn Các thành viên trong nhómgiúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhómkhác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chungcủa cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm cóthể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếunhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻcác băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thứcmới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì.Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhậnthụ động từ giảng viên Cách thức chia nhóm và đánh giá ưu nhược điểm củaphương pháp thảo luận nhóm như sau;
Hình thức
nhóm
(U): Ưu điểm – (N): Nhược điểm
Số lượng từ 7-10 sinh viên trong một nhóm
1 Nhóm gồm
những SV tự
nguyện, chung
mối quan tâm
U Đối với SV thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lậpnhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất
N Tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm, vì vậy cách tạo lậpnhóm như thế không nên là khả năng duy nhất
Trang 25U Sinh viên giỏi có thể tự xác định mục đích của mình.
N Những SV yếu hơn sẽ gặp khó khăn việc xác địnhmục đích của bản thân, cần sự giúp đỡ, của SV giỏi
N Một số sinh viên làm việc riêng trong quá trình làmviệc nhóm
*Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho sinh viên thực hành một số cáchứng xử nào đó trong một tình huống giả định
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau :
Sinh viên được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏthái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, đem
Trang 26đến sự hứng thú và chú ý cho sinh viên, tạo điều kiện làm nảy sinh óc sángtạo của sinh viên, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của sinh viên theochuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị – xã hội và có thể thấy ngay tácđộng và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
* Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp sinh viên trong một thời gian ngắn nảysinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Thực hiệnphương pháp này, giảng viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền
đề cho buổi thảo luận
Cách tiến hành: Giảng viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước
cả lớp hoặc trước nhóm, khích lệ sinh viên phát biểu và đóng góp ý kiến càngnhiều càng tốt, liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ
to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp Bên cạnh đó cũngcần phân phân loại các ý kiến, để làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng vàthảo luận sâu hơn từng ý
* Phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
Tự học là hoạt động học tập độc lập của từng sinh viên không chỉ tựđọc sách, đọc tài liệu khi không có giảng viên và các bạn mà còn phải có tinhthần, thái độ, ý chí, phương pháp làm việc tích cực, tự giác nhằm đạt hiệu quảtrong giờ học để nắm vững và vận dụng tri thức khoa học vào đời sống
1.1.2 Sự cần thiết vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III)
1.1.2.1 Cấu trúc, nội dung chương trình môn học Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phần II, III)
Trong các trường Đại học và Cao đẳng hiện nay, môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin (Phần II, III) được tổng hợp từ kiến thức
của hai môn học trước đây là: Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 27* Mục đích của môn học:
Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin (Phần II, III) là để xây dựng thế giới quan, phương pháp luận
khoa học và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn Đồng thời, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin (phần II, III) là để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của
Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản ViệtNam Để giúp sinh viên hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng là để xây dựngniềm tin, lý tưởng cho sinh viên
* Yêu cầu của môn học:
Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin (phần II, III) cần phải theo nguyên tắc thường xuyên gắn kết
những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn của đất nước
và thời đại Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó;
tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vậndụng các nguyên lý cơ bản đó vào trong thực tiễn Học tập, nghiên cứu mỗinguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) trong mối quan hệ với cácnguyên lý khác, mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệ với các bộ phậncấu thành khác để thấy sự thống nhất phong phú và tính nhất quán của chủnghĩa Mác- Lênin, đồng thời cũng cần nhận thức các nguyên lý đó trong tiếntrình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại
* Nội dung của môn học được kết cấu thành hai phần:
Phần thứ hai lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
“Sau khi nhận thấy rằng chế độ kinh tế là cơ sở trên đó kiến trúcthượng tầng chính trị được xây dựng lên thì Mác chú ý nhiều nhất đến việcnghiên cứu chế độ kinh tế ấy Tác phẩm chính của Mác là bộ "Tư bản" được
Trang 28dành riêng để nghiên cứu chế độ kinh tế của xã hội hiện đại, nghĩa là xã hội tưbản chủ nghĩa.”[18; 54]
Học thuyết kinh tế của Mác là “nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Mác”[19; 60] là kết quả vận dụng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biệnchứng duy vật vào quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa Bộ Tư bản chính là công trình khoa học vĩ đại nhất của C.Mác “Mụcđích cuối cùng của bộ sách này là phát hiện ra quy luật kinh tế của sự vậnđộng của xã hội hiện đại”, nghĩa là của xã hội tư bản chủ nghĩa, của xã hội tưsản Nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và suy tàn của những quan hệ sảnxuất của một xã hội nhất định trong lịch sử, đó là nội dung của học thuyếtkinh tế của Mác” [20; 72] mà trọng tâm của nó là học thuyết giá trị và họcthuyết giá trị thặng dư
Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin về phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa không chỉ bao gồm học thuyết của C.Mác về giá trị và giá trịthặng dư mà còn bao gồm học thuyết kinh tế của V.I Lênin về chủ nghĩa tưbản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Nội dung hai phần này bao quát những nguyên lý cơ bản nhất của chủnghĩa Mác-Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Được kết cấuthành ba chương cụ thể như sau; Chương IV “Học thuyết giá trị” nghiên cứuđiều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của nền sản xuất hàng hóa, nghiên cứucác phạm trù hàng hóa cũng như nghiên cứu về nguồn gốc bản chất của tiền tệ
và quy luật giá trị Chương V “Học thuyết giá trị thặng dư” nội dung củachương này tập chung nghiên cứu những những vấn đề như, sự chuyển hóacủa tiền tệ thành tư bản, đi sâu phân tích những vấn đề như công thức chungcủa chủ nghĩa tư bản và mâu thuẫn của công thức chung của chủ nghĩa tư bản,hàng hóa sức lao động và tiền công trong chủ nghĩa tư bản và sự thống nhấtgiữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng
dư, tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Tư bản cố định và tư bản lưu động,
Trang 29hai phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch,xác định sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủnghĩa tư bản.
Các hình thái biểu hiện của tư bản và giá trị thặng dư tập chung vào cácvấn đề Chí phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ xuất lợi nhuận, lợinhuận bình quân và giá cả sản xuất, sự phân chia giá trị thặng dư của các tậpđoàn tư bản
Chương VI Học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tưbản độc quyền nhà nước Chương này tập chung nghiên cứu những vấn đềnhư sau; Chủ nghĩa tư bản độc quyền được thể hiện qua bước chuyển từ chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa nghĩa tư bản độc quyền, nămđặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền, sự hoạt động củaquy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bảnđộc quyền Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, phần này tập chung vàonhững vấn đề như nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước, những biểu hiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.Đánh giá chung về vai trò và giới hạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản, vai trò củachủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản xuất, giới hạn lịch sử củachủ nghĩa tư bản
Phần thứ ba lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Trên cơ sở học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư, “Mác đã hoàn toàn dựa vào vàchỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại màkết luận rằng xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ phải chuyển biến thành xãhội - xã hội chủ nghĩa Việc xã hội hóa lao động, ngày càng tiến nhanh thêmdưới muôn vàn hình thức, đã biểu hiện đặc biệt rõ ràng ở sự phát triển của đạicông nghiệp, đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời không thể tránh khỏi
Trang 30của chủ nghĩa xã hội Động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến đó, lựclượng thể chất thi hành sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản, giai cấp đã đượcbản thân chủ nghĩa tư bản rèn luyện Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sảnchống giai cấp tư sản, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và nội dungcủa những hình thức này ngày càng phong phú, nhất định biến thành mộtcuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản
nhằm giành chính quyền (“chuyên chính vô sản”)” [21;86-87]
Như vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết kinh tế về phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với bộ phận lý luận triết học là những cơ
sở lý luận tất yếu và trực tiếp của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức học thuyếtMác-Lênin về chủ nghĩa xã hội Bởi vậy, theo nghĩa rộng chủ nghĩa xã hộikhoa học chính là chủ nghĩa Mác-Lênin, còn theo nghĩa hẹp thì nó là một bộphận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin - bộ phận lý luận về chủ nghĩa
xã hội, đó là bộ phận lý luận nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân; tính tất yếu và nội dung của cách mạng xã hội chủnghĩa; quá trình hình thành và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa; quy luật và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩacộng sản Được kết cấu thành ba chương như sau;
Chương VII Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng xãhội chủ nghĩa, chương này tập chung nghiên cứu những vấn đề như Sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân, khái niệm giai cấp công nhân, những điều kiệnkhách quan qui định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò của Đảngcộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.Cách mạng xã hội chủ nghĩa làm rõ nguyên nhận của cách mạng xã hội chủnghĩa và mục tiêu, động lực, nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa, liênminh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân Hình thái kinh tế - xã hộicộng sản chủ nghĩa, làm rõ được xu thế tất yếu của sự ra đời hình thái kinh tế
- xã hội cộng sản chủ nghĩa, các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã
Trang 31hội cộng sản chủ nghĩa.
Chương VIII Những vấn đề chính trị - xã hội có tính quy luật trongtiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Chương này tập chung phản ánh nhữngvấn đề Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa,trong đó đề cập đến việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa như thế nàocũng như việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Xây dựng nền văn hóa
xã hội chủ nghĩa, phân tích khái niệm văn hóa xã hội chủ nghĩa, nội dung vàphương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Giaỉ quyết vấn đề dântộc và tôn giáo, những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việcgiải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo
Chương IX Chủ nghĩa xã hội hiện thực và triển vọng Chương này tậpchung nghiên cứu những vấn đề Cách mạng tháng Mười Nga và mô hình chủnghĩa xã hội hiện thực đầu tiên trên thế giới, sự ra đời và phát triển của hệthống các nước xã hội chủ nghĩa và những thành tựu của nó Sự khủng hoảng,sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết, nguyên nhân xa dẫn đến khủnghoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết Triển vọng của chủnghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người
và khẳng định chủ nghĩa xã hội là tương lai của xã hội loài người
1.1.2.2 Một số phương pháp dạy học tích cực được vận dụng trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (PhầnII, III)
Trong quá trình đổi mới giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay, vấn đềđổi mới phương pháp đào tạo được xem là một khâu then chốt Do đó, việcnghiên cứu và vận dụng các phương pháp đào tạo tích cực nhằm mang lạichất lượng mới và hiệu quả đào tạo cao đã và đang được nhiều nhà quản lý vànghiên cứu giáo dục, cán bộ giáo viên các trường quan tâm, đặc biệt làphương pháp dạy học tích cực có thể vận dụng vào trong giảng dạy, các mônkhoa học nói chung và các môn khoa học Mác- Lênin nói riêng
Trang 32Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục của chúng ta từngbước được đổi mới Đảng ta xác định: Giáo dục - đào tạo là “Quốc sách hàngđầu”, “là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình
độ tiên tiến trên thế giới” Công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc Vì vậy,trong những năm gần đây, các nhà khoa học giáo dục, các giảng viên nước ta
đã và đang tiếp cận những phương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới Trong
đó, đáng chú ý là các PPDH tích cực Trong phạm vi nghiên cứu của côngtrình này, chúng tôi chỉ đề cập, nghiên cứu đến ba phương pháp mà chúng tôi
cho rằng có nhiều ưu điểm và phù hợp trong giảng dạy môn học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) bao gồm các phương
pháp sau:
* Phương pháp dạy học nêu vấn đề Phương pháp nêu vấn đề là
phương pháp dạy học, trong đó giảng viên giúp sinh viên xem xét, phân tíchnhững tình huống có vấn đề và xác định những cách thức giải quyết tìnhhuống đó nhằm tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành tư tưởngthái độ Trong giảng dạy giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin (phần II, III), tất yếu phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước
cơ bản như sau:
Thứ nhất: Đặt vấn đề
Giảng viên nêu ra tình huống có vấn đề cho sinh viên tư duy, suy nghỉ
và hướng dẫn cho sinh viên nhận biết, thảo luận Sinh viên tìm cách giải quyếtvấn đề của giảng viên đã nêu ra Ví dụ: Khi giảng Chương IV Học thuyết giá
trị (phần hàng hóa), giảng viên có thể nêu ra tình huống có vấn đề: Nhà ông
Nguyễn Văn Hùng nuôi được 45 con gà, 15 con gà ông Hùng dùng làm quà biếu cho họ hàng người thân, 15 con gà ông Hùng đã sử dụng làm thực phẩm thức ăn hàng ngày cho gia đình, còn 15 con gà ông Hùng đem ra chợ bán lấy
Trang 33tiền mua con giống để chăn nuôi tiếp Yêu cầu sinh viên hãy xác định trong tình huống trên 45 con gà nhà ông Hùng có phải là hàng hóa không?
Thứ hai: Giải quyết vấn đề
Giảng viên hướng dẫn sinh viên tiếp cận vấn đề, xem xét các chi tiếtliên quan đến vấn đề, định hướng cho sinh viên suy nghĩ để tìm ra cách giảiquyết vấn đề Về phía sinh viên các em phải suy nghĩ độc lập, khoa học pháthuy tối đa những tri thức có sẵn và năng lực sáng tạo của mình để giúp quátrình giải quyết vấn đề nhanh chóng và chính xác Sinh viên tự mình tìm tòi,khám phá cách giải quyết vấn đề sẽ cảm thấy thích thú và làm cho bài họcsinh động, lôi cuốn và hấp dẫn người học hơn
Giảng viên tiến hành yêu cầu một số sinh viên trong lớp giải quyết vấn
đề trên, nhằm xác định rõ trong 45 con gà nhà ông Hùng có phải là hàng hóakhông? Sinh viên căn cứ vào đâu để xác định đó là hàng hóa? Mỗi sinh viênđều đưa ra những giả thiết khác nhau để giải thích về vấn đề trên, có sinh viênthì xác định cả 45 con gà nhà ông Hùng trong tình huống trên đều là hànghóa, có sinh viên khác thì lại cho rằng 15 con gà trong tình huống trên là hànghóa, lại có sinh viên cho rằng 30 con gà trong tình huống trên mới là hànghóa Cùng một vấn đề có tình huống giống nhau nhưng có nhiều cách giảiquyết khác nhau của sinh viên trong lớp để chốt lại vấn đề giảng viên đi đếnkết luận
Giảng viên khẳng định và kết luận vấn đề trên trước lớp như sau; Trongtình huống trên để xác định được có bao nhiêu con gà nhà ông Hùng là hàng
Trang 34hóa trong tổng số 45 con thì sinh viín phải căn cứ văo định nghĩa của hăng
hóa lă gì? “Hăng hóa lă kết quả của lao động, có giâ trị sử dụng thỏa mên
nhu cầu năo đó của con người vă được đi văo tiíu dùng thông qua trao đổi mua vă bân” Như vậy căn cứ văo định nghĩa trín thì rõ răng nhă ông Hùng
có tổng số 45 con gă đều lă kết quả của quâ trình lao động sản xuất, có giâ trị
vă giâ trị sử dụng, nhưng trong tổng số 45 con gă đó thì chỉ có 15 con gă mẵng Hùng đem ra chợ bân mới lă hăng hóa, bởi vì nó thỏa mên, đâp ứng cả batiíu chí trong định nghĩa hăng hóa, còn lại 30 con gă ông Hùng dùng 15 conlăm quă biếu cho người thđn vă 15 con gă lăm thực phẩm thức ăn cho giađình không phải lă hăng hóa vì nó không thỏa mên đủ 3 tiíu chí trong địnhnghĩa hăng hóa trín
Do đó trong câc phương ân, giải phâp trả lời của câc bạn sinh viín thìchỉ có một giải phâp của một sinh viín đưa ra lă hoăn hoăn đúng, đó lă giảiphâp 15 con gă được đem ra chợ bân mới lă hăng hóa
* Phương phâp đăm thoại (vấn đâp)
Đăm thoại (vấn đâp) lă PPDH trong đó việc truyền thụ vă lĩnh hội kiếnthức mới của giảng viín vă sinh viín thông qua hệ thống cđu hỏi vă trả lờinhững yíu cầu gợi ý của giảng viín níu ra Nói câch khâc, phương phâp đămthoại (vấn đâp) lă phương phâp giảng viín đặt ra những cđu hỏi để sinh viíntrả lời, hoặc sinh viín có thể tranh luận với nhau vă với cả giảng viín Qua đó,sinh viín lĩnh hội được nội dung tri thức Trong quâ trình học tập, sinh viín
được tiếp cận vă lĩnh hội tri thức của môn học những nguyín lý cơ bản của
chủ nghĩa Mâc-Línin (Phần II, III) được đânh giâ lă môn học mang tính lý
luận vă khâi quât cao, kiến thức trừu tượng khô khan vă khó hiểu vì thế ngoăiviệc giảng viín đặt cđu hỏi phất vấn cho sinh viín suy nghĩ trả lời thì sinhviín cũng có những nội dung chưa hiểu nín cũng đặt ra những cđu hỏi ngượclại cho giảng viín giải quyết, định hướng cho sinh viín Ví dụ như khi giảng
viín giảng chương VII “Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhđn vă câch
Trang 35mạng xã hội chủ nghĩa”: giảng viên có thể đặt ra một hệ thống các câu hỏi để
phát vấn sinh viên:
Câu 1) Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì?
Câu 2) Tại sao trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa giai cấp công nhân
là giai cấp có điều kiện để đảm nhận sứ mệnh lịch sử, mà không phải là các giai cấp, tầng lớp khác?
Câu 3) Hãy nêu nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam?
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt ba loạivấn đáp như sau:
+ Đàm thoại (vấn đáp) tái hiện: giảng viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêucầu sinh viên nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần
suy luận Ví dụ: Câu 1) Hãy cho biết quy luật hình thành Đảng cộng sản Việt
Nam dựa trên những yếu tố nào? Câu 2) Hãy so sánh sự giống nhau và khác nhau của quy luật hình thành Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng công sản ở các nước phương Tây như thế nào? Đây là một biện pháp được dùng khi cần
đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng
cố kiến thức vừa mới học
+ Đàm thoại (vấn đáp) giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng
tỏ một nội dung nào đó, một vấn đề nào đó Giáo viên lần lượt nêu ra nhữngcâu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để sinh viên dễ hiểu, dễ nhớ Phươngpháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn
Ví dụ: Khi giảng phần Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa giảngviên có thể phát vấn sinh viên những câu hỏi như;
Câu 1) Hãy phân tích hai điều kiện cần và đủ để cho nền sản xuất hàng hóa
ra đời?
Câu 2) Có nhiều tiêu thức để phân chia hàng hóa Hàng hóa thông Hàng hóa đặc biệt, Hàng hóa công cộng – Hàng hóa tư nhân, Hàng hóa vô hình – Hàng hóa hữu hình? Cho ví dụ cụ thể? Giảng viên kết hợp sử dụng
Trang 36thường-phương tiên dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, video Clíp, hình ảnh
để minh họa cho sinh viên hiểu bài
+ Đàm thoại (vấn đáp) tìm tòi: giảng viên dùng một hệ thống các câuhỏi được sắp xếp hợp lý để hướng dẫn sinh viên từng bước phát hiện ra bảnchất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự hamhiểu biết của sinh viên Giảng viên tổ chức trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận -giữa giảng viên với sinh viên cả lớp, có khi giữa sinh viên với sinh viên,nhằm giải quyết một vấn đề xác định Ví dụ khi giảng chương IX Chủ nghĩa
xã hội và hiện thưc, giảng viên có thể đưa ra một số câu hỏi như sau;
Câu 1) Hãy cho biết mô hình mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới xuất hiện ở nước nào?
Câu 2) Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp
đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết?
Câu 3) Hãy nhận định chủ nghĩa tư bản có phải là tương lai của xã hội loài người hay không?
Trong vấn đáp tìm tòi, giảng viên là người tổ chức sự tìm tòi, có nghĩa
là đặt ra hệ thống câu hỏi để yêu cầu sinh viên nghiên cứu, tự lực phát hiệnbản chất của vấn đề tìm kiếm kiến thức mới cho bản thân Vì vậy, khi kết thúccuộc đàm thoại, sinh viên có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thànhthêm một bước về trình độ tư duy của bản thân
* Phương pháp thảo luận nhóm.
Phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) là một trong những phươngpháp có sự tham gia tích cực của học viên Thảo luận nhóm còn là phươngtiện học hỏi có tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạothói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thànhquan điểm cá nhân giúp người học rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khókhăn Cách tiến hành thực hiện phương pháp thảo luận nhóm theo các bước nhưsau:
Trang 37Bước 1: Giảng viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, thảoluận cho mỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảoluận cho các nhóm Ví dụ khi giảng chương VIII “Những vấn đề chính trị xãhội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa” giảng viêntiến hành đưa ra hệ thống chủ đề thảo luận như sau;
Nhóm 1 - Câu 1) Hãy phân tích những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa?
Nhóm 2 – Câu 2) Phân tích đặc trưng, chức năng và nhệm vụ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa?
Nhóm 3 – Câu 3) Hãy phân biệt khái niệm văn hóa và nền văn hóa Phân tích đặc trưng của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa?
Bước 2: Các nhóm ngồi vào vị trí tiến hành làm việc, bầu ra nhómtrưởng, thư ký của nhóm Nhóm trưởng giao nhiệm vụ cho từng thành viên và
cả nhóm tiến hành thảo luận
Bước 3: Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm Cácnhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến nếu có
Bước 4: Giảng viên quan sát, lắng nghe theo giỏi các nhóm trong quátrình thảo luận, can thiệp kịp thời nếu có ý kiến quan điểm không gắn, khôngliên quan đến chủ đề thảo luận, hướng cho nhóm quay lại đúng chủ để Chú ýmột số sinh viên cá biệt lợi dụng thời gian thảo luận nhóm để làm việc riêng,nếu có thì nhắc nhở kịp thời hướng các em vào nhiệm vụ
Bước 5: Đánh giá kết quả thảo luận nhóm Đây là công việc của giảngviên, đóng vai trò là người trọng tài, cố vấn, kết luận cho các nhóm Giảngviên đưa ra những tiêu chí, thang điểm cụ thể cho việc đánh giá kết quả thảoluận của các nhóm và được công khai dân chủ trước lớp, khi kết thúc buổithảo luận nhóm
Trang 381.1.2.3 Tầm quan trọng của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III)
Hiện nay các phương pháp dạy học tích cực được vận dụng rộng rãi ởcác trường Cao đẳng, Đại học Nếu như trước đây người học luôn trong tâmthế thụ động thầy đọc trò chép mang nặng tính một chiều thì ở các phươngpháp dạy học tích cực này thể hiện được tính chủ động, sáng tạo của ngườihọc trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Sinh viên có cơ hội cọ sát, tương tácnhiều hơn với người dạy, sinh viên với sinh viên Các phương pháp dạy họctích cực này có khả năng khỏi dậy được vốn tiềm năng của sinh viên
Môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II,
III) được tích hợp từ hai môn học theo chương trình cũ trước đây là môn Kinh
tế chính trị và môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, có tầm quan trọng trong việctrang bị cho sinh viên những hiểu biết về các phạm trù quy luật kinh tế cơbản, phương hướng, đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ CNH, HĐH,tiếp cận chủ nghĩa xã hội khoa học, xác lập thế giới quan, nhân sinh quan vàphương pháp luận chung nhất, trên cơ sở đó tiếp cận nội dung các khoa họcchuyên ngành được đào tạo
Như vậy nếu giáo viên chỉ dùng các phương pháp dạy học truyền thốngtheo kiểu “thầy giảng trò nghe, trò chép và ghi nhớ” thì sẽ làm cho giờ giảng
đơn điệu, nhàm chán dẫn đến sinh viên chán học Vì vậy, khi giảng dạy môn
những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II, III) giảng viên
nên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để kích thích sự chủ động,sáng tạo của sinh viên trong giờ học giúp các em tiếp cận tri thức tốt hơn Vì
ba phương pháp này giúp sinh viên nắm được một cách đầy đủ, sâu sắc vàtrọn vẹn nội dung của bài học Thiết thực hơn, là phương pháp dạy học tíchcực trang bị cho sinh viên phương pháp tự học và khơi dậy trí tò mò, lòngham hiểu biết, ham học ở sinh viên
Trang 39Mục tiêu của môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin
(phần II, III) trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về nội dung và học
thuyết giá trị thặng dư và lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xãhội (hiện thực và triển vọng), để sinh viên có tâm thế học tập và rèn luyện,bản thân có trách nhiệm với sự phát triển kinh tế của gia đình và xã hội Nhưvậy mỗi phương pháp dạy học tích cực trên đều có ưu điểm và nhược điểmđòi hỏi người giáo viên phải khéo léo trong quá trình vận dụng hợp lý và khoahọc để phát huy được vai trò của người học
Phương pháp dạy học nêu vấn đề: PPDH này có ưu điểm là kích thích
tư duy của sinh viên, giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề đòi hỏi sinh viênphải cố gắng nỗ lực làm việc, tìm ra tri thức để giải quyết vấn đề Trong quátrình giải quyết vấn đề sinh viên phải động não, suy nghĩ, nâng cao năng lực
tư duy tính tích, cực sáng tạo của từng sinh viên
Phương pháp đàm thoại (phát vấn) tạo ra sự tương tác giữa giáo viên vàsinh viên, giữa sinh viên với sinh viên, kích thích năng lực tư duy, sáng tạo củasinh viên, sinh viên có cơ hội diễn đạt, trình bày vấn đề, nội dung tri thức nào
đó mà giáo viên phát vấn Mục đích, yêu cầu sinh viên nhớ lại kiến thức đã biết
và trả lời dựa vào tri thức nhớ không cần suy luận (vấn đáp tái hiện) hoặc giáoviên sử dụng phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu projector khai tháchiệu ứng âm thanh, hình ảnh trên cơ sở đó giáo viên nêu ra những câu hỏi đểgiúp cho sinh viên dễ nhớ (vấn đáp giải thích – minh họa), ngòai ra giáo viêncòn có thể dùng dạng vấn đáp tìm tòi đó là giáo viên dùng hệ thống câu hỏi đãđược sắp xếp hợp lý và từng bước hướng cho sinh viên tìm ra được bản chấtcủa từng vấn đề
Phương pháp thảo luận nhóm: giáo viên nêu ra chủ đề thảo luận vàhướng dẫn các nhóm sinh viên thực hiện từng bước heo quy trình giúp chosinh viên có điều kiện chia sẽ kiến thức và kinh nghiệm học tập của bản thâncho nhau để cùng nhau xây dựng tri thức mới thông qua việc thảo luận, tranh
Trang 40luận để đưa ra ý tưởng mới, sinh viên có cơ hội học hỏi lẫn nhau và biến quátrình nhận thức của mình một cách tự giác chủ động
Tầm quan trọng của phương pháp dạy học tích cực là giúp cho sinhviên có cơ hội phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo của sinh viêntrong quá trình chiếm lĩnh tri thức một cách đầy đủ khoa học có khả năng vậndụng được kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
Tóm lại: các phương pháp dạy học tích cực trên có tầm quan trọngtrong việc truyền thụ tri thức cho sinh viên nhưng đó cũng không phải làphương pháp dạy học vạn năng Khi áp dụng các phương pháp này vào môn
những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin (phần II, III), giảng viên
phải xuất phát từ mục tiêu, nội dung của từng chương của môn học, kết hợpvới điều kiện cơ sở vật chất để phát huy vai trò của phương pháp dạy học tíchcực nhằm đạt được hiệu quả Giảng viên phải kết hợp ba phương pháp dạyhọc tích cực trên một cách hài hòa với các phương pháp dạy học truyền thống,
có như vậy mới đem lại được kết quả trong giảng dạy
1.2 Thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II, III) ở Trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài chính Vĩnh Long
1.2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Kinh Tế - Tài chính Vĩnh Long 1.2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường
Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long được thành lập theoQuyết định số 4383/QĐ-BGD&ĐT-TCCBTT ngày 03/08/2004 của BộTrưởng Bộ giáo dục và Đào tạo trên cơ sở Trường Trung học Kinh tế - Tàichính Vĩnh Long (thành lập năm 1976)
Trường đặt trụ sở tại số 1B Nguyễn Trung Trực - Phường 8 – Thànhphố Vĩnh long – Tỉnh Vĩnh Long
1.2.1.2 Chức năng của Nhà trường