1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái

114 1,7K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Ngữ Và Câu Trong Tiểu Thuyết SBC Là Săn Bắt Chuột Của Hồ Anh Thái
Tác giả Nguyễn Thị Lương
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 578 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy,nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc độ ngôn ngữ không chỉ thấy đượcđặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm của ông mà còn có ý nghĩa đối vớiviệc đánh giá, nhìn nhận những đóng

Trang 1

NGUYỄN THỊ LƯƠNG

tõ ng÷ vµ c©u trong tiÓu thuyÕt

sbc lµ s¨n b¾t chuét cña hå anh th¸i

Trang 2

Trong quá trình theo học ngành Ngôn ngữ học - khoa Ngữ văn - trườngĐại học Vinh và quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhậnđược sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trườngĐại học Vinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ củagia đình và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả cácthầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình họctập và thực hiện luận văn.

Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,PGS TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôihoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức

cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏisai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của cácthầy cô giáo và các bạn

Nghệ An, tháng 10 năm 2012.

Tác giả

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp của đề tài 2

6 Cấu trúc của luận văn 3

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4

1.1 Ngôn ngữ tiểu thuyết 4

1.1.1 Thể loại tiểu thuyết 4

1.1.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 6

1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết 8

1.2 Hồ Anh Thái - tác giả, tác phẩm và lịch sử nghiên cứu các tác phẩm của ông 12

1.2.1 Vài nét về tác giả 12

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Anh Thái và tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột 15

1.3 Tiểu kết chương 1 21

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT CỦA HỒ ANH THÁI 22

2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 22

2.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ 22

2.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 23

2.2 Các lớp từ ngữ nổi bật trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái 25

Trang 4

2.2.2 Từ ngữ hội thoại 44

2.2.3 Thành ngữ trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái 52

2.3 Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CÂU TRONG TIỂU THUYẾT SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT CỦA HỒ ANH THÁI 66

3.1 Các hướng tiếp cận câu hiện nay và câu trong văn bản nghệ thuật .66

3.1.1 Các hướng tiếp cận câu hiện nay 66

3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật 68

3.2 Câu đơn trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái .69

3.2.1 Câu đơn bình thường 71

3.2.2 Câu đơn đặc biệt 76

3.3 Câu ghép trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái .88

3.3.1 Câu ghép có từ liên kết 88

3.3.2 Câu ghép không có từ liên kết 91

3.4 Một số nét nổi bật của Hồ Anh Thái về biện pháp tu từ cú pháp và ngôn ngữ trần thuật 92

3.4.1 Biện pháp tu từ cú pháp 92

3.4.2 Ngôn ngữ trần thuật 95

3.5 Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ Điều này được xem như một tiền

đề lí thuyết định hướng cho cách tiếp cận văn học của ngôn ngữ học Hướngnghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ học là mộthướng đi mới đã và đang mang lại những hiệu quả nhất định Do vậy, chúngtôi chọn đề tài này với mong muốn góp phần vào nghiên cứu văn học theohướng mới này

1.2 Văn học Việt Nam đương đại có nhiều đổi mới Hồ Anh Thái làmột nhà văn có nhiều tác phẩm thể hiện rõ xu hướng đổi mới đó Vì vậy,nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc độ ngôn ngữ không chỉ thấy đượcđặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm của ông mà còn có ý nghĩa đối vớiviệc đánh giá, nhìn nhận những đóng góp của ông đối với những thành côngcủa văn học Việt Nam đương đại

1.3 SBC là săn bắt chuột là cuốn tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh

Thái Ngay sau khi được xuất bản vào tháng 9 năm 2011, tác phẩm đã nhanhchóng nhận được sự chú ý, quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu, phêbình văn học Tuy nhiên, các ý kiến nhận xét, đánh giá mới chỉ là những bàibáo, bài viết nhỏ lẻ nghiên cứu tác phẩm từ góc độ phê bình văn học chứ chưa

có công trình nào nghiên cứu tác phẩm này một cách quy mô từ góc độ ngôn

ngữ học Với những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: “Từ ngữ và câu

trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái” làm đề tài luận

văn của mình

2 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề từ ngữ và

câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái.

Trang 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những đặc điểm về từ ngữ trong tiểu thuyết SBC là săn bắt

chuột của Hồ Anh Thái.

- Tìm hiểu những đặc điểm về câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt

chuột của Hồ Anh Thái.

- Trên cơ sở việc phân tích đặc điểm về cách dùng từ ngữ và câu của

Hồ Anh Thái chỉ ra một số đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn thểhiện trong tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại từ ngữ và câutrong tác phẩm trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa

- Phương pháp so sánh: so sánh việc sử dụng từ ngữ và câu trong

tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái với một số tiểu

thuyết cùng thời của các tác giả khác để rút ra những điểm tương đồng

và khác biệt

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: dựa trên những cứ liệu thu thậpđược, tiến hành phân tích về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa nhằm chỉ ra nhữngđặc sắc và hiệu quả trong việc xử lý ngôn từ của Hồ Anh Thái, đồng thời rút

ra đặc điểm sử dụng từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của

Hồ Anh Thái

5 Đóng góp của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu đặc điểm từ ngữ và câu trong tiểu

thuyết SBC là săn bắt chuột một cách hệ thống Đề tài góp phần giúp người

đọc hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ cũng như phong cách tiểu thuyết HồAnh Thái

Trang 8

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương:

Chương 1 Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Đặc điểm sử dụng từ ngữ trong tiểu thuyết SBC là săn bắt

chuột của Hồ Anh Thái

Chương 3 Đặc điểm câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của

Hồ Anh Thái

Trang 9

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ tiểu thuyết

1.1.1 Thể loại tiểu thuyết

Xét trên phương diện thể loại, cho đến nay, tiểu thuyết mặc dù là thểloại ra đời sớm nhưng lại đang nằm trong quá trình vận động chưa thực sự ổnđịnh, vì thế nó là một trong những thể loại chưa có được sự đánh giá thốngnhất đối với các nhà nghiên cứu Cũng chính vì lẽ đó, việc đưa ra một địnhnghĩa chính xác, cụ thể mà vẫn đảm tính khái quát, bao trùm về thể loại tiểuthuyết gặp nhiều khó khăn

Có nhiều định nghĩa về tiểu thuyết nhưng theo Nguyễn Thái Hòa,chung quy lại, có thể nhận diện tiểu thuyết thông qua một số đặc điểm cơbản: "Là thể loại văn xuôi tự sự, thường có cốt truyện, nhân vật, có cả chitiết thực và hư cấu, do hành động kể lại, trần thuật một loại hình không bịhạn chế về độ dài, không bị hạn chế về thời gian và không gian; là mộtphương tiện sáng tạo nghệ thuật có tính thông tin phổ cập, nhờ đó con ngườihiểu biết, khám phá thế giới ngoại vật và khám phá thế giới nội tâm quá khứcũng như hiện tại, dự kiến thời tương lai, đáp ứng nhu cầu hiểu biết củacon người [17; 229]

Theo các soạn giả Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết là "tác phẩm

tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn khônggian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời,những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạtgiai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng" [11; 328]

Ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện vào thời kì xã hội cổ đại tan rã và vănhọc cổ đại suy tàn Cá nhân con người lúc ấy không còn cảm thấy lợi ích vànguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại, nhiều vấn đề của

Trang 10

đời sống riêng tư được đặt ra gay gắt Đến thời Phục hưng, tiểu thuyết châu

Âu (thế kỉ XIV-XVI) có một bước phát triển mới và đến thế kỉ XIX, thể loạinày đã đạt tới sự nảy nở trọn vẹn với sự xuất hiện của các nghệ sĩ bậc thầynhư Xtăng-đan, Ban-dắc, Thác-cơ-rây, L.Tôn-xtôi, Đốt-xtôi-ép-xki

Khác với châu Âu, tiểu thuyết Trung Quốc và Việt Nam đều chủ yếubắt nguồn từ lịch sử Ở Trung Quốc, mầm mống của tiểu thuyết cũng xuấthiện khá sớm vào thời Ngụy Tấn (thế kỉ III-IV) dưới dạng truyện ghi chépnhững sự việc, những người ngoài giới hạn kinh sử như chí quái, chí nhân.Sang đời nhà Đường xuất hiện thể loại truyền kỳ, đời Tống lại có thêm dạngthoại bản, tất cả đều có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại

Từ đời Minh, văn học Trung Quốc nói chung và văn xuôi Trung Quốc nóiriêng phát triển rực rỡ với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như

Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du

ký của Ngô Thừa Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh Đến đời Thanh, tiểu

thuyết chương hồi đã phát triển đến đỉnh cao qua hàng loạt danh tác như

Chuyện làng Nho (Nho lâm ngoại sử) của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của

Tào Tuyết Cần Thời hiện đại, tiểu thuyết Trung Quốc vượt thoát những thểloại truyền thống, ảnh hưởng lớn từ các trào lưu văn học phương Tây đươngthời với sáng tác của các tác gia như Lỗ Tấn, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn v.v

Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy nhiên những sáng tác

văn xuôi cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo,

Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả (thế kỉ XIV-XVI) đã đặt những nền

móng sơ khai cho tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu

tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời

thường Hoàng Lê nhất thống chí (thế kỉ XVIII) được xem là pho tiểu thuyết

lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc Bên cạnh đó, yếu tốđời tư và mạch tự sự trong các truyện Nôm khuyết danh và hữu danh đương

thời như Hoa tiên, Nhị độ mai, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và

Trang 11

Truyện Kiều cũng ít nhiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của thể loại Tuy

vậy, phải đến những năm 30 của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới xuất hiệntiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong trào ThơMới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc

và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: lãng mạn và hiện thực vớinhững cây bút nổi tiếng của Tự Lực văn đoàn, Ngô Tất Tố, Nam Cao, VũTrọng Phụng Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũcác nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng,

Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, NguyênNgọc) Do tính chất thời đại quy định, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn nàymang đậm tính sử thi hùng tráng Sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam bước sangtrang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, NguyễnHuy Thiệp Các tác phẩm đi sâu hơn vào số phận của các cá nhân, miêu tả cụthể mọi khía cạnh đời tư, những góc khuất của con người

1.1.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết

Trong quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết vẫn không ngừngthay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện Tuy nhiên, có thể rút ra một sốđặc điểm của thể loại tiểu thuyết như sau:

(1) Tiểu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Đây là điểmkhác biệt của tiểu thuyết với các thể khác của loại tự sự như ngụ ngôn, anhhùng ca Tùy theo từng thời kì phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tớimức thể hiện được, hoặc kết hợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc.Nhưng yếu tố đời tư (số phận con người) càng phát triển thì chất tiểu thuyếtcàng tăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càngđậm đà

(2) Tiểu thuyết mang đậm chất văn xuôi, tức là nó tái hiện cuộc sốngnhư là đang diễn ra, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa Tiểu thuyếtmiêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành, tiểu thuyết hấp

Trang 12

thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời bao gồm cáicao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái

nhỏ Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Tấn trò đời của Ban-dắc, tác giả đã phơi bày

bộ mặt thật của xã hội tư sản Pháp với đầy đủ những nhố nhăng, đồi bại, những

xấu xa, khổ đau, bi kịch của con người Tiểu thuyết Số đỏ, Giông tố của Vũ

Trọng Phụng cũng khắc họa được tất cả cái bi hài, nghiệt ngã của xã hội ViệtNam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến trước cách mạng tháng Tám

(3) Nhân vật của tiểu thuyết là "con người nếm trải", tư duy chịu khổđau, trăn trở, dằn vặt, bứt phá "Bản thân vùng tiếp xúc với cái hiện tại chưahoàn thành-và như vậy là với tương lai-tất sẽ tạo ra sự không trùng hợp củacon người với bản thân nó Ở nó bao giờ cũng còn lại những tiềm năng chưathành hiện thực và những đòi hỏi chưa được đáp ứng" [48; 80] Tiểu thuyếtmiêu tả nhân vật như là con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con ngườiđang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo

(4) Thành phần chính của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện vàtính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ mà còn phải làcách miêu tả suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽcác diễn biến tình cảm và hành động của nhân vật, trình bày tường tận tiểu sửcủa nhân vật, mọi chi tiết về mối quan hệ giữa người với người, về đồ vật,

môi trường, nội thất, Có thể lấy tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao làm

minh họa cho đặc điểm này

(5) Tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật vànội dung trần thuật của anh hùng ca để miêu tả hiện thực như cái hiện tạiđương thời của người trần thuật Đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thànhmột thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật,thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình

(6) Tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất cáckhả năng nghệ thuật của các thể loại khác, cả những thể loại nghệ thuật

Trang 13

(những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịchnói, v.v.) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hàng ngày,văn hùng biện, khoa học, tôn giáo, v.v ) Những thể loại được du nhập vàotiểu thuyết ấy thường vẫn giữ được tính co giãn về kết cấu và tính độc lập,cũng như ngôn ngữ và văn phong đặc thù của chúng.

Về phân loại tiểu thuyết, các nhà lí luận, phê bình văn học tùy thuộcvào cách tiếp cận mà có nhiều cách phân loại khác nhau:

Dựa vào đề tài thì có tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểuthuyết lịch sử, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tâm lí

Dựa vào trào lưu khuynh hướng thì có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyếthiện thực (còn gọi là tiểu thuyết xã hội), tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết hiệnsinh, tiểu thuyết mới (còn gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại)

Dựa vào thi pháp thể loại thì có tiểu thuyết tâm lí, tiểu thuyết phiêu lưu.Tuy nhiên, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Bởibản thân tiểu thuyết đã chứa trong nó các thể loại nghệ thuật khác, các địa hạttri thức khác nhau của cuộc sống Do đó, tiểu thuyết cỡ lớn có thể được xem

là một "Bách khoa thư' của một dân tộc

1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết

Ngôn ngữ tiểu thuyết, trước hết, là ngôn ngữ nghệ thuật nên nó mangnhững đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật như: tính hình tượng, tínhcấu trúc, tính biểu cảm, tính cá thể và tính cụ thể hóa Tuy nhiên, bên cạnhnhững đặc điểm chung đó, ngôn ngữ tiểu thuyết có nhiều điểm khác biệt sovới ngôn ngữ ở các thể loại văn học khác

M.Bakhtin chỉ ra những điểm đặc thù của ngôn ngữ tiểu thuyết trong sựđối sánh với ngôn ngữ thơ ca Khác với ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ tiểu thuyết làngôn ngữ song thanh (hoặc đa thanh) Do đặc điểm thể loại quy định, ngônngữ văn học được tái tạo trong tiểu thuyết không phải như một ngôn ngữthống nhất, đã hoàn chỉnh toàn bộ và không còn phải bàn cãi mà được tái tạo

Trang 14

trong trạng thái có nhiều tiếng nói khác nhau sống động, trong sự biến chuyển

và đổi mới của nó Ngôn ngữ tiểu thuyết là cả một hệ thống những ngôn ngữsoi lẫn nhau, đối thoại với nhau, không thể mô tả và phân tích nó một cáchthống nhất Những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác nhau là thuộc vềnhững hệ thống khác nhau trong ngôn ngữ tiểu thuyết Giả thử nếu xóa đi tất

cả những dấu nháy nháy ngữ điệu, tất cả mọi sự phân chia bè giọng và phongcách, mọi khoảng cách khác nhau giữa những "ngôn ngữ" được miêu tả vớitiếng nói trực tiếp của tác giả thì ta sẽ chỉ có được một tập hợp xộc lệch và vônghĩa những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác biệt nhau về chất Ngônngữ tiểu thuyết không thể nào xếp đặt trên một bình diện, kéo nối thành mộttuyến Đó là một hệ thống những bình diện tương giao

Ở các thể loại thi ca hiểu theo nghĩa hẹp, chất đối thoại tự nhiên củalời nói không được sử dụng với mục đích nghệ thuật, lời nói có tính độc lập

tự thân và không giả định là ở ngoài nó còn có những ý kiến khác Phongcách thơ ca thoát ly một cách ước lệ khỏi mọi sự tương tác với lời ngườikhác, mọi sự "đoái nhìn" tới lời người khác Thế giới thơ ca, dù có được nhàthơ phô diễn trong đó bao nhiêu mâu thuẫn và xung đột bế tắc chăng nữa,bao giờ cũng được soi sáng bằng một ngôn ngữ thống nhất và miễn phải bàncãi Do gạn lọc mọi thành tố ngôn ngữ khỏi những ý chỉ và giọng điệu củangười khác, xóa bỏ mọi vết tích bất đồng trong tiếng nói và ngôn ngữ mà ởtác phẩm thơ ca tạo ra được một sự thống nhất ngôn ngữ đầy căng thẳng.Ngược lại, nhà văn xuôi không tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chỉ và giọngđiệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khácbiệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những khuôn mặt ngôn ngữ và cungcách nói năng (những nhân vật kể chuyện tiềm năng) lấp ló đằng sau các từngữ và hình thức ngôn ngữ, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ vàhình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau so với các hạt nhân hàm nghĩacuối cùng của tác phẩm mình, cái trung tâm ý chỉ của chính mình Sự định

Trang 15

hướng ngôn từ giữa những lời phát ngôn của người khác và những ngôn ngữkhác, tất cả những hiện tượng và khả năng đặc thù gắn với định hướng ấy cótác dụng nghệ thuật hệ trọng đối với văn phong tiểu thuyết Những tiếng nói

và ngôn ngữ khác nhau được đưa vào tiểu thuyết và ở đó chúng được tổchức thành một hệ thống nghệ thuật hoàn chỉnh Đó là một đặc điểm đặctrưng của thể loại tiểu thuyết

So sánh với sử thi, M.Bakhtin chỉ ra đặc trưng của sử thi là lời tiên tri,lời sấm truyền, đặc trưng cho tiểu thuyết là lời tiên đoán, lời dự báo Lời sấmtruyền sử thi được thực hiện hoàn toàn trong khuôn khổ quá khứ tuyệt đối(nếu không ở ngay tác phẩm sử thi cụ thể này thì cũng trong phạm vi nềntruyền thuyết bao trùm nó); lời sấm truyền ấy không liên quan đến độc giả vàthời đại thực tế của anh ta Quá khứ sử thi khép kín từ bên trong, nó đượccách ly bằng bức tường không thể thẩm lậu khỏi mọi thời đại về sau Thế giới

sử thi là hoàn tất đến tận cùng không chỉ như một sự kiện có thật trong quákhứ đã lùi xa mà còn là hoàn tất cả về ý nghĩa và giá trị của nó Chính cái đólàm nên khoảng cách sử thi tuyệt đối Do vậy, ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữthành kính, cái nhìn sử thi là sự tưởng niệm cung kính, tôn thờ Trong khi đó,tiểu thuyết tiếp xúc với môi trường hiện thực chưa hoàn thành-cái hiện thực

"hạ đẳng" so với quá khứ sử thi Thậm chí, cái ''quá khứ tuyệt đối" của các vịthần linh, á thần và anh hùng cũng sẵn sàng bị "tân thời hóa", bị hạ thấpxuống, bị mô tả ở cấp độ thời này, trong bối cảnh sinh hoạt hiện nay Có thểnói, sự khác biệt giữa ngôn ngữ sử thi và ngôn ngữ tiểu thuyết cũng giốngnhư lời về người chết và lời về người đang sống, mà "lời về người chết rấtkhác nhau về mặt phong cách với lời về người đương sống" [48; 52]

Tiểu thuyết và truyện ngắn, cả trong lý thuyết và trên thực tế, có nhiềuđiểm rất giống nhau Truyện ngắn cũng chứa đựng tất cả các nguồn lực y nhưtiểu thuyết: ngôn ngữ, nội dung, đề tài, nhân vật và phong cách Tiểu thuyếtgia có thể sử dụng phương tiện nghệ thuật nào thì người viết truyện ngắn cũng

Trang 16

có thể sử dụng các phương tiện đó Tuy nhiên, với truyện ngắn, vấn đề số mộtđặt ra cho thể loại này là vấn đề dung lượng, truyện ngắn cần phải cô đọngđến mức cao nhất Chính việc truyện ngắn phải "ngắn" khiến nó tự phân biệtmột cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết Tiểuthuyết hay truyện dài thì cứ triền miên theo thời gian, đôi khi có quăng hồi ứctrở ngược lại Truyện ngắn thì gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắccần giải đáp Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởitung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn Do đó, ngôn ngữ truyện ngắnđược tổ chức rất chặt chẽ, chính xác, tuyệt đối không có cái gì dư thừa Tiểuthuyết, dù có cô đọng đến đâu thì vẫn hàm chứa khả năng phân nhánh và kéodài, nếu không nói là đến vô cùng tận Vì vậy, khi đọc tiểu thuyết ta có thể bỏqua một vài câu không đâu, thậm chí vài trang nhưng ở truyện ngắn, người takhông được phép Đây chính là điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữangôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ truyện ngắn.

Trong bản thân ngôn ngữ tiểu thuyết, người ta lại chia ra ngôn ngữ đơnthanh và ngôn ngữ song thanh Ngôn ngữ đơn thanh gồm ngôn ngữ trực tiếp,hướng thẳng vào đối tượng, miêu tả đối tượng và ngôn ngữ của các nhân vật,ngôn ngữ đối tượng tính Ngôn ngữ song thanh nhấn mạnh vào ngôn ngữ củangười khác, hướng về một tiếng nói khác, chẳng hạn tiếng nói tác giả hướng

về tiếng nói nhân vật, hoặc là tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng củatác giả, hoặc là tiếng nói nhân vật này xen lẫn giọng của nhân vật khác Cóloại song thanh cùng hướng (khi có sự đồng cảm và gần gũi giữa các tiếngnói) và song thanh khác phương hướng sẽ đẻ ra loại ngôn thoại mỉa mai, biếmphỏng, đối thoại ngầm, tranh luận ngầm bên trong

Như vậy, tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết mang những đặc điểm đặcthù so với các thể loại khác Đây là những tiền đề để nhận diện và phân tíchnhững thành tựu cũng như những biến chuyển của thể loại này trong suốt lịch

sử phát triển của nó

Trang 17

1.2 Hồ Anh Thái - tác giả, tác phẩm và lịch sử nghiên cứu các tác phẩm của ông

Nhận xét về con người Hồ Anh Thái, trên báo Công an nhân dân có

viết: “Người đàn ông này không thuộc bất cứ đám đông nào Và dường nhưanh cũng không có cả cái thú vui nhậu nhẹt của đàn ông Anh yêu vẻ cô đơnđẹp đẽ của mình Anh như một hòn đá chìm trong lòng suối sâu, phải ngắmrất lâu ngày nước lặng mới gặp Nhưng chỉ cần mỗi tác phẩm mới của anhxuất hiện, ngay lập tức có những dư luận trái chiều Người khen cũng nhiềungười chê cũng lắm Nhưng tuyệt nhiên không có những lời nổi đóa haythanh minh Im lặng sống, im lặng viết Một mình Chỉ có những con chữxôn xao " [53]

Khởi nghiệp viết văn, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng, vớigiọng văn trẻ trung, tươi mới, về đời sống thanh niên, sinh viên với nhữngcuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống Những tác phẩm tiêu

biểu của ông thời gian này được biết đến là Trong sương hồng hiện ra, Người

và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo, truyện ngắn Món tái dê, Chàng trai ở bến đợi xe v.v.

Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiềunước Âu Mĩ, đặc biệt là 6 năm công tác tại Ấn Độ, ông trở lại trên văn đànvới những chùm truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm về Ấn Độ như

Trang 18

Người đứng một chân, Người Ấn, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cuộc đổi chác v.v.

Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao và gây tranh

luận như Cõi người rung chuông tận thế, Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà

cười, Mười lẻ một đêm v.v Cũng trong năm 2000, ông được bầu là Chủ tịch

Hội Nhà văn Hà Nội

Năm 2007, ông trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết Đức Phật,

nàng Savitri và tôi Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam

tái hiện chân dung Đức Phật thông qua một cốt truyện hấp dẫn, một vănphong giản dị, một đa cấu trúc có hiệu quả mở rộng chiều kích không gian

và thời gian

Năm 2009, Hồ Anh Thái cho ra đời tạp văn Hà Nội, hướng nào cũng

sông, đây là một tác phẩm viết rất hay về Hà Nội, người đọc dễ nhận ra trong

đó hình ảnh một người yêu, hiểu và lo nghĩ cho Hà Nội rất nhiều

Và gần đây nhất, cuốn tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột (2011) nhận

được sự ủng hộ và đánh giá cao của độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bìnhvăn học

Sách của ông thường được phát hành với số lượng lớn và đã được dịch

ra hơn 10 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thụy Điển

Hồ Anh Thái là cây bút nổi bật trong nền văn học đương đại Việt Nam.Hầu như các sáng tác của ông đều hướng đến phản ảnh "cái đương đại chưahoàn thành" Tác phẩm của ông có khả năng bao quát phạm vi hiệc thực rộnglớn cả bề rộng lẫn bề sâu của nhiều nền văn hóa khác nhau Trong cái hiệnthực rộng lớn ấy, ngòi bút Hồ Anh Thái hướng về "tâm điểm" con người bằngcái nhìn nhiều chiều sắc cạnh Với mỗi đề tài, ông lại chọn cho mình một lốiviết, một cách diễn đạt, một giọng điệu, một thái độ khác nhau Sự mạo hiểm,

tự thay đổi và liên tục làm mới mình trên từng con chữ, từng trang viết cũng

là một minh chứng hùng hồn cho sức sáng tạo của cây bút này Chính những

Trang 19

điều đó làm cho tác phẩm của ông luôn có sức hấp dẫn kì lạ đối với các tầnglớp độc giả.

Hồ Anh Thái là nhà văn có ý thức sâu sắc về nghề viết, về bản chất củalao động nghệ thuật: "Tôi quan niệm người viết văn phải là người vật vã laođộng trên từng chữ ( ) Tôi là người luôn thay đổi Tôi cũng không dừng ởlối viết này lâu đâu, khi chuyển sang đề tài khác tôi sẽ chọn một lối viết kháccho hợp với đề tài mới Không dừng lâu ở một chỗ, cho nên người ta vừa kịpbuông ra lời nhận xét thì tôi đã đi qua chính tôi rồi" [52] Ông cũng đề caođạo đức nghề nghiệp của người sáng tạo văn học: "Tôi vẫn nghĩ nhà văn đíchthực phải là người tử tế, nhưng không thể nói là "hơn" hay "kém" nhữngngười khác Cũng giống như nghề văn là một nghề cao quý, nhưng không thểnói nó cao quý hơn nghề khác được Còn những cái mác, những danh hiệuthì hãy coi chừng! Không khéo chỉ vì những thứ ấy mà bệnh ảo tưởng củanhà văn càng nặng đấy" [52]

Với niềm say mê viết văn và sự nỗ lực sáng tạo, bứt phá không ngừngnghỉ cùng với một tài năng nghệ thuật thiên phú của mình, Hồ Anh Thái đã gặthái được nhiều thành công trong văn nghiệp, khẳng định "thương hiệu" củamình trong làng văn xuôi thời kì này Có thể kể đến các giải thưởng mà ông đãvinh hạnh được trao tặng như: giải thưởng truyện ngắn 1983-1984 của báo Văn

nghệ với truyện Chàng trai ở bến đợi xe; giải thưởng văn xuôi 1986-1990 của

Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với tiểu thuyết

Người và xe chạy dưới ánh trăng; giải thưởng văn học 1995 của Hội Liên hiệp

Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn Người đứng một chân.

Hồ Anh Thái là một trong không nhiều những cây bút văn xuôi xuấthiện sớm và để lại dấu ấn lâu dài và mạnh mẽ trong nền văn học Việt Namđương đại Với tài năng, ý thức nghề nghiệp và phông văn hóa rộng lớn củaông, chúng ta có thể tin rằng Hô Anh Thái sẽ còn đem lại cho độc giả nhiềutác phẩm xuất sắc hơn nữa trong tương lai

Trang 20

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Anh Thái và tiểu thuyết

“SBC là săn bắt chuột”

Các sáng tác của Hồ Anh Thái ngày càng thu hút được sự quan tâm củanhiều tầng lớp độc giả Những đổi mới về nghệ thuật cũng như sự sâu sắc vềnội dung đã được đề cập đến ở nhiều bài viết, lời giới thiệu về tác phẩm của

ông, đặc biệt, đằng sau mỗi cuốn tiểu thuyết đều có phần Dư luận tập hợp các

bài viết đánh giá, nhận xét về tác phẩm Cũng có một số lượng lớn các khóaluận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về nhiều phương diện khác nhautrong sáng tác của ông Trên cơ sở những cứ liệu đó, chúng tôi tổng hợp, kháiquát một số phương diện dành được nhiều sự lưu ý, quan tâm và dụng côngnghiên cứu trong sáng tác của Hồ Anh Thái như sau:

1.2.2.1 Về phương diện chủ đề và nội dung tư tưởng

Hồ Anh Thái thường viết về những khía cạnh mới của những vấn đềquen thuộc có liên quan đến đời sống xã hội đương thời với cái nhìn trungthực, trực diện Chẳng hạn: sự đấu tranh giữa cái Thiện và cái Ác trong tiểu

thuyết Cõi người rung chuông tận thế; thân phận của những người lính chống

Mĩ sau chiến tranh với tất cả những khát khao tình yêu, tình dục và hạnh phúc

trong Người đàn bà trên đảo; văn hóa Ấn Độ xuyên suốt dòng chảy của nó từ quá khứ đến hiện tại được bao bọc bởi lớp sương huyền thoại trong Đức Phật,

nàng Savitri và tôi v.v Qua các chủ đề đó, người đọc nhận ra được tấm lòng

yêu thương cuộc đời và tin tưởng vào phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của conngười Chúng tôi dẫn ra đây một vài nhận xét của các tác giả khi bàn về vấn

đề này:

Tác giả Trần Thanh Giao trong bài "Không theo kiểu cũ" cho rằng:

"Bằng cách trao giải chính thức cho cuốn sách, Hội đồng chấm giải thưởngmuốn ủng hộ điều tạm gọi là "viết về đời thường" và ủng hộ những phongcách nghệ thuật đa dạng, miễn là cuốn sách mang được tính nhân bản, nhânái phê phán cái trì trệ xấu xa để cuộc sống mau đổi mới Tiểu thuyết còn

Trang 21

nhiều chỗ có thể bàn cãi thêm, nhưng tư tưởng thì rõ ràng và lối viết thì khôngtheo kiểu cũ" [39; 411].

Wayne Karlin, trong lời giới thiệu cho bản in của nhà xuất bản Đại họcWashington, Mỹ, năm 2001, đã đánh giá cao những đặc sắc về nội dung tiểu

thuyết Người đàn bà trên đảo (The women on the island) như sau: "Tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo đã mở ra một cánh cửa vào một nền văn hoá

đang phải đấu tranh để định nghĩa với quá khứ và tương lai của chính mình"[39; 393] Hồ Anh Thái đã trở thành "một trong những nhà văn Việt Nam đầutiên thu hút được sự chú ý vào đề tài cho đến lúc nó vẫn còn cấm kỵ: Cái giákhủng khiếp của những người phụ nữ cựu binh của cuộc kháng chiến chống

Mỹ phải trả" [39; 398]

Cùng chung quan điểm đó, trong lời giới thiệu tiểu thuyết Người đàn

bà trên đảo cho bản in của Nhà xuất bản L'aube, Pháp, 2001, Janine Gillion

bày tỏ sự ngạc nhiên trước cách đặt vấn đề thẳng thắn và mạnh mẽ của HồAnh Thái khi đề cập đến số phận của những cựu binh chống Mỹ, đặc biệt làcách nhà văn đưa ra vấn đề tính dục và ham muốn của con người trong mộttrường hợp thật đặc biệt như thế

Với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái thực sự

đã tạo nên làn sóng trong đời sống văn học Tiểu thuyết này được coi là mốcđánh dấu một bước tiến mới trong nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái Tronglời giới thiệu của Nhà xuất bản Đà Nẵng về quyển sách này, có đoạn ngườigiới thiệu viết: "Với tác phẩm này, lại một vấn đề của con người-nhân loạiđược đề cập: Thiện - Ác Tác giả đứng trên cỗ xe của cái ác: gần gũi, tòngphạm, hoá thân của cái ác nên đã chỉ ra căn nguyên sâu xa hình thành cái ác( ) Có thể nói tác phẩm đã góp một tiếng nói đầy tâm huyết, trăn trở, cùng ýnghĩa cảnh báo cần được nhìn nhận, mổ xẻ nghiêm túc" [43; 5-6]

Nguyễn Đăng Điệp, trong bài "Hồ Anh Thái người mê chơi cấu trúc"

đã nhận xét: "Là cây bút nhạy bén và tỉnh táo, Hồ Anh Thái đã tạo được cái

Trang 22

nhìn riêng về thế giới Độ sắc trong những trang viết Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗanh dám nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nóbằng cái nhìn trung thực, táo bạo" [43; 438].

Trong luận văn nghiên cứu về phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái,sau khi phân tích và luận giải trên cơ sở những cứ liệu cụ thể, Trần QuỳnhTrang rút ra nhận xét: "Phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một hệ thốnggồm nhiều yếu tố thống nhất với nhau Trong các yếu tố ấy, tư tưởng nghệthuật là yếu tố đóng vai trò tiên quyết, là cơ sở của phong cách, đóng vai tròquyết định kiến tạo thế giới nghệ thuật của nhà văn ( ), trong đó tư tưởngbao trùm, chủ đạo chi phối tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm là tư tưởngthức tỉnh, phục thiện, hướng thiện, vươn tới sự hoàn thiện nhân cách conngười" [49; 123]

1.2.2.2 Về giọng điệu

Trong hầu hết các ý kiến đánh giá xoay quanh các sáng tác của Hồ AnhThái, một phương diện nghệ thuật trong tác phẩm được các nhà nghiên cứu đềcao đó là giọng điệu Các tác giả hầu như đều gặp nhau ở nhận định: Hồ AnhThái là một nhà văn đa giọng điệu Với mỗi tác phẩm, tùy vào đề tài của nó

mà Hồ Anh Thái lựa chọn cho mình một giọng điệu phù hợp, thậm chí, trongcùng một tác phẩm cũng đan xen nhiều giọng điệu khác nhau tùy thuộc vàonội dung chi tiết và ý đồ nghệ thuật của tác giả Tuy nhiên, giọng điệu nổi bật

và bao trùm trong sáng tác của Hồ Anh Thái đó là giọng hài hước, giễu nhại

Nhận xét chung về giọng điệu trong các sáng tác của Hồ Anh Thái,Hoài Nam, trong bài "Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng đang viết", chia lộtrình sáng tác của Hồ Anh Thái làm ba giai đoạn: tiền Ấn Độ, Ấn Độ và hậu

Ấn Độ Giai đoạn tiền Ấn Độ được tính từ lúc Hồ Anh Thái bắt đầu viết văncho đến cuối những năm 1980, kênh giọng chủ đạo của văn xuôi Hồ Anh Tháithời kì này là trữ tình đôn hậu Ấn Độ là giai đoạn anh say mê ngụp lặn trongđại dương văn hoá Ấn với nhiều sáng tác như "những mũi kim châm cứu theo

Trang 23

kiểu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ" (Tiến sĩ K.Pandey) Giaiđoạn hậu Ấn Độ được tính từ năm 1995 đến nay, giọng điệu văn xuôi Hồ AnhThái lúc này nghiêng về giễu cợt, trào lộng, mỉa mai sâu cay và không hềnương nhẹ trước đối tượng" [27].

Bài viết "Hồ Anh Thái người mê chơi cấu trúc" của Nguyễn ĐăngĐiệp đã đề cập đến tính động trong phong cách và giọng điệu của Hồ AnhThái: "Cùng với một số cây bút khác như Nguyễn Minh Châu, Ma VănKháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái có ý thức tạonên những màu giọng điệu khác: trẻ trung, tinh nghịch nhưng cũng rất hómhỉnh Những tác phẩm viết về miền Ấn Độ lại được tác giả thể hiện bằnggiọng khác Chất giọng trữ tình nhường chỗ cho giọng văn sắc lạnh Coitrọng giọng điệu nên Hồ Anh Thái cũng đặc biệt chú ý đến sự thay đổi điểmnhìn nghệ thuật, người kể chuyện không đơn giản kể lại những điều đãchứng kiến một cách đơn giản theo kiểu "tôi thấy" Cách thay đổi cấu trúc kểnhư trên đã nói khiến cho câu chuyện được kể trở nên khách quan hơn, mạchtruyện trở nên biến hoá hơn" [43; 357]

Võ An Ninh, trong bài "Dòng chảy Hồ Anh Thái" cũng đã nhận xét:

"Hồ Anh Thái là nhà văn làm chủ được nhiều giọng điệu trong sáng tác, nổibật lên là giọng điệu trữ tình trong sáng, giọng điệu tâm tình thương cảm,giọng suy tư triết luận, giọng hiện thực sắc lạnh và giọng hài hước giễu cợt;trong đó giọng hài hước đang là giọng điệu chủ đạo của ngôn ngữ trần thuậttrong văn xuôi Hồ Anh Thái hiện tại" [30; 42]

1.2.2.3 Về ngôn ngữ

Với ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc và không bao giờ chịu dừnglại và thoả mãn với chính mình, Hồ Anh Thái luôn luôn thay đổi làm mới từ

hệ thống đề tài, cảm hứng đến hệ thống nhân vật và đặc biệt là ngôn ngữ

Trong bài Một giọng văn khác, Vân Long nhận xét về ngôn ngữ trong tác phẩm Tự sự 265 ngày như sau: "Với thủ pháp sử dụng thành ngữ, khẩu

Trang 24

ngữ của đời thường, với lối viết tràn câu, tràn dòng, bỏ dấu, Hồ Anh Thái đãtạo ra một vị trí riêng cho mình ở thể văn này Phải chăng đây là cách để anhtiềm nhập sâu hơn nữa vào thực tại cuộc sống trong đan xen lẫn lộn giữa cáimới đích thực và sự học đòi nhố nhăng, dùng tiếng cười thông minh để phêphán chúng" [37; 246].

Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên trong bài viết "Giễu nhại ngôn ngữ thị

dân" bình luận về tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười của Hồ Anh Thái:

"Người ta ấn tượng mạnh với ngôn từ nghệ thuật mà Hồ Anh Thái sử dụng

trong Bốn lối vào nhà cười, đây là nét đặc sắc của tập truyện Những dòng

thác ngôn từ tràn lên giấy ồ ạt, không bị giới hạn bởi những quy chuẩn mựcthước ( ), nét độc đáo, đặc sắc đậm chất Hồ Anh Thái trong việc lạ hoá cáchdiễn đạt trên ba phương diện: lối nói liệt kê, bổ sung, tăng cấp, lối nói nhấnmạnh và lối nói bình dân thông tục Ta gặp khá nhiều cách diễn đạt này trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái Nhưng nét độc đáo tạo nên tính mới lạ không chỉđơn thuần là liệt kê, bổ sung, tăng cấp, Hồ Anh Thái đặt cạnh nhau những từcụm từ để tạo nên một ngữ cố định mới, diễn đạt ý nghĩa tổng hợp của tất cảcác từ ngữ đó ( ) Ngôn từ đối với anh như biểu tượng của nhịp sống gấp gápđang từng giờ từng phút cuốn con người theo vóng xoáy của nó ( ) Hồ AnhThái đang đùa nghịch với ngôn ngữ Trong bàn tay anh ngôn từ trở nên ngồnngộn sức sống, linh hoạt và phong phú Ta gặp ở đây tất cả những cách nói,cách diễn đạt đời thường nhất của ngôn ngữ thị dân" [40; 221-223]

1.2.2.4 Về tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột

Trong buổi ra mắt cuốn tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh

Thái, nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét: "Tác phẩm của Hồ AnhThái không phải để thỏa mãn sự tò mò của độc giả mà là thứ “văn nghĩ” đíchthực Trong cuốn sách này, nhà văn đã biết cách đánh thức cái nghĩ của ngườiđọc chứ không phải sự tò mò tối tăm Tôi cho rằng một dân tộc trên đườngphát triển cần phải có những quyển tiểu thuyết như thế này Cái nghĩ của

Trang 25

chúng ta bây giờ hiện nằm ở một vùng rất chán nản, đó là bụng ( ) Hồ AnhThái là một người rất thông minh, dòng chảy chính trong tiểu thuyết này làdòng ý thức châm biếm, giễu nhại, tưởng như ai cũng viết được nhưng ngườiviết được theo cách đó chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi" Cuối cùng, bà tríchdẫn câu nói của nhà văn Pháp François Rabelais mà bà cho là rất phù hợp vớicuốn sách này: “Tôi thích người đọc giống như một con chó thông minh, biếtcách đọc sách của tôi bằng cách cắn vỡ cái xương để lấy phần tủy” [34]

Trong một bài báo, Trần Nhã Thuỵ cũng đã nhận xét về tiểu thuyết

SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái như sau: "Sử dụng lối viết hoạt kê

nhưng tiểu thuyết của Hồ Anh Thái không chỉ dừng lại ở mức độ gây cười màkhiến phải nghĩ, phải thay đổi Một cõi nhân gian bé mọn, qua ngòi bút nhàvăn như được “soi” từng ngóc ngách, bóc tách từng lớp vỏ màu mè, để hiện ranhững chân dung trần trụi ( ) Có thể nói cái bản thể xã hội Việt Nam hômnay đã được Hồ Anh Thái mô tả một cách khách quan và trung thực Có

thoáng một chút gì đó như là khí chất của Vũ Trọng Phụng (với Số đỏ), nhưng

ở đây Hồ Anh Thái biến hoạt hơn trong ngôn ngữ diễn đạt, sự giễu nhại khi lộkhi ẩn nhưng lúc nào cũng mang một hàm lượng tri thức, với tâm thế đốithoại không khoan nhượng Với việc vẽ nên một thế giới chuột đầy kỳ bí bêncạnh một thế giới người đầy lộn xộn, có thể xem Hồ Anh Thái đã sử dụng bútpháp hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết này Song cũng có thể nói Hồ AnhThái đồng thời sử dụng bút pháp hiện thực thậm phồn (hyper-reality) khi “vẫygọi” những lời hát nhại dân gian, lời nói lái, ca dao, thành ngữ, câu cửamiệng và đặc biệt là ngôn ngữ hè phố để mô tả cảm giác sống thụ hưởng vậtchất của con người đô thị hôm nay Lạc trong rừng chữ của Hồ Anh Thái, khithì khiến ta bay bổng, có lúc lại thấy bải hoải rợn người Một cuốn tiểu thuyết

có khả năng lôi cuốn người đọc đi một mạch từ trang đầu đến trang cuối.Nhưng sự thành công không chỉ ở bút pháp, mà ở chính cái nhìn của nhà văn:

sự tha hóa và vong thân của đám đông khi đội lên đầu chỉ toàn vật chất [46]

Trang 26

Như vậy, các sáng tác của Hồ Anh Thái đã nhận được rất nhiều ý kiếnnhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu trên nhiều phương diện Tiểu

thuyết SBC là săn bắt chuột mới được xuất bản tháng 9 năm 2011 nhưng đã

nhanh chóng dành được sự quan tâm của đông đảo độc giả và nhà nghiên cứu

Có nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá về tác phẩm, tuy nhiên các ý kiến, nhậnđịnh này mới chỉ dừng lại ở những ấn tượng khi tiếp xúc với tác phẩm chứchưa có công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm một cách côngphu, toàn diện trên các cứ liệu cụ thể Do vậy, chúng tôi quyết định thực hiện

đề tài: "Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh

Thái" với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về phong cách và đặc điểm ngôn ngữ

tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT

SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT CỦA HỒ ANH THÁI

2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

2.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và của ngôn ngữ nói chung Từ là cơ

sở cấu tạo các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản Trong các đơn vị ngônngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất Bên cạnhchức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, từ còn có chức năng "phânbiệt nghĩa", làm bộc lộ nghĩa này hay nghĩa khác của những từ nhiều nghĩa,hoặc chức năng cấu tạo tương tự như hình vị, thậm chí từ còn có thể đảmnhiệm chức năng thông báo của câu Thuộc tính nhiều chức năng của từ chophép nó trở thành một loại đơn vị có tính chất phổ biến nhất, cho phép nóchiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ Cũng là đơn vị có hai mặtnhư hình vị, cụm từ và câu nhưng từ lại tồn tại trong hai biến dạng: với tínhcách như một kí hiệu đa nghĩa tiềm tàng khi nằm trong hệ thống từ vựng vàvới tính cách một kí hiệu thực tại khi dùng trong lời nói Trong hệ thống từvựng, từ có thể có nhiều nghĩa nhưng trong ngữ đoạn, tính nhiều nghĩa của từ

bị gạt bỏ, chỉ một nghĩa nào đó của từ được thực tại hóa mà thôi Đồng thời,trong ngữ đoạn nhiều khi từ còn thêm những sắc thái ý nghĩa mới khác vớicác ý nghĩa của hệ thống Từ có cấu trúc ý nghĩa rất phức tạp, bao gồm cảnhân tố từ vựng và nhân tố ngữ pháp Mỗi từ riêng biệt, ngoài ý nghĩa từ vựngvốn có của mình, bao giờ cũng có một nghĩa tố ngữ pháp chỉ ra từ loại của nó.Tùy theo cái được biểu đạt là sự vật, hành động hay tính chất mà từ đó có cácnghĩa tố chỉ ra nó thuộc danh từ, động từ hay tính từ

Mặc dù đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị cơ bản củangôn ngữ, nhưng vấn đề nhận diện và định nghĩa từ lại rất khó Cái khó khăn

Trang 28

nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng

và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùngmột ngôn ngữ cũng khó Có từ mang chức năng định danh, có từ không mangchức năng định danh; có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó; có từliên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế, có từ lại chỉ biểu thị nhữngquan hệ trong ngôn ngữ mà thôi; có từ có kết cấu nội bộ; có từ tồn tại trongnhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức.Hiện tượng đồng âm và đa nghĩa cũng gây khó khăn không nhỏ trong việctách biệt và đồng nhất các từ Vì vậy, rất khó để có thể đi đến một sự thốngnhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ

Khi định nghĩa từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã có sự thống nhấtchung về từ ở một số đặc điểm chính: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả nănghoạt động, tuy nhiên, các nhà Việt ngữ vẫn chưa đưa ra một định nghĩa mangtính khái quát nhất Ở đây, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ HữuChâu làm cơ sở cho việc xác định và nghiên cứu đơn vị từ trong tác phẩm của

Hồ Anh Thái: "Từ tiếng Việt là những phân đoạn ngữ âm cố định, bất biến,phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ một-một số lượng hình vị vàphương thức cấu tạo; toàn bộ ứng với một hoặc một số từ-ngữ nghĩa gồm mộtkhuôn từ loại và những nét nghĩa riêng cho mỗi từ và ứng với một tập hợp vớinhững đặc điểm ngữ pháp chủ yếu là ngoài từ phù hợp với mỗi từ-ngữ nghĩa

Đó là những đơn vị trong hệ thống từ vựng tiếng Việt-tức là lớn nhất trong hệthống từ vựng tiếng Việt-và nhỏ nhất để cấu tạo câu, chứa đựng trong bảnthân những cấu trúc từ-ngữ nghĩa, từ-cấu tạo và từ-ngữ pháp, chung cho nhiều

từ khác cùng loại" [6; 336]

2.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

Từ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh có những đặcđiểm khác với từ trong hành chức Trong hoạt động ngôn ngữ, các từ mớithực sự bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống

Trang 29

ngôn ngữ và hiện thực hoá các bình diện của nó Thậm chí, trong sử dụng, từ

có thể biến đổi và chuyển hoá những thuộc tính vốn có để cho phù hợp vớicác nhân tố cụ thể của từng hoạt động giao tiếp, để nhằm đạt được hiệu quảgiao tiếp tốt nhất

Khi từ đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó được hiện thực hoá, cụthể hoá và được xác định Lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩacủa từ sẽ giảm dần tính trừu tượng và khái quát đến mức tổi thiểu để đạt tớitính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa Chẳng hạn, từ "mặt" khi được xâydựng trong từ điển [33; 796] với tư cách là đơn vị ngôn ngữ có 9 nghĩa khácnhau Nhưng chỉ khi đi vào những phát ngôn cụ thể như: "Sương in mặt, tuyếtpha thân"; "Chân mây mặt đất một màu xanh xanh", thì một trong các nghĩacủa từ "mặt" mới được bộc lộ, cụ thể hóa và xác định

Mặt khác, cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểutính khái quát thì từ lại có thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới

do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại Chẳng hạn, trong câu ca dao: "Mộtcây làm chẳng nên non - Ba cây chụm lại nên hòn núi cao" thì hai số từ "một"

và "ba" không còn đơn thuần chỉ số lượng nữa, mà "một" chỉ sự đơn lẻ, cánhân còn "ba" chỉ số đông, tập thể sau khi liên kết nhiều cá nhân lại với nhau.Như vậy, từ "một" và "ba" ở đây không còn nguyên nghĩa như trong từ điểnnữa mà đã được phương thức tu từ ẩn dụ tác động vào nhằm tạo hiệu quảnghệ thuật cao trong diễn đạt

Các từ kết hợp với nhau theo quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa, bộc lộkhả năng kết hợp từ vựng và kết hợp ngữ pháp của mình, nhưng hai loại quytắc này không phải bao giờ cũng song hành với nhau Có những câu hoàn toànđúng về mặt ngữ pháp, nhưng lại không chấp nhận được về mặt ngữ nghĩahoặc logic (trong điều kiện thông thường) Ngược lại, có những câu lại chứanhững kết hợp từ được chấp nhận, được hiểu về mặt ngữ nghĩa nhưng rõ ràng

là có cái gì đó bất thường về ngữ pháp

Trang 30

Đặc biệt, từ trong sáng tạo nghệ thuật được sử dụng như thế nào vàmang lại hiệu quả ra sao còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: đề tài, chủ đề củatác phẩm, năng lực ngôn ngữ, vốn sống cũng như phong cách viết của tác giả.Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ trong tác phẩm giúp ta có cái nhìn sát thực hơn

về ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng trong hoạt động, mà đây là một dạnghoạt động đặc thù của ngôn từ Do đó, từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật từlâu đã được các nhà nghiên cứu dụng công khám phá Tuy nhiên, tùy thuộcvào mục đích nghiên cứu và đặc thù của mỗi bộ môn khoa học, từ ngữ trongtác phẩm nghệ thuật được tiếp cận tìm hiểu ở những góc độ khác nhau Nhà từvựng học thống kê vốn từ của nhà văn, nhà thơ, khảo sát những lớp từ nổi bật

và đặt chúng trong tương quan với vốn từ toàn dân để rút ra hiệu quả nghệthuật mà lớp từ đó mang lại cho tác phẩm cũng như thấy được dấu ấn riêngcủa người sáng tác trong cách sử dụng lớp từ đó Nhà ngữ pháp học quan tâmđến đặc điểm cấu tạo của từ ngữ và cách kết hợp giữa chúng Người làmphong cách xem xét từ ngữ trong tác phẩm dưới góc độ phong cách chứcnăng và sự lựa chọn từ ngữ của người nghệ sĩ Nhà thi pháp học thống kê tần

số sử dụng của một số lớp từ nổi bật, qua đó, rút ra quan niệm nghệ thuật của

nhà văn, nhà thơ… Phân tích từ ngữ trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột

của Hồ Anh Thái trên nhiều phương diện, chúng tôi chú ý đến các lớp từ ngữnổi bật trong tác phẩm: thành ngữ, lớp từ láy (xét về mặt cấu tạo), lớp từ khẩungữ (xét về phạm vi sử dụng)

2.2 Các lớp từ ngữ nổi bật trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ

Trang 31

trưng cao nên nó thường được dùng với mục đích tạo tính sinh động, cụ thể,bóng bẩy cho những đối tượng được đề cập trong phát ngôn nhằm gây ấntượng mạnh mẽ đối với người đọc, người nghe Cho đến nay, từ láy trong hệthống cũng như từ láy trong sử dụng là hiện tượng ngôn ngữ phức tạp, luônthu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Chỉ riêngvấn đề tên gọi của lớp từ này cũng đã làm tốn không ít giấy mực của các nhànghiên cứu Bên cạnh tên gọi "từ láy", lớp từ này còn được gọi bằng nhiều tênkhác như: từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ ngữ kép phân thức Tổng hợpnhững luồng ý kiến khác nhau của các nhà ngôn ngữ khi nghiên cứu về từ láy,

có ba quan niệm chính về từ láy như sau:

(1) Coi láy là phụ tố

(2) Coi láy là ghép

(3) Coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa

Để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình, ở đây chúng đi theoquan niệm coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa của GS.Hoàng Văn Hành: “Từ láy là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốctheo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừađiệp vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa"[12; 30] Hiện nay, quan niệm này cũng nhận được sự đồng thuận cao củanhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước khi nghiên cứu từ láy trongtiếng Việt

Về mặt cấu tạo, từ láy có thể phân loại theo nhiều bước và mỗi bướcdựa vào một tiêu chí được coi là thỏa đáng

Bước thứ nhất: phân loại từ láy dựa vào số bậc trong quá trình cấu tạo

từ láy ta có: từ láy bậc 1 và từ láy bậc 2

Bước thứ hai: dựa vào mức độ điệp giữa các tiếng mà chia từ láy thànhhai loại: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

Trang 32

Bước thứ ba: dựa vào tính chất điệp hay đối của khuôn vần mà chia từláy làm bốn loại: từ láy hoàn toàn đối vần, từ láy hoàn toàn điệp vần, từ láy bộphận đối vần, từ láy bộ phận điệp vần.

Tiếp theo, có thể dựa vào thanh điệu hoặc các yếu tố trong khuôn vần

để chia từ láy thành các tiểu loại nhỏ hơn

Về mặt ngữ nghĩa, dựa vào hình thái biểu hiện của sự biểu trưng hóa,

có thể chia từ láy làm ba loại: từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn, từ láybiểu trưng hóa ngữ âm cách điệu, từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừachuyên biệt hóa về nghĩa

Từ thực tiễn hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học cho thấy, từ láyđảm nhiệm vị trí quan trọng trong việc làm nên thành công của tác phẩm Cóthể nói, nếu văn học là tấm gương phản ánh đời sống thì từ láy là những ôkính lúp không thể thiếu để soi chiếu rõ nét hình dung đó Tuy vậy, để lựachọn và sử dụng lớp từ này phù hợp với đề tài, nội dung của tác phẩm cũngnhư phong cách ngôn ngữ từng thế loại đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế và nănglực ngôn ngữ của tác giả

2.2.1.2 Từ láy trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái xét về mặt cấu tạo

Khảo sát tác phẩm SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái với tống số

343 trang tiểu thuyết, chúng tôi thống kê được 975 lần xuất hiện từ láy Trong

đó, từ láy bậc 2 xuất hiện không đáng kể (10 đơn vị), chủ yếu là từ láy bậc 1(965 đơn vị)

Căn cứ vào quy tắc tạo từ (điệp và đối), chúng tôi chia từ láy bậc 1thành các tiểu loại, từ đó, chúng tôi chỉ ra đặc điểm sử dụng và hiệu quả nghệthuật của chúng trong tác phẩm của Hồ Anh Thái Kết quả thống kê và phânloại các tiểu loại từ này cụ thể như sau:

Trang 33

Bảng 2.1 Từ láy trong SBC là săn bắt chuột phân loại về cấu tạo

Loại láy Láy hoàn toàn Láy bộ phận

Điệp vần Đối vần Điệp vần Đối vần

Tỉ lệ 12,7% 9,9% 17,4% 60%

a) Từ láy hoàn toàn điệp vần

Từ láy hoàn toàn điệp vần trong tác phẩm chủ yếu thuộc từ loại tính từchúng được sử dụng nhằm miêu tả tính chất và trạng thái của sự vật, hiệntượng Trước hết, những từ láy hoàn toàn điệp vần chủ yếu được tác giả sửdụng để diễn tả những hoạt động mạnh hoặc những hoạt động diễn ra liên tiếptrong thời gian dài, có tính quá trình Ví dụ:

Cái bát hương bỗng cháy bùng bùng [VI; 92].

Bùng bùng là cháy vọt lên và kéo dài trạng thái đó trong một khoảng

thời gian nhất định Thử so sánh, nếu ta nói: "Cái bát hương bỗng cháy bùnglên" thì nghĩa của câu đã hoàn toàn khác, "cháy bùng lên" là đột ngột cháy to

và ngọn lửa đó có thể kéo dài hoặc lịm tắt ngay sau đó

Tương tự, trường hợp: Máy nổ phành phành [VI; 228] cũng như vậy.

Nổ phành phành cho ta cảm giác đây là tiếng nổ với âm lượng lớn, âm thanh

"méo và bẹt", kéo dài liên tiếp trong khoảng thời gian dài

Có thể bắt gặp hàng loạt những từ láy hoàn toàn được sử dụng với mục

đích này trong tác phẩm: rau ráu, tạch tạch, xè xè, sòn sòn, ào ào, rào rào,

đùng đùng, ù ù, sồn sồn, lầm lầm, sầm sầm, rầm rầm, tua tủa, xăm xăm, nhong nhong, lừ lừ, rùng rùng, bon bon, oang oang, ùn ùn, xèo xèo, phừng phừng, Những từ láy này được cấu tạo đa dạng về thanh điệu, nhưng phần

Trang 34

lớn là những từ có các thành tố điệp thanh cùng âm vực thấp, điều này phùhợp với ý đồ của tác giả khi diễn tả mức độ và cường độ của những hoạt độngmạnh, dồn dập, liên tiếp.

Thứ hai, với những từ láy miêu tả tính chất của sự vật mà cả 2 thành tốcấu tạo đều không xác định được yếu tố gốc và nghĩa của tiếng gốc thì chúngthường được dùng để nhấn mạnh và làm tăng sắc thái, thuộc tính của sự vật.Chẳng hạn:

Rành rành chức danh, rành rành địa chỉ, rành rành số điện thoại Phải tin [VI; 150].

Từ láy "rành rành" ở câu trên có tác dụng làm tăng mức độ chính xác,

rõ ràng, không còn nghi ngờ, không thể chối cãi của sự việc được nhắc đến

Gã đi bộ giữa thung lũng nắng chang chang mà rối ruột [VI; 116].

Nắng chang chang là cái nắng mùa hè, nắng to, chói chang, nắng nhưrót mật và trải đều trên diện rộng

Cái hạt bắp rang bơ đã hóa thành tượng đài sừng sững che chắn cho đồng bọn và đàn em tầu thoát [VI; 215].

Sừng sững có sức diễn tả mức độ to lớn của một vật về cả chiều dài,

chiều rộng và bề ngang, làm cản trở tầm nhìn Tác giả phải dùng từ sừng sững

ở đây mới miêu tả được kích thước đồ sộ và tư thế án ngữ hiên ngang của conchuột Trùm

Trái lại, với những từ láy hoàn toàn điệp vần mà sau phương thức láytác động vào tiếng gốc kết quả tạo ra từ láy có cấu tạo: yếu tố láy đứng trước,yếu tố gốc đứng sau thì chúng thường có tác dụng làm nhòe và làm giảm tínhchất của hiện tượng được miêu tả

Con gái đần độn đui què mẻ sứt thì ở lại quê cắm mặt xuống ruộng, vùng vụng xâu xấu thì lên thành phố làm ôsin, khéo tay hay mắt thì dạt đến một phương trời xa che giấu tung tích làm gái [VI; 82-83].

Trang 35

Vụng và xấu vốn là từ đơn, có nghĩa Sau khi phương thức láy tác động

vào hai tiếng gốc này, kết quả tạo ra từ láy vùng vụng và xâu xấu thì nghĩa

của hai từ láy này đều giảm so với nghĩa của tiếng gốc ban đầu

Trong tác phẩm, ta bắt gặp rất nhiều những từ láy hoàn toàn được sử

dụng với mục đích trên: con con, hay hay, ngon ngon, hồng hồng, vàng vàng,

sơ sơ, cao cao, thương thương, tội tội, ngường ngượng, dong dỏng, nhè nhẹ, Tính chất nhòe và giảm nghĩa của những từ láy này có được là do

chúng được kết thúc bởi khuôn vần mở, nửa mở (/w/, /j/) hoặc nửa khép(/m/, /n/, /ŋ/) nên tạo được độ vang ngân kéo dài

b) Từ láy hoàn toàn đối vần

Đây là lớp từ được sử dụng ít nhất trong đối sánh với các tiểu loại từláy khác Những từ láy thuộc tiểu loại này trong tác phẩm hầu hết đều có cấutạo giống nhau như sau: sau khi phương thức láy tác động vào tiếng gốc thìchúng diễn ra sự biến đổi kết hợp dị hóa phụ âm cuối và thanh điệu Phụ âmcuối biến đổi theo quy luật nhất định và hệ quả của sự biến đổi này kéo theo

sự chuyển đổi về thanh theo quy tắc đối bằng - trắc cùng âm vực:

/k/  /ŋ/: khang khác, bàng bạc, răng rắc, nhung nhúc, sùng sục, lông

lốc, hồng hộc, ừng ực.

/p/  /m/: lôm lốp, xôm xốp, bồm bộp, rầm rập, cầm cập, thùm thụp,

nhơm nhớp, răm rắp.

/t/  /n/: vun vút, vùn vụt, quăn quắt, tuồn tuột, thơn thớt, quần quật,

bần bật, xoèn xoẹt, toèn toẹt, chin chít, thin thít.

/k/  /nh/: tanh tách, canh cách, đành đạch, vanh vách, bành bạch, bình

bịch, xềnh xệch.

Do những từ láy này đều được kết thúc bằng khuôn vần khép (/k/, /p/,/t/) nên chúng được tác giả lựa chọn để miêu tả những âm thanh, hoạt độngdiễn ra nhanh, dứt khoát mà ta có thể phân biệt rõ ràng từng lượt động tác

hoặc từng lượt âm thanh phát ra Chẳng hạn, từ láy chin chít được sử dụng lặp

Trang 36

đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm để miêu tả tiếng chuột kêu, âm thanh nàytuy nhỏ nhưng ta có thể phân biệt từng lượt tiếng.

c) Từ láy bộ phận điệp vần

Loại từ láy này được sử dụng tương đối nhiều trong tác phẩm SBC là

săn bắt chuột của Hồ Anh Thái Đặc điểm chung của lớp từ láy này trong

tác phẩm đó là phần lớn chúng là những từ láy đối phụ âm đầu, điệp vần vàđiệp thanh (157 lượt xuất hiện, chiếm 82,3%); bộ phận đối thanh chỉ được

sử dụng với số lượng ít (30 lượt xuất hiện, chiếm 18,7%) Do đó, nhóm từnày có tác dụng tạo tính vần điệu, nhịp nhàng cho lời văn trong tác phẩm.Chẳng hạn:

Nó dừng lại một lát Ánh xanh đỏ trên thân chuột quang lim dim [VI; 76] Lim dim vốn có nghĩa chỉ hình ảnh đôi mắt của con người chưa nhắm

khít lại, còn hơi hé mở Ở đây, khi tác giả muốn diễn tả ánh sáng yếu ớt, lelói, lúc lúc vụt sáng hơn một chút rồi lại lịm đi ngay của con chuột quang máy

tính thì rõ ràng không còn từ nào phù hợp hơn từ lim dim Nó vừa gợi lên

được trạng thái của con chuột quang vừa có tác dụng cộng hưởng với thủpháp nhân hóa của tác giả

Đúng hơn là thế hệ ông chẳng ai biết dùng thư điện tử Họ coi đó là một vật thể lạ không xác định được Một thứ bép xép lộ bí mật ngay trong nhà

ta [VI; 155].

Cũng ở vị trí trên, ta có thể thay từ bép xép bằng từ làm, để mà vẫn đảm bảo về nghĩa và đúng ngữ pháp của câu Tuy nhiên, phải là từ bép xép thì nó

mới diễn tả được cảm xúc bực bội, khó chịu của nhân vật đối với đối tượngđược nhắc đến là thư điện tử

Bà đây có khi tham gia các hoạt động nhà nước vẫn lạch bạch đến sau Tướng Ông đã sẵn sàng, quan khách đã sẵn sàng, nhưng vẫn phải chờ một phu nhân dáng đi vịt bầu loay hoay mãi không rời nhà lên xe [VI; 198].

Trang 37

Từ lạch bạch tác giả dùng ở câu trên hô ứng với các từ dáng đi vịt bầu;

loay hoay ở câu dưới tạo cho người đọc sự liên tưởng, hình dung rất rõ về

Tướng Bà: một người đàn bà mập mạp, khệ nệ và chậm chạp

d) Từ láy bộ phận đối vần

Đây là lớp từ láy được sử dụng với số lượng lớn nhất, xuất hiện dày đặctrong tác phẩm Lớp từ này được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc, vừabảo tồn phụ âm đầu vừa kết hợp với một khuôn vần mới để tạo thế vừa điệpvừa đối Theo đó, cấu tạo từ láy có sự đa dạng, có khi tiếng gốc đứng trước,

có khi tiếng gốc đứng sau nhưng phần lớn là từ láy có tiếng gốc đứng trước.Khuôn vần được kết hợp vào tiếng láy đứng trước tiêu biểu là:

- âp: phập phồng, phấp phỏng, nhấp nhô, dập dờn, chập chờn, chập

choạng, dập dìu, phập phùng, bập bềnh, dập dềnh, khấp khởi, lấp lửng

- ung: ngúng nguẩy, sung sướng, tung tăng, tung tóe, lung lay

Một số khuôn vần được kết hợp vào tiếng láy đứng sau thường gặptrong tác phẩm:

- a: nhẩn nha, lân la, nấn ná, ngân nga, rôm rả, giục giã, vật vã, ròng

rã, xót xa, rộn rã, quấy quả

- ang: nhẹ nhàng, rõ ràng, vội vàng, bẽ bàng, dính dáng, khẽ khàng,

sẵn sàng, duyên dáng, rộn ràng

- ao: sắc sảo, hỗn hào, xôn xao, trơ tráo, phều phào, nhốn nháo, lớn

lao, tếu táo, ồn ào, tỉnh táo

- ơ: Nhắc nhở, than thở, gặp gỡ, lẳng lơ, lửng lơ, lững lờ, vẩn vơ, vạm

vỡ, sặc sỡ

- anh: họp hành, long lanh, quẩn quanh, tan tành

- e: văn vẻ, bắt bẻ, vui vẻ, sạch sẽ, vắng vẻ, lặng lẽ

Các khuôn vần của tiếng láy đứng sau phần lớn là khuôn vần mở, nửa

mở và nửa khép Chúng góp phần làm cho câu văn mượt mà, vang ngân kéo

Trang 38

dài, từng con chữ lăn tăn, xôn xao, lôi cuốn người đọc đi đến tận cùng của bến

bờ tác phẩm

Về thanh điệu, theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Hành, các từ láythuộc tiểu loại này thường đối hoặc điệp theo quy tắc thanh điệu tiếng gốc vàtiếng láy thuộc cùng âm vực [12; 66] Tuy nhiên, khảo sát từ láy trong tác

phẩm SBC là săn bắt chuột, chúng tôi thấy thanh điệu của những từ láy bộ

phận điệp vần biến đổi rất đa dạng, uyển chuyển: có khi đối thanh, có khi điệpthanh nhưng không nhất thiết chúng phải cùng âm vực Chẳng hạn:

Thanh điệu cùng âm vực thấp: hậm hực, đồn đại, đần độn, tục tằn, lập

lòe, hời hợt, trầm trồ, trục trặc, bồng bềnh, lừa lọc, chằng chịt, rầm rộ,

Thanh điệu cùng âm vực cao: té tát, héo hon, đứng đắn, dễ dãi, héo

hắt, cắm cúi, nhõng nhẽo, xuýt xoa, phá phách, chí chóe, trớ trêu, nhoe nhoét, hân hoan,

Thanh điệu khác âm vực: ngủ nghê, lạc lõng, quanh quẩn, phảng phất,

hoảng hốt, rũ rượi, nhạt nhẽo, mắng mỏ, khấp khởi,

Như vậy, rõ ràng, những con chữ (theo nghĩa rộng) không bao giờ đứngyên mà luôn luôn phát triển, biến đổi, đáp ứng nhu cầu giao tiếp ngày cànglớn của con người và nhà văn là người đi tiên phong trong việc "khai sinh"những vỉa tầng ngôn ngữ mới Hồ Anh Thái là một nhà văn như thế Xuấtphát từ ý thức trách nhiệm cao độ với tất cả những gì mình viết ra cùng vớimột tinh thần sáng tạo không mệt mỏi, Hồ Anh Thái luôn lao động cật lực

"trên từng con chữ" với ý thức không bao giờ lặp lại chính mình

2.2.1.3 Từ láy trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái xét về tính chất biểu trưng

a) Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản

Trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, Hồ Anh Thái sử dụng không

nhiều từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn (74 lượt xuất hiện, chiếm 7,7%).Phần lớn chúng đều là những từ mô phỏng trực tiếp, gần đúng với âm thanh

Trang 39

tự nhiên, chúng có tác dụng giúp cho nhân vật, sự việc hiện lên sinh động, câuchuyện được kể trở nên chân thực, khách quan và hấp dẫn hơn.:

Cô kia cũng về làng, được cái mau mồm mau miệng, nhưng nói một câu lại chin chít một câu Mày ơi, truyền hình dạo này, chin chít, thật là khởi sắc, chin chít, tao thích nhất, chin chít, sao mai bài hát Việt với lại, chin chít, hãy chọn giá cuối tuần chưa hề chia ly, chin chít chin chít [VI; 93].

Với việc sử dụng hàng loạt từ láy chin chít liên tiếp trong đoạn văn

trên, tác giả khắc họa sinh động hình ảnh nhân vật cô gái bị "chuột hóa" do đãnhìn vào mắt con chuột Trùm

Rừng đang tươi cây đang xanh thì tiếng rìu phầm phập , tiếng cưa xoèn xoẹt Cây bị đốn ngang thân kêu răng rắc Đổ ào ào Rùng rùng mặt đất [VI; 188].

Ở đoạn văn trên, tác giả đặt rất nhiều từ láy mô phỏng âm thanh gầnnhau, chúng vừa có tác dụng thể hiện được nhiều hành động diễn ra đồng thời(tiếng rìu, tiếng cưa đốn cây) vừa thể hiện được trình tự diễn ra của hành độngtàn phá rừng mà không cần phải dùng nhiều ngôn ngữ kể: đầu tiên là âm

thanh tiếng rìu tiếng cưa đốn hạ cây phầm phập tiếp theo là âm thanh một số thân cây bị đổ răng rắc, sau đó hết cây này đến cây khác bị đốn hạ đổ xuống

ào ào khiến cho mặt đất cũng phải rùng rùng chuyển động Như vậy, có thể

thấy, khả năng gợi tả của từ láy là rất lớn, mỗi từ láy có thể đảm nhiệm vai tròbiểu đạt mà có khi ta phải dùng cả một đoạn văn dài để diễn tả cùng một sựvật, sự việc, hiện tượng như thế mà vẫn không thể hiện được sắc thái biểucảm như từ láy Hồ Anh Thái đã thành công khi sử dụng chúng đúng lúc vàđặt chúng vào đúng chỗ

Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giảnvới ý nghĩa biểu thị sự vật Tuy nhiên, loại từ láy này được sử dụng hãn hữutrong tác phẩm của Hồ Anh Thái Chẳng hạn:

Trang 40

Rồi chú tiếp tục tiến lên với những cuộc đổi sang xe máy tay ga Pơgiô

102, 103, những cái bình bịch máy cụp máy xòe Từ bình bịch tiến lên xe máy Honđa 50 [VI; 227].

Bình bịch vốn là từ mô phỏng âm thanh tiếng nổ của động cơ một loại

xe máy, sau đó, bằng phép hoán dụ, từ láy này được dùng để biểu trưng cho

sự vật phát ra âm thanh này: xe bình bịch

b) Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

Đây là lớp từ được sử dụng nhiều nhất trong tác phẩm (503 lượt sử

dụng, chiếm 51,5%) Khảo sát từ láy trong tác phẩm SBC là săn bắt chuột,

chúng tôi nhận thấy tác giả rất có ý thức trong việc lựa chọn nhóm từ biểutrưng hóa ngữ âm cách điệu không chuyên biệt hóa về nghĩa khi diễn đạt Bởinhóm từ này có đặc điểm là chúng vừa biểu thị thuộc tính bậc một vừa biểuthị thuộc tính bậc 2, chúng có thể trực tiếp làm vị ngữ và thể hiện thuộc tínhcủa danh từ xuất hiện cùng với chúng Chẳng hạn, trong cơ cấu nghĩa của từ

vạm vỡ có hai thành tố: thành tố thứ nhất biểu thị thuộc tính: (thân hình) to

lớn; thành tố thứ hai biểu thị thuộc tính của thuộc tính trên: sự nở nang, rắnchắc, khỏe mạnh của (thân hình) to lớn

Lão hậm hực điều gì mà hơi một tí lão đánh cô [VI; 15].

Từ láy hậm hực ở trên vừa biểu thị thuộc tính bậc 1 là tức giận, bực

bội; vừa biểu thị thuộc tính bậc 2 là sự tức giận, khó chịu này phải kìm giữtrong lòng mà không thể nói ra, không làm gì được Ở ví dụ trên, do bực bội,tức giận vì một lý do nào đó mà không nói ra được nên nhân vật người chồng

(lão) thường xuyên trút cơn thịnh nộ lên những trận đòn roi hành hạ vợ.

Cô gái bỏ tấm khăn che mặt ra Đại Gia xao xuyến [VI; 128].

Xao xuyến chỉ trạng thái có những tình cảm dấy lên trong lòng và

thường kéo dài khó dứt Do nó đồng thời biểu thị thuộc tính bậc 1 và thuộctính bậc 2, đảm nhiệm vai trò vị ngữ trong câu, trực tiếp biểu thị nghĩa củadanh từ riêng đứng trước nó nên ở đây tác giả không cần phải đưa từ ở

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (chủ biên, 2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
2. M. Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu, in lần thứ hai năm 2003), Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
3. Diệp Quang Ban (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt, các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
5. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
6. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
7. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia
Năm: 2004
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sởngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Trịnh Bá Đĩnh (2011), Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhàvăn
Năm: 2011
10. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
13. Hoàng Văn Hành (2008), Từ láy tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2008
14. Hoàng Thị Thuý Hằng (2007), Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân trong văn xuôi Hồ AnhThái
Tác giả: Hoàng Thị Thuý Hằng
Năm: 2007
15. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo ngữ pháp chức năng (tập 1), Nxb Khoa học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoahọc Hà Nội
Năm: 1991
16. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập 2, Nxb khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb khoahọc
Năm: 1991
17. Đỗ Đức Hiểu (2002), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2002
18. Nguyễn Thái Hòa (2006), Từ điển tu từ-phong cách - thi pháp học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ-phong cách - thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Văn Hiệp (1992), Các thành phần phụ trong câu tiếng Việt, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thành phần phụ trong câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 1992
20. Đinh Trọng Lạc (2000), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Từ láy trong SBC là săn bắt chuột phân loại về cấu tạo - Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái
Bảng 2.1. Từ láy trong SBC là săn bắt chuột phân loại về cấu tạo (Trang 33)
Bảng 2.2. Thành ngữ trong tác phẩm của một số tác giả khác - Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái
Bảng 2.2. Thành ngữ trong tác phẩm của một số tác giả khác (Trang 59)
Bảng 3.1. Câu trong SBC là săn bắt chuột phân theo cấu tạo ngữ pháp - Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái
Bảng 3.1. Câu trong SBC là săn bắt chuột phân theo cấu tạo ngữ pháp (Trang 75)
Bảng 3.3. Các loại câu đơn đặc biệt trong SBC là săn bắt chuột Tổng số Câu đặc biệt - Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái
Bảng 3.3. Các loại câu đơn đặc biệt trong SBC là săn bắt chuột Tổng số Câu đặc biệt (Trang 81)
Bảng 3.4. Các loại câu ghép trong SBC là săn bắt chuột Tổng số - Từ ngữ và câu trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của hồ anh thái
Bảng 3.4. Các loại câu ghép trong SBC là săn bắt chuột Tổng số (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w