1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tạo tâm thế tích cực cho học sinh ở phần dẫn nhập của giờ đọc hiểu văn bản

90 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tạo tâm thế tích cực cho học sinh ở phần dẫn nhập của giờ đọc hiểu văn bản
Tác giả Vũ Đức Việt
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 442,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ môn khoa học này nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn dạy- học Văn trong nhà trường và đã trở thành môn học có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bồi dưỡng nhận thức lý

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ ĐỨC VIỆT

VẤN ĐỀ TẠO TÂM THẾ TÍCH CỰC CHO HỌC

SINH THPT LÚC BƯỚC VÀO GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

PGS.TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữ văn

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn hiện nay đ· và đang thực

sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham thích môn học Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đ· chỉ râ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến t́nh cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây

là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn

Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đ· chú trọng phát triển hứng thú học văn của học sinh Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh Ai đó đ· nói rằng:

“Dự đó dắt ngựa đến bờ sông cũng không thể bắt nó uống nước được” Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy Dự cú bắt được chúng ngồi ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, trẻ không thể học tốt được Muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng m×nh cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh

Chất lượng dạy học là vấn đề vừa cấp thiết vừa lâu dài, luôn luôn đặt ra với nhà trường phổ thông Để đảm bảo hiệu quả và nâng cao chất lượng dạy học nói

Trang 4

chung và dạy học văn nói riêng, việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cần thiết và cấp bách Ở nước ta, vấn đề dạy học nói chung và vấn đề dạy học Văn trong nhà trường nói riêng ngày càng được quan tâm sâu sắc Môn Văn trong sự nghiệp cải cách giáo dục ở nhà trường phổ thông đã đạt được những bước tiến đáng

kể, chất văn chương, tính nhân văn được nâng lên Tuy nhiên, vấn đềphương pháp dạy học Văn thì chưa được quan tâm đúng mức, vẫn đang là vấn đề thời sự nóng bỏng, bức xúc ở nhà trường phổ thông

Bên cạnh những phương pháp dạy học truyền thống, trong quá trình hội nhập quốc tế, nền giáo dục nước ta đã tiếp thu, thực nghiệm một số phương pháp dạy học tích cực từ các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Tư tưởng chiến lược của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học là nhằm phát huy được tiềm năng sáng tạo của học sinh; đặt học sinh ở vị trí trung tâm của giờ học; học sinh là chủ thể sáng tạo, chủ thể của nhận thức Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong nghành giáo dục nước ta từ những năm 1060 Cũng ở thời điểm đó, trong các trường sư phạm đã đề ra khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1986, phát huy tính tích cực của học sinh đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước

Thế nhưng, cho đến nay sự chuyển biến về phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông chưa được là bao, phổ biến vẫn là cách dạy truyền thụ những kiến thức định sẵn, cách học thụ động, sách vở làm học sinh chán học Văn Tuy rằng, trong nhà trường đã xuất nhiện ngày càng nhiều tiết học tốt của những giáo viên giỏi theo hướng tổ chức choi học sinh hoạt động, tự chiếm lĩnh tri thức mới nhưng tình trạng thầy đọc trò chép hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa vẫn còn khá phổ biến Nếu cứ tiếp tục cách dạy và học thụ động như thế, giáo dục

sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa,

Trang 5

hiện đại hóa đát nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu khi tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương phgáp dạy và học.

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định rõ trong Nghị quyết trung ương IV khóa VII (01-1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (12- 1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (12- 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 5 (4- 1999) Điều 24.2 Luật giáo dục đã xác định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học , rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiến, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh

Với mục đích đó, các phương pháp dạy học tích cực hiện nay tìm mọi cách

để khơi gợi, phát huy ý thức tự giác, chủ động tích cực của học sinh trong học tập

Hệ thống câu hỏi và bài tập đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Hầu hết các phương pháp dạy học tích cực đều thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập để nêu ra vấn đề cho học sinh tìm tòi, suy nghĩ, tiến tới chiếm lĩnh tri thức

1.2 Góp phần xây dựng mô hình một giờ đọc hiểu văn bản ở THPT có khả năng vận dụng trong thực tế

1.3 Lưu ý một vấn đề quan trọng của dạy đọc hiểu văn bản ở THPT còn bị

bỏ qua trong các tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học Ngữ văn ở THPT

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học là mục tiêu quan trọng của các phương pháp dạy học tích cực Mỗi phương pháp dạy học tích cực đều hướng đến việc lấy học sinh làm trung tâm của giờ học, học sinh là chủ thể của

Trang 6

nhận thức Để đạt được mục tiêu ấy hệ thống câu hỏi và bài tập được vận dụng vào quá trình dạy học chiếm một vị trí khá quan trọng.

Phương pháp dạy - học Văn với tính chất là một khoa học, đã có hơn hai trăm năm lịch sử trên thế giới Bộ môn khoa học này nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn dạy- học Văn trong nhà trường và đã trở thành môn học có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bồi dưỡng nhận thức lý luận và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho giáo viên văn ở các trường sư phạm

Những công trình nghiên cứu, những chuyện luận về phương pháp dạy- học văn từ các nước trên thế giới đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển môn khoa nnhọc về phương pháp dạy học văn ở nước ta Tên tuổi những tác giả của công trình nghiên cứu có ảnh hưởng to lớn đến nền khoa học về phương pháp dạy học văn ở Việt Nam phải kể đến như : Viện sĩ Gơlucôp, Cudriasép, Benlenki, Nhikiaphorova( Nga), đặc biệt công trình xuất sắc của Viện sĩ Secbina

về vấn đề dạy văn ở nhà trường phổ thông được một số nhà nghiên cứu phương pháp Việt Nam học hỏi Một số tác giả của Cộng hòa dân chủ Đức quen thuộc trên lĩnh vực nghiên cứu phương pháp như: Giáo sư tiến sĩ Butop, Vitik, Son, Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu điển hình về phương pháp giảng văn sau đây:

Giáo trình “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông” của Nhicônxki (Nga), giáo trình này đã được dịch và giới thiệu rộng rãi với bạn đọc Việt Nam từ năm 1978 Giáo trình đề cập đầy đủ và tỉ mỉ nhiều vấn đề dạy học văn cho cấp II cà cấp III tác giả đã phân biệt nét riêng trong bản chất giờ văn chủ yếu dựa vào việc hình thành kỹ năng văn học cho học sinh mỗi cấp Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những biện pháp, thủ thuật cụ thể trong quá trình giảng văn học

Công trình của tập thể các nhà khoa học về phương pháp do nữ giáo sư tiến

sĩ Z.La Rez chủ biên mang tên “Phương pháp luận dạy Văn học”, được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ năm 1983, đã phản ánh sự trưởng thành về trình độ khoa học của bộ môn phương pháp giảng dạy văn học Các tác giả đã đề xuất một cách sáng

Trang 7

tạo và có hệ thống những phương pháp giảng dạy văn học Ngoài ra, giáo trình cũng đã vận dụng thích hợp lý thuyết tiếp nhận văn chương vào chuyên ngành phương pháp dạy văn.

Cả hai công trình nêu trên đều xem trọng việc tiếp xúc, làm việc với tác phẩm văn chương và bàn nhiều đến phương pháp giảng dạy cụ thể Hai công trình trên đã có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển bộ môn khoa học về phương pháp dạy học văn ở nước ta ở những năm đầu thập niên 80

Ở Việt Nam, cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra cho nhà trường vàg Giáo dục những tiền đề cơ bản về phát triển lý luận và phương pháp dạy học Văn Song việc hình thành phương pháp dạy học văn với tư cách là một môn khoa học gắn liền với sự trưởng thành của khoa sư phạm và nhà trường mới rõ nhất là từ sau những năm 60 Từ thập niên 60 của thế kỉ XX, phương pháp dạy học văn với

tư cách là một môn khoa học, gắn liền với sự trưởng thành của khoa học sư phạm

và nhà trường phổ thông đã được hình thành và phát triển với sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu tâm lid học sư phạm, nhà giáo trong và ngoài nước

Cuối thập kỉ 60 trở lại đây, những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn mới được nâng lên một bước về chất lượng Có nhiều chuyên luận lần lượt ra đời “Rèn luyện tư duy học sinhqua giảng dạy văn học” của Phan Trọng Luận (1969), Con đường nâng cao hiệu quả dạy Văn” của Phan Trọng Luận (1978),

“Dạy văn dạy cái hay cái đẹp” của Nguyễn Duy Bình (1983),

Những năm gần đây một số nhà nghiên cứu, giáo sư không chuyên về phương pháp cũng đã viết những công trình trực tiếp liên qua đến dạy học văn trong nhà trường Đái Xuân Ninh từ góc độ ngôn nhữ viết: “Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại” (1979) Ngoài ra có một số tác giả như: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Sĩ Cẩn, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Trên các tạp chí Văn học, ngôn ngữ, Văn nghệ, Tạp san Giáo dục cũng có đăng một số bài viết của Hoàng

Trang 8

Tuệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đức Nam và một số giáo viên cũng đã đóng góp nói chung vào việc giảng dạy văn trong nhà trường.

Nhìn chung từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay bước phát btriển của ngành phương pháp dạy văn còn chậm, công trình khoa học chưa nhiều, tiếng nói riêng còn ít Tuy nhiên nghiên cứu về lịch sử tình hìnhnghiên cứu phuwong pháp giảng dạy Văn, không thể không đề cập đến những công trình nghiên cứu có đóng góp to lớn trong những năm gần đây Tác giả Nguyễn Huy Quát và hoàng Hữu Bội

đã chọn và giới thiệu những bài viết từ những năm 70 đến cuối năm 2000 về phương pháp dạu học văn hình thành nên quyển “Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn học trong nhà trường”, NXB Giáo dục, 2001 Chúng tôi xin giới thiệu lại một số công trình tiêu biểu có ảnh hưởng trực tiếp đến môn khoa học về phương pháp dạy học văn

Đặng Hiển với bài viết “Dạy học Văn theo hướng phát triển tư duy” đã thể hiện kinh nghiệm của một Giáo viên trực tiếp giảng dạy văn ở trường trung học phổ thông Tác giả cho rằng dạy văn theo hướng phát triển tư duy cho học sinh không phải là việc đơn giản Tác giả đã rút ra những kết luận về cách phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình dạy học văn Cuối cùng, bài viết nêu rõ hướng phát triển

tư duy đối với việc giảng dạy văn học sử, giảng văn và làm văn Tác giả kết luận: Việc dạy học văn theo hướng phát triển tu duy của học sinh là con đường ngắn nhất

để đến với chất lượng giáo dục thật sự Chỉ có nắm chắc nội dung bộ môn, nắm chắc yêu cầu của việc cung cấp kiến thức và phát triển tư duy, hướng tới phát triển nhân cách và toàn bộ năng lực của học sinh thì chắc chắn người giáo viên sẽ hoàn thành tốt công việc khó khăn của mình

Nguyễn Đăng Mạnh với “Vài suy nghĩ về đổi mới tư duy trong giảng dạy văn học” đã nêu rõ thực trạng dạy và học văn trong nhà trường phổ thông ở cuối thập kỉ 80: học sinh chán họ văn, mặc dù các em vẫn thích đọc văn Một trong các

Trang 9

nguyên nhân của hiện tượng này là nhiều trường chưa thực sự dạy văn, vì giáo viên chưa dạy được những tác phẩm có chất văn đích thực và người giáo viên thiếu năng lực thẩm mĩ văn Từ thực trạng đó tác giả đã nêu ra và giải quyết vấn đề đổi mới tư duy trong giảng dạy văn học Cuối cùng tác giả nhấn mạnh: “Viết văn cũng như dạy văn, đó là công việc đòi hỏi phải có tình cảm, cảm xúc, phải có cảm hứng Muốn thế người cầm bút cũng như giáo viên văn học phải được chân thực và tự do”.(57,tr252).

Trần Đình Sử trong bài viết “ Môn văn thực trạng và giải pháp”, phần về

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Phân tích ý nghĩa của việc tạo tâm thế tích cực, chủ động cho học sinh THPT khi bước vào giờ đọc hiểu văn bản

4.2 Làm sáng tỏ những nội dung then chốt của việc tạo tâm thế tích cực, chủ động cho học sinh THPT khi bước vào giờ đọc hiểu văn bản

4.3 Thiết kế phần dẫn nhập cho một số giờ đọc hiểu văn bản ở trường THPT (hướng theo mục đích nghiên cứu đã xác định) và tiến hành thực nghiệm đối chứng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Trong luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng những nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: nhằm tổng hợp, khái quát những

vấn đề lý luận liên quan đến việc dạy đọc hiểu văn bản ở THPT

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: nhằm khảo sát, đánh giá thực

trạng dạy đọc hiểu văn bản ở THPT

6 Đóng góp của luận văn

Là công trình đầu tiên trực tiếp bàn về vấn đề xây dựng tâm thế tích cực chủ động cho học sinh khi bước vào giờ đọc hiểu văn bản ở trường THPT

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn

được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Ý nghĩa của việc tạo tâm thế tích cực, chủ động cho học sinh

THPT khi bước vào giờ đọc hiểu văn bản

Chương 2 Những nội dung của việc tạo tâm thế tích cực, chủ động cho học

sinh THPT khi bước vào giờ đọc hiểu văn bản

Chương 3 Thiết kế phần dẫn nhập cho một số giờ đọc hiểu văn bản ở trường

1.1.1 Khái niệm phát huy tính tích cực của học sinh

1.1.1.1 Khái niệm học sinh

Trang 11

Theo từ điển của viện ngôn ngữ học trang 454 giaỉ thích học sinh là “ngời theo học ở nhà trờng”.

Nh vậy, khái niệm này chỉ ra rằng đối tợng là học sinh ở các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông Đó những ngời đang trong độ tuổi đi học ở đó có sự tơng đồng với nhau về độ tuổi, nhận thức, tâm sinh lý và quan trọng hơn đó là những đối tợng cần đợc giáo dục

ở đó, học sinh đợc phát triển toàn diện về mọi mặt nh: trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngời Việt nam xã hội chủ nghĩ, xây dựng t cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Khái niệm học sinh còn chỉ một tập hợp ngời Đó là những cá thể khác nhau về các mặt nh: nhận thức, hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình

1.1.1.2 Khỏi niệm tớnh tớch cực.

Tích cực là một phẩm chất vốn có của con ngời trong đời sống xã hội Khác với

đọng vật, con ngời không chỉ tiêu thụ những gì săn có trong tự nhiên mà còn chủ

động, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại của xã hội, sán tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại Hình thành và phát triển tính tích cực của xà hội đã là củng cố một trong những các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm tạo ra những con ngời năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực nh là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

1.1.13 Phỏt huy tớnh tớch cực của học sinh trong dạy học

Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã đợc đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 ở thời điểm này, các trờng s phạm đã có khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phơng hớng

Trang 12

cải cách nhằm đào tạo những ngời lao động sáng tạo, làm chủ đất nớc Từ đó, trong nhà trờng xuất hiện ngày càng nhiều tiết học tốt của gióa viên giỏi, theo hớng tổ chức học sinh hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri tức mới Tuy vậy, phơng pháp dạy học ở tr-ờng phổ thông (và phơng pháp đòa tạo giáo viên ở trờng s phạm) vẫn là cách dạy thông báo kiến thức “đọc-chép” hay còn gọi là truyền thụ một chiều Phơng pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của ngời học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu kỹ năng

Để có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục, trong đó

có đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục và phơng pháp dạy học,

định hớng đổi mới phơng pháp dạy học Định hớng đổi mới phơng pháp dạy học đã

đợc xác định trong nghị quyết Trung ơng khóa IV, khóa VII (1993), nghị quyết Trung ơng II khóa VIII (12-1996) và đợc theert chế hóa trong luật giáo dục sửa đổi ban hành ngày 27/06/2005, điều 2.4 đã ghi “phơng mphaps giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác chủ đông, t duy sáng tạo của ngời học Bồi dỡng cho ngời học năng lực tự học, khả ngăng thực hành, lòng say mê học tập và ý vơn lên” Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ động một chiều “đọc-chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn gọi dạy và học tích cực Trong cách dạy học này, học sinh làm chủ thể hoạt động, giáo viên là ngời thiết kế, tổ chức, hớng dẫn, tạo nên sự tơng tác tích cực giữa ngời dạy và ngời học Dạy nhọc tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập

Trang 13

Tính tích cực của con ngời biểu hiện trong cách hoạt động học tập, là hoạt

động chủ đạo của lứa tuổi đi học Tính tích cực trong học tập là tích cực nhận thức,

đặc trng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, lĩnh hội những tri thức của loài ngời đồng thời tìm kiếm “khám phá” ra những hiểu biết mới cho bản thân Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm đ-

ợc qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình

Tích cực nhận thức trong học tập liên quan đến động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú đúng Hứng thú là tiền đề của tự giác, hứng thú và tự giác là hai yếu

tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra t duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngợc lại

Tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu nh: hăng hái, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều cha biết dựa trên những cái

đã biết, sáng tạo vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tế cuộc sống

Tính tích cực biểu hiện qua các cấp độ:

+ Bắt chớc: Cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy và bạn.+ Tiên đòi: Độc lập giải quyết các vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề

+ Sáng tạo: Tìm cách giải quyết mới độc đáo hữu ích

Ngày nay, việc dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh đã trở thành một phơng pháp không thể thiếu trong trờng phổ thông Vì vậy, làm sao để làm tốt điều này, đặc biệt đối với môn Ngữ văn- một bộ môn mà để dạy tốt không phải là chuyện dễ

Với những bộ môn khác, chỉ cần giáo viên nắm chắc kiến thức, nắm phơng pháp là có thể dạy tốt bộ môn áy nhng riêng môn Văn thì không hẳn thế Bởi đặc trng nổi bật của của tác phẩm văn học là tính đa nghĩa Một tác phẩm văn học có nhiều cách tiếp cận, nhiều cách hiểu khác nhau Nhng tiếp cận chúng nh thế nào, dạy học nh thế nào

để cho học sinh thấy cái hay, cái đẹp trong tác phẩm đó theo tinh thần phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo của học sinh quả là vấn đề không đơn giản

Trang 14

Nh chúng ta đã biết, tính đa nghĩa trong một số tác phẩm đa đến những khó khăn trong việc dạy học, nhng đồng thời cũng biến thành những thuận lợi nếu ngời thầy giáo biết vận dụng nó, dùng nó để khơi gợi sự suy nghĩ, sự tởng tợng sáng tạo của học sinh Từ thực tế giảng dạy cũng nh dự giờ một số đồng nghiệp, bản thân tôi nhận thấy rằng: ngời giáo viên dạy môn văn muốn phát huy tính tích cực của học sinh cần phải chú ý đến những vấn đề sau:

Thứ nhất: Phải có tình yêu đối với bộ môn

Những bộ môn khác có thể ngời giáo viên không yêu thích nó nhng vẫn có thể dạy tốt nhng theo tôi môn văn thì không Văn chơng đòi hỏi ở con ngời sự yêu thích, đam

mê Không có điều đó thì rất khó để cảm nhận cho tốt, cho hay một tác phẩm văn học Lại thêm nữa, ngời giáo viên văn cũng phải chú ý đến việc coi học sinh nh những ngời thân của mình trong gia đình Tình cảm ấy sẽ giúp cả thầy và trò có đợc

sự gần gũi để chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ của mình Từ đó tạo ra thông tin giữa thầy và trò trong quá trình học

Thứ hai: Ngời thầy phải có kiến thức rộng

Nói nh vậy là thật khó, vì môn văn ngoài kiến thức bộ môn thì ngời dạy phải có phông kiến thức xã hội rất rộng, kiến thức ấy thể hiện ở chỗ nắm vững lịch sử văn học, hệ từng vấn đề cơ bản, chắc chắn ở từng phân môn chẳng hạn cũng là bộ môn văn nhng văn thời trung đại khác thời hiện đại về quan niệm thẩm mỹ, về thi pháp Cũng là văn nhng lối t duy của văn học dân gian và văn học bác học không trùng nhau Kiến thức của ngời thầy mỏng sẽ làm loạn sự tiếp nhận của học sinh, không thuyết phục đợc đối tợng tiếp nhận

Đặc trng của một tác phẩm văn học là tính đa nghĩa vì vậy đem đến cho các em học sinh những kiến thức chuẩn xác nhất là một sự tìm tòi, nghiên cứu nhiều của giáo viên dạy văn

Thứ ba: Về phơng pháp Điều cần chú ý khi lên lớp là giáo viên cần cho học sinh

tự do phát biểu những suy nghĩ , cảm nhận của mình về vấn đề mà học sinh đang

Trang 15

h-ớng tới Phải có những động viên kịp thời cho những phát hiện mới lạ khi tiếp nhận tác phẩm của học sinh

Điều tối kỵ khi dạy môn văn là lối áp đặt theo kiểu xuôi chiều chúng ta không thể áp đặt sự hiểu biết của mình lên toàn bộ học sinh trong lớp học Làm nh vậy giờ học văn sẽ trở nên khô cứng, nó là giờ “truyền đạo” hơn là giờ cảm thụ nghệ thuật

Có rất nhiều tác phẩm văn chơng mà nội dung có tính đa nghĩa, câu thơ ẩn chứa nét nghĩa chìm mà ngời giáo viên không tìm hiểu kĩ sẽ không tạo nên nét mới trong dạy học

Do vậy, để khắc phục đợc những tính huống s phạm ngoài ý muốn chỉ còn cách ngời giáo viên dạy văn phải đầu t thật nhiều cho bài giảng ở nhà giáo viên nên đọc nhiều sách, báo để xem tác phẩm ấy, câu thơ ấy có những cách hiểu nào để khỏi bị

động, lúng túng khi học sinh đa ra những cảm nhận khác nhau

Nh vậy, nếu ngời giáo viên đã có những kiến giải về câu thơ, bài thơ đó rồi thì khi học sinh nêu cách cảm nhận của mình, mặc dù có nhiều ý kiến nhng giáo viên vẫn chủ động đợc để dẫn dắt, định hớng cho học sinh một cách hiểu đúng nhất, thuyết phục học sinh thấy đợc tính đa nghĩa của tác phẩm văn học nhng cần phải biết cách hiểu nào là hợp lý nhát, bám sát văn bản, hình tợng thơ nhất Dẫn dắt nh thế nào

đó để vừa đảm bảo học sinh là ngời đồng sáng tạo tác phẩm, vừa không để các em lạc hớng quá xa tác phẩm, thậm trí sa vào những liên tởng, tởng tợng phi văn bản, lại phụ thuộc chủ yếu vào trình độ học vấn, khả năng cảm thụ và bản lĩnh của ngời giáoviên

Tóm lại dạy văn rất khó ở những tác phẩm hay chiều sâu nội tâm, cảm xúc của tác giả, tình ý gửi gắm vào cuộc đời, không hiện ra trên từng câu chữ mà ẩn chìm ở phía sau, nếu hời hời khó nắm bắt đợc.Quá trình “giài mã” bài thơ là quá trình mở ra những cách hiểu, cách cảm khác nhau Đó là quá trình mở ra mà vẫn định hớng, phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong tiếp nhận nhng không để học sinh thoát ly hình tợng Đó là quá trình đòi hỏi rất nhiều năng lực của ngời giáo viên dạy văn

Trang 16

1.1.2 Tiền đề lý thuyết của việc phỏt huy tớnh tớch cực của học sinh

Trong văn kiện Đại hội X (2006) của Đảng, quan điểm chỉ đọa quá trình giáo dục

đ-ợc khẳng định: “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- mô hình giáo dục (ngành học xây dựng hệ thống học tập cho mọi ngời) gọi xã hội học tập với

hệ thống học tập suốt đời; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi ngời và những hình thức học tập , thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thờng xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho ngời học đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”

Tới Đại hội XI (2011), quan điểm chỉ đọa phát triển giáo dục của Đảng đã đợc nâng lên tầm nhìn của thời đại, hội nhập quốc tế đồng thời thể hiện thái độ không chấp nhận mô hình giáo dục hiện tại, khi nó đã hết tính thích ứng với một xã hội đang từng bớc hoàn thành

sự nghiệp công nghiệp hóa: “ Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; năng cao chất lợng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và hội nhập quốc, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập và tạo điều kiện cho mọi công dân đợc nhọc tập suốt đời”

Chúng ta biết rằng mô hình giáo dục hiện nay vốn đợc định hình từ nghi quyết số 14- Nghị quyết trung ơng ngày 11-01-1979 của Bộ chính trị về cải cách giáo dục Trên 30 năm qua, mô hình này đã qua nhiều năm điều chỉnh, khá nhiều chi tiết trong cấu trúc đã đợc thay đổi để khắc phục những bất cập trớc sự chuyển đổi từ nền kinh tế theo cơ chế bao cấp sang nền kinh tế theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa Tuy mô hình giáo dục

cũ cũng đã có biến dạng nhều nhng nó vẫn ngày càng tỏ ra lạc hậu trớc một thời đại đã thay

đổi mang tính thế hệ về nguyên lí giáo dục và đào tạo con ngời Sự thay đổi theo cách chắp vá đã không đủ để nền giáo dục theo mô hình cũ đem lại một chất lợng mà nguồn nhân lực cần phải có Do vậy, mô hình giáo dục hiện đại cần phải đổi mới căn bản và toàn diện

Thay đổi mô hình giáo dục, về thực chất là một cuộc cách mạng về giáo dục Việc bthaos dỡ cấu trúc cũ của hệ thống giáo dục để thay vào đó một cấu trúc mới sẽ kéo theo sự thay đổi những mối quan hệ nội tại giữa các thiết chế giáo dục theo mô hình mới Trong đó chúng ta phải đợc vận hành theo những nguyên tắc và cơ chế mới, đợc quản lý theo phơng

Trang 17

pháp mới, đợc định hớng phát triển bởi những chính sách mới Đó là một thay đổi căn bản

về mục tiêu giáo dục, về các phơng diện nh nghệ thuật giáo dục, nội dung và phơng pháp giáo dục, hệ thống giáo dục Mặt khác sự lãnh đạo và quản lí mô hình giáo dục mới lại phải theo hệ thống lí thuyết mới, hệ thống quan điểm mới, phải xóa bỏ phơng thức tu duy cũ đã lỗi thời, nghĩa là phải thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ Đó là tính triệt để, không dung hòa, không cải lơng, không nửa vời trong lí luận

Chúng ta đang hớng tới sự phát triển nền kinh tế tri thức, từng bớc chuyển dần một

số lĩnh vực sản xuất công nghiệp sang kinh tế tri thức Vấn đề đặt ra lag phải sử dụng những công nghệ cao, mà việc làm chủ những công nghệ này cần đến những nhân tài, với t cách là những lao động có những tri thức chuyên môn sâu và có năng lực sáng tạo trong hoạt động sản xuất Nhân tài đợc hiểu là bộ phận lao động trí tuệ trong nguồn nhân lực chất lợng cao Vì vậy, qui hoạch bồi dỡng nhân tài trở thành mục tiêu trong phát triển chiến lợc giáo dục Nhân tài là yếu tố hàng đầu của năng lực cạnh tranh trên thị trờng Chất lợng đào tạo có ý nghĩa quyết định đối với chiến lợc nhân tài của đất nớc Trong quá trình xây dựng xã hội học tập, phải có những thiết chế giáo dục phụ trách công việc đào tạo

1.1.2.1 Bản chất của hoạt động nhận thức

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lí luận nhận thức Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lí, phát triển một cách sáng tạo và đợc minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, của thực tiễn xã hội, C.Mác và Ăngghen đã xây dựng nên lý thuyết về nhận thức Học thuýêt này ra

đời dựa trên những nguyên tác cơ bản sau:

Một là: Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con ngời

Hai là: Thừa nhận khả năng nhận thức đợc thế giới của con ngời Coi nhận thức

là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con ngời, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể Không có cái gì là không thể nhận thức đợc mà chr có cái con ngời cha nhận thức nhng sẽ nhận thức đợc

Trang 18

Ba là: Khẳng định sự phản ánh đólà một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác

và sáng tạo Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ cha biết đến biết, từ biết ít

đến biết nhiều, đi từ hiện tợng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

Bốn là: Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Dựa trên những nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:

Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc trên cơ sở thực tiến

Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con ngời phải có nhận thức, tỏ thái độ và hành động với thế giớ ấy Nhận thức tình cảm và hành động là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con ngời Trong quá trình hoạt động, con ngời phải nhận thức, thông qua hoạt động nhận thức, hiện thực xung quanh và hiện thực bản thân đợc phản ánh, trên cơ sở đó con ngời tỏ thái độ, tình cảm và hoạt động “Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con ngời thông qua các cơ quan cảm giác và dựa trên những hiểu biết vốn liếng kinh nghiệm đã có của bản thân”

Việc nhận thức thế giới có thể đạt tới những mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Mức độ nhận thức cảm tính, mức độ cao hơn là nhận thức lí tính Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó con ngời phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan con ngời Mức

độ cao là nhận thức lí tính, bao bgoomf t duy và tởng tợng, trong đó con ngời phản

ánh những cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính qui luật Nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con ngời

1.1.2.2 Bản chất của hoạt động học tập theo quan điểm giỏo dục hiện đại.

Nền giáo dục hiện đại ngày nay rất coi trọng phơng pháp học, coi đó nh một con ờng hữu hiệu nhất để chiếm lĩnh tri thức Phơng pháp đợc coi nh là chiếc chìa khóa

Trang 19

đ-mở ra mọi thành công trong quá trình học tập Quan điểm giáo dục hiện nay chú trọng các khâu sau trong quá trình dạy và học

Dạy cách học, học cách học, học con đờng chiếm lĩnh tri thức

- Dạy cách học

Dạy học sinh cách học đã đợc các thầy cô giáo thực hiện từ lâu Nhng có thời gian ờng nh thầy cô giáo ít chú trọng đến việc dạy cho học sinh cách học do cho reằng học sinh đã biết

d-Mỗi một bộ môn có một cách học khác nhau và giáo viên bộ môn thờng hớng dẫn cách học bộ môn đó vào tiết đầu tiên của chơng trình giảng dạy Còn cách học để quen dần với phơng pháp dạy học mới củ thầy cô thì có lẽ cha đợc chú trọng nhiều Học sinh cũng phải có trách nhiệm trong quá trình đổi mới phơng pháp trong trờng nơi các em theo học Giáo viên phải dạy cho các em cách thức hoàn thành trách nhiệm đó Vậy thì dạy học cho học sinh cách học nh thế nào?

Dạy cho học sinh cách học, trớc hết là dạy cho các em dành hết tâm trí vào việc học Giáo viên phải giúp cho học sinh biết đợc trách nhiệm học tập của các em thông qua các hoạt động, những câu chuyện đề cao việc học và lợi ích của việc học hành có kết quả ảnh hởng đến tơng lai của các em nh thế nào Giáo viên nên tránh việc la mắng học sinh khi các em lơ là trong học tập, nên có các biện pháp uyển chuyển hơn (vì ở nhà các em đã bị bố mẹ la mắng rồi)

Tùy theo đặc điểm lứa tuổi của học sinhmà cách dạy cho học sinh cách học cũng phải khác Hãy chứng tỏ cho các em, hiện nay chúng ta là những ngời thầy nhng chúng ta cũng đang cần phải học

Dạy cho học sinh cách học là dạy cho các em biết cần phải làm những công việc gì, bao gồm các công việc các em phải làm lúc ở nàh và khi đến trờng

Những công việc chúng ta bắt đầu dạy cho học sinh cách học là những công việc chúng ta thờng hay thực hiện trên lớp, nhng có điều liệu các em có thực hiện đúng những điều chúng ta đã dạy cho các em hay không

Trang 20

Giáo viên ( đặc biệt là GV chủ nhiệm) nên tận tình hớng dẫn cho các em cách sắp xếp công việc cho từng thời gian cụ thể trong ngày hoặc trong tuần Giáo viên có thể làm các khuôn mẫu cho các em làm theo Đừng sợ các em học sinh lớp dới sẽ không làm

đợc Nếu giáo viên kiên trì thực hiện thì học sinh sẽ thực hiện đợc Dạy cho học sinh cách chú ý lắng nghe tích cực, tập trung trong giờ học, cách học với các học sinh khác (ở nhà tự học theo nhóm hoặc trên lớp thực hành theo cặp, nhóm) Dạy học cho học sinh các thủ thuật ghi nhớ bài học một cách khoa học, cách tự đọc tài liệu, các loại sách khác nhau, nh sách văn học, sách khoa học, cách ghi chú những điều đã học Dạy cho học sinh cáh ôn tập để chuẩn bị thi cử, cách làm từng dạng đề, cách chuẩn bị trớc và vào ngày thi

Tất cả những vấn đề trên đều phải dạy cho học sinh biết và thực hành, chứ không chỉ

đơn thuần là thầy giáo nói cho học sinh nghe Nếu chỉ nói cho học sinh nghe không thôi thì không chóng thì chầyhọc sinh cũng sẽ quên hết Chỉ có thực hành thì học sinh mới nhớ đợc Dạy cho học sinh cách tự chuẩn bị cho việc thi cử của các em nh bthế nào?

Một cách tiện lợi nhất là giáo viên biên soạn các đề kiểm tra (độ khó gần giống nh

độ khó của đề thi tốt nghiệp) rồi giao cho các em ntự làm ở nhà Để thực hiện giúp các em rèn luyện, mỗi lần giao bài kiểm tra, giáo viên chuẩn bị chừng 10 đề kiểm tra

có nội dung khác nhau (chú không phải 10 mã đề đợc thiết kế từu một đề), giao cho hai em ở gần nhau hai đề kiểm tra khác nhau Nh vạy các em có thể hởi nhau nhng không thể chép kết quả của nhau đợc

- Học cách hoc

Tại sao chúng ta phải đề cập đến vấn đề này? Hiện nay, xã hội của chúng ta đang phát triển mạnh mẽ, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin Con ngời chúng ta đang sống trong một “cuộc sống số” mọi vấn đề chính trị xã hội của thế giới chúng ta đều cập nhật bằng một động tác rất đơn giản và dễ dàng trên Internet chính vì điều này

mà luồng thông tin đến với chúng ta rất nhiều, nhất là học sinh khi các em cha có kỹ năng sàng lọc thông tin nên các em dễ bị nhiễu thông tin ngời giáo viên phải giúp

Trang 21

các em học sinh điều này để tránh tình trạng các em tiếp thu ồ ạt thông tin mà không

có sự kiểm soát của các ngành chức năng Lợng thông tin xô bồ đó sẽ khiến các em

đi chệch hớng với nội dung bài học

- Học con đờng chiếm lĩnh tri thức

Tri thức của nhân loại là vô cùng, vô tận mà sự hiểu biết của con ngời chỉ có han Làm cách nào đó, mà ngời giáo viên phải giúp các em học sinh có một con đờng

đúng đắn nhất để chiếm lĩnh tri thức Khi đứng trớc một vấn đề, chính vấn đề đó nó làm nảy nở trong ta bao nhiêu là câu hỏi, ta phải tìm cách giải quyết nó trong vô vàn khó khăn Vậy cách nào là hữu hiệu nhất? Câu hỏi đó đợc trả lời nếu ta có một phơng pháp đúng đắn, một con đờng chiếm lĩnh nó hợp lý Không hiểu thì không thể lĩnh hội tri thức đợc Từ lâu ai cũng hiểu chân lý này Học thuộc lòng mà không hiểu thì chỉ làm t duy của chúng ta chai lỳ Trong quá trình dạy học thì nguời giáo viên chính

là ngời truyền cho học sinh của mình những con đờng chiếm lĩnh tri thức đó

1.1.2.3 Bốn trụ cột của việc học trong thế kỳ XXI

Trang 22

dù sống ở nơi nào, cũng có cơ hội tiếp cận với một nền giáo dục khoa học và trở thành những ngời bạn của khoa học trong suốt cuộc đời mình.

Tuy nhiên, vì kiến thức vô cùng phong phú và có thể đợc phát triển vô bờ bến, thật vô ích khi ai đó nỗ lực học để biết hết tất cả Thực tế là sau khi hoàn thành giáo dục cơ bản, ý tởng trở thành một chuyên gia đa lĩnh vực là một ảo tởng chính vì thế

mà các chơng trình giáo dục trung học phổ thông và đại học đợc thiết kế xoay quanh một vài ngành học cụ thể với mục đích là cung cấp cho ngời học các công cụ, ý tởng

họ lại thấy khó khăn bối rối Nói cách khác, giáo dục đại cơng rèn giũa mối liên hệ không gian và thời gian trong xã nhội, làm cho ngời học dễ dàng tiếp nhận những chi nhánh khác nhau của kiến thức Khi lịch sử khoa học đợc viết bởi các nhà sử học thì chính các nhà khoa học cũng thấy đợc tác dụng của việc này Cũng tơng tự nh thế, các luật s, nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu khoa học chính trị cũng cần phả có những kiến thức cơ bản về kinh tế học

Vì thế, học để biết chính là học cách học thế nào để phát triển sự tập trung, các

kĩ năng ghi nhớ và khả năng t duy của mình

Từ lúc sơ sinh, trẻ con đã phải học cách tập trung vào các sự vật và con ngời Quá trình rèn luyện khả năng tập trung có thể có nhiều hình thức khác nhau và đợc

hỗ trợ bởi nhiều cơ hội học tập xuất hiện suốt quãng đời ngời

Sự phát triển khả năng ghi nhớ là một công cụ đắc lực cho việc chế ngự dòng chảy thông tin quá mạnh mẽ do giới truyền thông cung cấp Thật nguy hiểm nếu kết luận rằng con ngời không cần cải thiện khả năng ghi nhớ của mình do đã có sẵn năng

Trang 23

lực lu trữ và phân phối thông tin Con ngời cũng cần phải biết lựa chọn những dữ liệu

đê “học thuộc lòng” Một khi dữ kiện đợc ghi nhớ, con ngời có khả năng thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện với nhau tốt hơn cả máy tính Khả năng đặc trng của con ngời về việc liên kết các dữ liệu đợc ghi nhớ là quá trình khống chế tự nhiên mà có Quá trình này phải đợc tập luyện, trau dồi một cách cẩn thận Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng kĩ năng ghi nhớ phải đợc phát triển từ lúc còn bé, vì thật nguy hiểm nếu bỏ đi các bài tập kiểu truyền thống (tức là học thuộc lòng) bởi vì chúng bị cho là quá nhàm chán

Kỹ năng suy nghĩ (hay t duy) là điều trẻ con học đợc đầu tiên ở cha mẹ và thây cô Quá trình này cần phải chứa đựng trong nó cả hai kĩ năng giải quyết vấn đề thực tế và tu duy trừu tợng Vì thế giáo dục và nghiên cứu cần phải kết hợp cả lí luận diễn dịch và quy nạp mà hai quá tình này thờng đợc xem là đối lập nhau Trong khi kiểu lí luận này đợc xem là phù hợp hơn với kiểu lí luận kia, tùy vào mon học đợc giảng dạy, nhìn chung là không thể theo đuổi một dòng t tởng logic nếu không kết hợp cả hai

Quá trình học để t duy kéo dài suốt đời và có thể đợc nâng ccao bởi bất cứ loại kinh nghiệm nào của con ngời ở khía cạnh này, khi công việc của con ngời ngày càng bớt nhàm chán họ sẽ nhận ra rằng kĩ năng t duy của mình ngày càng đợc thử thách ở nơi công tác

đợc Tuy vậy làm công ăn lơng nhấn mạnh mảng kiến thức trong công việc, thậm chí trong công nghiệp và các ngành kinh tế khác Tơng lai của các ngành kinh tế này xoay quanh khả năng của những ngời làm công ăn lơng trong việc chuyển những tiến

Trang 24

bộ trong sách vở thành những sáng kiến để tạo ra những lĩnh vực kinh doanh mới và công việc làm ăn mới “Học để làm không còn mang ý nghĩa là đào tạo ra những con ngời để họ làm một công việc tay chân cụ thể trong một dây truyền sản xuất nữa” Chính vì thế đào tạo kĩ năng ra đời và mang ý nghĩa cao hơn là việc chỉ áp dụng kiến thức cần thiết vào một công việc thờng ngày.

Trong nền kinh tế tiên tiến có sự “chia tay” với các công việc tay chân Hàm ý của

điều này vứi giáo dục càng rõ hơn nữa khi ta nhìn vào sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ cả về số lơng lẫn chất lợng 60-80% dân số trong độ tuổi lao động ở các nớc công nghiệp hóa đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Đặc điểm nổi bật btrong lĩnh vực rộng lớn này là nó bao gồm toàn bộ các hoạt động không phải công nghiệp cũng không phỉa nông nghiệp, và dù vô cùng phong phú nó cũng liên quan

đến một sản phẩm hữu ích nào

Nhiều loại dịch vụ đợc định nghĩa chủ yếu vào các mối quan hệ giữa ngời với ngời có liên quan Bằng chứng cho điều này đợc tìm thấy cả ở khu vực dịch vụ t nhân, dịch vụ bảo vệ, dịch vụ t vấn công nghệ cao, dịch vụ tài chính kế toán, quản lí và cả

ơt khu vực nhà nớc nh dịch vụ xã hội, dịch vụ y tê, giáo dục ở cả hai khu vực này, thông tin và giao tiếp giữ vai trò sóng còn Khía cạnh then chốt ở đây là việc mỗi cá nhân tiếp thu và xử lí dữ liệu cho một mục đích đã đợc xác định trớc Trong lĩnh vực dịch vụ, cả ngời cung cấp và ngời sử dụng dịch vụ đều có ảnh hởng đến chất lợng của mối quan hệ giữa họ Rõ ràng là con ngời không thể đợc đòa tạo để làm các công việc này theo cách họ học cày một mảnh đất hay làm ra một tấm thép Những công việc này liên quan đến mối quan hệ giữa ngời với ngời, mối quan hệ giữa các công nhân với các vật liệu và quá trình mà họ sử dụng Sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi phải có những ngời có các kỹ năng xã hội và giao tiếp tốt- những kĩ năng thờng không đợc dạy ở nhà trờng

Sau hết, trong các cơ cấu công nghệ cực kỳ cao ở tơng lai, nơi mà việc thiếu đi các mối quan hệ sẽ dẫn đến những lệch lạc chức năng nghiêm trọng thì các kĩ năng mới dựa trên nền tảng quan hệ giữa ngời với ngời hơn là nền tảng trí tuệ có thể sẽ cần

Trang 25

thiết Việc này sẽ tạo điều kiện cho những ngời ít đợc hoặc không đợc học hành chính qui bài bản Những phẩm chất nh trực giác lơng tri, óc suy xét và kĩ năng ít nhiều mang tính bẩm sinh này đợc dạy nh thế nào và ở đâu? Vấn đề này cũng na ná vấn đề dạy nghề đợc đặt ra ở các nớc đang phát triển Chơng trình giáo dục đơn giản không thể đợc suy ra từ “bản tuyên bố” các kỹ năng và khả năng cần thiết để phục vụ cho một công việc cụ thể nào.

Bản chất của công việc rất khác nhau giữa các nền kinh tế ở các nớc đang phát triển, mọi nhà hầu hết những ngời đi làm không phải là những ngời là công ăn lơng ở những quốc gia nằm trong khu vực Châu Phi, một số quốc gia ở châu Mĩ la tinh và Châu á, chỉ có một tỷ leejraats nhỏ những ngời làm công ăn lơng, phần lớn công việc mang lại kế sinh nhai cho họ không đòi hỏi những phẩm chất công tác nào cu thể và

bí quyết chính là điều họ rút ra đợc từ công việc của mình vì lí do này mà giáo dục không thể đợc đúc khuôn theo các kiểu mẫu dờng nh chỉ thích hợp với các xã hội hậu công nghiệp Ngoài ra chức năng của học tập không thể chỉ giới hạn ở công việc

mà còn phải đạt tới mục đích rộng lớn, đó chính là sự tham gia chính thức hoặc không chính thức vào quá trình phát triển Để đạt đợc điều này, ngời học cần phải đợc trang bị các kĩ năng xã hội bên cạnh các kĩ năng nghề nghiệp

Thứ ba: Học để tự khẳng định

Một nguyên tắc rất cơ bản của giáo dục là góp phần hoàn thiện sự phát triển của con ngời- đầu óc, thể chất, trí thông minh, sự nhạy cảm , gu thẩm mỹ, tinh thần Mọi btrer em và thanh niên cần phải đợc tiếp cận với một nền giáo dục mang lại cho các

em những kiến thức và kĩ năng cần thiết để phát triển cách t duy và phán xét độc lập,

để các em có thể tự mình quyết định nên hành xử nh thế nào cho đúng đắn khi gặp những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc đời mình

ở khía cạnh này, mục tiêu của phát triển đợc cho là việc con ngời, bằng tất cả sự phong phú trong tính cách của mình có thể diễn đạt đợc những phiuwcs tạp trong suy nghĩ của mình bằng nhiều hình thức khác nhau và làm tốt những vai trò khác nhau cảu mình với t cách là một cá nhân, một thành viên trong gia đình và cộng đồng; một

Trang 26

công dân, ngời sản xuất, ngời phát minh ra những phơng pháp kĩ thuật mới và một ngời biết mơ mộng một cách tích cc.

Sự phát triển này của một ngời , bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục cho đến hết cuộc đời, là một quá trình biện chứng dựa vào kiến thức mình có và các mối quan hệ với ngời khác Sự phát triển này cũng cho ta những phỏng đoán rằng ngời này sẽ có những kinh nghiệm thành công Với t cách là một phơng tiện đào tạo cá tính, giáo dục phải là một quá trình đặc thù hóa cao độ và cũng là một kinh nghiệm xã hội mang tính tơng tác cao

Từ đầu những năm 70, ngời ta đã bắt đầu lo sợ những tiến bộ về kĩ thuật sẽ làm cho thế giới trở nên mất đần nhân tính Vì thế ngời ta cho rằng giáo dục phải làm sao cho ngời học tự giải quyết các vấn đề của mình, tự ra quyets định và tự chịu trách nhiệm về những quyết dịnh đó (Thông điệp này là tiền đề cho việc giáo dục kĩ năng sống mà hiện nay nớc ta đang áp dụng) Kể từ đó, tất cả các tiến bộ trong những lĩnh vực khác nhau, đăc biệt là sự gia tăng đáng kinh ngạc quyền lực của thông tin đại chúng, điều làm cho nỗi lo sợ đó tăng thêm và tạo ra cảm giác rằng nó càng hợp pháp

Thay vì giáo dục học sinh trong một xã hội đã định sẵn, thách thức mới sẽ làm sao để mọi ngời luôn có đủ các năng lực cá nhân và các công cụ tri thức cần thiết để hiểu thế giới hành xử một cách không thành kiến và đầy trách nhiệm Hơn bao giờ hết nhiệm vụ cấp bách của giáo dục hiện giờ có lẽ là đảm bảo cho mọi ngời có đợc sự

tự do trong t duy, phán xét, cảm nhận, sáng tạo để phát triển tài năng của mình và kiểm soát đợc cuộc sống của mình càng nhiều càng tốt Đây không phải là lời kêu gọi chủ nghĩa cá nhân Những kinh nghiệm gần đây cho thấy rằng những gì là cơ chế tự

vệ cá nhân chống lại một hệ thống xa lạ không thân thiện cũng tạo cơ hội tốt cho tiến

bộ xã hội Nơi nào có những sự khác biệt mang dấu ấn của cá tính, sự độc lập và các sáng kiến cá nhân, hoặc chỉ là việc làm đảo lộn một trật tự đã đợc thiết lập, nơi đó có những đảm bảo tốt nhất cho tính sáng tạo và đổi mới Từ chối những mô hình công nghệ cao đợc nhập khẩu để tập trung vào việc tìm hiểu các tri thức và sức mạnh

Trang 27

mang tính truyền thống là những nhân tố hiệu quả cho sự phát triển nội sinh Những phơng pháp mới có hiệu quả trong việc giảm bạo lực và đơng đầu với các vấn đề xã hội đang đợc nhìn nhận rộng rãi đều xuất phát từ các thực nghiệm ở cấp cộng đồng

“bản báo cáo” các thành tựu đạt đợc của những ngời thuộc thế hệ trớc hoặc thế hệ này ở nhà trờng, nghệ thuật và thơ văn cần phải có chỗ đứng quan trọng hơn cái chỗ

mà hiện nay nó đợc đạt bởi một nền giáo dục quốc gia mang tính vụ lợi hơn là văn hóa Mối quan hệ trên phát triển trí tởng tợng và óc sáng tạo cũng sẽ khôi phục lại giá trị của nền văn hóa tri thức truyền miệng đợc đức kết từ kinh nghiệm của trẻ em hoặc ngời lớn

Trang 28

bằng cách tự giáo dục mình để tránh xảy ra mâu thuẫn để giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình.

Dù việc giáo dục về tính phi bạo lực trong trờng họcđợc đánh giá là cao, nhng thực tế nội dung giảng dạy này cũng cha đủ Thách thức càng trở nên khó khăn hơn khi con ngời có thiên hớng đánh giá quá cao khả năng của mình, hoặc khả năng của nhóm mình để từ đó áp đặt thành kiến lên ngời khác hoặc những nhóm còn lại Hơn thế nữa, một môi trờng cạnh tranh chung đợc thể hiện ở tất cả các nền kinh tế nội địa

và quốc tế đang có xu hớng biến tính ganh đua và thành công của cá nhân những giá trị hiện đại Thực tế tính ganh đua này bị biến thành một cuộc chiến kinh tế tàn nhẫn

và tình trạng căng thẳng giữa các nớc giàu và nghèo, xé toang các quốc gia và thế giới này và làm trầm trọng thêm những sự kình địch lịch sử Thật đáng tiếc, với việc hiểu sai nghĩa của từ “cạnh tranh”, giáo dục đôi khi lại giúp duy trì tình trạng trên Chúng ta có thể làm tốt hơn bằng cách nào? Kinh nghiệm cho thấy nếu chỉ thiết lập mối liên hệ và thông tin giữa những ngời đáng tin cậy đợc giao trọng trách dấn thân vào mâu thuẫn để làm giảm nguy cơ là cha đủ Nếu những nhóm khác nhau là thù địch của nhau hoặc nếu họ không có cùng địa vị trong cùng một khu vực địa lý, những mối liên hệ nh thế có khi lại có tác động ngợc lại điều mà nó mong muốn, có khi nó lại tạo ra những căng thẳng ngầm và suy thoái thành cơ hội cho mâu thuẫn xuất hiện, Mặt khác, nếu mối liên hệ này đợc đặt trong một bối cảnh trung lập với việc theo đuổi các mục tiêu và hoạt động chung, những thành kiến và thái độ thù địch tiềm tàng có thể sẽ nhờng chỗ cho một hình thái hợp tác thoải mái hơn hoặc có khi trở thành tình hữu nghị

Chúng ta dờng nh có thể rút ra một kết luận là giáo dục cần phải tiếp nhận hai

ph-ơng pháp bổ sung cho nhau Một là, trong giai đoạn đầu của giáo dục, từ lúc còn trẻ thơ, trẻ em cần đợc tập trung khám phá con ngời Trong giai đoạn thứ hai và cũng là giai đoạn suốt đời, giáo dục phải khuyến khích con ngời cùng nhau tham gia vào các hoạt động chung Đây dờng nh là một cách hiệu quả để phòng tránh mâu thuẫn hoặc giải quyết những mâu thuẫn tiềm tàng

Trang 29

Một trong những nhiệm vụ của giáo dục là dạy cho học sinh, sinh viên về sự đa dạng của con ngời và càng làm cho các em thấm nhuần nhận thức rằng mọi ngời đều

có những sự giống nhau và phụ thuộc lẫn nhau Từ khi ấu thơ, trờng học phải nắm lấy mọi cơ hội để giúp các em theo đuổi hai khía cạnh của cùng một phơng pháp này Một vài môn học có thể cung cấp cho các em những cơ hội này, đó là địa lí học về nhân loại giáo dục cơ bản, ngoại ngữ và văn chơng ở những cấp học cao hơn

Hơn thế nữa, cho dù là giáo dục trong gia đình, cộng đồng hay trờng học thì trẻ

em cũng phải đợc dạy để hiểu những phản ứng của ngời khác bằng cách nhìn vào các

sự việc theo quan điểm của họ Khi nhà trờng truyền đạt đợc những thấu cảm này cho các em thì tác dụng tích cực của nó vô cùng to lớn đối với những hành vi xã hội suốt

đời của các em

Phơng pháp giảng dạy giáo điều trong trờng học thờng dập tắt hết những tò mò

và phê bình lành mạnh từ phía học trò, ngời giáo viên, ngợc lại, phải dạy cho học sinh cách tham gia vào những cuộc tranh luận sống động để các em nhận ra rằng ai cũng

có quyền của mình Nếu quên rằng mình chính là “ngời mẫu” đối với học trò mà vẫn tiếp tục cứng nhắc và giáo điều, giáo viên sẽ làm cản trở sự cởi mở của trẻ với những ngời xung quanh và bào mòn khả năng đơng đầu với những căng thẳng không thể tránh khỏi trong cuộc sống của các em Vì thế, một trong những công cụ cần thiết của giáo dục trong thế kỉ 21 là cần có một diễn đàn để đối thoại và thảo luận

Giáo dục chính qui trong thế kỉ 21 cần phải hớng tới một mục tiêu là làm sao phải thiết kế chơng trình học sao cho ngời học có đủ thời gian và cơ hội để đến với các dự

án hợp tác ngay từ những năm đầu đời, bắt đầu từ những hoạt động thể thao văn hóa Phơng pháp này cũng cần tạo điều kiện cho ngời học tham gia vào các hoạt động xã hội Những thiết chế giáo dục khác nên tạo ra các hoạt động tơng tự nh ở trờng học

ở một góc nhìn khác, khi giáo viên và học trò cùng nhau tham gia vào các dự án chung trong trờng học, cái sẽ học đợc là phơng pháp giải quyết các mâu thuẫn và đợc cung cấp một nguồn tham khảo quí gái khi vào đời

Trang 30

1.1.3 Thực trạng của việc phỏt huy tớnh tớnh cực của học sinh ở trường phổ thụng hiện nay

Lối học của nền giáo dục Việt Nam từ xa đến nay là minh hàng loạt các kiến thức qua sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng với một hình ảnh quen thuộc Hệ quả

là ngời học phải cố nhớ, lắng nghe và ghi chép toàn bộ kiến thức từ ngời dạy Và từ thế này sang thế khác chúng ta sẽ tạo ra những con ngời thụ động, giáo điều và nguyên tắc theo sách vở mà khả năng độc lập, t duy và sáng tạo kém

ở nớc ta, mầm mống t tởng dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã có từ lâu Chúng ta có thể thấy đợc điều này qua các ngạn ngữ “Học thầy không tày học bạn”,

“học một biết mời”

Vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của nhọc sinh nhằm đào tạo những ngời lao động sáng tạo đã đợc đặt ra trong ngành giáo dục từ nững năm 1960 Khẩu hiệu

“Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đã đi vào các trờng s phạm

từ thời điểm đó Phong trào học tập lấy học sinh làm trung tâm đợc giá s Lê Khánh Bằng đã đề cập đến vấn đề này trên các phơng diện vĩ mô và vi mô, ở đây ngời dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của ngời học, đến những đặc điểm sinh lí và cấu btrucs t duy của từng ngời

Hiện nay, trong ngành giáo dục nớc ta vấn đề phát huy tích cực sáng tạo của ngời học đợc mọi ngời nhất trí nhng vấn đề học sinh tích cực cha phải là đợc mọi ngời chấp nhận và đợc quan niệm một cách thống nhất Có ngời phản đối vì cho rằng cách dịch thuật ngữ này sang Tiếng Việt không thành công, có thể gây ra sự hiểu lầm Có ngời không chấp nhận vị trí trung tâm của ngời học trong hoạt động dạy học vì e rằng

sẽ hạ thấp vai trò của giáo viên, tạo ra sự đổi ngôi trong nhà trờng Cũng có ngời cho rằng lấy học sinh làm trung tâm là một lý thuyết giáo dục đã lỗi thời, thậm chí đã đợc bác bỏ

Trên thực tế, trong giai đoạn (hiện nay) phát triển ban đầu, t tởng học sinh tích cực cũng đã từng có những lệch lạc bị phê phán nh quá đề cao hứng thú cá nhân học sinh Coi đó là động lực quan trọng nhất của quá trình học tập, hoặc quan niệm quá

Trang 31

khích rằng nhà trờng phải dạy những gì học sinh cần chứ không phải dạy những gì nhà trờng có (chú ý)

1.1.3.1 Khảo sỏt thụng qua cỏc tài liệu nghiờn cứu về PPDH

Hiện nay các tài liệu nghiên cứu bộ môn ngữ văn nói chung là rất nhiều nhng nghiên cứu riêng về phơng pháp dạy học văn theo hớng tích cực thì không nhiều bởi

đây là một bộ môn còn rất mới mẻ Chúng ta có thể điểm qua những côn trình nghiên cứu của một số tác giả nghiên cứu về phơng pháp dạy học văn

Theo cuốn “Văn học nhà trờng nhận diện, tiếp cận đổi mới” của tác giả Phan Trọng Luận thì ở nớc ta nếu tính từ năm 1950 khi cuốn Giảng văn “Chinh phụ ngâm” của giáo s Đặng Thai Mai đợc ấn hành ở Liên khu IV trong kháng chiến chống Pháp

đến nay, số lợng những công trình lớn nhỏ về phơng pháp dạy học văn, đặc biệt khoảng một chục năm nay đã tăng rõ rệt nhng những công trình ra đời vào những năm đầu của những năm 60 thì còn “dính dáng” nhiều đến lí luận văn học (Mấy vấn

đề giàng dạy trong nhà trờng phổ thông của Tạ Phong Châu, Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử ở cấp III của Phan Trọng Luận),hoặc thiên về ứng dụng lí luận dạy học (Giáo án giảng văn cấp III, giáo án giảng văn cấp II,III do Phan Trọng Luận chủ biên; Kinh nghiệm giảng dạy văn học cấp III của Trơng Dĩnh, Phan Trọng Luận, Đỗ Quang Lu, Vũ Ngọc Khánh) Phải cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX lại đây, những công trình chuyên ngành mới đợc nâng lên một bớc về chất lợng Nhiều chuyên luận lần l-

ợt ra đời nh:

Rèn luyện t duy học sinh qua giảng dạy văn học của tác giả Phan Trọng Luận.Vấn đề giảng văn học theo thể loại của Trần Thanh Đạm, Hoàng Nh Mai, Phan

Sĩ Tấn, Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩm

Phơng pháp dạy học Ngữ Văn ở trờng THCS theo hớng tích hợp và tích cực của

Đoàn Thị Kim Nhung

Nguyễn Viết Chữ với Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng theo thể loại Tất cả những tài liệu trên đều có một ý tởng chung đó là các tác giả tìm mọi phơng pháp đa môn văn trong trờng phát triển trở về với ý nghĩa thật của nó Có

Trang 32

nghĩa là ngời dạy phải có ý thức sâu sắc với công việc dạy học của mình, luôn tạo ra cái mới trong quá trình dạy học Dạy học phục vụ cho nhu cầu của ngời học, tạo đợc sức thu hút, thuyết phục, hình thành động cơ bên trong của học sinh; dạy học cần khai thác tối đa tiềm năng của ngời học, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo, dạy học tạo ra cho ngời học một môi trờng để có thể tự khám phá cái mới Giáo viên tổ chức, hớng dẫn học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tạo cho họ khả năng và

điều kiện chủ động sáng tạo trong hoạt động của học sinh

1.1.3.2 Khảo sỏt thụng qua thực tế dạy học tại địa phương của tỏc giả luận văn

Đổi mới phơng pháp dạy học là một cách làm đúng đắn Nó không chỉ mang

đến lợi ích cho ngời học mà ngời dạy cũng cảm thấy nh có “luồng gió mới” thổi vào cách dạy của mình Ngời giáo viên không còn dạy học theo kiểu cổ xa Giờ đây, ngời học có thể bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề giáo viên đa ra Ngời học không bị

gò bó một chiều về cách hiểu

Đổi mới phơng pháp dạy học, từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không đơn thuần là ngời truyền đạt kiến thức mà trở thành ngời thiết kế, tổ chức, hớng dẫn học sinh chiếm lĩnh nội dung học tập; học sinh không còn là ngời thụ

động ngồi nghe, ghi chép mà trở thành ngời chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập

Đối với các mô hình dạy học mới thì “học” là quá trình kiến tạo, học sinh, tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành những hiểu biết, năng lực và phẩm chất Điều đó đòi hởi ngời giáo viên phải biết tổ chức h-ớng dẫn các hoạt động học tập của học sinh, giáo viên là ngời gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tranh luận, thảo luận của học sinh Do vậy ngời giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kinh nghiệm, vốn hểu biết

và sự nhiệt tình, tâm huyết Tuy nhiên điều đáng lo ngại hiện nay là nhiều giáo viên

đã quá quen với cách dạy cũ với sự thăng hoa của phơng pháp thuyết trình: Thầy đọc- trò ghi, học sinh thj động tiếp thu bài giảng, gây ức chế trong quá trình lĩnh hội tri

Trang 33

thức mới, học sinh dễ mệt mỏi và tất nhên khó có thể phát huy tính tích cực, sáng tạo cảu các em Đa số gaió viên khi đợc hỏi đều trả lời phơng pháp thuyết trình là phơng pháp thông dụng nhất , đợc sử dụng nhiều nhất Các phơng pháp hiện đại nh: Thảo luận nhóm, phơng pháp dự án hầu nh rất ít đợc sử dụng bởi giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian, công sức cho việc thiết kế, hớng dẫn và đầu t.

Rõ ràng việc phát huy tích cực, tự giác học tập của học sinh đến mức nào phụ thuộc khá lớn vào phơng pháp giảng dạy của giáo viên, cụ thể là thông qua khâu thiết

kế, tổ chức và hớng dẫn của giáo viên Trên thực tế, bên cạnh những giáo viên tích cực đổi mới phơng pháp dạy học thì vẫn có nhiều giáo viên không muốn đổi mới hoặc cũng dạy theo hớng đổ mới nhng còn mang nặng tính hình thức đối phó Thậm chí nhiều giáo viên còn cho rằng: Việc phát huy tính tích cực của học sinh ở một số môn còn hạn chế là do vị trí của bộ môn ở trờng THPT bị xem nhẹ, không là môn thi tót nghiệp do vậy học sinh không chịu học

Theo kết quả điều tra, thăm dò đối tợng học sinh lớp 10 là khối đầu cấp, bên cạnh một số học sinh thực sự hào hứng, chăm chỉ học tậpthì vẫn có nhiều em học sinh cha thực sự quan tâm đầu t cho môn học Cụ thể, khi đợc hỏi về tính tự giác học tập môn Ngữ Văn, em Vũ Thị Thu Thảo học sinh lớp 10A trờng THPT Trung Giáp phát biểu rằng “Em không thích học môn này lắm vì môn này không thiết thực cho em sau này ra trờng” Hay em Nguyễn Văn Tuấn lại cho rằng “Môn văn rất kho học vì phải học thuộc nên em thích học các môn tự nhiên hơn” Nhng trái hẳn với ý kiến của hai

em trên thì em Nguyễn Thị Thu lại cho rằng: “Môn văn là môn em thích học nhát,

nó giúp em hiểu thêm về con ngời, có tình yêu đối với quê hơng đất nớc nhng thầy cô giáo giảng ở trên lớp truyền thụ kiến thức đợc rất ít vì thời gian tiết học không nhiều”

Bảng số liệu điều tra mức độ học tập bộ môn Ngữ Văn của học sinh khối 10- Trờng THPT Trung Giáp

Đối tợng điều

tra

Học chăm chỉ tích cực

Học hiểu các ý chính

Học lệch, học tủ

Không học

Trang 34

92 HS 17 HS

(15,6%)

50 HS(46%)

20 HS()18,4%)

5 HS(4,6 %)

Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng: Nếu không xác định đúng vị trí vai trò của môn học sẽ dẫn đến cách học không đúng Bên cạnh những học sinh tích cực , tự giác học tập vẫn có nhiều học sinh còn quen với cách học cũ: Thụ động ghi chép và học thuộc sách vở, vẫn còn nhiều em học sinh học tủ, học lệch thậm chí là không học Và với tinh thần hiểu sai lệch và học đối phó, học lệch, học tủ nh vậy sẽ ảnh hởng đến kiến thức, đạo đức, nhân cách và lối sống của các em

1.1.3.3 Nhận xột chung

Đổi mới phơng pháp dạy học là một nhu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nớc ta hiện nay Khôn đổi mới để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại thế giới thf giáo dục nớc ta sẽ bị lạc hậu Tuy nhiên với nền kinh tế tri thức hiện nay không đồng đều thì đổi mới phải dựa vào hoàn cảnh cụ thể của từng cấp học, từng địa phơng Nhng khi đổi mới, không có nghĩa là chúng ta loại trừ hẳn phơng pháp truyền thống mà chúng ta cần phải kết hợp nhịp nhàng giữa truyền thống và hiện đại để tạo nên một nền giáo dục tiên tiến nhng vẫn giữ đợc màu sắc truyền thống

1.2 Tạo tõm thế tớch cực cho học sinh – một biểu hiện tụn trọng vai trũ của chủ thể học tập

1.2.1 Những phương diện chủ yếu của vấn đề phỏt huy tớnh tớch cực của học sinh

Trong quá trình dạy học, ngời dạy không chỉ quan tâm đến kiến thức có ở trong bài giảng mà còn phải cho học sinh nhận thức đầy đủ vấn đề mà mình cần truyền đạt:

Theo quan điểm giáo dục mới hiện nay thì ngời dạy không phải là cái máy cứ truyền đạt thông tin, còn ngời học là đối tợng trực tiếp tiếp thu bị động những kiến thức đó mà ngời học phải chủ động trớc vấn đề đó Nếu trớc đây, khi đặt ngời dạy (giáo viên) làm trung tâm trong giừo học thì hiện nay ngời dạy (giáo viên) chỉ là ngời

Trang 35

hớng dẫn học sinh tiếp nhận vấn đề Giáo viên có nhiệm vụ uốn nắn học sinh bết cách chiếm lĩnh vấn đề, nhận thức về vấn đề đó Làm nh vậy học sinh mới thực sự làm chủ

đợc bản thân trong khi học Học sinh không bị lệ thuọc quá nhiều vào giáo viên Từ

đó học sinh đa ra những quan điểm của cá nhân mình về vấn đề đang quan tâm

Trong quá trình lịch sử, loài ngời càng ngày càng nhận thức đợc rộng hơn, sâu hơn, đúng hơn về thế giới bên ngoài để chiếm lĩnh và đồng hóa nó Chính quá trình

đó, con ngời cũng tự cải tạo, nói cách khác con ngời cũng tự làm chủ đợc bản thân mình Và con ngời càng trởng thành thì những quan hệ của họ đối với thế giới bên ngoài cũng càng ngày càng phát triển, càng tiến lên về chất lợng nhận thức và hoạt

động thực tiễn Quá trình vơn lên của con ngời chính là quá trình hoàn thiện dần, phong phú thêm lên vì quan hệ đối với hiện thực, là hình thức phát triển cao của lịch

sử nhận thức đối với thế giới bên ngoài và cũng là kết quả của quá trình trởng thành

về t duy của chính bản thân con ngời

Đối với học sinh THPT thì phần nào việc nhận thức của các em đã hoàn thiện hơn so với học sinh các cấp dới nhng trong giảng dạy ngời giáo viên không thể không chú ý tới mà phải thờng xuyên uốn nắn các em về mặt nhận thức tạo cho các em có cách nắm bắt đầy đủ hơn về vấn đề

Phơng diện thứ hai khi phát huy tính tích cực của học sinh là: phải tạo cho học sinh những suy nghĩ, tìm tòi giải quyết vấn đề

Hiệu quả lĩnh hội tri thức không phải chỉ là ở chỗ tự giác và giữ lại thông tin

mà còn ở chỗ cải biến có kết quả thông tin ấy Điều này đòi hỏi chủ thể phải hoạt

động tích cực, phải tích cực tìm tòi về mặt trí tuệ những khâu còn thiếu trong thông tin đã tiếp thu đợc

V.I Lênin cho rằng: “Nếu giả sử có ngời công sản nào khoắc lác về chủ nghĩa cộng sản trên cơ sở những kết luận có sẵn mà mình đã tiếp thu đợc, mà cha nghiên cứu một cách nghiêm túc nhất và không phân tích các sự kiện mf mình cần phải có

mà mình cần phải có thái độ phê phán thì một ngời cộng sản nh vậy quả thật là đáng buồn Cái nhìn hời hợt nh vậy, dứt khoát là có hại” Trong quá trình tiếp thu tri thức ,

Trang 36

kết quả học tập của học sinh tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu cảu tu duy tích cực của các em.

Việc hoàn thiện các thủ thuật và phơng pháp dạy học ở nhà trờng chúng ta phải đợc tiến hành theo phơng pháp ngày càng phát huy tính tích cực của học sinh và tăng cờng hoạt động trí tuệ độc lập của các em trong quá trình thu nhận tri thức, kí xảo và kĩ năng Chỉ có trong những điều kiện nh vậy mới có thể giáo dục đợc những con ngời phát triển toàn diện và sẵn sàng lao động

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhát trog việc dạy học ở nhà trờng là giáo dục tính tích cực sáng tạo cho học sinh Phát triển đến mức tối đa khả năng sáng tạo đối vớ bất kì hoạt động nào, phát huy sáng kiến, tính tích cực và tính độc lập, đó

là những đặc trng của những con ngời mới hiện nay Có một vấn đè nổi lên đặc biệt gay gắt, đó là việc giáo dục tính tích cực cho học sinh trong hoàn cảnh khối lợng tri thức tăng lên nh vũ bão và vai trò của tu duy khái quát và truuw tợng cũng tăng lên Vì vậy nhà trờng phải trang bị cho học sinhcủa mình kỹ năng, không ngừng tự mình

bổ sung và đổi mới tri thức, phát triển kỹ năng tích cực học tập của học sinh, biết tự mình thu thập tin tức và vận dụng tri thức một cách sáng tạo

Nh vậylà chúng ta chuẩn bị cho học sinh độc lập giải quyết các vấn đề nảy sinh trong hoạt động lao động của các em

Phơng diện thứ 3 là: Phơng pháp của ngời dạy

Đổi mới phơng pháp, từ dạy học thụ động sang dạy và học tích cực , giáo viên không còn đơn thuần là ngời truyền đtạ kiến thức, mà trở thành ngời thiết kế, tổ chức, hớng dẫn học sinh chiếm lĩnh nội dung học tập, học sinh không còn là ngời thụ động ngồi nghe, ghi chép mà trở thành ngời chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập

Đối với các mô hình dạy học mới thì “học” là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin tự hình thành những hiểu biết, năng lực và phẩm chất Điều đó đòi hỏi ngời giáo viên phải biết tổ chức h-ớng dẫn các hoạt động học tập của học sinh, giáo viên là ngời gợi mở, xúc tác, động

Trang 37

viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tranh luận, thảo luận cảu học sinh Do vậy ngời giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kinh nghiệm, vốn hiểu biết và sự nhiệt tình tâm huyết Tuy nhiên điều đáng lo ngại hiện nay là ngời giáo viên đã quá quen với cách dạy cũ, vơi sự “thăng hoa” của phơng pháp thuyết trình: thầy đọc – trò ghi,học sinh thụ động tiếp thu bài giảng,gây ức chế trong quá trình lĩnh hội tri thức mới, học sinh dễ mệt mỏi và tất nhiên khó có thể phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo của các em Đa số giáo viên hiện nay đều cho rằng phơng pháp thuyết trình là phơng pháp thông dụng nhất, đợc sử dụng nhiều nhất Các phơng pháp

đợc coi là hiện đại nh: Thảo luận nhóm, phơng pháp dự án hầu nh ít sử dụng bởi giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian, công sức cho việc thiết kế, hớng dẫn và đầu t

Rõ ràng việc phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh đến mức độ nào phụ thuộc khá lớn vào phơng pháp giảng dạy cảu giáo viên, cụ thể là thông qua khâu thiết kế, tổ chức và hớng dẫn cảu giáo viên Trên thực tế, bên cạnh những giáo viên tích cực đổi mới phơng pháp dạy học thì vẫn có nhiều giáo viên không muốn

đổi mới hoặc cũng dạy theo hớng đổi mới nhng chỉ mang tính đối phó

1.2.2 Vấn đề tạo tõm thế tớch cực chủ động cho học sinh

Dạy học là quá trình trao đổi giữa ngời dạy và ngời học Quá trình này đợc xem nh là một hệ thống toàn vẹn Hệ thống toàn vẹn là một hệ thống bao gồm những thành tố liên hệ, tơng tác với nhau tạo nên chất lợng mới Quá trình dạy học bao gồm tập hợp các thành tố cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau

1.2.21 Khỏi niệm tõm thế

Trớc hết, khái niệm “tâm thế” trong giờ dạy học văn ở đây có thể hiểu nh một khái niệm của khoa tâm lí- đó là việc xác định những tình huống dạy học, sự tác động tâm lý tạo ra tiền đề nhận thức có tính s phạm để học sinh chú ý tích cực vào mục

đích học tập

Tâm thế là trạng thái tâm lý, tình cảm của con ngờikhi chuẩn bị tiếp nhận một vấn đề nào đó

Trang 38

Nh vậy, ta có thể thấydợc rằng tâm thế nó có ý nghĩa rất quan trọng trọng hoạt động của con ngời Khi ở trạng thái tâm lý thoải mái thì hoạt động của con ngời sẽ đạt đợc kết quả cao, còn khi con ngời bị ức chế về mặt tâm lý thì nó sẽ làm giảm quá trình hôạt động và tạo ra kết quả tơng thích.

Trong dạy học, việc tạo tâm thế cho từng cá nhân trong một cộng đồng xã hội lớp học

là một việc làm có ý nghĩa, nó sẽ thúc đẩy quá trình t duy của từng cá nhân học sinh theo chiều hớng tích cực

1.2.2.2 Mối quan hệ giữa tõm thế tớch cực và sự hứng thỳ hoạt động

Trong quá trình dạy học, để tạo cho học sinh một tâm thế tích cực làm nảy sinh hứng thú hoạt động học không phải là chuyện dễ dàng gì

Trong cuộc sống hàng ngày, dù ta không nhìn thấy hoặc không trực tiếp đặt ra tính tích cực

để tạo hứng thú trong hoạt động, nhng quá trình sống và làm việc thì hai yếu tố này nó luôn

có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối lẫn nhau Nếu trạng thái tâm lý tốt thì con ngời

ta muốn làm việc còn nếu ta có trạng thái không tốt ta sẽ chán với công việc Điều này đã

đ-ợc Đại Thi hào Nguyễn Du viêt trong truyện Kiều:

“Cảnh đâu cảnh chẳng đeo sầuNgời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Rõ ràng rằng, trạng thái tâm lý là yếu tố đầu tiên Nó quyết định đến quá trình hoạt động của con ngời

Quá trình phát triển tâm lý nó là một quá trình liên tục nhng nó không bị bó,gộp những cảm súc, những trạng thái Vì tâm lý con nguòi khi đợc hình thành và phát triển nó bị chi phối bởi các yếu tố xung quanh nó mà ngoại cảnh là một uêú tố có ảnh hởng lớn nhất Sự mất tập trung trong quá trình tiếp thu bài giảng một hiện tợng thờng xuyên diễn ra trong hoạt động day và học Sự mất tập trung sẽ làm cho tâm lý nó đi theo một hớng khác Chẳng hạn nh không tập trung nghe giảng, làm những việc khác ngoài vấn đề chính Vì vậy trong quá trình dậy học ngời giáo viên phải khéo léo, dẫn dắt học sinh tập tìm tòi khám phá vấn đề phải kích thích ngời học có sự ham muốn đi tìm chân lý Lênin nói: “không có ham muốn của con ngời thì trớc nay cha hề và không thể có sự tìm tòi của con ngời đối với chân lý-

Trang 39

Lênin toàn tập quyển 20 trang 255 Điều này cho thấy là mọi vấn đề phải có lòng đam mê Không có lòng đam mê, mội sự theo đuổi sẽ không tồn tại lần thứ hai, mọi kiến thức sẽ không đạt đợc Từ sự đam mê đó nó sẽ nảy sinh sự hứng thú trong hoạt động Cũng chính vì thế, nhà khoa học vĩ đâị Anhxtanh nói rằng : “ Vật có giá trị chân chính không phải đợc sinh ra từ dã tâm hoặc tinh thần trách nhiệm, mà đợc sinh ra từ lòng đam mê và nhiệt thành

đối với sự vật khách quan”

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa tõm thế tớch cực và kết quả hoạt động

Nh đã trình bày ở trên, thì giữa tâm thế và sự hứng thú có mối quan hệ hai chiều nhng tâm thế tích cực là tính tiên quyết cơ bản

Sự hoạt động có đợc ở con ngời là do não bộ chỉ đạo Mọi hoạt độngcủa một cá nhân bình thờng đèu hớng tới một mục đích cụ thể, không có một hoạt động nào ngoài mục đích Nhng kết quả, mục đích đó lại phụ thuộc vào trạng thái cá nhân đó ở trong một trạng thái tốt, có sự hng phấn thì con ngời sẽ tạo ra một sản phẩm hoàn hảo

Trong quá trình dạy học, điều quan trọng là làm thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lợng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh,trí sáng tạo của họ Khi nguời giáo viên làm tốt công viẹc đó thì “sản phẩm” của mình làm ra sẽ có kết quả cao Trong quá trình giảng dạy của bản thân thì tôi nhận thấy rằng, trong quá trình dạy và học nếu bị ức chế về mặt tâm lý thì bài giảng không đạt

đợc kết quả nh mong muốn nó làm giảm đi quá trình t duy của ngời thầy, giảm đi tính sáng tạo trong bài giảng

1.2.3 Việc bỏ qua vấn đề tạo tõm thế tớch cực cho học sinh trong hoạt động học tập

Ngày nay, khi dạy học đang cần có sự đổi mới thì việc bổ qua tâm thế vấn đề tạo tâm thế cho học sinh là một vấn đề sai lầm Một nguòi cho rằng, đã là giáo viên thì việc bắt học sinh học bài trên lớp là một nhiệm vụ Chính vì từ việc suy nghĩ không đúng

đắn đó mà khi lên lớp giáo viên giảng bài nh một cái náy mà không thèm quan tâm học sinh tiếp thu nh thế nào và bài giảng của mình cần nhấn mạnh chỗ nào Điều đó

nó không chỉ bổ qua một phơng pháptích cực mà nó còn làm giảm quá trình lĩnh hội

Trang 40

tri thc của của học sinh nhiều giờ học nó mất đi tính hào hứng, sáng tạo của học sinh, biến giờ học thành một giờ tiếp thu trfi thức một cách thụ động, nặng nề Nhiều học sinh sinh trở thành đối tợng bị nhồi nhét kiến thức.

1.2.3.1 Sự thiếu vắng những nghiờn cứu cơ bản.

Vấn đề tạo tâm thế cho học sinh khi bớc vào giờ đọc hiểu văn bản cho đến nay

nó mới chỉ mang tính củng cố và sự chắp vá manh mún mà nó cha thực sự trở thành một hệ hóa hoàn chỉnh và nó gần nh chỉ mang tính kêu gọi Bản thân tác giả luận văn này khi bắt tay vào nghiên cứu cũng thấy rất khó khăn trong việc tìm tòi những công trình đã nghiên cứu vấn đề này Khi điểm lại thì chúng ta thấy chỉ có một số tài liệu nghiên cứu vấn đề này nhng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó Chẳng hạn, trong cuốn: Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng (theo thể loại) của tác giả Nguyễn Viết Chữ tác giả chỉ có một phần nhỏ khi đề cập đến vấn đề “biện pháp khởi động và kết thúc trong giờ dạy học tác phẩm văn chờng kết hợp với hoạt động liên ngành ”Trong nội dung ngoài viêc giới thuyết tác dụng của việc giới thiệu bài khi tiến hành giờ dạy tác phẩm văn chơng tác giả công trình đa các trờng hợp nh Lạ hóa các từ ngành nghề; lạ hóa từ cuộc đời tác giả, thi pháp tác giả; lạ hóa từ lịch sử xà hội và các nhà văn cùng thời những đánh giá về nhà văn và tác phẩm; lạ hóa từ các tác phẩm của bản thân nhà văn về cùng một đề tài; lạ hóa từ bài cũ sang bà mới lạ hóa hoạt động liên môn liên ngành Tất nhiên, trong những nội dung này tác giả đã

rất tỉ mỉ đa ra nhũng giải pháp có tính ứng dụng cao trong việc vào bài một giờ dạy tác phẩm văn chơng song nh vậy thì cha đủ vì để một giờ học tác phẩm văn chơng ạt kết quả cao thì cần có nhiều yếu tố khác đi cùng Ngoài ra chúng ta có thể thấy còn rất nhiều những công trình khác có nghiên cứu đến vấn đề này chăng hạn nh cuốn sách dịch của Đỗ Huy Lân “Kỹ năng dẫn nhập, Kỹ năng kết thúc” Tuy nhiên, nó vẫn cha phải là một công trình hoàn chỉnh mà nó chỉ đề cập đến một phần nào đó hay

1.2.3.2 Việc nhận thức khụng đầy đủ về vị trớ của việc tạo tõm thế tớch cực cho học sinh trong cấu trỳc giờ học

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Đức Ân (1997), Dạy học giảng văn ở nhà trường phổ thông trung học, NXB Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học giảng văn ở nhà trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1997
4. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay – cái đẹp, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn dạy cái hay – cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
8. Trần Đình Châu – Đặng Thị Thu Thủy (2011), Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy
Tác giả: Trần Đình Châu – Đặng Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
9. Trần Đình Chung (2004), “Tiến tới một quy trình đọc hiểu văn bản trong bài học ngữ văn mới”, Văn học và tuổi trẻ, số 2 (92) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một quy trình đọc hiểu văn bản trong bài học ngữ văn mới”," Văn học và tuổi trẻ
Tác giả: Trần Đình Chung
Năm: 2004
10. Nguyễn Viết Chữ (2003), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
11. Jacques Delors (2002), Học tập: một kho báu tiềm ẩn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập: một kho báu tiềm ẩn
Tác giả: Jacques Delors
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
12. Sử Khiết Doanh – Lưu Tiểu Hòa (2009), Kỹ năng giảng giải, kỹ năng nêu vấn đề, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giảng giải, kỹ năng nêu vấn đề
Tác giả: Sử Khiết Doanh – Lưu Tiểu Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13. Sử Khiết Doanh – Trâu Tú Mẫn (2009), Kỹ năng tổ chức lớp, kỹ năng biến hóa trong giảng dạy, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tổ chức lớp, kỹ năng biến hóa trong giảng dạy
Tác giả: Sử Khiết Doanh – Trâu Tú Mẫn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
14. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
15. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
16. Hồ Ngọc Đại (2010), Bài học là gì?, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học là gì
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
17. Vương Bảo Đại – Cận Đông Xương – Điền Nhà Thanh – Tào Dương (2009), Kỹ năng dẫn nhập, kỹ năng kết thúc, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng dẫn nhập, kỹ năng kết thúc
Tác giả: Vương Bảo Đại – Cận Đông Xương – Điền Nhà Thanh – Tào Dương
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2001
20. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Văn học và học văn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
21. Nguyễn Trọng Hoàn (2003), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
22. Nhiệm Hoàn – Lưu Diễm Quyên – Phương Đại Bằng – Hạng Chí Vĩ (2009), Kỹ năng phản hồi, kỹ năng luyện tập, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng phản hồi, kỹ năng luyện tập
Tác giả: Nhiệm Hoàn – Lưu Diễm Quyên – Phương Đại Bằng – Hạng Chí Vĩ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
23. Trần Bá Hoành (2006), Vấn đề giáo viên Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, NXb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo viên Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2006
24. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình tượng nhân vật Huấn Cao. - Vấn đề tạo tâm thế tích cực cho học sinh ở phần dẫn nhập của giờ đọc hiểu văn bản
2. Hình tượng nhân vật Huấn Cao (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w