Tuy nhiên, trên thực tế việc dạy và học có nhiều khó khăn như sau: - Các tài liệu dạy học hiện nay như SGK của HS, SGV và các tài liệutham khảo khác chủ yếu đưa ra đáp án các bài tập, ch
Trang 1TÔ HỮU CƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ
VÀ CÂU THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2012
Trang 2TÔ HỮU CƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ
VÀ CÂU THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Xuân Yến
Nghệ An, 2012
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Yến,
đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu,khoa Giáo dục và khoa Sau Đại học, trường Đại học Vinh đã trang bị cho tôitri thức và kĩ năng nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu các trường tiểu họctrên địa bàn các quận Bình Thạnh, Gò Vấp, Quận 4, TP Hồ Chí Minh đã tạođiều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thể nghiệm
Xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã ủng hộ tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu
Vinh, ngày…tháng 10 năm 2012
Tác giả
Tô Hữu Cường
Trang 4NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 8
1.2 Câu trong tiếng Việt và việc dạy học câu theo quan điểm giao tiếp .13 1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý của HS lớp 4 với việc tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếp 26
1.4 Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 32
2.1 Thực tiễn tổ chức dạy học câu cho HS lớp 4 trong phân môn LT&C .32
2.2 Những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu thực tiễn 51
2.3 Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC CÂU CHO HS LỚP 4 TRONG PHÂN MÔN LT&C THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 53
3.1 Mục tiêu của việc tổ chức dạy học câu trong phân môn LT&C cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp 53
3.2 Các biện pháp và hình thực tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếp .56
3.3 Thể nghiệm sư phạm 95
3.4 Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 108
2.1 Đối với cán bộ quản lý chuyên môn 109
2.2 Đối với thầy cô giáo 109
PHỤ LỤC 111
Trang 5Bảng 2.1 Thống kê các bài có nội dung luyện câu ở phân môn LT&C
trong SGK tiếng Việt
Bảng 2.2 Ý kiến GV về nhận thức và thực trạng dạy câu
Bảng 2.3 Ý kiến HS về câu
Bảng 3.1 Các bài LT&C có nội dung về câu trong sách tiếng Việt 4, cần sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm
Bảng 3.2 Một số điểm khác nhau giữa tổ chức thảo luận nhóm cho loại bài
hình thành kiến thức mới với loại bài củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng
Bảng 3.3 Danh sách các bài sử dụng phương pháp trò chơi học tập
Bảng 3.4 Kết quả thể nghiệm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Mục tiêu cơ bản của môn tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và rèn luyện
kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trongmôi trường hoạt động của lứa tuổi Để đạt được mục tiêu này, hầu hết các bàihọc đều hướng đến việc tổ chức các hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt cho HS
1.2 Trong giao tiếp, đơn vị nhỏ nhất là câu Khi một người nói ra một câu
hay một số câu thường hướng vào người nghe cụ thể, trong một tình huống cụthể, nhằm một hoặc nhiều mục đích nhất định Nếu HS có kĩ năng sử dụngcâu thì các em sẽ có điều kiện cơ bản để nâng cao năng lực giao tiếp
1.3 Phân môn LT&C có nhiệm vụ làm giàu vốn từ và phát triển năng lực
dùng từ, đặt câu cho HS Nhiệm vụ này bao gồm: dạy nghĩa từ, giúp HS cóthêm vốn từ và nghĩa của các từ mới cũng như phát hiện thêm các từ mớitrong văn bản; hệ thống hóa vốn từ, giúp HS sắp xếp các từ một cách có hệthống, hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc, đặt từtrong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề nhằm rèn kĩ năng liên tưởng để huyđộng vốn từ của HS; tích cực hóa vốn từ cho HS, HS sẽ biết dùng từ ngữtrong hoạt động nói năng của mình; HS biết đặt câu, sử dụng mẫu câu phùhợp trong giao tiếp Ngoài ra, phân môn LT&C còn cung cấp một số kiếnthức sơ giản, cần thiết về từ và câu cho HS trên cơ sở ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
mà HS có được trước khi đến trường HS sẽ được trang bị những hiểu biết vềcấu trúc của từ, câu, quy luật vận hành của chúng, trang bị cho các em cáckiến thức về cấu tạo câu, kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo
ra văn bản để sử dụng trong giao tiếp
Phân môn LT&C có vai trò quan trọng trong dạy học tiếng Việt bởi vịtrí đặt biệt quan trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị
Trang 8trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất thực hiện chức năng giaotiếp [14,184].
Vậy việc tổ chức dạy học câu câu nếu được thực hiện tốt HS sẽ chủđộng trong học tập, thấy được sự đa dạng, phong phú của từ và câu trong giaotiếp; thấy được mục đích của môn LT&C Điều này làm cho môn học thật sự
có ý nghĩa với các em, góp phần trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của phânmôn LT&C
1.4 Quan điểm thực hành được quán triệt trong dạy học môn tiếng Việt nói
chung, phân môn LT&C nói riêng Vì vậy, tổ dạy học câu cũng quán triệtquan điểm này
1.5 Tổ chức dạy học câu cho HS lớp 4 theo chương trình SGK đã được tập
huấn, hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy cho các GV ở nhiều địaphương Phương pháp có nhiều đổi mới nhằm đảm bảo mục tiêu môn họcTiếng Việt, mục tiêu phân môn LT&C, đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng củachương trình Tuy nhiên, trên thực tế việc dạy và học có nhiều khó khăn như sau:
- Các tài liệu dạy học hiện nay như SGK của HS, SGV và các tài liệutham khảo khác chủ yếu đưa ra đáp án các bài tập, chưa nêu được cách thức
tổ chức dạy học câu (hình thức tổ chức, hướng tổ chức theo các dạng, cáckiểu bài tập,…)
- GV chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc tổ chức dạy họccâu, các bài tập theo hướng giao tiếp; chưa quan tâm đến hình thức tổ chứcdạy học câu phù hợp với các dạng, các kiểu bài tập; việc gắn bài tập với thựctiễn giao tiếp của HS Điều này khiến việc lựa chọn nội dung, hình thức vàphương pháp dạy học chưa phù hợp, hiệu quả dạy học chưa cao
- Việc học tập của HS còn thụ động, chú ý vào đáp án bài tập mà chưathấy được mục đích của việc giải bài tập (chưa thấy được lỗi thường mắc;
Trang 9chưa thấy được tác dụng của từng kiểu câu, sự đa dạng, phong phú của từngkiểu câu trong giao tiếp,…) Môn học chưa thu hút được HS, việc học của các
em còn mang tính máy móc, hiệu quả học tập cũng chưa cao
Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề Tổ chức dạy học câu trong phân môn LT&C cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp để
nghiên cứu Hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần cụ thể hóa việc việc vậndụng các bài tập theo quan điểm giao tiếp vào dạy câu, nhằm nâng cao chấtlượng dạy học phân môn LT&C nói riêng, môn tiếng Việt nói chung
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Câu và vấn đề dạy học câu ở tiểu học
Việc tổ chức dạy học câu trong phân môn LT&C ở lớp 4 không thểkhông đề cập đến các kiểu câu chia theo mục đích nói (CCTMĐN) bao gồm:Câu kể (câu tường thuật), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cảm (câu cảm thán), và
câu khiến (câu cầu khiến) Ngữ pháp truyền thống đã có nhiều công trình
nghiên cứu đề cập đến các kiểu câu, chủ yếu xoay quanh vấn đề “phân loạicâu theo mục đích phát ngôn” Đó là việc xác định mục đích giao tiếp của từngkiểu câu và những dấu hiệu hình thức điển hình tương ứng để khảo sát đặcđiểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu
Ở nước ta, từ những năm 80 trở lại đây, vấn đề hành động ngôn ngữ đãthu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu vềhành động ngôn ngữ nói chung đã được xem xét từ góc độ ngữ dụng Ngữdụng học là một chuyên ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu việc sử dụngngôn ngữ trong mối tương quan với người nói và người thực hiện, cũng tức lànghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động giao tiếp mà việc nghiêncứu về câu là một trong những nội dung được đề cập nhiều
Trang 10Về mặt lí luận, một số công trình khoa học của một số nhà ngôn ngữ
học khi nghiên cứu các kiểu CCTMĐN như: Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân, Đại cương ngôn ngữ học – tập 2, phần viết về về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, Câu trong tiếng Việt của Cao Xuân Hạo – Hoàng Xuân Tâm –
Nguyễn Văn Bằng – Bùi Tất Tươm…
Về mặt dạy học, một số công trình nghiên cứu về câu, các kiểu
CCTMĐN như: Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho HS tiểu học của Nguyễn Quý Thành, Dạy học dấu câu tiếng Việt cho HS tiểu học của Trần Thị Hiền
Lương, cũng đã đề cập nhiều đến việc dạy câu
2.2 Vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Từ năm học 2000 – 2003, chương trình tiếng Việt năm 2000 được đưavào giảng dạy ở cấp tiểu học trên cả nước
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu sư phạm đã quan tâmđến việc dạy học tiếng Việt ở tiểu học và thu được nhiều kết quả mới mẻ Có
thể kể đến các tác giả và công trình tiêu biểu như: Phương pháp dạy học tiếng
Việt ở Tiểu học (2 tập) của PTS GS.TS.Lê Phương Nga – Nguyễn Trí, Đại
học Sư phạm Hà Nội 1, Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt (2 tập)
của GS.TS Lê Phương Nga – GS.TS Lê A – TS Lê Hữu Tỉnh – TS ĐỗXuân Thảo – Ths Đặng Kim Nga, Đại học Sư phạm Hà Nội,…
Đặc biệt, tác giả Nguyễn Trí với “ Một số vấn đề dạy học tiếng Việt
theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học”, tác giả Chu Thị Thủy An với “Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu CCTMĐN ở tiểu học hiện nay”, tác giả Chu Thị
Hà Thanh - Lê Thị Thanh Bình với “Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng
Việt ở tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến với “Bàn về hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt theo nguyên tắc giao tiếp”, công trình nghiên cứu “Dạy học tiếng Việt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp thông qua hệ thống bài tập
Trang 11của Đại học Vinh… đã cụ thể hóa quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học
ở Tiểu học Các tác giả đã đề cập nhiều đến vấn đề dạy học tiếng Việt ở tiểuhọc thông qua hoạt động giao tiếp, vấn đề dạy học các kiểu CCTMĐN theoquan điểm giao tiếp Đây là những đóng góp rất cần thiết trong dạy học tiếngViệt ở tiểu học
Mặc dù vậy, tính đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có công trìnhnghiên cứu nào có tính hệ thống về việc tổ chức dạy học câu cho HS lớp 4trong phân môn LT&C Tuy nhiên, những công trình nêu trên là cơ sở đểchúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu quan điểm giao tiếp trong dạy học câu tiếng Việt vàthực tế tổ chức dạy học câu trong phân môn LT&C lớp 4, đề tài đề xuất cácbiện pháp, hình thức tổ chức dạy học câu lớp 4 nhằm nâng cao kĩ năng sửdụng câu trong hoạt động giao tiếp cho HS, góp phần thực hiện mục tiêu dạyhọc tiếng Việt ở tiểu học
4 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học LT&C trong chương trình Tiếng Việt lớp 4
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tổ chức dạy học câu trong phân môn LT&C cho HS lớp 4theo quan điểm giao tiếp
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình tổ chức dạy học câu trong phânmôn LT&C lớp 4 theo quan điểm giao tiếp tại một số trường tiểu học trên địabàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 125 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu đề tài đề xuất được các biện pháp và hình thức tổ chức dạy họccâu ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp đảm bảo mục tiêu của việc dạy họcLT&C, phù hợp với thực tiễn dạy học tiếng Việt ở tiểu học hiện nay thì HS sẽ
có kĩ năng sử dụng câu trong giao tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả dạy họctiếng Việt của HS lớp 4 nói riêng và HS tiểu học nói chung
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần quan tâm giải quyết các nhiệm vụ sau:
6.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến việc dạy học về câu cho HS
lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
6.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức dạy học câu cho HS lớp 4 trong phân môn
LT&C hiện nay
6.3 Xác định và đề xuất các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học câu cho HS
lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
6.4 Tổ chức thể nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện
pháp, hình thức dạy học đề tài đề xuất
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: sử dụng để nghiên cứu cơ sở
lý luận, lịch sử nghiên cứu vấn đề
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng để nghiên cứu phần
thực tế, bao gồm các phương pháp: Phương pháp quan sát, phương pháp điềutra bằng phiếu hỏi, phương pháp chuyên gia, phương pháp thể nghiệm sưphạm
Trang 137.3 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán học để xử lý các số liệu
thống kê liên quan đến thực trạng tổ chức dạy học câu, kiểm định độ tin cậycủa các biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức dạy học câu theo quan điểm giaotiếp ở lớp 4
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Các biện pháp và hình thức tổ chức dạy học câu trong phânmôn LT&C cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
1.1.1 Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Xét theo góc độ ngôn ngữ học, quan điểm giao tiếp có cơ sở xuất phát
từ chức năng xã hội của ngôn ngữ Nếu coi “Ngôn ngữ là phương tiện giaotiếp quan trọng nhất của loài người” thì việc dạy tiếng Việt trong nhà trường
là hình thành và rèn luyện cho HS một công cụ giao tiếp Vì vậy, phươngpháp dạy học hiệu quả nhất là dạy học trong giao tiếp
Từ góc độ lý luận dạy học, quan điểm giao tiếp là sử dụng nguyên tắc líthuyết gắn với thực hành của lí luận dạy học đại cương vào lĩnh vực dạytiếng Trong dạy học tiếng Việt, thực hành tức là tiến hành các hoạt động nói,nghe, đọc, viết, là phát triển lời nói cá nhân Trong dạy học LT&C, đảm bảonguyên tắc giao tiếp tức làm giàu vốn từ, nâng cao kĩ năng đặt câu, sử dụngcâu đúng, hay, tinh tế trong các tính huống giao tiếp cho HS
1.1.2 Nội dung quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Con người giao tiếp với nhau bằng công cụ quan trọng nhất là ngônngữ Vì thế, việc dạy tiếng thông qua hoạt động giao tiếp là một trong nhữngnguyên tắc chủ đạo của việc xây dựng chương trình môn học ở cấp tiểu học.Đây là xu hướng phố biến trong dạy học ở các nước tiên tiến hiện nay Khácvới xu hướng dạy học theo cấu trúc, xu hướng này có tác dụng rõ rệt trongviệc hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Dạy tiếngViệt theo quan điểm giao tiếp giúp thực hiện một cách nhanh nhất, vững chắc
nhất mục tiêu của chương trình tiếng Việt ở tiểu học là "Hình thành và phát
triển ở HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”.
Trang 15Với việc thay tên gọi hai phân môn "Từ ngữ", "Ngữ pháp" của chươngtrình cũ bằng "LT&C" ở chương trình tiếng Việt mới không chỉ đơn thuần làviệc đổi tên mà là sự phản ánh quan điểm giao tiếp trong dạy học LT&C củachương trình tiếng Việt mới: dạy học tiếng Việt là dạy thực hành sử dụngngôn ngữ (HS biết dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu vào giao tiếp mộtcách có hiệu quả).
Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung chương trình, phương pháp vàhình thức dạy học môn tiếng Việt nói chung cũng như phân môn LT&C nóiriêng Cụ thể là:
* Chi phối về nội dung dạy học theo hướng giao tiếp
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cần đáp ứng yêu cầu cungcấp kiến thức về ngôn ngữ và rèn luyện các kĩ năng, sử dụng ngôn ngữ tronghoạt động giao tiếp [17, 6]
Cách làm là xuất phát từ hệ thống kĩ năng để chọn kiến thức Trục cơbản của chương trình là 4 kĩ năng đọc, nghe, nói, viết Các kiến thức lí thuyếtđược lựa chọn nhằm phục vụ cho việc hình thành và phát triển các kĩ năng đócủa HS Kiến thức về tiếng Việt cung cấp cho HS ở dạng sơ giản nhưng cầnđảm bảo tính hiện đại Các khái niệm lí thuyết được biến thành các qui tắc chỉdẫn HS hành động Có như vậy quá trình chuyển hóa từ kiến thức thành kĩnăng hoạt động lời nói của HS mới diễn ra dễ dàng; quá trình hình thành kĩnăng và tiếp thu kiến thức mới đi đôi với nhau giúp HS hình thành được nănglực giao tiếp
Việc dạy HS tiểu học giao tiếp bằng tiếng Việt luôn hướng tới hai mục đích:
- Một là giúp HS hiểu được lời nói, bài viết có sẵn, diễn đạt bằng lời vàbằng chữ ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước
Trang 16- Hai là giúp HS tự hiểu được lời nói, bài viết trong hoàn cảnh giao tiếpbằng ngôn ngữ (ngữ cảnh) tự nhiên và giúp các em tự diễn đạt bằng lời vàbằng chữ ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước
Ngữ liệu đưa vào giờ LT&C phải là những ngữ liệu sinh động, chânthực, thường được sử dụng trong hoạt động giao tiếp thường ngày, phù hợpvới hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi tiểu học Không sử dụng những ngữ liệukhô cứng, rập khuôn, xa đời sống thực của HS
Ngữ liệu để dạy tiếng Việt không chỉ là những bài có sẵn trong tài liệuhọc tập (SGK, vở luyện tập, ) mà còn bao gồm những lời nói, bài nói, bàiviết do HS tạo ra Nghĩa là HS không chỉ học đọc, học viết, học nói, học nghetrên các tài liệu học tập do nhà trường cung cấp mà còn thực hành các kĩ năngtrên trong khi các em giao tiếp ở nhà, ở trường Thông qua các nội dungphong phú của những ngữ liệu dạy giao tiếp bằng tiếng Việt sẽ giúp HS ngoàiviệc đọc, viết, nghe, nói thông thạo, còn tích lũy được các tri thức thiết thực,không bỡ ngỡ với thực tiễn cuộc sống
Để tổ chức hoạt động giao tiếp, chúng ta cần tạo ra những môi trườnggiao tiếp có chọn lọc, phù hợp với cuộc sống thực thông qua các bài tập rèn kĩnăng mang tính tình huống, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với những tìnhhuống giao tiếp tự nhiên, kích thích HS hào hứng tham gia, bộc lộ bản thân,
từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp
* Chi phối về phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp
Quán triệt quan điểm giao tiếp, trong dạy học tiếng Việt nói chung vàtrong dạy học LT&C nói riêng:
- Phải luôn xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức,tức là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn, đặt nó trong hoạt động giao tiếp,trong các sản phẩm giao tiếp
Trang 17- Phải xuất phát từ ngữ cảnh giao tiếp, từ ngữ liệu điển hình để quy nạpthành dấu hiệu khái niệm có tính lý thuyết rồi từ đó vận dụng vào giải quyếtcác bài tập cụ thể.
- Phải coi trọng việc tổ chức dạy học câu giao tiếp cho HS, coi thựchành giao tiếp là hoạt động chủ yếu
Vì vậy, trong dạy học LT&C hay trong tổ chức dạy học câu thì phươngpháp dạy học cần gắn dạy ngôn ngữ với giao tiếp, nghĩa là gắn ngôn ngữ vớinhững yếu tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh, mục đích, vai, nội dung và cácyếu tố như cử chỉ, thái độ, điệu bộ trong khi nói Muốn vậy, GV phải tạođược các tình huống giao tiếp, GV phải sử dụng phương pháp dạy học theo
hoạt động ngôn ngữ, tức là dạy cho HS chuyển từ ngôn ngữ sang lời nói gắn
với hoạt động giao tiếp Trong dạy học câu, GV phải sử dụng hệ thống bài tậptập hợp được những yêu cầu hoạt động bằng ngôn ngữ và lời nói cho HSnhằm giúp các em hình thành và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt.Với hướng dạy học hoạt động ngôn ngữ, sử dụng phương pháp dạy học này,
GV không chỉ cho HS thực hiện các bài tập theo mẫu có sẵn mà còn hướngdẫn cách chuyển ngôn ngữ sang lời nói trong hoàn cảnh giao tiếp, mục đíchgiao tiếp cụ thể và vai giao tiếp phù hợp Đây là quan điểm dạy học ngôn ngữ,trong hoạt động giao tiếp, theo nguyên tắc giao tiếp, đưa HS vào các hoạtđộng nói năng Thông qua thực hành, HS tự rèn luyện các kĩ năng sử dụng từ,câu và tự nói ra các tri thức lý thuyết cần thiết để ý thức hóa quá trình sử dụng
từ, câu của mình
Trên cơ sở đó, GV cần lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy họcnhằm đưa HS vào các hoạt động giao tiếp, phát huy tính tích cực sáng tạo,khả năng độc lập suy nghĩ của HS như: phương pháp thực hành giao tiếp,phương pháp đóng vai, phương pháp luyện theo mẫu, phương pháp phân tíchngôn ngữ, phương pháp dạy học nêu vấn đề,
Trang 18* Chi phối về hình thức dạy học theo hướng giao tiếp
Quan điểm giao tiếp chi phối hình thức dạy học trong tất cả các giờ họctiếng Việt và các môn học khác trong nhà trường Trong quá trình dạy học,
GV nên linh hoạt áp dụng các hình thức tổ chức dạy học, khuyến khích HSphối hợp giữa học cá nhân, học theo nhóm nhỏ, học theo lớp, tổ ngoại khóa,câu lạc bộ khoa học, tham gia hội "Các nhà khoa học trẻ", dạ hội khoa họchay nghệ thuật,…
Các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giao tiếp bao gồm: thảo luận(lớp và nhóm), tham quan, hoạt động ngoại khóa, trò chơi học tập, đóng vai,
…
Các hình thức dạy học trên góp phần tăng cường tối đa cơ hội để các
HS trong lớp được làm việc và thể hiện khả năng của mình, phát huy cao tinhthần hiểu biết, học hỏi và khả năng hợp tác, thi đua giữa các thành viên trong lớp
Các em mạnh dạn tham gia ý kiến, phát huy được tính chủ động củamình; khuyến khích những em nhút nhát, những em không dám phát biểu chỗđông người cũng có cơ hội nói lên suy nghĩ của mình trong nhóm nhỏ hơn.Qua đó, HS chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm; tạo điều kiện để các em học hỏilẫn nhau theo quan điểm "Học thầy không tày học bạn"; hình thành và pháttriển cho HS khả năng hợp tác Bên cạnh đó, các hình thức dạy học này còngiúp HS củng cố, đào sâu tri thức mới được học, làm sáng tỏ những điều thắcmắc, GV có cơ hội thu được thông tin phản hồi từ HS nhiều hơn
Tóm lại, quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học cần nghiên cứu hoạtđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung,phương pháp và hình thức dạy học cho đạt hiệu quả cao trong quá trình dạyhọc tiếng Việt
Trang 191.2 Câu trong tiếng Việt và việc dạy học câu theo quan điểm giao tiếp 1.2.1 Khái niệm câu trong tiếng Việt
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về câu Ở Việt Nam, hầu hếtcác nhà ngôn ngữ học đều dựa vào các định hướng của các nhà ngôn ngữ họctrên thế giới để định nghĩa về câu Các định nghĩa này có thể được căn cứ vềmặt nội dung của câu, hoặc căn cứ vào mối liên hệ của câu với hiện thực.Cũng có tác giả định nghĩa câu dựa vào cả hai mặt nội dung và hình thức cấutạo câu Có thể kể ra một số định nghĩa sau: Tác giả Trương Văn Chình lấymục đích giao tiếp làm cơ sở, ông chọn định nghĩa về câu do A Meillet nêu:
“Câu là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều sự tình có quan hệ với nhau; tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ huộc về ngữ pháp về một tổ hợp khác” [10, 476] Tác giả Nguyễn Kim Thản
không đưa ra định nghĩa trực tiếp mà chọn định nghĩa về câu của
V.V.Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về
mặt ngữ pháp theo quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng Trong câu không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [20] Tác
giả Nguyễn Lân thì định nghĩa: ”Nhiều từ mà hợp lại mà biểu thị một ý nghĩa
dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật gọi là một câu”,
Định nghĩa câu khá dài là của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên
trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn và có kèm thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là một đơn vị thông báo nhỏ nhất” Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết,
“Câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp.
Trang 20Trong đó, vị ngữ là một nòng cốt, là “xuất phát điểm” của thông điệp” Tác
giả Đỗ Thị Kim Liên có định nghĩa về câu rất súc tích, đủ cả mặt nội dung vàhình thức cấu tạo, đây cũng là định nghĩa gần gũi với việc dạy các kiểu câutrong chương trình tiểu học hiện nay mà chúng tôi đưa ra làm cơ sở cho mình
khi tìm hiểu vấn đề về câu: “Câu là một đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình
suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể
hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo độc lập, có ngữ điệu kết thúc” [12,
101] Theo định nghĩa này, câu có các đặc điểm: có chức năng thông báo, thể
hiện ở chỗ câu mang nội dung thông tin và thể hiện thái độ, tác động đến nhậnthức người nghe, diễn đạt được ý của người nói Cách giải thích này gần gũivới nội dung dạy học về câu của HS tiểu học; câu có cấu trúc ngữ pháp độclập, thể hiện ở chỗ câu thường có cấu trúc chủ - vị; câu có ngữ điệu kết thúc,
đó là dấu hiệu giúp HS nhận biết câu về mặt hình thức; câu được gắn với mộtngữ cảnh nhất định, gắn với hoàn cảnh giao tiếp phù hợp Với phương phápdạy học môn tiếng Việt hiên nay: Dạy về câu không chỉ căn cứ các mẫu câu
cụ thể mà còn căn cứ cả về chức năng, tức phương diện giao tiếp, thông quagiao tiếp
Trong chương trình tiếng Việt ở tiểu học, trong phân môn LT&C, kiếnthức và kĩ năng về việc sử dụng câu, các kiểu CCTMĐN được đề cập rấtnhiều, trong đó có các bài dạy về thành phần câu và các bài dạy về các kiểucâu hướng đến quan điểm giao tiếp Các kiểu CCTMĐN hướng HS học tậpngôn ngữ gắn với những yếu tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh giao tiếp,mục đích giao tiếp, vai giao tiếp, nội dung giao tiếp và các yếu tố như cử chỉ,thái độ, điệu bộ trong khi nói Như vậy, HS được hoạt động ngôn ngữ, thựchành giao tiếp, phù hợp với mục tiêu môn học VD sau đây là bài tập dướidạng giao tiếp
Trang 21VD: Cho hai câu sau:
1 Quyển sách nằm dưới quyển vở.
2 Quyển vở nằm trên quyển sách.
Câu nào là câu trả lời của câu hỏi: Quyển sách ở đâu?
Hai câu trên có cấu trúc và nghĩa về cơ bản là giống nhau, nhưng chỉ cócâu 1 mới trả lời cho câu hỏi của đề bài
Trong dạy học về câu ở tiểu học, các kiểu CCTMĐN cũng được đưavào dạy như CH (CH), câu kể (CK), câu khiến (CKH), câu cảm (CC) Ở tiểuhọc, các kiểu câu này được định nghĩa như sau:
* Câu trần thuật (Câu kể)
Câu trần thuật dùng để kể, xác nhận (có hay không có), mô tả một vậtvới các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó hoặc một
sự kiện với các chi tiết nào đó
VD: 1 Tối mai, có trận bán kết giữa hai tay vợt Ý và Ba Lan.
2 Từng cặp bướm trắng, bướm vàng dập dờn bay lượn trên các bụi cây ven đường.
Xét về mặt lôgíc: nội dung, ngôn ngữ học truyền thống chia câu trầnthuật làm hai loại: câu trần thuật khẳng định và câu trần thuật phủ định
Câu trần thuật khẳng định thường nêu lên sự vật, hiện tượng được nhậnđịnh là có tồn tại
VD: 1 Phong cảnh ở Đà Lạt thật là đẹp.
2 Cả nhà tràn ngập tiếng cười.
Câu trần thuật phủ định xác nhận sự vắng mặt hay không tồn tại của sựvật hiện tượng Nói cách khác, đây là câu tường thuật lại một sự việc nhưngtheo hướng phủ định
VD: 1 Không phải ông giám đốc nói đâu.
2 Không ai lên tiếng cả.
Trang 22Về mặt hình thức, phương tiện biểu hiện câu trần thuật là cấu trúc cúpháp cơ bản hai thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ) hoặc một thành phầnchính biểu thị nội dung mệnh đề Có điều, hình thức này không phải của riêngcâu trần thuật Câu cầu khiến, câu nghi vấn đều có nội dung mệnh đề nên đều
có cấu trúc cú pháp cơ bản Tuy nhiên, so với các loại câu khác, cấu trúc câutrần thuật phản ánh rất sát cấu trúc mệnh đề
Câu trần thuật có ngữ điệu đi xuống ở cuối câu, trên chữ viết cuối câu
có dấu chấm (.)
* Câu nghi vấn (Câu hỏi)
Câu nghi vấn, theo cách nhìn truyền thống, là loại câu mà người nóithường dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trảlời, cần sự giải thích của người nghe
VD: 1 Em tên gì? Nhà em ở đâu? Trời tối rồi, sao em không về nhà?
2 Em thích hoa hồng hay hoa cúc?
Về mặt hình thức, câu nghi vấn trong tiếng Việt thường được cấu tạobằng các phương tiện sau:
- Các đại từ nghi vấn: ai, sao, nào, gì, đâu, làm sao, như thế nào, bao nhiêu, bao lâu
VD: 1 Cậu bắt được ở đâu mà nhiều dế thế?
2 Đoàn mình có bao nhiêu người?
- Các cặp phụ từ nghi vấn: có không, đã chưa, có chưa, có phải không
- Kết từ " hay":
VD: 1 Câu nói thật hay đùa đấy?
2 Em thích môn học nào hơn, Âm Nhạc hay Mĩ Thuật?
Kiểu câu nghi vấn có kết từ hay được gọi là câu nghi vấn lựa chọn Khảnăng trả lời chỉ hạn chế trong những yêu cầu đưa ra của người nói
Trang 23- Các tiểu từ tình thái nghi vấn: à, ư, a, à, hả, hở, chăng, nhỉ, nhé vị
trí của các tiểu từ này thường là cuối câu
VD: 1 Tối qua, ở nhà mưa ư?
2 Ông Nam vẫn chưa đến nhỉ?
- Ngữ điệu: Ngữ điệu đặc thù của câu nghi vấn là ngữ điệu cao ở trọngtâm hỏi trong câu hoặc nâng giọng ở phần cuối câu
VD: - Mai! Anh Bảo tới chơi đấy.
- Anh Bảo tới chơi?
Trên văn bản viết, cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?)
* Câu cầu khiến (Câu mệnh lệnh)
Câu cầu khiến là câu nhằm mục đích nêu lên ý chí của người nói và đòihỏi, mong muốn người nghe thực hiện những điều nêu ra trong câu nói
VD: 1 Xin đừng đụng vào cây, mùa lá rụng.
2 Hãy cố gắng học tập tốt, em nhé!
Về mặt hình thức, câu cầu khiến có những dấu hiệu riêng, biểu thị mụcđích cầu khiến Phương tiện biểu hiện ý nghĩa cầu khiến trong câu cầu khiếnkhá đa dạng
- Các phụ từ có ý nghĩa cầu khiến hãy, đừng, chớ đứng trước động từ
làm vị ngữ
VD: 1 Long hãy ngủ ngoan nhé, mẹ về sẽ có quà!
2 Đừng làm ồn, mọi người đang ngủ trưa.
- Các tiểu từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến đi, với, nào, nhé, đã, thôi, lên đứng cuối câu.
VD: 1 Huệ, vào uống nước đã!
2 Các cháu ngoan đi nào! Cô các cháu sắp về rồi.
- Các động từ tình thái ở trung tâm vị ngữ: cần, phải, nên
VD: 1 Cần chăm chỉ học tập thì mới trở thành người có ích cho xã hội.
Trang 242 Em nên hoạt động thể dục thể thao nhiều hơn nữa.
- Ngữ điệu của câu cầu khiến là lên giọng và nhấn giọng cuối câu
VD: 1 Ôi, buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp!
2 Thích thật! Thích thật! Thế này thì thích chết đi được!
Xét về phương tiện hình thức, CC có thể chia thành các dạng sau:
- CC chứa tình thái từ: ôi chao, ôi, a ha, a…(thông thường là ở đầu câu) VD: 1 Ôi chao chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!
2 A! Thầy giáo đến rồi.
- CC chứa tiểu từ thay, nhỉ cuối câu
VD: 1 Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi!
2 Mẹ mày, khôn nhỉ!
- CC chứa các phó từ lạ, thật, quá, ghê, thế, dường nào, biết mấy, xiết bao, biết bao
VD: 1 Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên!
Trang 252 Thế này thì thật là tốt quá!
- CC có cấu trúc đặc biệt, tình thái được biểu đạt bằng khuôn hình câu
VD: 1 Sao mà yêu, sao mà thương Đắc Lắc quê tôi!
Khi viết, cuối CC có dấu chấm than (!)
Chúng tôi thấy rằng, phân chia câu theo mục đích nói là cách làm củangữ pháp truyền thống thể hiện cách nhìn về câu trong hoạt động Thế nhưng,hoạt động của câu ở đây chỉ được xét trong quan hệ với người nói Câu vẫn bịđặt trong thế cô lập, tách khỏi các câu lân cận, tách khỏi hoàn cảnh giao tiếp
và chưa được xét trong quan hệ với người nghe
Dựa vào đặc điểm và hình thức nhận diện của các loại câu: CK, CH,CKH, CC nêu trên, khi dạy học môn LT&C ở tiểu học, các loại CCTMĐNđược chú trọng rất nhiều Trên thực tế, không phải lúc nào các loại câu nàycũng được nhận diện theo chức năng giao tiếp Hình thức của câu không phảilúc nào cũng tương ứng với một mục đích phát ngôn nào đó Tiêu chí nhậndiện những loại câu này là những dấu hiệu hình thức (như sự có mặt của các
từ để hỏi như ai, gì, nào, đâu, có… không, đã…chưa, từ dùng để lựa chọn hay và dấu chấm hỏi ở CH; sự có mặt của các phó từ cầu khiến: hãy, đừng, chớ, các tình thái từ đi, thôi, nào,…ở CKH; sự có mặt của các thán từ ôi, a, a ha,… các phó từ quá, lắm, thật,…tình thái từ thay ở CC) không hoàn toàn
cho biết mục đích giao tiếp Trong thực tế, CH có thể được dùng để thực hiệncác mục đích sau:
- Cầu khiến, VD: Có nín đi không?
- Khẳng định, VD: Sao bạn giỏi thế?
Trang 26- Phủ định, VD: Quét nhà thế này mà bảo là sạch à?
CK có thể dùng để:
- Cầu khiến, VD: Cháu mời bác vào chơi.
- Dùng để hỏi, VD: Tôi không rõ anh có đồng ý với tôi không.
Câu cầu khiến cũng có thể dùng để hỏi, VD: Trời sắp mưa, quần áo
chưa đem vào chứ gì?
Vì những lí do vừa nêu trên mà SGK môn tiếng Việt ở lớp 4 đã khôngdạy HS phân biệt câu theo mục đích nói và câu phân loại theo cấu trúc nhưchương trình SGK cũ mà lần lượt dạy cách đặt câu hỏi, kể, cầu khiến, cảm
Các mô hình cấu trúc câu (Ai làm gì?, Ai là gì?, Ai thế nào?) được dạy như là những kiểu CK cụ thể Các kiểu câu này, xét về chức năng giao tiếp thì việc
dạy mỗi kiểu câu thích hợp với một chức năng khác nhau:
- CK Ai là gì? Dùng để định nghĩa, giới thiệu, nhận xét
VD: Đây là bạn Nam Bạn Nam là lớp trưởng của tôi.
- CK Ai làm gì? Dùng để kể về hoạt động của người, động vật hoặc tĩnh
vật được nhân hóa
VD: Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để quét nhà, quét sân.
- CK Ai thế nào? Dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái
của người, vật
VD: Mây trôi lững lờ.
Nếu xét về mặt ngữ pháp thì 3 kiểu câu trên khác nhau chủ yếu ở vịngữ Khi dạy cho HS 3 kiểu câu này cần chú ý về mặt cấu tạo của câu cũngnhư về chức năng giao tiếp của chúng
Dạy học câu gắn với dạy văn hóa giao tiếp Vì ngôn ngữ và văn hóa cómối quan hệ khắng khít với nhau HS học câu không tách rời với văn hóagiao tiếp hằng ngày Các tư tưởng tình cảm và nhân cách tốt đẹp của conngười chỉ có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trongthực tế Trong giao tiếp, để giữ phép lịch sự thì người tạo lời phải biết lựachọn cách xưng hô phù hợp vị thế, quan hệ xã hội đối với người nghe (người
Trang 27đọc) Khi thực hiện giao tiếp, sử dụng CH hay CK cũng cần chú ý đến vaitrong giao tiếp, xưng hô như thế nào để tôn vinh thể diện của người đối thoạinhư: khen ngợi, biểu dương, tán thưởng,… Hay các hành động nói năng đedọa như: phê bình, chê bai, ra lệnh…thể hiện sự tôn trọng và thể hiện đẳngcấp của người nói, người nghe, thể hiện được văn hóa trong giao tiếp Dạy sửdụng CH trong giao tiếp cũng tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, tránh đặt những
CH làm phiền lòng người khác Dạy cho HS giữ phép lịch sự khi nói năng làyêu cầu chung khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Qua một số bài học vềCKH, HS sẽ biết giữ lịch sự khi yêu cầu, đề nghị, nhưng cũng là cách để giữlịch sự chung trong nói năng
1.2.2 Câu tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp
Giao tiếp giúp xã hội vận động và phát triển Một trong những điều kiện
quan trọng của giao tiếp là phương tiện “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của loài người” (V.I Lênin) bởi so với các phương tiện
khác, ngôn ngữ có nhiều ưu việt
Đơn vị nhỏ nhất trong giao tiếp ngôn ngữ là câu Cấu trúc thông báocủa câu gồm một phần đề và một phần thuyết Nội dung thông báo gồm haithành phần là cái mới và cái đã biết Cái đã biết nằm trong phần đề của câu, lànhững hiểu biết chung của người nói và người nghe Cái mới nằm trong phầnthuyết, là điều mà người nói đã biết, nhưng người nghe lại chưa biết, cần sựthông báo từ người nói Trong một phát ngôn cụ thể, cái mới và cái đã biết cóthể biểu hiện ở những bộ phận khác nhau của câu [18] VD như phát ngôn
“ngày mai tôi đi Vũng Tàu” có thể được xác định dựa vào khả năng trả lời các
CH sau:
Bao giờ anh đi Vũng Tàu?
Ngày mai anh đi đâu?
Ngày mai ai đi Vũng Tàu?
Trang 28Ngày mai anh làm gì?
Chính cái chưa biết làm nên phần thông tin Câu nếu không có thông tinmới thì không có giá trị thông báo, không đem lại hiệu qủa giao tiếp cần thiết
VD câu sau không có giá trị giao tiếp vì không có thông tin mới:
- Cậu bé đi bằng đôi chân.
Còn các câu sau lại có giá trị giao tiếp, do có thông tin mới:
- Cậu bé đi bằng đôi chân vẫn chưa hết đau.
- Cậu bé đi bằng đôi chân của mình (cậu bé không đi bằng đôi chân
của người khác – được hiểu theo nghĩa bóng, là sự nổ lực, tự khẳngđịnh của bản thân)
Cấu trúc thông báo của câu là chỗ dựa quan trọng để người nói diễn đạtmột cách đầy đủ, rõ ràng thông điệp Câu không chỉ được nói hay viết ra đúngcấu tạo ngữ pháp mà phải có thông tin mới đủ rõ để người tiếp nhận hiểuđúng và đủ những điều mà người nói, người viết muốn gửi đến mình Muốnthỏa mãn được yêu cầu đó, người nói, người viết cần cân nhắc để lựa chọnmột kiểu câu chuyển tải hiệu quả nhất những điều mình muốn nói Khi đó,cấu trúc thông báo của câu có vai trò thông báo không hề nhỏ Sự lựa chọn vịtrí thành phần trong câu, lựa chọn kiểu câu, sự tỉnh lượt thành phần câu… đều
có cơ sở là mối quan hệ đề thuyết trong cấu trúc thông báo câu
Đối với người nhận, những hiểu biết về các thành phần trong cấu trúcthông báo cũng là căn cứ để hiểu giá trị của mỗi câu, từ đó hiểu một cáchchính xác và sâu sắc những điều mình đã nghe, đã học
Từ cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt và nhữngvấn đề cơ bản về câu trong hoạt động giao tiếp thì việc dạy câu tiếng Việttheo quan điểm giao tiếp được xem xét dưới góc độ dạy câu gắn liền với việc
Trang 29dạy từ; dạy từ và dạy câu thông qua hệ thống bài tập giao tiếp; dạy câu gắnvới dạy văn hóa giao tiếp
Dạy câu được gắn với dạy từ Đây là một trong những nguyên tắc đượcnhấn mạnh trong nguyên tắc dạy học theo quan điểm giao tiếp Đó là phảiluôn xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động thực hành tức đưa ra mốiquan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ: từ được đặt trong câu, các thành phần câucấu tạo nên câu, câu được đặt trong đoạn, đoạn được đặt trong bài, trong tìnhhuống giao tiếp cụ thể Bởi HS muốn sử dụng được câu để tham gia vào hoạtđộng giao tiếp thì phải có vốn từ Vốn từ của HS càng phong phú thì khả năngchọn từ ngữ để trình bày ý tưởng của mình càng rõ ràng, mạnh lạc, khả năngsắp xếp vị trí các câu càng chặt chẽ Thật vậy, muốn viết được tròn câu thìphải biết cách sử dụng thành phần câu và các kiểu câu cho đúng Thành phầncâu và câu chỉ được hoạt động thông qua câu trong môi trường giao tiếp
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Ninh: "Dạy theo định hướng giao tiếp bao giờ
cũng phải xuất phất từ câu để xem xét dù đó là việc dạy từ hay ngữ cũng đều phải được đặt trong câu, đơn vị giao tiếp cơ bản” [19].
Dạy câu thông qua giao tiếp là một hoạt động dạy học nằm trong địnhhướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượngdạy học, phù hợp với mục tiêu dạy học tiếng mẹ đẻ hiện đại Để thực hiện tốtmục tiêu này, trong giờ học tiếng Việt, GV cần tổ chức các hoạt động nóinăng cho HS Đối với HS, có thể xem việc giải bài tập tiếng Việt là hình thứcchủ yếu của hoạt động giao tiếp trong giờ học Việc hình thành lí thuyết bàitập phải theo hướng dạy học hoạt động ngôn ngữ tức là dạy cho HS chuyển từngôn ngữ sang lời nói gắn với hoạt động giao tiếp Với hướng dạy học hoạtđộng ngôn ngữ, khi soạn hệ thống bài tập không chỉ cho HS mẫu sẵn mà cònhướng dẫn cách chuyển ngôn ngữ sang lời nói trong hoàn cảnh giao tiếp, mụcđích giao tiếp cụ thể và vai giao tiếp phù hợp Đây là quan điểm dạy học ngôn
Trang 30ngữ, dạy học tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, theo nguyên tắc giao tiếp.Theo quan điểm dạy học này, hệ thống bài tập là hệ thống bài tập dạy họctiếng Việt trong hoạt động giao tiếp Việc dạy câu cho HS trong môn tiếngViệt nói chung và trong phân môn LT&C nói riêng quán triệt mục tiêu này,hầu hết các giờ học đều thông qua việc giải bài tập, ngữ liệu được đưa vào bàitập phải là những ngữ liệu sinh động, phong phú, hấp dẫn phù hợp với đặcđiểm tâm lí, nhận thức của HS tiểu học Trên cơ sở ngữ liệu, GV tạo môitrường giao tiếp cho HS tham gia vào hoạt động để lĩnh hội tri thức Việc họctheo hướng này, HS sẽ biết cách sử dụng thành phần câu trong sinh hoạt đờisống một cách đúng đắn, sinh động, tự nhiên không bị gò bó và cũng khôngphân biệt tiếng Việt trong nhà trường và tiếng Việt ngoài xã hội Quá trìnhhình thành kĩ năng giao tiếp và tiếp thu kiến thức như thế này giúp HS hìnhthành được năng lực giao tiếp, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại đang cần
ở các em Tất cả những điều trên đồng nhất với ý kiến của GS Nguyễn Đức
Nam: "Không học tiếng vì tiếng mà học tiếng để phục vụ cho giao tiếp".
1.2.3 Vai trò của bài tập với việc tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếp
Phương pháp dạy học tiếng Việt chỉ có hiệu quả khi nó phản ánh đúngđặc trưng của những quá trình dạy học tiếng Việt Mục đích của dạy tiếngkhông phải là cung cấp những quy luật về kết cấu của nội bộ ngôn ngữ: âm vị,
từ câu mà mục đích cuối cùng là hình thành ở HS những kĩ năng hoạt độnggiao tiếp ngôn ngữ - người học sử dụng được ngôn ngữ như một ngôn ngữthông tin giao tiếp Những thành tựu của lí thuyết hoạt động lời nói đã chophép rút ra kết luận: đơn vị của việc dạy và học tiếng là các hành động lời nói.Hành động nói năng tạo ra đặc trưng quá trình dạy và học tiếng Muốn tối ưuhóa quá trình dạy và học tiếng Việt phải tối ưu hóa hoạt động của HS Có thểxem việc giải bài tập tiếng Việt là hình thức chủ yếu của hoạt động dạy học
Trang 31tiếng Việt Các bài tập tiếng Việt là một phương tiện rất hiệu quả và khôngthể thay thế được trong việc giúp HS có năng lực ngôn ngữ, phát triển tư duy.Hoạt động giải bài tập tiếng Việt là điều kiện để thực hiện tốt các mục đíchhọc tiếng Việt Vì vậy, tổ chức thực hiện có hiệu quả các bài tập tiếng Việt cóvai trò quyết định đối với chất lượng hoạt động tiếng Việt Hệ thống bài tậpcần được xây dựng sao cho có khả năng giúp HS thực hiện đến mức thànhthục các thao tác nói năng Nó phản ánh được một cách bao quát cơ chế lĩnhhội và sản sinh lời nói.
Mục đích cuối cùng của việc dạy học lí thuyết về từ và câu trong nhàtrường là sử dụng các đơn vị ngôn ngữ một cách có ý thức để có thể hiểuđúng tư tưởng tình cảm của người khác được thể hiện bằng ngôn ngữ và đểbiểu hiện chính xác tư tưởng tình cảm của mình trong hình thức nói và viết
Để đạt được mục đích đó, trong phân môn LT&C phần lớn nội dung của mônhọc là các bài tập Các bài tập theo mạch kiến thức kĩ năng về từ và câu luyệncho HS kĩ năng nhận ra các hiện tượng, các đơn vị đã học hoặc giúp HS thểhiện ý nghĩ, tình cảm trong một cấu trúc cú pháp đúng đắn Bài tập đặt câu có
ý nghĩa trong phát biểu lời nói của HS Nó đi từ ý đến lời, nội dung đến hìnhthức câu cụ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp có thật Vậy hệ thống bài tậpgiao tiếp về câu trong phân môn LT&C phải đảm bảo những yêu cầu gì? Theochúng tôi, bài tập đảm bảo yêu cầu nguyên tắc giao tiếp, phải là phương tiệndạy học hiệu quả nhất nhằm hướng dẫn HS sử dụng lời nói trong hoàn cảnhgiao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp cụ thể, phù hợp với vai giaotiếp và các yếu tố cử chỉ, thái độ, điệu bộ trong giao tiếp Theo quan điểmnày, bài tập LT&C theo hướng giao tiếp là hình thức thực hành giúp HS hìnhthành và phát triển kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Bài tập giao tiếp trongdạy học LT&C là hệ thống bài tập tập hợp được những yêu cầu hoạt độngbằng ngôn ngữ và lời nói cho HS nhằm giúp các em hình thành và rèn luyện
Trang 32kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt Thông qua hệ thống bài tập, HS thực hiệnnhững hành động bằng ngôn ngữ hoặc lời nói để giao tiếp trong những tìnhhuống giả định có tính thực tiễn cao
Theo tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến “Bàn về hệ thống bài tập dạy học
tiếng Việt theo nguyên tắc giao tiếp” [23] thì ngoài những yêu cầu chung của
bài tập dạy học tiếng Việt như: tính khoa học, tính sư phạm, tính vừa sức, bàitập giao tiếp cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Mục đích của bài tập là hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng sửdụng ngôn ngữ trong học tập, trong giao tiếp Vì vậy, lệnh của bài tập là yêucầu HS tạo lập hoặc lĩnh hội những hành vi ở lời;
- Ngữ liệu để xây dựng bài tập là các tình huống giao tiếp và các hànhđộng lời nói Thao tác chính khi thực hiện bài tập là chuyển ngôn ngữ (tạolập/lĩnh hội) sang lời nói trong các tình huống giao tiếp
- Bài tập giao tiếp là bài tập dạy nói, dạy nghe, dạy đọc, dạy viết Mỗi loạibài tập có những nội dung khác nhau, những kiểu dạng khác nhau GV phảihướng dẫn HS biết xác định, sử dụng các hình thức ngôn ngữ (độc thoại/đối thoại;nói/viết) phù hợp với mục đích giao tiếp, vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và cácyếu tố cử chỉ, điệu bộ trong quá trình giao tiếp
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý của HS lớp 4 với việc tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếp
1.3.1 Đặc điểm về tâm, sinh lí của HS tiểu học
Căn cứ vào sự phát triển nhận thức của HS cấp tiểu học, các nhà tâm lýhọc cho rằng đặc điểm nhận thức của HS tiểu học chủ yếu bằng con đường trigiác gắn liền với các hành động và hoạt động Tức muốn tri giác một sự vậtnào đó thì trẻ phải hoạt động lên vật đó như quan sát, cầm nắm vật ấy Khảnăng phân tích tổng hợp của trẻ còn rất kém, các em thường căn cứ vào nhữngdấu hiệu bề ngoài, trực quan, chưa chú ý tới những dấu hiệu bản chất bên
Trang 33trong của sự vật Đặc biệt khi các em tri giác, tính cảm xúc thể hiện rất rõ,những dấu hiệu đặc điểm nào trực tiếp gây cho trẻ những cảm xúc thì trẻ sẽnhận biết được đối tượng đó trước tiên Vì thế sự vật nào rực rỡ, sinh động thìđược các em tri giác tốt hơn Từ đó cho thấy tư duy của trẻ ở lứa tuổi này là tưduy cụ thể, mang tính hình thức, tính trực quan cụ thể.
Dựa vào đặc điểm nhận thức của HS tiểu học có thế chia trẻ thành 2giai đoạn phát triển:
Giai đoạn 1: từ 6 tuổi đến 9 tuổi thường học lớp 1 đến lớp 3 Giai đoạnnày tri giác các em còn đượm màu sắc cảm xúc Trẻ thường bị thu hút bởi cácchi tiết ngẫu nhiên, khả năng tổng hợp quan sát kém Hoạt động phân tíchtổng hợp về hình thức cũng như nội dung còn mang nhiều nét tư duy của trẻmẫu giáo Trong hoạt động khái quát hóa, các em thường căn cứ vào các dấuhiệu bề ngoài cụ thể, trực quan chưa chú ý tới dấu hiệu chung, bản chất Các
em thường phán đoán một chiều, dựa vào dấu hiện duy nhất
Giai đoạn 2: từ 9 tuổi đến 11 tuổi, trẻ học lớp 4 đến lớp 5 Trẻ em ở giaiđoạn này đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, biết phân biệt các sắcthái của từng sự vật một cách chi tiết để đi đến so sánh tổng họp, có khả năngtrí giác sự vật như một chỉnh thể, có mục đích và phương hướng rõ ràng Khikhái quát hóa các em biết dựa vào dấu hiệu bản chất bên trong, những kháiniệm chung để tìm ra những dấu hiệu, quy luật Có thể các em nhìn thấy một
sự vật diễn biến theo nhiều hình thức, một hiện tượng có nhiều nguyên nhân.Các em có thể lập luận theo phán đoán của mình từ đó ngôn ngữ của HS tiểuhọc phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, vốn từ vựng, ngữ pháp đều được tăng lên.Cách diễn đạt của các em ngày càng phong phú
Tuy thế, trẻ 6 - 7 tuổi đã có khả năng vận dụng thành phần câu tronggiao tiếp Trẻ thường dùng các trạng ngữ chỉ địa điểm hay thời gian (trên,dưới, trong, ngoài, sáng, trưa, chiều, tối, ) nhưng ít dùng trạng ngữ chỉ mục
Trang 34đích (vì, bởi vì, ), chỉ điều kiện (nếu, với, ),…và các em ở lứa tuổi này cókhả năng liên kết được nhiều câu và đã biết sử dụng phép tỉnh lược khi nói và viết.
Động cơ học tập của HS lớp 4 -5 tương đối bền vững HS dần hìnhthành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Ở HS, chú ý có chủ địnhphát triển dần và chiếm ưu thế, có sự nổ lực về ý chí trong hoạt động học tập:học thuộc lòng một bài thơ, một công thức toán, hay một bài hát dài,…
Nếu như ở các lớp đầu cấp, tri giác của HS thường gắn liền với hoạtđộng trực quan thì giai đoạn lớp 4 - 5, tư duy của các em dần chuyển từ cụ thểsang tư duy khái quát, hình tượng HS lớp 4 - 5 bắt đầu biết khái quát hóa lýluận, tuy nhiên hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phầnđông HS
Điều kiện thuận lợi trong hoạt động giao tiếp là tâm lý thích tìm hiểu,khám phá những điều mới mẻ cũng như tâm lý thích nói ra những điều mìnhbiết, mình khám phá mà biểu hiện cụ thể là các em thích nghe, thích viết,thích đọc, thích nói Mặt khác HS ngày nay được giao lưu và tiếp xúc rộngqua những kênh thông tin khác nhau Do đó, cách diễn đạt ngày càng phongphú Trong quá trình giao tiếp, do đặc điểm tâm sinh lý nên các em rất hồnnhiên, các em suy nghĩ và nói là một, không chú ý đến thái độ người nghe,đến quy tắc giao tiếp Hoạt động giao tiếp của HS lớp 4 -5 thường diễn ragiữa 2 hay nhiều người với nhau, có người nói, người nghe và đổi vai chonhau Chủ yếu là hành vi ở lời trực tiếp, chưa biết sử dụng hành vi ở lời giántiếp theo quy tắc lịch sự Vì thế, khi yêu cầu, đề nghị, các em dùng câu thiếulịch sự, thiếu tế nhị
VD: Cho tớ mượn quyển sách! Đứng tránh ra!
Nhìn chung, ngôn ngữ nói, viết của HS lớp 4 -5 đã phát triển nhưngchưa đạt đến mức thuần thục, còn nhiều hạn chế từ giao tiếp trong gia đình
mở rộng ra đến giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội Điều này đòi hỏi
Trang 35GV phải hướng dẫn HS cách sử dụng ngôn ngữ và tổ chức dạy học câu hệthống bài tập, hoạt động giao tiếp sao cho hiệu quả GV cần khéo léo hướngdẫn các bài tập trong chương trình đưa HS vào các tình huống giao tiếp trongdạy tiếng Việt để qua đó HS rèn các kĩ năng giao tiếp, bày tỏ quan điểm củamình một cách tự tin, mạch lạc, rõ ràng.
Việc hiểu các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và ngôn ngữ của HS lớp 4 là cơ
sở cho việc dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Nếu chúng ta tác độngvào đối tượng mà không hiểu tâm lí của chúng thì cũng giống như ta đập búatrên một thanh sắt nguội Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần khaithác triệt để các yếu tố thuận lợi và khắc phục những yếu tố bất lợi của cácđặc điểm này để có thể phát huy mọi khả năng tiềm ẩn trong tâm hồn các emvào kiểu CCTMĐN
1.3.2 Đặc điểm tâm, sinh lý của HS lớp 4 với việc tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếp
* Ngôn ngữ và sự phát triển của HS lớp 4
Các nhà tâm lí học đã khẳng định trẻ em trước tuổi đến trường đã cómột vốn tiếng mẹ đẻ nhất định Lên 6 tuổi vào học lớp 1, việc chuyển tiếp từhoạt động vui chơi ở trường mẫu giáo sang hoạt động học tập ở môi trườngtiểu học là những thay đổi lớn đối với các em Đến lớp 4 thì ngôn ngữ viết đãthành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Trong
sự phát triển đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhậnthức cảm tính và lí tính của trẻ em, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tưduy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thôngqua ngôn ngữ nói năng, giao tiếp và viết của trẻ
* Sự chú ý và sự phát triển nhận thức của HS lớp 4
Như chúng ta đã biết ở các lớp đầu cấp tiểu học, chú ý có chủ định củatrẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn
Trang 36này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Sự tập trungchú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ
bị phân tán trong quá trình học tập
Đến giai đoạn lớp 4, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở các em đã có
sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, mộtcông thức toán hay một bài hát dài, Sự chú ý của HS đã bắt đầu xuất hiệngiới hạn của yếu tố thời gian, HS đã định lượng được khoảng thời gian chophép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảngthời gian quy định
* Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của HS lớp 4
Giai đoạn lớp 4 - 5, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăngcường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghinhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tậptrung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tìnhcảm hay hứng thú của các em
* Ý chí và sự phát triển nhận thức của HS lớp 4
Ở giai đoạn đầu tiểu học, hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiềuvào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được côgiáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đốivới việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí đểthực hiện đến cùng mục đích đã đề ra
Giai đoạn học lớp 4, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớnthành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bềnvững, chưa thể trở thành nét tính cách
Tóm lại, với đối tượng là HS lớp 4, việc tổ chức dạy học câu những bàitập về câu theo giao tiếp, ngoài những bài tập nhận diện, làm theo mẫu thì
Trang 37những bài tập mang tính sáng tạo là hoàn toàn phù hợp và là điều kiện để pháttriển ngôn ngữ cho HS Cần phải đưa ra số lượng bài tập về câu, thời gian tổchức dạy học câu bài tập sao cho phù hợp là hết sức quan trọng, ảnh hưởngđến kết quả giáo dục Khi tổ chức dạy học câu các bài tập về câu, các nhà giáodục phải hướng dẫn HS các kiến thức cần ghi nhớ, phải hướng dẫn sao chođơn giản, HS cần ghi nhớ những kiến thức cần thiết Cần chú ý đến tính cá thểkhi dạy học và nhất là phải tạo hứng thú học tập cho HS trong giờ học.
1.4 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi tập trung nghiên cứu lí luận của việc dạy câutiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Chúng tôi đã phân tích và hệ thống hóacác quan điểm hiện nay về dạy câu tiếng Việt; các cơ sở của quan điểm giaotiếp trong dạy học tiếng Việt; đặc điểm tâm lí của HS tiểu học nói chung và
HS lớp 4 nói riêng trong việc dạy học câu tiếng Việt và dạy học câu trongphân môn LT&C
Quan điểm dạy học tiếng Việt ở tiểu học là dạy tiếng trong giao tiếp và
để giao tiếp Dạy giao tiếp cho HS là dạy HS sử dụng đơn vị giao tiếp cơ bản
là câu Những cơ sở lý luận về quan điểm giao tiếp liên quan đến nội dung,phương pháp, hình thức dạy học, là cơ sở phương pháp luận để thiết kế nộidung và phương pháp dạy học về câu theo quan điểm giao tiếp góp phần pháthuy tính tích cực học tập của HS
Những vấn đề lý thuyết được trình bày trong chương 1 là cơ sở cần thiết
để triển khai nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các biện pháp, hình thức tổ chứcdạy học câu cho HS lớp 4 ở các chương tiếp theo
Trang 38CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Thực tiễn tổ chức dạy học câu cho HS lớp 4 trong phân môn LT&C 2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng
Để nâng cao hiệu quả việc tổ chức dạy học câu theo quan điểm giao tiếpcho HS tiểu học, chúng tôi khảo sát thực trạng dạy và học về câu ở lớp 4.Qua khảo sát, chúng tôi rút ra được những vấn đề liên quan đến thực tiễn dạyhọc thực hành câu ở lớp 4 hiện nay, đặc biệt là những thuận lợi và khó khăncủa GV và HS lớp 4 trong ứng dụng lý thuyết về câu vào thực tế giao tiếp.Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất các biện pháp cải tiến nội dung dạy học câu,
tổ chức dạy học câu, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy họccâu theo quan điểm giao tiếp
2.1.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng
- Phân tích mục tiêu, nội dung dạy học về câu trong phân môn LT&C ởlớp 4
- Tìm hiểu đặc điểm hoạt động giao tiếp của HS lớp 4 và thực trạng dạy
và học câu ở lớp 4 hiện nay
2.1.3 Phương pháp sử dụng để nghiên cứu thực trạng
- Trao đổi với GV dạy lớp 4 ở các trường về nội dung, phương phápdạy học câu, thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy học
- Điều tra qua thực hiện phiếu kháo sát GV và HS được chọn ngẫunhiên ở các trường tiểu học
- Khảo sát vở luyện tập của HS thực hành về câu để tìm hiểu mức độvận dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn
2.l.4 Thời gian, địa bàn nghiên cứu
- Thời gian khảo sát: tháng 4/2012
Trang 39- Địa bàn khảo sát: Tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học câu trênquy mô nhỏ với đối tượng khảo sát là 45 GV đang trực tiếp giảng dạy và 525
HS ở khối lớp 4 trên địa bàn các quận Bình Thạnh, Quận 4, quận Gò Vấp ởthành phố Hồ chí Minh Xem vở bài tập của 160 HS lớp 4 của 2 trường Tiểuhọc Bình Quới Tây và Tiểu học Chu Văn An quận Bình Thạnh thành phố HồChí Minh
2.1.5 Kết quả nghiên cứu thực trạng dạy học câu
2.1.5.1 Nội dung dạy học câu trong chương trình tiếng Việt lớp 4
Về nội dung kiến thức ngữ pháp và logic trình bày, ở bài hình thành
khái niệm ngữ pháp, SGK trình bày theo hướng quy nạp có phối hợp với
hướng diễn dịch ở mục Luyện tập Đó là đưa ngữ liệu có chứa hiện tượng ngữ
pháp cần dạy –> yêu cầu HS tìm hiện tượng ngữ pháp cần cung cấp của bài học (mục Nhận xét) –> nêu định nghĩa khái niệm mục (Ghi nhớ)
–> đưa các bài tập có chứa khái niệm ngữ pháp vừa được trình bài để HS
luyện tập (mục “Luyện tập”) Đồng thời, SGK cũng thể hiện ý đồ của các tác
giả: trình bày đơn vị kiến thức ngữ pháp theo hướng kết hợp chức năng nghĩa - cấu trúc, không dạy cấu trúc tách rời nghĩa và chức năng và cũngkhông dạy cấu trúc tách rời
-Về nội dung kiến thức ngữ pháp và yêu cầu cần đạt, qua chương trình,SGK, SGV Tiếng Việt 4, có thể thấy các nội dung kiến thức ngữ pháp được
sắp xếp và gắn liền với các yêu cầu HS "nắm được các kiểu câu phục vụ
những mục đích nói chuyên biệt: CK, CH, CC, CKH".
Các nội dung và yêu cầu cần đạt về kiến thức như vừa trình bày đượcthể hiện bằng nhiều hình thức bài tập trắc nghiệm, tự luận với nhiều kiểu dạngbài tập tìm từ, tìm bộ phận câu, viết câu, biến đổi câu, , dùng bảng biểu đểphân loai, hệ thống hoá ; bằng nhiều hình thức tổ chức hoat động (cá nhânnhóm đôi, nhóm ba, nhóm 4, ); với nhiều phương tiện hỗ trợ kèm theo chữ
Trang 40(âm thanh hình và bảng biểu, ); được sắp xếp theo các mức độ nhận biết –> hiểu –> vận dụng Sự phối hợp nhiều hình thức, nhiều kiểu dạng bài tập,
nhiều phương tiện hỗ trợ và việc sắp xếp các bài tập theo thang nhận thứckhông chỉ tránh nhàm chán mà quan trọng hơn là tác dụng và hiệu quả của nóđối với việc rèn luyện các thao tác tư duy, củng cố và khắc sâu kiến thức, vậndụng kiến thức cho HS Mặt khác, hệ thống bài tập cũng sắp xếp theo mức độnhận thức của SGK cũng là cơ sở để GV kiểm tra đánh giá kết qủa học tậpcủa HS, xem xét phương pháp, biện pháp hình thức tổ chức dạy học của mình
để điều chỉnh và bổ sung nếu cần
2.1.5.2 Nội dung dạy học câu trong chương trình, SGK tiếng Việt lớp 4
Chương trình nhấn mạnh tinh thần thực hành giao tiếp, chú trọng dạytiếng Việt qua các tình huống giao tiếp HS được rèn luyện các kĩ năng tiếngViệt trong các hoàn cảnh giao tiếp chính thức và không chính thức, phù hợplứa tuổi
Chương trình dùng hình thức giao tiếp bằng lời (nghe, nói) làm cơ sở đểdạy hình thức giao tiếp bằng chữ (đọc, viết) Sau đó dùng hình thức giao tiếpbằng chữ làm cơ sở để hoàn thiện hình thức giao tiếp bằng lời
Vấn đề dạy câu theo mục đích nói đặt trong hoạt động giao tiếp vô cùngphong phú Thời lượng dành cho dạy các kiểu CCTMĐN là 21 tiết (13 tiết
CK, 4 tiết CH, 3 tiết CKH, 1 tiết CC)