Thực hiện việc dạy học dựavào hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môi trườnggiáo dục với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên góp phần hình thành nhữngphươ
Trang 1BỘ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THANH VINH
TỔ CHỨC DẠY HỌC NGOẠI KHÓA PHẦN
QUANG HÌNH HỌC LỚP 11 THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Vật lí
Trang 2NGHỆ AN - 2012
MỤC LỤC TRANG
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của đề tài 4
8 Cấu trúc của luận văn .5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG……… …6
1.1 Một số nội dung lí luận về dạy học ở trường THPT…… ……… 6
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở trường THPT ………… 6
1.1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở trường THPT 9
1.1.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập 13
1.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học Vật lí ở trường THPT 15
Trang 31.2.1 Đặc điểm của môn vật lí ở trường THPT .15
1.2.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường THPT 15
1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở trường THPT …… …17
1.3.1 Đổi mới PPDH như thế nào 17
1.3.2 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở THPT 18
1.4 HĐNK trong dạy học ở nhà trường THPT … 23
1.4.1 Khái niệm hoạt động ngoại khoá, hoạt động ngoại khoá Vật lí… 23
1.4.2 Vị trí, vai trò của HĐNK trong tổ chức dạy học vật lí ở trường THPT……… ……24
1.4.3 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khoá vật lí ……… 24
1.4.4 Nội dung ngoại khoá vật lí……… 25
1.4.5 Các hình thức ngoại khoá vật lí 26
1.4.6 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khoá vật lí……… 26
1.4.7 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá……… 27
1.4.8 Vai trò dạy học ngoại khóa đối với việc phát huy tính tích cực sáng
tạo cho học sinh…… ……… 29
Kết luận chương 1 .30
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGOẠI KHOÁ VỀ “QUANG HÌNH HỌC” CHO HỌC SINH LỚP 11… …… ……… 31
2.1 Nội dung, kiến thức phần “ Quang hình học” trong chương trình Vật lí THPT – SGK mới……….……… 31
2.1.1 Phân phối chương trình……… 31
2.1.2 So sánh về nội dung kiến thức phần “Quang hình học” giữa SGK mới và SGK cải cách giáo dục……… 31
2.1.3 Các kiến thức và kỹ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được khi học phần “Quang hình học”……… 32
2.2 Điều tra tình hình dạy học “Quang hình học” trong chương trình vật lí lớp 11 tại một số trường THPT của tỉnh Nghệ An……… 36
2.2.1 Mục đích điều tra ………36
2.2.2 Phương pháp điều tra .37
2.2.3 Đối tượng điều tra .37
Trang 42.2.4 Kết quả điều tra ……….…37
2.2.5 Nguyên nhân của những hạn chế……….…… 39
2.3 Kế hoạch hoạt động ngoại khoá phần “Quang hình học” cho học sinh THPT………… ……….… 40
2.3.1 Ý đồ sư phạm của việc xây dựng nội dung, hình thức hoạt động ngoại khoá……… ……… ….….40
2.3.2 Nội dung của hoạt động ngoại khoá phần “Quang học” 41
Kết luận chương 2……….…… 62
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……….… 63
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ……… 63
3.1.1 Mục đích……….……… … 63
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm……… …….… 63
3.2 Đối tượng, thời gian tiến hành TNSP……… 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm……… 64
3.4 Phân tích và đánh giá kết quả TNSP……… …… 64
3.4.1 Thực trạng việc tổ chức DHNK về vật lí tại các trường THPT NghệAn 64
3.4.2 Đánh giá và thực trạng của việc dạy và học kiến thức phần “Quang hình học”……… 64
3.4.3 Phân tích và đánh giá kết quả TNSP đối với giáo án 1………… 66
3.4.4 Phân tích và đánh giá kết quả TNSP đối với giáo án 2……… 69
Kết luận chương 3……… …….72
KẾT LUẬN ……….………… ………74
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy,
cô trường Đại học Vinh đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Văn Trinh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Trang 6Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Trưởng, Phó các phòng, Khoa, Tổ bộ môn và các thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã cổ vũ, động viên và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng có hạn nên không tránh khỏi những sai sót Rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp.
Tác giả luận văn
Lê Thanh Vinh
Trang 7Hoạt động ngoại khoáTrung học cơ sởThực nghiệm sư phạmTrung ương
Danh s¸ch ch÷ viÕt t¾t
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Vì vậy đòi hỏi xã hội phải đào tạo ra nguồn nhân lực cótrình độ cao, có khả năng nắm bắt và làm chủ tri thức mới nhất trong thời đại, đểtheo kịp các cường quốc năm châu trên thế giới Văn kiện Đại hội Đảng lần thứVIII( 6/1996) đã nhấn mạnh “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng, phát huy nhân lực tolớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá” Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng củacác ngành khoa học kĩ thuật, của xã hội, ngành giáo dục nước ta cũng có ảnhhưởng sâu sắc, đòi hỏi ngành giáo dục phải tự làm mới mình, hoàn thiện mình vềmọi mặt, trong đó đặc biệt đề cao tới chất lượng dạy và học Nghị quyết VI củaban chấp hành TW Đảng khoá VII (2/1993) đó đưa ra “Áp dụng các phươngpháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, nănglực giải quyết vấn đề…” Nghị quyết hội nghị lần II của ban chấp hành TWĐảng khoá VIII đó chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục đào tạo là: “Đổi mới mạnh
-mẽ các phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối giáo dục một chiều, rènluyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển phong trào tự học, tựđào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”
Từ đầu những năm 90 đến nay, Việt Nam và một số nước trong khu vựccũng như trên thế giới không ngừng rà soát, đổi mới chương trình giáo dục theobốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng: Học để biết, học đểlàm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình Chủ trương của Đảng và nhànước ta nhấn mạnh: Phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch,nội dung, phương pháp ở tất cả các cấp học, bậc học Thực hiện việc dạy học dựavào hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môi trườnggiáo dục với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên góp phần hình thành nhữngphương pháp và nhu cầu tự học của học sinh Vì vậy, đổi mới phương pháp dạyhọc là một tất yếu nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
Trang 9học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phươngpháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đếntình cảm, đem lại niềm hứng thú cho học sinh (Luật giáo dục điều 42.2).
Qua điều tra thực tế, tôi nhận thấy: Việc dạy và học theo chương trình đổimới đã có nhiều ưu điểm Tuy nhiên, dạy học nội khoá vẫn còn rất nặng nề, chưakích thích được sự hứng thú học tập và chưa phát triển được năng lực sáng tạo củahọc sinh Do vậy, để đạt được mục tiêu đã đề ra của nền giáo dục, cần phải đadạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, và cần phải khẳngđịnh vai trò quan trọng của hoạt động ngoài giờ lên lớp (hay hoạt động ngoạikhoá) Đây là một hình thức dạy học mang lại hiệu quả cao nhưng hiện nay chưađược chú trọng ở các trường phổ thông nước ta Nó không những giúp học sinhcủng cố các kiến thức đã học ở nội khoá mà còn giúp đào sâu, mở rộng kiến thức,phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Đây là những điều mà nội khoá làmchưa tốt do điều kiện thời gian, phương tiện dạy học hay do sức ép thi cử
Qua quá trình nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 11, tôi nhận thấy kiến thức
về quang hình học có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật Trong dạy họcnội khóa đã được trang bị một số thiết bị thí nghiệm tối thiểu về quang hình học,nhưng qua điều tra chúng tôi nhận thấy các giáo viên chưa khai thác, tận dụngđược hết khả năng của các thiết bị thí nghiệm này trong dạy học Có giáo viên sửdụng các thiết bị này trong dạy học nhưng chưa nghiên cứu để đưa thí nghiệm vàogiảng dạy theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Do vậy, tronghọc nội khóa, học sinh ít có cơ hội được rèn luyện các kĩ năng, các thao tác làm thínghiệm, cũng như không được hình thành kiến thức một cách đúng đắn dễ dẫnđến sai lầm, hay không có sự hứng thú, tích cực trong học tập và không được rènluyện tư duy sáng tạo Chính vì những lí do đó mà chúng tôi đã chọn đề tài:
“Tổ chức dạy học ngoại khóa phần Quang hình học lớp 11 THPT nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh” với mong muốn góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học vật lí ở trường THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức dạy học ngoại khoá về “Quang hình học” cho học
Trang 10sinh lớp 11 nhằm củng cố, đào sâu, mở rộng các kiến thức đã học trong nộikhoá, từ đó nâng cao chất lượng dạy học, kích thích sự hứng thú, phát huy tínhtích cực, sáng tạo cho học sinh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
- Tổ chức dạy học ngoại khóa vật lý
- Nội dung, chương trình vật lí phần “Quang hình học” ở lớp 11 THPT
- Tổ chức bài học ngoại khóa cho học sinh lớp 11 trường THPT Nghi Lộc 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 THPT, chương trình cơ bản
4 Giả thuyết khoa học
có nội dung hấp dẫn, phù hợp, phương pháp hợp lí, sinh động thì có thể giúphọc sinh củng cố, nâng cao kiến thức, phát huy tính tích cực, năng lực sángtạo cho học sinh, tạo niềm vui hứng thú học tập đối với bộ môn, từ đó nâng caochất lượng dạy học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay
- Nghiên cứu lí luận về việc tổ chức dạy học ngoại khoá bộ môn vật lí ởtrường phổ thông nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Tìm hiểu thực tế việc dạy học các kiến thức về Quang hình học; thực trạngcác thiết bị được cung cấp cho việc dạy học phần kiến thức này ở một số trườngTHPT ở tỉnh Nghệ An hiện nay, để phát hiện những khó khăn, hạn chế khi dạyhọc chính khoá phần kiến thức này Và lấy đó làm một căn cứ để xây dựng quytrình tổ chức dạy học ngoại khoá về Quang hình học cho học sinh
Trang 11chương trình THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả, tính khả thi của quy trình đãlập đối với việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của họcsinh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, logic học, lí luận dạyhọc vật lí, thống kê toán học, tổ chức hoạt động ngoại khoá, kiến thức sách giáokhoa về Quang hình học để tổ chức dạy học ngoại khoá phù hợp
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thống kê toán học để xử lí kết quảthực nghiêm sư phạm
7 Đóng góp của luận văn
- Xây dựng được quy trình dạy học ngoại khóa về “Quang hình học” ởchương trình vật lí lớp 11 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển nănglực sáng tạo của học sinh
- Hoàn thiện được 2 giáo án dạy học ngoại khóa về “Quang hình học” ở chương trình vật lí 11 THPT
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Một số nội dung lí luận về dạy học ở trường trung học phổ thông 1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở trường THPT
a) Mục tiêu giáo dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong Luật giáodục(2005) như sau: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hìnhthành con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm côngdân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
b) Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã hội,quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
* Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, hiệnđại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồngthời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống kiến thứcphổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội , tư duy.Những kiến thức khoa học phổ thông cơ bản được cung cấp cho ngườihọc phải là những kiến thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnhvực khoa học, kỹ thuật, văn hoá phù hợp với chân lý khách quan Trên cơ sở
đó hình thành ở người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất đ ịnh, đặc biệt lànhững kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến hoạt động học tập : tự học, tập dượtnghiên cứu khoa học ở mức độ thấp, nhằm giúp cho người học không chỉnắm vững kiến thức mà còn biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt,sáng tạo trong các tình huống khác nhau
Trang 14Vì vậy, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh kiếnthức của người học ở các trình độ khác nhau từ nhận biết, tái hiện đến tái tạo,tìm tòi và cuối cùng là khả năng kết hợp tất cả các mức độ trên.
* Tổ chức điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và nhữngphẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo, phát triểnthể lực nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động
Trong quá trình dạy học, người GV cần chú ý phát triển ở HS các nănglực trí tuệ sau : năng lực định hướng đúng vấn đề cần nghiên cứu trongthực tế, năng lực tư duy trừu tượng, năng lực di chuyển hành động trí tuệ, dựđoán diễn biến của các hiện tượng, năng lực tổ chức lao động trí óc mộtcách khoa học, năng lực tự học, năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sángtạo
Đứng trước sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ, việc hình thànhcho HS năng lực học một cách độc lập, sáng tạo giữ vai trò hết sứcquan trọng, nó là cơ sở để giúp con người có thể học tập thường xuyên vàhọc tập suốt đời
Bên cạnh việc phát triển các năng lực trí tuệ, quá trình dạy học cónhiệm vụ bồi dưỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bềrộng, chiều sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo và tính năngđộng, tính khái quát của hoạt động trí tuệ
Như vậy, trong quá trình dạy học, các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nóiriêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện Ngược lại,
sự phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất đ ịnh cũng ảnh hưởng trở lại đốivới quá trình dạy học Như vậy giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mốiquan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước, đón trước và thúcđẩy sự phát triển của người học Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ củangười học thì nói chung việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với ngườihọc, các nhiệm vụ dạy học phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất”tạo đ iều kiện đòi hỏi người học không ngừng vươn lên với sự nỗ lực caonhất Để phát triển trí tuệ cần chú ý tới các điều kiện sau:
+ Nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức của
Trang 15đối tượng.
+ Lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lý
+ Có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS
Bên cạnh việc phát triển trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm
lo phát triển thể lực cho HS, giúp các em có sức khoẻ để học tập và tham giacác hoạt động khác
* Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoahọc, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động cóbản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm
vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội
và tư duy Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả củakiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểmsống tích cực Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lý tưởng,phẩm chất nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội, có lòng thương người, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp luật, cótính chủ động trong cuộc sống
Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợnhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học Nhờ nắm vững kỹnăng, kỹ xảo mà năng lực tư duy sáng tạo của con người không ngừng đượcphát triển, sự phát triển của tư duy sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quankhoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con người từ đó hìnhthành con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội
c) Nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tínhchất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thứcdạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tínhquy luật của quá trình dạy học
Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
Trang 16trong dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôivới hành, nhà trường gắn liền với đời sống
- Nguyên tắc tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tínhđộc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển
tư duy lý thuyết
- Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thứccủa HS
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặcđiểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
- Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học
1.1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở trường THPT
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạtđộng của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhấtđịnh với những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thựchiện những nhiệm vụ dạy học
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạyhọc có tính tập thể hay có tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhậnthức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của
HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập
Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt ba dạng tổ chức dạy học: dạngtoàn lớp, dạng nhóm, dạng cá nhân
Trang 17hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS.
* Dạng nhóm : Là dạng trong đó, từng nhóm HS cùng giải quyết
những nhiệm vụ nhận thức thống nhất Các em có thể cùng thảo luận cácnhiệm vụ nhận thức, vạch ra con và đường giải quyết các nhiệm vụ đó,cuối cùng đạt kết quả chung
- Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS,
có thể mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng nhưkiểm tra lẫn nhau
- Nhược điểm: Những cá nhân HS nào đó do học tập thụ động có thể sửdụng những kết quả mà HS khá thu được Mặt khác, nó còn có thể làm nảysinh những mâu thuẫn giữa những yêu cầu của GV và mức độ tích cực của cánhân HS riêng biệt , những yêu cầu do GV nêu ra hoặc khó quá, hoặc quá dễ
so với trình độ của từng HS
* Dạng cá nhân: Là dạng mà mỗi HS độc lập hoàn thành nhiệm vụ học
tập
theo trình độ và khả năng riêng của mình, không có sự tác động của bạn bè
- Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS vềtrình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc Dạng này tạo điều kiệnthuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện nănglực nhận thức độc lập Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể cábiệt hoá cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánhgiá kết quả của HS
- Nhược điểm: Dễ làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiềucông sức, không có tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân HS.Tóm lại, mỗi dạng tổ chức dạy học đều có những ưu đ iểm và nhượcđiểm riêng Thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng, muốn phát huy cao độ tácdụng của chúng, GV cần khéo léo sử dụng phối hợp các dạng tổ chức dạyhọc một cách hiệu quả Các dạng tổ chức dạy học này được thực hiệnthông qua các hình thức dạy học cụ thể
b) Các hình thức tổ chức dạy học ở trường THPT
Trang 18Để thực hiện được những nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông,hoạt động dạy học được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Đối vớithực tiễn dạy học ở nước ta, quá trình dạy học được thực hiện bởi nhiềuhình thức, có thể kể đến một số hình thức sau:
* Hình thức lớp – bài: Đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV
lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, bài Đây là hình thức đượcthực hiện cho một nhóm người học có cùng lứa tuổ i, cùng trình độ nhậnthức Do đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp ứngyêu cầu phổ cập giáo dục cũng như yêu cầu đào tạo công nhân lao động.Hình thức này đảm bảo truyền tải đến người học những tri thức cơ bản,những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết phục vụ cho đời sống cũng như lao động sảnxuất
Tuy nhiên hình thức này vấp phải nhược điểm là không có đủ thời gian
để HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủđến đặc điểm nhận thức của từng HS, không có điều kiện để mở rộng tri thứcvượt ra ngoài nội dung, phạm vi chương trình
* Hình thức học ở nhà: với hình thức này HS có thể làm được rất
nhiều công việc như học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo,chuẩn bị bài mới
Hình thức này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp HS mở rộng, đào sâu, hệthống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên lớp, hoàn thiện vốn hiểubiết Ngoài ra nó còn giúp HS rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng nhữngtri thức đã biết vào các tình huống, kể cả tình huống mới nảy s inh trongcuộc sống, trong lao động, sản xuất Hình thức tự học ở nhà còn giúp HSbước đầu nắm bắt tri thức mới bằng cách đọc trước SGK, làm trước thínghiệm theo chỉ dẫn của GV
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao của
Trang 19Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận theochuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội theo các chủ đề kiến thức
Đối với hình thức này HS có thể mở rộng, đào sâu tri thức, pháttriển hứng thú và năng lực riêng của mình, đồng thời có thể giúp HS địnhhướng nghề nghiệp trong tương lai Ngoài ra, tham quan, ngoại khoá haythảo luận một chuyên đề nào đó cũng giúp HS phát triển óc quan sát, trí
tò mò khoa học, bồi dưỡng HS phương pháp quan sát và phương pháp phântích, tổng hợp những tài liệu thu lượm được Ngoài ra HS còn được rènluyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, sử dụng các kiến thức đã học để giảithích các hiện tượng trong tự nhiên
Trước khi tham gia hoạt động ngoại khoá HS phải kiểm tra nhữngkiến thức đã học, kết hợp với những tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoạikhoá do GV cung cấp, do đó HS có thể mở rộng kiến thức của mình cả về lýthuyết lẫn thực tế Như vậy hoạt động ngoại khoá cũng góp phần làm cho tưduy của HS phát triển, khả năng phân tích, và giải quyết vấn đề được nânglên, rèn luyện khả năng lập luận cho HS
Hoạt động ngoại khoá không chỉ là một hình thức dạy học mà còn là hoạtđộng vui chơi bổ ích, lành mạnh Do vậy HS sẽ hăng hái tham gia, tạo tìnhcảm, hứng thú với môn học
Hoạt động ngoại khoá được tổ chức trên cơ sở tự nguyện của HS nên việcthu hút các em tích cực tham gia cũng là một vấn đề đáng quan tâm.HĐNK đòi hỏi sự nỗ lực nhiệt tình tham gia của GV và HS, đòi hỏi GV phải
bỏ nhiều công sức trong việc tìm chủ đề và nội dung cho hoạt động này.HĐNK cần sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và cảngoài xã hội trong việc tổ chức hoạt động cũng như sự hỗ trợ về kinh phí
* Hình thức giúp đỡ riêng:
Trong quá trình dạy học tất yếu sẽ có sự phân hoá về trình độ nhận thức
và sẽ xuất hiện hai loại HS: Yếu – kém, khá - giỏi mà việc dạy học được tiếnhành trên cơ sở chung không thoả mãn những HS này
Tóm lại, mỗi một hình thức dạy học đều có những ưu nhược điểm nhất
Trang 20định, Để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu về đổi mớigiáo dục của nước ta hiện nay đòi hỏi người GV phải b iết phối kết hợp cáchình thức dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp với mụcđích, mục tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn học.
1.1.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập
a) Khái niệm về tính tích cực trong học tập của học sinh
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cốgắng cao về nhiều mặt trong học tập Học tập là một trường hợp riêng củanhận thức “một sự nhận thức làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sựchỉ đạo của giáo viên” (P.N.Erddơniev, 1974) Vì vậy nói đến tích cực họctập thực chất là nói đến đến tích cực nhận thức Mà tích cực nhận thức làtrạng thái hoạt động nhận thức của HS, đặc trưng ở sự khát vọng học tập,
cố gắng và tự giác trong việc chiếm lĩnh kiến thức
Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình dành được bằng hoạtđộng của bản thân Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trảiqua trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân mình
b) Các biểu hiện của tính tích cực học tập
Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu thị ở những hoạt độngbên ngoài nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, haihình thức biểu hiện này thường đi liền với nhau Theo G.I Sukina (1979)
có thể nêu những biểu hiện của tính tích cực hoạt động như sau:
+ Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổsung các câu hỏi của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đềđặt ra
+ Học sinh hay nêu ra các thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề giáo viên trình bày chưa rõ
+ Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học
để phát hiện ra những vấn đề mới
+ Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy những thông tin mới lấy
Trang 21từ nhiều nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài bài học, môn học.
+ Ngoài những biểu hiện trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểuhiện về mặt xúc cảm khó nhận thấy như: thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hayngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước nội dung của bài học hoặc khi tìm
ra lời giải cho một bài toán Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng
cá thể học sinh, bộc lộ rõ ở các HS lớp bé, kín đáo ở các HS lớp lớn.G.I.Sukina còn phân biệt những biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt ýchí: tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì làm xong các bài tập,không nản trước các tình huống khó khăn, thái độ phản ứng khi chuông báohết giờ: tiếc rẻ, cố làm xong hoặc vội vàng gấp vở chờ lệnh ra chơi
c) Các cấp độ của tính tích cực học tập
Có thể phân biệt ở ba cấp độ khác nhau từ thấp đến cao:
+ Cấp độ 1 - Bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của GV
và của bạn bè Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thầnkinh và cơ bắp
+ Cấp độ 2 - Tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề, mò
mẫm để tìm ra lời giải hợp lý cho vấn đề đang đặt ra
+ Cấp độ 3 - Sáng tạo: Học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc cấu
tạo những bài tập mới, hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới để chứngminh bài học
Như vậy, đối với HS tất cả những gì mà GV chưa dạy, HS chưa biết, qua
trao đổi với bạn bè mà họ “tự nghĩ ra” đều coi như mang tính sáng tạo Cácnhà khoa học đều cho rằng trong quá trình hoạt động sáng tạo, lúc cần đến sựsáng tạo là lúc mà không tìm ra con đường lôgic để suy nghĩ từ những điều đãbiết, đề ra giải pháp mới Vậy học tập sáng tạo là một yêu cầu cao đối với
HS, nhưng chúng ta có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi để cho HS tập dượtquen dần
Cấp độ cao nhất của tính tích cực là sáng tạo, tuy nhiên sự sáng tạo cũng
có những đặc điểm riêng Và khi HS đạt được được tích cực sáng tạo thì
Trang 22những phẩm chất của một nhà nghiên cứu khoa học đã bắt đầu được hìnhthành.
1.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học Vật lí ở trường THPT
1.2.1 Đặc điểm của môn vật lí ở trường THPT
* Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vậtchất, cho nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tựnhiên, nhất là của hoá học và sinh học
* Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm Phươngpháp của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhậnthức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan Phương phápthực nghiệm xuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộngrãi trong nhiều ngành khoa học tự nhiên khác
* Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chấtnên nhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản củatriết học, tạo điếu kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS
* Vật lí học là cơ sở lý thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết b ị dùng
trong đời sống và sản xuất
* Vật lí học là một môn khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kỹnăng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm,vừa phải có tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận
để khẳng định chân lý
1.2.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường THPT
a) Trang b ị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản , hiện đại, có hệthống, bao gồm:
- Các khái niệm vật lí
- Các định luật vật lí cơ bản
- Nội dung của các thuyết vật lí
- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí trong đời sống và trong sản xuất
Trang 23- Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí.
b) Phát triển tư duy khoa học ở HS: rèn luyện những thao tác, hành động,phương pháp nhận thức cơ bản, nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vậndụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn saunày
c) Trên cơ sở kiến thức vật lí vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho
HS thế giới quan duy vật b iện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độvới lao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động.d) Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho
HS nắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của các máymóc được dùng phổ biến trong nền kinh tế quóc dân Có kỹ năng sửdụng những dụng cụ vật lí, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kỹ nănglắp ráp thiết b ị để thực hiện các thí nghiệm vật lí, vẽ biểu đồ, xử lý các sốliệu đo đạc để rút ra kết luận Những kiến thức, kỹ năng đó giúp cho HSsau này có thể nhanh chóng thích ứng được với hoạt động lao động sản xuấttrong sự nghiêp CNH, HĐH đất nước
Những nhiệm vụ trên không tách rời nhau mà luôn gắn liền với nhau,
hỗ trợ nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hoà, toàndiện Ví dụ : kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắckhi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HSkhông phải chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phảitích cực tự lực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiếnthức Ngược lại, HS chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng tạo khi cómột vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyếtnhững nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những chỗchưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổsung hoàn chỉnh thêm vốn kiến thức của mình Mặt khác, không có trình độ
tư duy phát triển thì khó có thể thực hiện được sự khái quát hoá cao, do đókhó có thể có thế giới quan khoa học vững chắc
Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó
có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết
Trang 24để đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Bởi vậy, việc rènluyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành thí nghiệm sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc pháthiện những đặc tính, quy luật của tự nhiên cũng như kiểm tra tính đúng đắncủa các kiến thức lý thuyết Những ứng dụng trong kỹ thuật của vật lýkhông những phục vụ cho nhu cầu đời sống và sản xuất mà còn phục vụcho chính công việc nghiên cứu vật lí học, nâng cao khả năng hoạt độngcủa chính người nghiên cứu, học tập vật lí.
1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở trường THPT
1.3.1 Đổi mới PPDH như thế nào?
PPDH có nghĩa là con đường để đạt được mục đích Theo đó, PPDH
là con đường để đạt được mục đích dạy học
PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học.Cách thức hành động bao giờ cũng diến ra trong những hình thức cụ thể.Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập PPDH lànhững hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những đ iềukiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học PPDH là những hìnhthức và cách thức, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội nhữnghiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện dạy học cụthể
Việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo cácyêu cầu sau đây:
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thứchọc cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp
- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, giữa HS và HS
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kỹ năng, năng lực, tăng cườngthực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực
tự học, tự nghiên cứu ; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập cho HS
Trang 25TBDH được trang bị hoặc do các GV tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứngdụng của công nghệ thông tin.
- Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thứcđánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá
1.3.2 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở THPT
* Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai trò của các phươngpháp dạy học thuyền thống Ở một mức độ nào đó, ta phải xem xét cácphương pháp này theo quan điểm mới, theo hướng tích cực hoá hoạt động củaHS
Muốn vậy, GV phải kích thích được óc tò mò khoa học, ham hiểu biết của
HS bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề Đó thường là những câuhỏi thú vị gây hứng thú học tập, tạo nhu cầu nhận thức và có thể nghiên cứuđược đối với HS
Trong dạy học truyền thống, GV thường hay sử dụng kết hợp nhiềuPPDH thuộc các nhóm khác nhau một cách linh hoạt Ví dụ : giảng giải kếthợp với minh hoạ, xem thí nghiệm biểu d iễn kết hợp với vấn đáp, đọc tàiliệu kết hợp với trình bày báo cáo
Như vậy, đổi mới PPDH không phải là phủ định hoàn toàn cácPPDH truyền thống, mà sử dụng chúng theo tinh thần mới : phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của người học
* Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp nặng về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng
Theo PPDH truyền thống, GV là người truyền thụ kiến thức, còn HS
là người tiếp thu kiến thức Ở đây, GV chủ yếu sử dụng phương pháp giảnggiải kết hợp minh hoạ, việc sử dụng TBDH hạn chế dẫn đến tình trạng dạy
Trang 26theo kiểu “thầy đọc – trò chép” Theo phương pháp mới, GV giao cho HSđọc, nghiền ngẫm SGK, rồi sau đó đặt câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội kiếnthức của các em Thông qua cách trả lời, trình bày, báo cáo mà HS đượcrèn luyện những kỹ năng và tố chất cần thiết cho mình.
Theo quan niệm mới về dạy học, vai trò chủ yếu của GV là tổ chức, hướngdẫn, điều khiển hoạt động học tập của HS, giúp HS đạt mục tiêu của dạy học
GV không thuyết trình liên miên, giảng giải mọi vấn đề mà chủ động tạođiều kiện rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho HS, bằngcách:
- Tăng cường sử dụng PPDH “Vấn đáp tìm tòi”
- Dành “đất” cho hoạt động độc lập của HS bằng cách tạo ra các cuộctranh luận
- Trao nhiệm vụ học tập ngày càng nặng dần cho HS, chuyển dần từ dạyhọc truyền thụ kiến thức (thầy thông báo - trò tiếp nhận, tái hiện) sangdạy học giải quyết vấn đề
Việc đổi mới phương pháp dạy của GV đòi hỏi HS phải đổi mới phươngpháp học tập Đây là một tất yếu đòi hỏi người học phải nỗ lực, chủđộng, sáng tạo trong các hoạt động nhận thức của mình Như vậy, trọngtâm đánh giá tiết dạy phải đặt vào hoạt động của HS trong tiết dạy đó
* Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp m ột cách hài hoà với học tập
hợp tác
Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm và theo lớp là cáchình thức vẫn được áp dụng theo PPDH truyền thống Theo PPDH mới,hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản, có hiệu quả nhấtnhưng HS phải có tinh thần học tập một cách tự giác, chủ động
Học tập hợp tác là hình thức học tập bổ trợ có tác dụng rèn luyệnngười học tinh thần hợp tác lao động, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau,
ý thức trách nhiệm với công việc chung Phối hợp chặt chẽ những nỗ lực
cá nhân trong tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm
Trang 27Dạy học theo đ ịnh hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòihỏi sự cố gắng trí tuệ của mỗ i HS trong quá trình tự lực dành lấy kiếnthức mới Một trong những hì nh thức tăng cường hoạt động học tập của
HS trên lớp là sử dụng phiếu học tập cho từng HS (còn gọ i là phiếuhoạt động, phiếu giao việc)
Tuy nhiên, trong học tập, không phải bất kì một nhiệm vụ học tập nàocũng có thể được hoàn thành bởi những hoạt động thuần tuý cá nhân Cónhững câu hỏi, những vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợptác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Theo lý thuyết vềvùng phát triển gần của Vưgôtxky, mỗi cá nhân có thể vươn tới những tầmhiều biết rộng hơn nhờ sự trao đổi với bạn bè Thông qua sự hợp tác tìmtòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cánhân được điều chỉnh , khẳng định hay bác bỏ ; qua đó, người học nâng mìnhlên một trình độ mới Đó là sự vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm củamỗi cá nhân và cả lớp Từ xưa, ông cha ta đã có câu “học thầy không tầyhọc bạn” Vì vậy, bên cạnh hình thức học tập cá nhân cần tổ chức cho HShọc tập hợp tác trong các nhóm nhỏ
Cũng thông qua hoạt động nhóm này mà ta giáo dục cho HS tinh thần,trách nhiệm và thói quen trong trong lao động hợp tác theo sự phân công
có kế hoạch của nhóm, lắng nghe ý kiến người khác tranh luận, ứng xử vàcộng tác trong nhóm Sự hợp tác trong lao động và trong nghiên cứu làmột đặc trưng quan trọng của lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại.Việc phân chia các hình thức hoạt động cá nhân và hoạt động này thườngđược tiến hành xen kẽ nhau
Trình tự của hình thức học tập theo nhóm như sau :
Trang 28- Thảo luận trong nhóm về kết luận thu được, cử người báo cáo kết quảtrước lớp.
Trong hình thức tổ chức học tập theo nhóm đòi hỏi người GV phảichuẩn bị chu đáo, tiên lượng được trước thời gian, không nên lạm dụnghình thức hoạt động nhóm tràn lan mà hiệu quả thấp
Như vậy, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếugiúp HS phát triển các năng lực Hoạt động nhóm suy cho cùng cũngnhằm giúp cá nhân chủ động, tích cực tham gia vào quá trình nhận thức củamình
* Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Trong xã hội hiện đại, sự bùng nổ thông tin đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗlực học tập biết cách cập nhật thông tin
Việc tự học của HS là hoạt động rất cần thiết Ở đây, người GV cầnphải bồi dưỡng cho HS khả năng thu thập thông tin (biết tự học), huấnluyện cho HS cách nắm bắt nội dung chính của tài liệu học tập, đồng thờigiao bài tập về nhà cho HS, có thể tính toán cân đối giữa nội dung học tậptrên lớp và nội dung cần tìm hiểu ở nhà GV cần phải quan tâm đến phươngpháp học của HS, từng bước hình thành năng lực tự học để các em có thể tự
bổ sung kiến thức và học thường xuyên suốt đời
* Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến thức Đổi
m ới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Việc rèn luyện kỹ năng là một trong những yêu cầu rất quan trọngtrong việc hình thành nhân cách HS Hiện nay, rất ít GV chú ý đến lĩnh vựcnày cho HS Trên lớp GV cố gắng truyền đạt kiến thức mà không chú ý đếnviệc rèn luyện tư duy, rèn luyện kỹ năng cho HS Đổi mới PPDH cũng nhưkiểm tra, đánh giá coi trọng những kỹ năng, năng lực thực hành của HS
GV cần phải tính toán đưa các kỹ năng vào hoạt động học tập thích hợp của
HS theo một chiến lược đã được hoạch định, chuẩn bị từ trước
Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS.Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phải căn cứ vào mục tiêu của
Trang 29môn học và phải phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệmkhách quan, tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình.
* Tăng cường sử dụng TBDH, chú trọng các thí nghiệm , ứng dụng CNTT
trong dạy học vật lí
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Các khái niệm, định luật đềugắn với thực tế Do vậy, vai trò của thí nghiệm vật lí giúp rèn luyện cho HScác kỹ năng thực hành như quan sát, sử dụng dụng cụ thí nghiệm đồngthời rèn luyện óc suy đoán, tư duy lí luận, tư duy vật lí là hết sức quan trọng.Xác định được tầm quan trọng của CNTT, Đảng và nhà nước đã chỉ đạongành giáo dục đào tạo sớm đưa CNTT vào các nhà trường Những nămgần
đây, CNTT trong các nhà truường đã được quan tâm Mục tiêu của việchọc tin học trong nhà trường, mối quan hệ giữa T in học với tư cách là mộtmôn học với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã dần dần được xác định
rõ ràng qua các cấp học
Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi GV là người hướng dẫn
HS học tập chứ không đơn thuần chỉ là người phát thông tin vào đầu HS
GV cũng phải học tập thường xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sửdụng có hiệu quả CNTT trong học tập HS có thể lấy thông tin từ nhiềunguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD-ROM Lúc này HS phảibiết cách đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thôngtin một cáh thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú
Như vậy việc sử dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần đổi mới PPDH trên cácmặt sau đây : thực hiện học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tăng cường tự họctrong quá trình dạy học, sử dụng luân chuyển những hình thức dạy học đa dạng, hìnhthành và sử dụng công nghệ dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá
* Đổi mới cách soạn bài
Giáo án là bản kế hoạch chuẩn bị trước của GV, ước lượng những hoạt động của
HS trong tiết học, đề xuất những tình huống có thể gặp phải và dự kiến cách giải quyết
để giúp HS thực hiện được mục tiêu của bài dạy
Trang 30Để soạn giáo án, GV phải căn cứ vào mục tiêu tiết học để phân chia nội dung bàithành các đơn vị kiến thức một cách thích hợp, từ đó hoạch định ra các hoạt động họctập chính của HS trong một giờ học.
1.4 Hoạt động ngoại khóa trong dạy học ở nhà trường trung học phổ thông 1.4.1 Khái niệm hoạt động ngoại khoá, hoạt động ngoại khoá Vật lí
Hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, khôngquy định bắt buộc trong chương trình, dựa trên sự tự nguyện tham gia củamột số hay số đông HS có hứng thú, yêu thích bộ môn và ham muốn tìm tò i,sáng tạo các nội dung học tập, dưới sự hướng dẫn của GV nhằm bổ sung,củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức, kỹ năng bộ môn đã được họctrong chương trình chính khoá, đồng thời góp phần giáo dục HS một cáchtoàn diện
Với cách hiểu như trên, ngoại khoá được xem như một hình thức dạyhọc quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện đổi mới PP
DH theo hướng “phát huy tính tích cực đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho HS”
Trang 311.4.2 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá tổ chức dạy học vật lí ở trường THPT
Hoạt động ngoại khoá là một trong ba hình thức dạy học trong nhà trườngphổ thông hiện nay, ngoại khoá vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khoá nóichung có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dụctrên tất cả các mặt, cụ thể là:
- Về giáo dục nhận thức: Hoạt động ngoại khoá giúp học sinh củng cố,đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp học sinh vận dụngtri thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điềukiện để học đi đôi với hành, lí thuyết đi đôi với thực tiễn
- Về rèn luyện kĩ năng: Hoạt động ngoại khoá rèn luyện cho học sinh kĩnăng tự quản, kĩ năng tổ chức, kĩ năng điều khiển, kĩ năng làm việc theo nhóm,ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chế tạo dụng cụ vàlàm thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề…
- Về giáo dục tinh thần thái độ: Hoạt động ngoại khoá tạo hứng thú họctập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, muốn hoạt động của học sinh, lôi cuốn họcsinh tự giác tham gia nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lựccủa học sinh
- Hoạt động ngoại khoá góp phần rèn luyện năng lực tư duy cho học sinhnhư tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và cao nhất là tư duy sáng tạo
- Ngoài ra hoạt động ngoại khoá còn góp phần giáo dục đạo đức, lối sống,
tư tưởng, tình cảm cho học sinh
1.4.3 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khoá vật lí
Hoạt động ngoại khoá nói chung và ngoại khoá vật lí nói riêng có nhữngđặc điểm cơ bản sau:
- Việc tổ chức ngoại khoá dựa trên tính tự nguyện tham gia của học sinh
và có sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 32- Số lượng học sinh tham gia không hạn chế, có thể là theo nhóm nhưngcũng có thể là tập thể đông người.
- Có kế hoạch cụ thể về nội dung ngoại khoá, hình thức tổ chức, phươngpháp dạy học
- Kết quả hoạt động ngoại khoá của học sinh không đánh giá bằng điểmnhư đánh giá kết quả học tập nội khoá
- Việc đánh giá kết quả của hoạt động ngoại khoá vật lí thông qua sảnphẩm mà học sinh có được, thông qua sự tích cực, sáng tạo của học sinh trongquá trình tham gia hoạt động và sự đánh giá này phải công khai, kết quả của họcsinh phải được khích lệ kịp thời
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá phải đa dạng, linhhoạt, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia
1.4.4 Nội dung ngoại khoá vật lí
Nội dung ngoại khóa phải bổ sung kiến thức cho nội khoá, củng cố, đào sâu,
mở rộng hợp lí các kiến thức trong chương trình vật lí, bổ sung những kiến thức màhọc sinh còn thiếu hụt hay mắc sai lầm khi học nội khoá Nội dung ngoại khoá vật lí
ở trường phổ thông có thể gồm một số công việc chính như sau:
- Học sinh đào sâu nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và
kĩ thuật
- Học sinh nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lí học ứng dụng như
kĩ thuật điện, kĩ thuật vô tuyến, kĩ thuật chụp ảnh
- Học sinh nghiên cứu thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm vật lí,nghiên cứu những ứng dụng kĩ thuật của vật lí
- Tham quan học tập tại các nhà máy, công trình thủy điện, câu lạc bộkhoa học kĩ thuật tại địa phương
Việc lựa chọn nội dung nào để tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí, giáoviên phải dựa vào các yếu tố, đó là: Vai trò của hoạt động ngoại khoá vật lí; xuấtphát từ đặc điểm nội dung kiến thức vật lí có tính trừu tượng, có nhiều ứng dụngtrong thực tiễn nhưng học nội khoá chưa đáp ứng được do điều kiện thời gian,phương tiện dạy học; nội dung ngoại khoá phải hấp dẫn để thu hút được đông
Trang 33đảo học sinh tự nguyện tham gia Nếu kết hợp các nội dung để tổ chức ngoạikhoá sẽ làm các hoạt động phong phú hơn và thu hút được nhiều học sinh thamgia hơn.
1.4.5 Các hình thức ngoại khoá vật lí
Việc chia ra các hình thức ngoại khoá chỉ là tương đối, có thể dựa theo sốlượng học sinh tham gia, cũng có thể theo nội dung ngoại khoá…, có thể hìnhthức tổ chức này bao gồm cả hình thức tổ chức khác Sau khi nghiên cứu các tàiliệu, chúng tôi thấy hiện nay người ta thường tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lítheo những hình thức sau:
- Tham quan các công trình kĩ thuật ứng dụng vật lí
- Tham gia thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm, các mô hình kĩ thuật
- Tổ chức hội vui vật lí
- Ra báo tường hoặc tập san về vật lí
Tùy vào nội dung kiến thức làm ngoại khóa, điều kiện cơ sở vật chất củatừng trường, thời gian tổ chức ngoại khóa mà giáo viên lựa chọn hình thức ngoạikhóa cho phù hợp để tạo nên hiệu quả cho hoạt động
1.4.6 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khoá vật lí
Dạy học hoạt động ngoại khoá vật lí tuy có khác biệt so với dạy học nộikhóa, nhưng để có tác dụng tích cực đối với hoạt động nhận thức của học sinh thìdạy học ngoại khóa cũng có thể được thực hiện theo các kiểu định hướng sau:
- Định hướng tìm tòi: Đó là kiểu hướng dẫn mà giáo viên không chỉ ramột cách tường minh các kiến thức, cách thức hoạt động mà chỉ gợi ý để họcsinh có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thứchoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận
Trang 34- Định hướng khái quát chương trình hoá: Đó là kiểu hướng dẫn mà giáoviên cũng gợi ý cho học sinh tự tìm tòi nhưng sự hướng dẫn được chương trìnhhóa theo các bước dự định hợp lí Nếu học sinh không thể giải quyết nhiệm vụvới sự hướng dẫn ban đầu giáo viên sẽ gợi ý thêm, cụ thể hoá hơn, chi tiết hơnnhững vấn đề từng bước để thu hẹp hơn phạm vi, mức độ phải tìm tòi cho vừasức của học sinh, sau đó học sinh tự thực hiện nhiệm vụ được giao
- Định hướng tái tạo: Là việc giáo viên chỉ ra một cách cụ thể các kiếnthức cần huy động và cách thức hoạt động để sau đó học sinh tự chủ giải quyếtnhiệm vụ Trong qui trình học sinh tự thực hiện nhiệm vụ, giáo viên theo dõi đểkịp thời giúp đỡ nếu thấy các em thực sự gặp khó khăn mà không tự mình giảiquyết được
Để đảm bảo tăng cường tính tích cực, tự lực của học sinh ta cần sử dụngđịnh hướng tìm tòi trước, nếu học sinh không thực hiện được nhiệm vụ thì giáoviên chuyển sang định hướng khái quát chương trình hóa Nếu học sinh vẫn gặpkhó khăn thì phải chuyển sang định hướng tái tạo Tuy nhiên do hoạt động ngoạikhóa không bị bó hẹp về thời gian nên sau khi gợi ý giáo viên cần để cho họcsinh có thêm thời gian suy nghĩ để giải quyết vấn đề
1.4.7 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá
Hiện nay chưa có nhiều tài liệu nói rõ quy trình cụ thể quy trình tổ chứchoạt động ngoại khoá Qua tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúngtôi thấy, quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí có thể tuân theo các bướcsau:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khoá.
Dựa vào vai trò của hoạt động ngoại khoá, căn cứ nội dung chương trình
và tình hình thực tế dạy học nội khóa của bộ môn, xuất phát từ nhu cầu nhậnthức của học sinh, đặc điểm của học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường đểlựa chọn và xác định chủ đề của hoạt động ngoại khoá cần tổ chức, việc lựa chọnnày cần phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích tính tíchcực, sẵn sàng của học sinh ngay từ đầu
Trang 35Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa.
Khi lập kế hoạch cho hoạt động ngoại khoá cần xây dựng những nội dungsau:
- Xác định mục tiêu hay yêu cầu giáo dục của hoạt động gồm có: Mục tiêukiến thức, mục tiêu kĩ năng và yêu cầu phát triển năng lực trí tuệ, mục tiêu thái
- Dự kiến những công việc cần sự ủng hộ của các lực lượng giáo dục khác
Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch.
Khi tổ chức ngoại khoá theo kế hoạch, giáo viên lưu ý những nội dung sau:
- Theo dõi học sinh thực hiện các nhiệm vụ để giúp đỡ kịp thời, đặc biệt lànhững vấn đề nảy sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn rakhông theo kế hoạch
- Đối với các hoạt động có quy mô lớn, đông học sinh tham gia như ởkhối, lớp thì giáo viên tham gia là người tổ chức, điều khiển hoạt động Đặc biệt
là giáo viên phải đóng vai trò là trọng tài để tổ chức cho học sinh thảo luận,tranh luận rộng rãi những nội dung ngoại khoá, làm sao để học sinh tự nhận thấyđược những công việc mình cần làm, tự phân công nhau thực hiện những côngviệc đó
- Đối với những hoạt động ở quy mô nhỏ như tổ, nhóm học sinh thì cần đểcho học sinh hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ đượcgiao, giáo viên chỉ xuất hiện khi học sinh ở vào tình huống gặp khó khăn, lúngtúng mà không tự xử lí được
- Sau mỗi lần tổ chức hoạt động ngoại khoá, giáo viên phải đánh giá, rútkinh nghiệm, điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp hướng dẫn đểnhững đợt ngoại khoá sau đạt hiệu quả cao hơn
Trang 36Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng.
Việc đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khoá phải dựa vào cả quá trìnhdiễn ra hoạt động, giáo viên đánh giá hiệu quả thông qua tính tích cực, sự hứngthú, thu hút được nhiều học sinh tham gia và căn cứ những nội dung kiến thức, kĩnăng, tình cảm thái độ mà học sinh có được Ngoài ra, sản phẩm mà học sinh làmđược cũng là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động Vì vậy, cần tổchức cho học sinh báo cáo, giới thiệu sản phẩm đã làm được trong thời gian thamgia hoạt động ngoại khoá, ngoài ra đây cũng là việc làm nhằm khích lệ, động viênhọc sinh tích cực hơn trong những hoạt động sau này
Trên đây là quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá Tuy nhiên, tuỳthuộc vào yêu cầu giáo dục và điều kiện hoàn cảnh của từng trường, từng lớp
mà có thể vận dụng một cách mềm dẻo các bước để hoạt động đạt hiệu quảcao nhất
1.4.8 Vai trò dạy học ngoại khóa đối với việc phát huy tính tích cực sáng tạo cho học sinh
Hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung
có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt: nhận thức; rèn luyện kĩnăng; giáo dục tinh thần; thái độ làm việc Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còngóp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và đặcbiệt là năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh Hoạt động ngoại khoá dựa trêntinh thần tự nguyện của từng học sinh là một biện pháp kích thích thái độ học tậptích cực của học sinh Qua hoạt động ngoại khoá, học sinh được hoạt động, vuichơi, độc lập suy nghĩ, tạo cho học sinh nhu cầu đọc thêm tài liệu tham khảo,sách báo v.v Ngoại khoá là điều kiện để học sinh trao đổi những ý tưởng,nguồn tri thức, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra,phát triển tư duy độc lập, tính tích cực, tự lực, chủ động của cá nhân Có nhiềubiện pháp phát huy tính tích cực của hoạt động nhận thức của học sinh, trong tổ
Trang 37chức hoạt động ngoại khoá vật lí, chúng tôi chú trọng việc dùng phương phápdạy học giải quyết vấn đề.
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu lí luận về hoạt động ngoại khóa chúng tôi nhận thấy hoạtđộng ngoại khoá hỗ trợ cho học nội khoá trong việc củng cố, mở rộng, đào sâukiến thức, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống và kĩ thuật,phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Hoạt động ngoại khoá mang tính tựnguyện, có nội dung và hình thức tổ chức đa dạng, phương pháp hướng dẫnmềm dẻo, gây được sự hứng thú học tập cho học sinh Quy trình tổ chức hoạtđộng ngoại khoá không cứng nhắc, tuỳ thuộc vào nội dung, hình thức tổ chức vàtình hình cụ thể của nhà trường, của học sinh để điều chỉnh cho phù hợp Nhữngkiến thức học sinh thu được khi tham gia các hoạt động ngoại khoá thường sâusắc và có tính bền vững, sản phẩm học sinh làm ra mang nhiều ý nghĩa Ngoàinhững thu nhận về kiến thức một cách sâu sắc thì hoạt động ngoại khóa còn giúpcác em mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước đám đông Rèn luyện khả năng làmviệc theo nhóm, biết cách đề xuất ý tưởng, dẫn dắt và bảo vệ ý tưởng của mình.Giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, tạo ratiền lệ tốt cho quá trình học tập và nghiên cứu của các em sau này
Để đạt được kết quả tốt trong hoạt động ngoại khóa thì người giáo viêncần phải nghiên cứu kĩ chương trình để lựa chọn được đề tài hay Xây dựngđược kế hoạch hoạt động ngoại khóa chi tiết, cụ thể, phù hợp với đối tượng họcsinh và điều kiện cơ sở vật chất của từng trường để thu hút được học sinh thamgia vào hoạt động Biết kết hợp với tổ chức Đoàn - Hội, tranh thủ sự ủng hộ củanhà trường và các tổ chuyên môn để tổ chức hoạt động ngoại khóa linh hoạt,mềm dẻo có hiệu quả cho học sinh Tạo ra sự sôi động, nhiệt huyết của tuổi trẻtrong các buổi hoạt động tập thể Từ đó lôi cuốn được đông đảo học sinh thamgia và phát huy tối đa tác dụng của công tác ngoại khóa
Trang 38CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC NGOẠI KHOÁ VỀ
“QUANG HÌNH HỌC” CHO HỌC SINH LỚP 11
2.1 Nội dung, kiến thức phần “Quang hình học” trong chương trình Vật lí THPT – SGK mới
2.1.1 Phân phối chương trình
Phần “Quang hình học” trong chương trình Vật lí THPT – SGK mới được chia ra làm hai phần chính ở hai chương :
- Khúc xạ ánh sáng
- Mắt Các dụng cụ quang học
Phần Quang hình được phân bố ở chương trình học cuối lớp 11, với tổng
số tiết là 19 tiết, trong đó có 11 tiết lí thuyết, 2 tiết thực hành, 6 tiết bài tập
So với chương trình SGK cải cách giáo dục cũ đã có sự thay đổi về sựphân phối thời lượng cũng như thời gian học Cụ thể như sau:
- Trước đây phần Quang học được đưa hết vào chương trình Vật lícủa lớp 12, được phân phối thành 40 tiết, trong đó có 25 tiết lí thuyết, 11tiết bài tập, 4 tiết thực hành
2.1.2 So sánh về nội dung kiến thức phần “Quang hình học” giữa SGK mới và SGK cải cách giáo dục
- Với SGK mới phần Quang hình đã được rút gọn kiến thức vềgương cầu và gương phẳng; các khái niệm tia sáng, chùm tia sáng, đ ịnhluật phản xạ ánh sáng không được đề cập đến vì đã học ở THCS
- Đối với SGK Vật lí mới, cả chương trình cơ bản và nâng cao kiếnthức mới được đưa thêm vào : cáp quang
- Ngoài sự khác biệt về nội dung kiến thức, trong nội dung cụ thể của từng
đơn vị kiến thức còn có sự thay đổi về các thuật ngữ
Trang 39Ví dụ : Thay thuật ngữ “Giới hạn nhìn rõ” bằng thuật ngữ “Khoảng nhìn rõ”
Không dùng thuật ngữ “Sửa các tật của mắt” mà dùng thuật ngữ “Khắcphục các tật của mắt”
2.1.3 Các kiến thức và kỹ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được khi học phần “Quang hình học”
* Đối với SGK Vật lí theo chương trình chuẩn
- Mô tả được sự truyền
quang và nêu được ví dụ
về ứng dụng của cápquang
- Vận dụng được hệthức của địnhluật khúc xạ ánhsáng
- Vận dụng đượccông thức tínhgóc giới hạn phản xạtoàn phần
tượng phản
xạ toàn phầnxảy ra khi i
≥ igh
Trang 40lăng kính làm lệch tiasáng truyền qua nó.
- Nêu được tiêu điểmchính, tiêu điểm phụ, tiêudiện, tiêu cự của thấu kính
là gì
- Phát biểu được địnhnghĩa độ tụ của thấu kính
- Vẽ được tia ló khỏithấu kính hộ i tụ,phân kì và hệ haithấu kính đồng trục
- Dựng được ảnh củamột vật thật tạo bởithấu kính
- Vận dụng các công
- Không yêucầu HS sử
lăng kính đểtính toán
- Không yêucầu HS tínhtoán với