Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục vấn đề nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986- 2013, từ đó đưa những gợi ý chính sách nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯ THỊ THANH SANG
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 2013
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp H ồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯ THỊ THANH SANG
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 2013
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tp H ồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2013” là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Lương Các nội dung và kết quả trong nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố Số liệu trong mô hình phân tích được tác giả thu thập, xử lý và có ghi rõ nguồn gốc Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nội dung tham khảo từ các nghiên cứu trước đây có ghi rõ trong danh mục tài liệu tham khảo và phần trích dẫn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Học viên thực hiện
Dư Thị Thanh Sang
Trang 4
MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu, hình
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế và lạm phát 5
2.1.1 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 5
2.1.2 Lý thuyết về lạm phát 9
2.1.3 Lý thuyết về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát 12
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế trước đây 16
2.2.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 16
2.2.2 Nghiên cứu về ngưỡng lạm phát 20
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 27
3.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu 27
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 27
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 37
Trang 5CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thực trạng về tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1986-2013 39
4.1.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế 39
4.1.2 Thực trạng lạm phát 41
4.1.3 Một số chính sách thực hiện liên quan đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1986-2013 44
4.2 Kết quả nghiên cứu 48
4.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị các biến sử dụng trong mô hình 48
4.2.2 Ước lượng mô hình tăng trưởng kinh tế 50
4.2.3 Phân tích ngưỡng lạm phát 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Một số gợi ý chính sách 64
5.2.1 Gợi ý chính sách nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định tăng trưởng 64
5.2.2 Gợi ý chính sách tăng trưởng kinh tế 65
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 66 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ADF (Augmented Dickey và Fuller): Kiểm định nghiệm đơn vị ADF
2 BG: Kiểm định Breusch-Godfrey
3 CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá tiêu dùng
4 DW (Durbin Watson): Kiểm định Durbin Watson
5 GDP (Gross Domestic Products): Tổng sản phẩm trong nước
6 GSO: Số liệu từ tổng cục thống kê Việt Nam
7 NHTW: Ngân hàng trung ương
8 OLS (Ordinary least square): Phương pháp bình phương bé nhất
9 US (USD): Đô la Mỹ
10 VNĐ: Việt Nam đồng
11 WB: Số liệu từ WorldBank
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa lạm phát
và tăng trưởng kinh tế 23 Bảng 3.1: Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu 30 Bảng 3.2: Quy tắc ra quyết định sử dụng trong kiểm định thống kê d 35
Bảng 4.1: Tổng hợp kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp kiểm
định ADF 49
Bảng 4.2: Các mô hình tăng trưởng kinh tế chưa có yếu tố đầu tư, chi tiêu
chính phủ và tỷ giá thương mại 52
Bảng 4.3: Các mô hình tăng trưởng có yếu tố đầu tư, chi tiêu chính phủ và tỷ
giá thương mại 55
Bảng 4.4: Kết quả mô hình tăng trưởng kinh tế GDP bình quân đầu người theo
phương pháp OLS 57
Bảng 4.5: Hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng theo giai đoạn 58
Bảng 4.6: Hệ số tương quan tích luỹ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 60
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng (tính theo giá cố
định năm 2005 -USD) 39 Hình 4.2: GDP bình quân đầu người một số nước khu vực (USD) 40 Hình 4.3: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng - CPI ở Việt Nam (1986-2013) 41 Hình 4.4: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước đang phát triển châu Á,
các nước mới nổi và đang phát triển và Việt Nam giai đoạn 2011 42 Hình 4.5: Mức tăng cung tiền của Việt Nam so với các nước 43 Hình 4.6: Lạm phát và tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam giai
2001-đoạn 1986-2013 45
Trang 9TÓM T ẮT
Luận văn nghiên cứu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2013 Để thực hiện bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi qui bình phương bé nhất (OLS- Ordinary least square) để ước lượng mô hình tăng trưởng kinh tế với các biến giải thích theo nghiên cứu của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) trên tạp chí Journal of Policy Modeling Tác giả nghiên cứu mức ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
bằng hệ số tương quan tích luỹ trong chuỗi thời gian để xác định ngưỡng lạm phát
của Việt Nam theo phương pháp nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010) trên tạp chí Ngân hàng số 13 tháng 7/2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát là biến giải thích có tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1986 – 2013 Ngưỡng lạm phát được xác định ở Việt Nam là 4%, Chính phủ
có thể thực hiện các biện pháp kiểm soát lạm phát sao cho lạm phát ở mức 4%/năm thì lạm phát tác động làm cho tăng trưởng kinh tế ở mức tốt nhất
T ừ khoá: Lạm phát, mô hình tăng trưởng kinh tế, ngưỡng lạm phát, tăng
trưởng GDP bình quân đầu người, OLS, DW statistics, LM serial correlation, ARCH test CHSQ
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
lạm phát nào đó Các nước đang phát triển thường dễ bị tổn thương với các cú sốc ở nguồn cung gây ra biến động lớn đối với lạm phát làm ảnh hưởng đến tiêu dùng,
hoạt động đầu tư và sản xuất
Theo một nghiên cứu của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) trên
tạp chí Journal of Policy Modeling, bằng phân tích thực nghiệm từ Ấn Độ trong đoạn năm 1971 – 1998 đã nghiên cứu mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế trong mô hình hồi qui đa biến gồm những yếu tố ảnh hưởng khác bên cạnh yếu tố
lạm phát để kiểm tra sự vững mạnh tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
và nghiên cứu ảnh hưởng các mức của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế ở Ấn
Độ cho thấy nghiên cứu của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) đã không
tìm được mức ngưỡng lạm phát nào ở Ấn Độ để phát triển kinh tế bền vững vì lạm phát có tác động tiêu cực ở tất cả các mức tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ Một nghiên cứu khác đối với trường hợp của Việt Nam, nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010) với chuỗi số liệu lạm phát và tăng tưởng kinh tế trong giai đoạn năm 1987-2010 ở Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hệ số tương quan của lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã xác định ngưỡng lạm phát ở mức 5-6%, ở mức này lạm phát không làm gây hại đến nền kinh tế trong nước
Trong bối cảnh Việt Nam là một trong nhóm nước đang phát triển trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, trãi qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đã làm gia tăng lạm phát và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Mục tiêu hiện nay của
nền kinh tế Việt Nam là làm sao để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
Trang 11phát Phải chăng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có một sự đánh đổi và lạm phát có tác động ảnh hưởng như thế nào đối với sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay? Lạm phát đến đâu sẽ thúc đẩy sự phát triển? Với mong muốn nghiên
cứu vấn đề này, tác giả chọn đề tài: “NGHIÊN C ỨU TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 2013”
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Tiếp tục vấn đề nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-
2013, từ đó đưa những gợi ý chính sách nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu để trả lời hai câu hỏi:
• Nghiên cứu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế của Việt nam giai đoạn 1986-2013 ở mức độ nào?
• Ngưỡng lạm phát của Việt Nam có tồn tại hay không, nếu có là bao nhiêu?
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Một là, tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) đại diện cho yếu tố lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP/người – Per Capita Gross Domestic Products ) Hai là, ngưỡng lạm phát của
Việt Nam
1.3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dựa trên số liệu thống kê từ năm 1986 – 2013
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế, tác
giả sử dụng phương pháp hồi qui bình phương bé nhất (OLS - Ordinary least square) để ước lượng các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, qua đó so sánh
mức độ tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở mỗi mô hình ước lượng Sử
Trang 12dụng các kiểm định Durbin Watson, kiểm định Breusch-Godfrey (BG) để kiểm tra khuyết tật về tự tương quan của mô hình, kiểm định ARCH cho hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định nghiệm đơn vị phần dư của mô hình theo phương pháp kiểm định Augmented Dickey – Fuller (ADF) nhằm giải thích về sự phù hợp
và ổn định của mô hình Tiếp theo, phân tích ngưỡng lạm phát, tác giả phân tích hệ
số tương quan tích luỹ theo chuỗi thời gian để xác định ngưỡng lạm phát theo phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010)
Đầu tiên tác giả đưa biến và lũy kế biến vào từng mô hình tăng trưởng kinh tế
từ đó thấy được yếu tố lạm phát có tác động ảnh hưởng như thế nào qua các mô hình hồi qui và xét mức độ giải thích của mô hình thông qua R- bar-square và một
số kiểm định sự phù hợp của mô hình Sau khi xác định mô hình tăng trưởng kinh
tế, tác giả phân tích ngưỡng lạm phát bằng cách phân tích hệ số tương quan tích luỹ chuỗi thời gian theo phương pháp nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010) Theo tác giả phương pháp tính ngưỡng lạm phát này được cho là phù hợp ở
Việt Nam hơn phương pháp tính ngưỡng lạm phát của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) vì diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu có sự chênh lệch lớn do những cú sốc về sự thay đổi chỉ số giá tiêu dùng trong nền kinh tế nên tác giả không đưa ra được mức độ lạm phát tăng thêm phù hợp trong giai đoạn nghiên cứu để thực hiện ước lượng mô hình hồi qui với biến giả như phương pháp
của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003)
1.5 B ố cục luận văn
Luận văn nghiên cứu được trình bày theo cấu trúc sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Lý thuy ết tăng trưởng kinh tế và lạm phát
2.1.1 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
là tăng trưởng kinh tế cao, tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống, khả năng phát triển ở nước ngoài, sự ổn định chi phí và giá cả Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia, hơn nữa tăng trưởng kinh tế còn tạo tính năng động về mặt kinh tế và xã hội
Yếu tố quyết định quan trọng đến tăng trưởng kinh tế là năng suất Năng lực sản xuất của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào số lượng, chất lượng các nguồn lực
và trình độ công nghệ (gồm nguồn nhân lực, tích lũy tư bản, tài nguyên thiên nhiên
và tri thức công nghệ) sử dụng trong quá trình sản xuất, vì vậy tăng trưởng kinh tế luôn liên quan đến quá trình mở rộng và hoàn thiện các yếu tố tạo nên năng lực sản xuất Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là một khái niệm định lượng, đã có nhiều quan điểm khác nhau về tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là một phần của lý thuyết kinh tế để giải thích tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế theo thời gian, được đo bằng tỷ lệ phần trăm tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Products, GNP) (Johnson, 2000)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng thu nhập kiếm được trong nước, gồm cả thu nhập mà người nước ngoài kiếm được trong nước nhưng không bao gồm thu nhập mà người dân trong nước kiếm được ở nước ngoài
Godwin (2007) khái niệm tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm trong nước (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định Trong đó, tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc dân được điều chỉnh theo lạm phát
Trang 14Samuelson và cộng sự (1997) phát biểu rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng GDP tiền năng hoặc sản lượng của một quốc gia Nghĩa là tăng trưởng kinh tế chỉ xảy ra khi ranh giới khả năng sản xuất của một quốc gia vượt ra khỏi lãnh thổ của một nước
Như vậy, tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng Đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, nhưng nó giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của xã hội
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm hoặc tốc độ tăng trưởng trong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần
so sánh Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng hiệu số giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %, có công thức:
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối:
ΔY = Y1 - Y0Tốc độ tăng trưởng tương đối:
Trong đó: Y0: Tổng sản lượng thời kỳ nghiên cứu
Y1: Tổng sản lượng thời kỳ so sánh Tuy nhiên, thước đo tăng trưởng kinh tế theo tăng trưởng GDP có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng rất nhanh trong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm Một định nghĩa khác thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế tính theo mức sản lượng bình quân đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tạo
ra trong năm chia cho dân số Do đó, chúng ta đưa ra chỉ tiêu ý nghĩa hơn về tăng trưởng kinh tế tính bằng phần trăm thay đổi của GDP bình quân đầu người của thời
kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước – thông thường tính cho một năm
Các mô hình tăng trưởng kinh tế:
Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt quan điểm của học giả về tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối quan hệ giữa chúng Sau đây là
Trang 15một số mô hình tăng trưởng kinh tế phổ biến được giới thiệu trong giáo trình “Mô hình tăng trưởng kinh tế” của Trần Thọ Đạt (2010):
• Lý thuyết tăng trưởng cổ điển của Smith và Malthus:
Không giống như các lý thuyết gia về tăng trưởng ngày nay, các nhà kinh tế cổ điển như Smith và Malthus nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của đất đai trong tăng trưởng kinh tế Theo Adam Smith, đất đai là sẵn có và được chia tự do cho tất cả mọi người, khi dân số tăng lên chỉ đơn giản là mở rộng thêm diện tích nhiều hơn Tuy nhiên, do không có tư bản nên sản lượng chỉ tăng gấp đôi khi dân số tăng lên gấp đôi, tiền lương thực tế của người lao động là không đổi theo thời gian Nhưng
thời kỳ như vậy không kéo dài mãi, khi dân số tiếp tục tăng, tất cả đất đai đều có người chiếm giữ Đất đai trở nên khan hiếm và địa tô ra đời để phân phối đất đai cho những cách sử dụng khác nhau, tỷ số lao động và đất đai ngày càng tăng dẫn đến sản phẩm biên của lao động giảm xuống và do đó tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống Malthus cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân còn sản lượng tăng theo cấp số cộng do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên Nếu muốn duy trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số Vì nếu dân số tiếp tục tăng sẽ đẩy nền kinh tế đến một điểm mà ở đó người lao động chỉ còn sống ở mức tối thiểu Như vậy, các nhà kinh tế cổ điển như Smith và Malthus nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của nguồn lực tự nhiên (đất đai) trong tăng trưởng kinh tế
• Mô hình tăng trưởng theo trường phái Keynes:
Dựa vào tư tưởng của Keynes về vai trò của đầu tư trong tăng trưởng kinh tế vào những năm 1940, với sự nghiên cứu độc lập, nhà kinh tế học người Anh là Harrod và nhà kinh tế học người Mỹ là Domar đã độc lập công bố mô hình tăng trưởng kinh tế, trong đó họ đã lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu
về vốn, gọi chung là mô hình “Harrod-Domar” Theo mô hình này, để tăng trưởng nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập của mình Tiết kiệm và đầu
tư càng nhiều thì tăng trưởng càng nhanh Tuy nhiên, đây cũng là nhược điểm của
mô hình bởi đơn giản là mô hình coi tốc độ tăng trưởng chỉ được xác định bởi tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) Mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes chỉ ra được nguồn gốc của tăng trưởng là tích lũy tư bản
Trang 16• Mô hình tăng trưởng tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế:
Nhà kinh tế học cổ điển Mathus đã không nhận ra rằng đổi mới công nghệ và đầu tư vào tư bản có thể khắc phục được quy luật lợi tức giảm dần Đất đai không trở thành nhân tố gây hạn chế trong sản xuất, thay vào đó, cách mạng công nghiệp
đã tạo ra bước tiến nhảy vọt làm thế giới thay đổi nhanh chóng Nhà kinh tế học Robert Solow đã tiên phong trong cách tiếp cận này, mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là công cụ cơ bản để tìm hiểu quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển ngày nay Mô hình này có tính linh hoạt hơn so với mô hình Harrod –Domar bằng cách đưa vào đó một hàm sản xuất thuần ổn định và có hiệu quả không đổi theo quy mô Mô hình có một đầu ra đồng nhất được sản xuất bằng hai loại đầu vào là tư bản và lao động Hàm sản xuất tân cổ điển có dạng:
Y = f (K, L) Với giả định chỉ có một loại hàng hóa tư bản duy nhất (K) và (L) là số công nhân thì (K/L) là lượng tư bản trên một công nhân, hay tỷ số tư bản – lao động Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần thiết phải tăng cường tư bản theo chiều sâu, nghĩa
là tăng lượng tư bản tính trên đầu người theo thời gian từ đó tiền lương trả cho công nhân sẽ có hướng tăng lên khi có sự thay đổi công nghệ
Tóm lại, một số lý thuyết tăng trưởng kinh tế cho thấy sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng, đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội Và như vậy, tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống được cải thiện, củng cố an ninh quốc phòng, chế độ chính trị, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước Từ những
khái niệm về tăng trưởng kinh tế cho thấy sự gia tăng của tổng sản lượng trong nước (GDP) bình quân đầu người là yếu tố đại diện cho tăng trưởng kinh tế vì đây
là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh sự thịnh vượng của nền kinh tế và tiến bộ xã hội
Trang 172.1.2 Lý thuyết về lạm phát
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rộng lớn đến các mặt của đời sống kinh tế hiện đại Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch
vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Một nền kinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng tiền nội tệ Trong bối cảnh lạm phát, thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng ít hàng hóa
và dịch vụ hơn, hay chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định Một số khái niệm về lạm phát được đưa ra: Quan niệm của K Marx (1993) cho rằng: Lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá lố so với lượng hàng hóa lưu thông tại thị trường
Lênin cũng đưa ra ý niệm tương tự: Lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy trong các kênh lưu thông
Đến thập niên 1960, nhà kinh tế học Milton Friedman theo trường phái trọng tiền hiện đại khẳng định lại: Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ, Milton Friedman (1970) Ông đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung
tiền và lạm phát Có thể nói, lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát
N Gregory Mankiw (1992) cho rằng lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian Định nghĩa này hàm ý lạm phát không phải là hiện tượng tăng giá của một vài hàng hoá, hay một nhóm hàng hoá nào đó Nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên một lần duy nhất mà lạm phát là hiện tượng giá cả phải tăng lên một cách “liên tục” Nếu sự tăng lên một lần của giá cả thì hiện tượng này chỉ dừng lại như là một cú sốc về giá chứ chưa phải lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá tổng quát đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hay chỉ số điểu chỉnh GDP (Phạm Chung, 2002)
Trang 18Như vậy, có thể coi lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hoá tăng lên đồng loạt, nó có đặc trưng: Một là, hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá, thứ hai là mức giá chung tăng lên và tăng một cách liên tục
Để xem xét lạm phát người ta thường tập trung nghiên cứu biểu hiện của lạm phát, cụ thể là nghiên cứu lạm phát thông qua sự gia tăng của mức giá chung với tốc
độ cao và kéo dài Để đo lường mức giá chung trong nền kinh tế, người ta thường dùng các phép đo phổ biến như: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá bán buôn (WPI - Wholesale Price Index), chỉ số giá sản xuất (PPI - Producer Price Index), …
Ở Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới, chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng để tính mức độ lạm phát trong nền kinh tế Bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) làm đại diện cho yếu tố lạm phát
Về cách tính, lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai đoạn, có thể là từng tháng, từng quý hoặc từng năm Các nhà thống kê sử dụng hai chỉ số giá để đo lường là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số GDP điều chỉnh (GDP deflator) Cả hai chỉ số này đều tính toán dựa trên mức giá trung bình có trọng số của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế Sự khác biệt về cách tính của hai chỉ số này là quan điểm của rổ hàng hoá làm trọng số sử dụng để tính toán
CPI là tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với chính giá của rổ hàng hoá đó ở một năm nào đó Trong thống kê người ta gọi đó là năm cơ
sở hay năm gốc (based year) Tức là, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là không thay đổi trong nhiều năm Chỉ số giá này phụ thuộc hoàn toàn vào năm được chọn là năm gốc và sự lựa chọn của rổ hàng hoá tiêu dùng Như vậy, chỉ số CPI có một số nhược điềm Thứ nhất, mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn ở một
số hàng hoá tiêu dùng được chọn trong rổ hàng hoá, do vậy nó không thể hiện được biến động của những loại hàng hoá khác nhau Thứ hai, rổ hàng hoá này thường được xây dựng dựa trên tỷ phần chi tiêu đối với hàng hoá thiết yếu của dân thành thị
do đó nó không thể hiện đầy đủ và không phản ánh đúng cơ cấu chi tiêu khác nhau
Trang 19trong toàn xã hội, đặc biệt là ở những nước mà có sự phân hoá giàu nghèo giữa dân nông thôn và dân thành thị lớn Thứ ba, do tỷ trọng hàng hoá là cố định ở một năm gốc nên sẽ không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong chi tiêu của người tiêu dùng cho các hàng hoá khác nhau theo thời gian Cách tính như sau:
Lạm phát được tính theo chỉ số giá GDP điều chỉnh thì ngược lại với chỉ số giá tiêu dùng, là tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm gốc Như vậy, có thể thấy rằng hàng hoá được chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai đoạn tính toán Về cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hoá trong các thời điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của người dân thường mang tính ổn định trong ngắn hạn
Do cách tính toán của 2 chỉ số giá trên khác nhau nên về mặt lý thuyết, chỉ số giá tiêu dùng thường phóng đại mức giá sinh hoạt Còn chỉ số giá GDP điều chỉnh đánh giá thấp mức giá này (Phạm Chung, 2002)
Tóm lại, có nhiều cách để đo lường lạm phát và tuỳ thuộc vào chỉ số giá chung nào của nền kinh tế được áp dụng Dù bằng phương pháp nào đi nữa thì cách do lường của những chỉ số giá này đều có những hạn chế về mặt phương pháp luận lẫn thực hành Để hạn chế bớt những sai lầm, hạn chế trên, việc phân tích lạm phát phải dựa vào nhiều chỉ số đối chứng khác nhau và phải trong một khoản thời gian tương đối dài để tránh những nhận định mang tính thời điểm
Trang 20Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát thì lạm phát có 3 loại:
• Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%/năm Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống người lao động ổn định, tạo tâm lý an tâm cho người dân Các nước có nền kinh tế phát triển thường duy trì mức lạm phát vừa phải nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
• Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số/năm Ở mức lạm phát này làm cho giá cả tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn trong nền kinh tế, các hợp đồng lúc này được chỉ số hoá Người dân lúc này tích trữ hàng hoá, của cải, tránh giữ tiền, sản xuất bị đình trệ, nền tài chính
bị ảnh hưởng nặng nề Lạm phát phi mã khi đã xảy ra và tồn tại lâu dài sẽ gây biến dạng nền kinh tế nghiêm trọng
• Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát tăng đột biến trên 1000%, lạm phát này rất ít khi xảy ra, thường xảy ra khi thâm hụt ngân sách cao buộc chính phủ phát hành tiền lớn để bù đắp Điều này có thể phá huỷ toàn bộ hoạt động của nền kinh tế
2.1.3 Lý thuyết về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Có một lý thuyết có thể coi là tư tưởng trung tâm trong kinh tế học là lý thuyết
đánh đổi Lý thuyết về sự đánh đổi (Trade-off) là một khái niệm dùng để nói lên sự
lựa chọn cho một quyết định nào đó; đó là việc các doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ, tổ chức xã hội hoặc bất cứ một cá nhân nào trong xã hội cân nhắc việc bỏ ra một nguồn lực nào đó (tiền, chi phí, tài sản, thời gian hay bất cứ thứ gì mà mình có)
để thu được một nguồn lực khác mà mình mong muốn Nói cách khác, quá trình ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi một mục tiêu nào đó để đạt được mục tiêu khác
Sự lựa chọn quyết định đó được đưa ra dựa trên sự nhận thức rõ lợi ích và cái mà phải mất giữa các phương án lựa chọn
Nghĩa là, nếu sự đánh đổi liên quan đến các nổ lực để cải thiện mức sống, mức sống tăng lên theo thời gian, mức sống của chúng ta hôm nay cao hơn các thế hệ trước Mức sống của chúng ta và tốc độ cải thiện mức sống phụ thuộc vào nhiều sự lựa chọn của mỗi cá nhân, các doanh nghiệp, và chính phủ Và các lựa chọn này đều liên quan đến sự đánh đổi, giả sử xã hội chúng ta hy sinh tiêu dùng hiện tại để có được tăng trưởng kinh tế và mức sống cao hơn trong tương lai hay mức sản xuất
Trang 21hiện tại thấp hơn, việc đổi tiêu dùng hiện tại để lấy mức sản xuất lớn hơn trong tương lai
Ở bài nghiên cứu này liên quan đến lý thuyết đánh đổi là sự đánh đổi giữa sản lượng và lạm phát Sản lượng giúp gia tăng tổng sản lượng quốc gia hay tăng trưởng kinh tế Khi ngân hàng trung ương tăng cung ứng tiền tệ và giảm lãi suất, thì tổng cầu, sản lượng và việc làm sẽ tăng Tổng cầu lớn hơn sẽ đẩy lạm phát gia tăng, chi phí sinh hoạt sẽ tăng nhanh hơn Tuy nhiên, với các nguồn lực nhất định, thì cuối cùng sản lượng sẽ trở lại mức ban đầu Như vậy, lạm phát cao hơn sẽ cùng với tăng trưởng tạm thời cao hơn Ngược lại, các chính sách cắt giảm tổng cầu sẽ làm giảm áp lực lạm phát, nhưng đồng thời cũng gây ra suy thoái Khi lạm phát quá cao, các nhà hoạch định chính sách sẽ muốn cắt giảm lạm phát nhưng lại không muốn giảm sản lượng Và như vậy, họ phải đối mặt với sự đánh đổi giữa sản lượng và lạm phát bởi các hành động nhằm làm giảm lạm phát cũng làm giảm sản lượng và các hành động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sẽ phải chấp nhận mức lạm phát cao hơn
Có nhiều quan điểm lý thuyết của các trường phái khác nhau về lạm phát và tăng trưởng kinh tế, mỗi trường phái có một quan điểm riêng, mô hình riêng để
chứng minh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, điểm chung trong quan điểm của các trường phái là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là một chiều mà có sự tác động qua lại Tác động này được truyền dẫn chủ yếu thông qua kênh tiết kiệm và đầu tư Trong ngắn hạn, khi
lạm phát còn ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng thường có mối quan hệ cùng chiều Nghĩa là, nếu muốn tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao hơn thì phải chấp nhận tăng lạm phát, thể hiện thông qua việc gia tăng đầu tư Tuy nhiên, việc gia tăng đầu
tư liên tục (tức lạm phát vượt quá một ngưỡng cho phép) sẽ vượt quá khả năng hấp
thụ của nền kinh tế cũng như khả năng phân bổ nguồn vốn của hệ thống tín dụng Điều này sẽ lại gây tác dụng ngược lại làm suy giảm hiệu quả đầu tư, và từ đó tác động tiêu cực lên tăng trưởng Do vậy, để đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn và
kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, điều cần thiết trước hết chính là phải nâng cao
chất lượng hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư
Trang 22Các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển thông qua lý thuyết về phía cung (supply - side) nhấn mạnh rằng cần thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư nếu nền kinh tế hướng tới tăng trưởng; Còn Keynes đã đưa ra một mô hình toàn diện hơn - mô hình đường tổng cung và đường tổng cầu (AS - AD) để kết nối lạm phát và tăng trưởng kinh tế Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát
và tăng trưởng Nghĩa là, muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ
lệ lạm phát nhất định Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi (đường cong Philliips nổi tiếng về sự đánh đổi giữa mục tiêu lạm phát và thất nghiệp thể
hiện rõ tính quy luật này)
Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng tiền đại diện là Milton Fredman cho rằng:
lạm phát là sản phẩm của việc tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức lớn hơn
tốc độ tăng trưởng kinh tế; nghĩa là trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền
chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng; nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra; nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Irving Fisher (lý thuyết số lượng tiền tệ - Quantily theory of Money):
Lý thuyết tân cổ điển R Mundell (1963) và J Tobin (1965) cho rằng: Lạm
phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển thành các tài sản sinh lợi, theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tỷ lệ thuận
Bổ sung thêm cho mô hình của lý thuyết tân cổ điển, nhà kinh tế học Sidrauski có
Trang 23quan điểm khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng
lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Mô hình của Stockman thì cho
rằng lạm phát tăng cao sẽ làm cho tăng trưởng giảm
Quan điểm lý thuyết của Keynes mới: Bắt nguồn từ trường phái Keynes với
khái niệm về sản lượng tiềm năng, nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng khi ở vào trạng thái toàn dụng lao động Mô hình này được vận hành theo cơ chế lạm phát
nội tại nghĩa là lạm phát gây được tạo nên bởi các biến nội sinh của nền kinh tế
Nếu chính sách kinh tế làm cho sản lượng GDP vượt mức tiềm năng và tỷ lệ
thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, các yếu tố khác không đổi, khi đó
lạm phát sẽ gia tăng vì các nhà sản xuất sẽ tăng giá sản phẩm và lạm phát nội tại
xấu hơn Nếu cứ tiếp tục nền kinh tế rơi vào tình trạng “Đình lạm” và ngược lại thì
lạm phát sẽ giảm vì các nhà sản xuất sẽ cố gắng sử dụng hết tiềm năng của nền kinh
tế bằng cách giảm giá dẫn đến lạm phát giảm (thiểu phát) và giảm tỷ lệ thất nghiệp Điểm hạn chế của lý thuyết này là các nhà kinh tế không biết được chính xác GDP tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và những chỉ tiêu này thay đổi theo thời gian Mặt khác, lạm phát luôn vận hành không cân xứng ở chỗ tăng lên nhanh nhưng giảm xuống chậm
Quan điểm Lý thuyết kỳ vọng hợp lý cho rằng tác nhân kinh tế tìm cách hợp
lý trong tương lai khi cố gắng tối đa hóa phúc lợi của họ và không đáp ứng chỉ với chi phí cơ hội và áp lực trước mắt Theo quan điểm này, căn cứ vào trọng tiền, kỳ
vọng và chiến lược trong tương lai là quan trọng đối với lạm phát Một sự khẳng định cốt lõi của lý thuyết kỳ vọng hợp lý là tác nhân kinh tế sẽ tìm cách "đón đầu" các quyết định của ngân hàng trung ương (NHTW) bằng hành động thực hiện
những dự đoán lạm phát cao hơn Điều này có nghĩa rằng các NHTW phải thiết lập
sự tin cậy của họ trong cuộc chiến chống lạm phát, hoặc tác nhân kinh tế sẽ đặt cược rằng các NHTW sẽ mở rộng cung tiền nhanh chóng, đủ để ngăn chặn suy
giảm, thậm chí tại các chi phí làm tăng lạm phát Vì vậy, nếu một NHTW có tiếng
là ứng xử mềm dẻo đối với lạm phát thì khi công bố một chính sách chống lạm phát
mới với các tác nhân kinh tế tăng trưởng tiền tệ hạn chế sẽ không tin rằng chính sách này sẽ vẫn tồn tại; kỳ vọng lạm phát của họ vẫn ở mức cao, và do đó sẽ lạm
Trang 24phát Mặt khác, nếu các NHTW có tiếng cứng rắn hơn đối với lạm phát, thì một thông báo chính sách như vậy sẽ được tin tưởng và kỳ vọng lạm phát sẽ giảm xuống nhanh chóng, do đó cho phép lạm phát đi xuống nhanh chóng với sự gián đoạn kinh
tế tối thiểu Như vây, sự kỳ vọng có tác động ảnh hưởng đến lạm phát, tùy vào cách ứng xử của NHTW đưa ra
Tuy quan điểm về lý thuyết và mô hình minh chứng cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát của các trường phái có sự khác nhau, nhưng điểm chung
của các trường phái là mối quan hệ ấy không phải một chiều, mà là sự tác động qua
lại; nếu muốn tăng trưởng cao thì phải chấp nhận lạm phát, mối quan hệ này không
tồn tại mãi và đến một lúc nào đó, nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tăng trưởng; trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm phát không tác động đến tăng trưởng nữa mà lúc này lạm phát là hậu quả của việc tăng cung tiền quá mức vào nền kinh tế
2.2 T ổng quan nghiên cứu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế trước đây
Từ những thập niên 60 các nhà kinh tế đã sử dụng mô hình kinh tế lượng khác nhau để kiểm chứng bằng số liệu của các nước và khu vực trên thế giới nhằm tìm ra câu trả lời có hay không tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Một số nghiên cứu trước đây cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định Trong luận văn này, tác giả
giới thiệu một số nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài và ở Việt Nam để làm tài
liệu tham khảo về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như nghiêm cứu về ngưỡng lạm phát của các nhà kinh tế:
2.2.1 Nghiên c ứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu “Vai trò của các yếu tố vĩ mô trong tăng trưởng kinh tế” của Stanley Fisher (1993) Ông là người đầu tiên nghiên cứu về vai trò của các yếu tố vĩ
mô trong tăng trưởng kinh tế Bằng cách sử dụng bộ số liệu về các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô của 93 nước với phương pháp hồi quy theo nhóm và hồi quy hỗn hợp để xây
dựng lược đồ nhằm xác định “kênh chuyền tải” từ thực thi chính sách kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng Nghiên cứu này đã kết luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp, mối quan hệ này có thể không tồn tại hoặc mang tính đồng biến, khi lạm phát ở mức cao
Trang 25thì mối quan hệ này là nghịch biến Trong nghiên cứu Fisher cũng đã xác định
những tác động trở lại của tăng trưởng kinh tế đối với lạm phát, thâm hụt ngân sách,
sự méo mó của thị trường ngoại hối; nghiên cứu quan hệ nhân quả và các kênh vận hành của chúng Kết quả có những phát hiện chủ yếu sau:
- Lạm phát có mối tương quan rất chặt chẽ với tăng trưởng;
- Lạm phát làm suy giảm đầu tư và suy giảm tỷ lệ tăng năng xuất của nền kinh
tế dẫn tới suy giảm tăng trưởng kinh tế Đây là kênh chuyền tải từ lạm phát đến suy
giảm tăng trưởng;
- Qua nghiên cứu một số trường hợp riêng biệt cho thấy lạm phát thấp không
nhất thiết là điều kiện để có tăng trưởng cao trong dài hạn và lạm phát cao không phù hợp với tăng trưởng kinh tế bền vững
Một nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, Robert J Barro (1995) đã nghiên cứu “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế” Robert J Baro sử dụng số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ lệ đầu tư so với GDP của trên 100 quốc gia cho giai đoạn 1960 -
1990 để nghiên cứu tác động của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế, Barro sử
dụng hệ phương trình hồi quy với giả thuyết các yếu tố tăng trưởng khác không đổi
Kết quả nghiên cứu phát hiện: Khi lạm phát bình quân năm tăng 10 điểm phần trăm làm giảm tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người là 0.2 – 0.3 điểm phần trăm của một năm và làm giảm tỷ lệ đầu tư so với GDP từ 0.4 - 0.6 điểm phần trăm Nghiên cứu của Robert J Barro (1995) đã cho thấy về quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, lạm phát gia tăng làm giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tăng trưởng kinh tế được tính bằng tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người trong giai đoạn 1960-1990
Cũng trong giai đoạn này, Atish Ghosh và Steven Phillips (1998) nghiên cứu
“Lạm phát và tăng trưởng kinh tế” đã sử dụng số liệu về tăng trưởng GDP bình quân đầu người hằng năm theo giá so sánh và số liệu về lạm phát theo CPI bình quân năm của 145 nước, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến theo nhóm để kiểm
chứng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Atish Ghosh và Steven Phillips cho rằng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không phải là mối quan
Trang 26hệ đơn giản một chiều, đó là lạm phát tác động đến tăng trưởng hay tăng trưởng tác động đến lạm phát; giữa lạm phát và tăng trưởng có tác động qua lại phi tuyến tính Tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng khác nhau trong cùng một chu kỳ kinh tế
Kết quả phát hiện: Giữa lạm phát và tăng trưởng có quan hệ tỷ lệ nghịch; lạm phát không chỉ là yếu tố có ý nghĩa trong kiểm chứng thống kê mà còn là yếu tố quyết định quan trọng đối với tăng trưởng Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế xuất hiện khi thực hiện kiểm chứng số liệu theo các quốc gia và theo chuỗi dữ liệu thời gian
Một nghiên cứu khác, nghiên cứu tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi trong bối cảnh đổi mới cơ cấu nền kinh tế và mở rộng thị trường xuất
khẩu, đồng thời xác định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như ảnh hưởng của thiểu phát đối với tăng trưởng Peter Christoffersen và Peter Doyle (1998) nghiên cứu “Từ lạm phát tới tăng trưởng kinh tế” sử dụng dữ liệu về GDP theo giá so sánh, số liệu về dân số, cơ cấu hàng xuất khẩu, chỉ số cải cách chuyển đổi trong giai đoạn 1990 – 1997 của 25 nước với phương pháp hồi qui dữ
liệu bảng Nghiên cứu đã cho thấy:
- Mở rộng xuất khẩu có mối quan hệ rất chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu GDP,
thậm chí trong trường hợp có những cú sốc từ bên ngoài, việc cải cách cơ cấu kinh
tế và thiểu phát vẫn thúc đẩy tăng trưởng;
- Các nước đang trải qua thời kỳ có tỷ lệ lạm phát gần với ngưỡng lạm phát thì tăng trưởng luôn có xu hướng kéo tỷ lệ lạm phát thấp xuống phù hợp với lạm phát
của các nước công nghiệp
Qua nghiên cứu của mình, Christoffersen và Doyle đưa ra đề xuất đối với các nước đang có tỷ lệ lạm phát rất thấp so với ngưỡng lạm phát thì tăng trưởng phải đặt
mục tiêu kìm giữ mức lạm phát thấp này bởi vì không có bằng chứng nào cho thấy tăng lạm phát sẽ dẫn tới tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu trên, từ dữ liệu bảng số liệu theo năm của các nước phần lớn
đã chứng minh mối quan hệ nghịch chiều giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Theo đó, lạm phát càng gia tăng càng làm giảm tăng trưởng kinh tế
Trang 27Khi nghiên cứu trong một trường hợp cụ thể của một quốc gia, Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) nghiên cứu “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ” trên tạp chí Journal of Policy Modeling, trang 377-396
Một phân tích thực nghiệm được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu ở Ấn Độ trong giai đoạn 1971-1998 hồi qui theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS)
Mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm tra tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ trong mô hình tăng trưởng Kết luận quan trọng được rút ra từ
những kết quả về nền kinh tế Ấn Độ hiện nay: Lạm phát là một biến có tác động
mạnh mẽ trong các mô hình tăng trưởng kinh tế, có dấu âm và hệ số ước lượng ảnh hưởng phần lớn không thay đổi trong các mô hình tăng trưởng kinh tế
Trong nghiên cứu này cho thấy sự gia tăng lạm phát từ bất kỳ cấp độ nào cũng
có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế và lợi ích đáng kể có thể thu được
bằng cách tập trung các chính sách tiền tệ để duy trì ổn định giá cả Vì vậy, chính sách mong muốn nhất đối với Ấn Độ là luôn giảm áp lực lạm phát, mà không cần
phải lo lắng về mức độ ngưỡng lạm phát là gì, nên giữ mức lạm phát ở mức ít nhất ngang bằng với tỷ lệ lạm phát của các nước đối tác thương mại
Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trường hợp ở
Việt Nam Nguyễn Trung Chính (2009) nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Ngoại Thương về “Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát qua kết quả phân tích
ở Việt Nam” Nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng qua lại giữa tăng trưởng và lạm phát với số liệu theo quí từ năm 1995 – 2008 từ phương pháp hồi qui đồng liên kết,
mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) và mô hình VAR cho thấy những bằng chứng
thực nghiệm rõ rệt về sự tương tác qua lại và có mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ngay cả trong ngắn hạn, dài hạn
Từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã được trình bày đều chứng minh mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu thực nghiệm của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003), tác giả nhận thấy nền kinh tế Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng trong nền kinh tế Việt Nam và là nước có dân số đông, hơn nữa yếu tố đại diện cho tăng trưởng kinh tế mà Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003)
Trang 28đã sử dụng là tăng trưởng GDP bình quân đầu người Đây là điểm mới trong nghiên cứu của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) khác với các nghiên
cứu trước đây, là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh sự thịnh vượng của nền kinh tế và tiến bộ xã hội Từ đó, tác giả đã vận dụng mô hình nghiên cứu tăng trưởng của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) để nghiên cứu đối với trường hợp ở
Việt Nam
Xác định ngưỡng lạm phát là vấn đề rất quan trọng trong quá trình lập kế
hoạch phát triển kinh tế đất nước Ngưỡng lạm phát thể hiện tại mức đó nền kinh tế huy động được tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế
Nghiên cứu của Michael Sarel (1995), nghiên cứu “Ảnh hưởng phi tuyến giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế” Bằng việc sử dụng phương pháp bình phương bé
nhất (OLS) và tương ứng với R-squared để ước tính ngưỡng lạm phát Nghiên cứu
sử dụng số liệu hàng năm trong giai đoạn 1970 – 1990 của 87 quốc gia và thấy rằng ngưỡng lạm phát là 8%, vượt qua ngưỡng này lạm phát có tác động tiêu cực với tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu ngưỡng lạm phát cho các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, Moshsin S Khan và Abdelhak S Senhadji (2001) đã sử dụng số liệu về tăng trưởng GDP theo giá so sánh của 140 nước bao gồm cả các nước công nghiệp
và các nước đang phát triển trong giai đoạn 1960-1998 để kiểm chứng thực tiễn
nhằm trả lời hai câu hỏi: Có tồn tại ngưỡng lạm phát có ý nghĩa trong kiểm chứng
thống kê để khi lạm phát cao hơn ngưỡng đó sẽ tác động xấu vào tăng trưởng và tác động của nó khác với tác động khi lạm phát ở mức thấp hơn; Tác động của ngưỡng
lạm phát vào tăng trưởng có giống nhau giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển Moshsin S Khan và Abdelhak S Senhadji sử dụng mô hình lạm phát dưới dạng logarit và hàm bậc hai tối thiểu phi tuyến tính để kiểm chứng ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng Do số liệu của các nước đang phát triển không đủ theo thời gian như số liệu của các nước công nghiệp vì vậy những kiểm
chứng và phân tích của Khan và Senhadji thực hiện theo các nhóm không cân đối
Kết quả của kiểm chứng số cho thấy:
Trang 29- Khẳng định mạnh mẽ sự tồn tại ngưỡng lạm phát có ý nghĩa trong kiểm
chứng thống kê, khi lạm phát cao hơn ngưỡng sẽ tác động xấu đến tăng trưởng, ngược lại khi lạm phát thấp hơn ngưỡng sẽ không tác động đến tăng trưởng Lạm phát thấp là một yếu tố quan trọng đảm bảo tăng trưởng bền vững
- Ngưỡng lạm phát đối với các nước công nghiệp từ 1% - 3%, đối với các nước đang phát triển ở mức 11%-12%
Như vậy, nghiên cứu của Moshsin S Khan và Abdelhak S Senhadji về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không cho biết phương thức tác động của lạm phát vào tăng trưởng kinh tế như thế nào, do đầu tư và việc làm luôn được quản lý,
vì vậy theo Khan và Senhadji tác động của lạm phát vào tăng trưởng thông qua kênh năng xuất
Cũng trong nghiên cứu của Atish Ghosh và Steven Phillips (1998), nghiên cứu
về lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho rằng khi lạm phát ở mức thấp khoảng 2% - 3%, giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tỷ lệ thuận; khi lạm phát cao, giữa
lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tỷ lệ nghịch được thể hiện qua hàm lồi Kết
quả nghiên cứu chỉ rõ khi lạm phát ở mức từ 10% - 20% thì tốc độ tăng trưởng sẽ
giảm Từ kết quả trên nghiên cứu của Atish Ghosh và Steven Phillips (1998) chứng minh có tồn tại ngưỡng lạm phát: Ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế ở
mức 2.5%, khi lạm phát cao hơn ngưỡng 2.5% sẽ có tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu trường hợp của Ấn Độ, trong nghiên cứu Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003), phân tích mức ngưỡng của lạm phát ở Ấn Độ bằng phương pháp hồi qui OLS có biến giả về mức lạm phát tăng thêm Kết luận quan
trọng được rút ra từ kinh tế Ấn Độ hiện nay từ nghiên cứu đã không cung cấp đủ
bằng chứng về điểm gián đoạn cấu trúc cho tập dữ liệu quan sát hiện tại để phân tích mức ngưỡng lạm phát Điều đó khẳng định rằng không có mức ngưỡng lạm phát đối với Ấn Độ
Nghiên cứu ngưỡng lạm phát trường hợp của 5 quốc gia thuộc khối ASEAN trong giai đoạn 1980-2011, Sử Đình Thành (2015) đã kiểm tra giả thuyết mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến tính Áp dụng mô
Trang 30hình hồi quy chuyển đổi làm phẳng các dữ liệu bảng (PSTR) và kỹ thuật GMM-IV
để ước tính ngưỡng của lạm phát và ảnh hưởng của nó đối với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là phi tuyến tính và tìm được mức ngưỡng lạm phát ở mức 7,84% Tỷ lệ
lạm phát cao hơn mức ngưỡng này bắt đầu làm cản trở tăng trưởng kinh tế trong 5
quốc gia thuộc khối ASEAN
Từ kết quả cho thấy các NHTW ở 5 quốc gia thuộc khối ASEAN có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách giảm lạm phát khi lạm phát nằm trên
hoặc gần mức ngưỡng ước tính Do đó, mức ngưỡng lạm phát này có thể được coi như chỉ số lạm phát mục tiêu để thực hiện chính sách tiền tệ
Nghiên cứu đối với trường ở Việt Nam, Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010) trong bài nghiên cứu “Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” trên tạp chí Ngân hàng, số 13 Bằng phương pháp phân tích hệ số tương quan giữa lạm phát
và tăng trưởng kinh tế đã nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, xét ở thời kỳ dài (20-23 năm từ năm 1987-2009) lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra ngưỡng lạm phát ở Việt Nam ở mức 5-6% Ở mức lạm phát xoay quanh khoảng này
sẽ ảnh hưởng tương đối lớn đến tăng trưởng kinh tế
Từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây nghiên cứu về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu ngưỡng lạm phát đã được trình bày, tác giả tóm tắt lại như sau:
Trang 31B ảng 2.1- Tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
S ố
tt
Tác gi ả, năm
xu ất bản đăng tải T ạp chí S pháp nghiên c ố liệu và phương ứu
K ết quả quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1 Stanley
Fisher (1993)
Nber Working Paper Series,
2 Robert J
Barro (1995)
Nber Working Paper Series,
No 5326
Số liệu của trên 100
quốc gia cho giai đoạn 1960 – 1990, dùng hệ phương trình hồi quy
(+)
3 Michael Sarel
(1995)
IMF Working Paper, WP/95/56
Nghiên cứu giai đoạn
1970 – 1990 của 87
quốc gia sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và tương ứng
với R-squared để ước tính ngưỡng lạm phát
(-) Ngưỡng lạm phát là
Dữ liệu của 145 nước trong giai đoạn 1960-1990 phương pháp hồi quy đa biến theo nhóm
(-) Ngưỡng lạm phát: 2.5%
5 Peter IMF Working Giai đoạn 1990 – (-)
Trang 32Christoffersen
và Peter
Doyle (1998)
Paper, WP/98/100
140 nước bao gồm cả
nghiệp và các nước đang phát triển trong giai đoạn 1960-1998
sử dụng mô hình lạm phát dưới dạng logarit và hàm bậc hai tối thiểu phi tuyến tính
(-) Ngưỡng lạm phát: 1-3% (các nước công nghiệp) và 11-12% (các nước đang phát
Sử dụng dữ liệu năm
ở Ấn Độ trong giai đoạn 1971-1998, sử
dụng phương pháp
hồi qui OLS và hồi qui biến giả về mức
lạm phát để tìm ngưỡng lạm phát
(-) Không có mức ngưỡng
lạm phát ở Ấn Độ
8 S ử Đình
Thành (2015)
Journal of Economics, Finance and Administrative Science
Với số liệu của 5
quốc gia thuộc khối ASEAN trong giai đoạn 1980-2011
Bằng cách áp dụng
mô hình hồi quy dữ
liệu bảng (PSTR) và
(-) Ngưỡng lạm phát là
7,84%
Trang 33Số liệu ở Việt Nam
từ năm 1987-2010
Bằng phương pháp phân tích hệ số tương quan
(-) Ngưỡng lạm phát là
Số liệu từ năm 1995 – 2008 ở Việt Nam phương pháp hồi qui đồng liên kết, mô hình ECM và mô hình VAR
sử dụng phương pháp phân tích hệ số tương quan tích lũy theo chuỗi thời gian giữa
lạm phát và tăng trưởng GDP bình quân đầu người xem có sự khác biệt kết quả về
mức ngưỡng lạm phát ở Việt Nam
Trang 34K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả đã khát quát một số lý thuyết về tăng trưởng kinh
tế, lý thuyết về lạm phát và mối quan hệ giữa chúng Đồng thời đưa ra những bằng
chứng từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây của nhiều tác giả để chứng minh
về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở các khu vực và các quốc gia trên thế giới Kết quả các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Khi lạm phát ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đồng biến, nghĩa là lạm phát đóng vai trò tích cực trong tăng trưởng kinh tế Nếu lạm phát tiếp tục tăng cao, cao hơn mức
ngưỡng nào đó sẽ làm giảm sự tăng trưởng kinh tế và mức ngưỡng lạm phát cũng được các tác giả đưa ra nghiên cứu nhằm đề xuất những giải pháp góp phần cho tăng trưởng nền kinh tế nghiên cứu thực nghiệm
Trang 35CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Mô hình nghiên c ứu
Trong luận văn, tác giả lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003), một nghiên cứu thực nghiệm ở Ấn Độ để xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Theo tác giả, mô hình nghiên cứu này được cho là mới vì nghiên cứu tăng trưởng kinh tế trên cơ sở tăng trưởng GDP bình quân đầu người Hơn nữa theo tác giả, mô hình này là phù hợp với nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế
trong nước vì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Ấn Độ trung bình ở
mức 5-6% gần giống mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam Mặt khác Ấn Độ là nước có nền kinh tế đa dạng gồm các ngành và lĩnh vực như nông nghiệp, thủ công nghiệp, dệt may, …; là nước có dân số và lực lượng lao động dồi dào, chính phủ Ấn Độ đã từng có những chính sách kiểm soát chặt chẽ sự tham gia đầu tư của khu vực tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên từ đầu thập niên
1990, Ấn Độ đã dần mở cửa thị trường thông qua các cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường nhưng việc tư nhân hoá các ngành thuộc sở hữu công và việc mở
cửa một số ngành nhất định cho nước ngoài và tư nhân tham gia diễn ra một cách
chậm chạp Điều này giống với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam
Mô hình nghiên cứu tăng trưởng kinh tế được tổng quát có dạng như sau:
YPC=a0+a1P+a2AGRIV+a3POP+a4LIT+a5GDIZPB+a6GDIZPV+a7GCEZ+a8TOT+e Trong đó: a0: là hệ số chặn
a1 – a8: hệ số ước lượng của các biến giải thích trong mô hình e: phần dư mô hình
Các biến trong mô hình được mô tả như sau:
• Biến phụ thuộc là một vector của tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng của GDP bình quân đầu người Ký hiệu là YPC (Per Capita GDP)
YPC = GDP / POP
Trang 36Với GDP là tổng sản phẩm trong nước tính theo giá cố định năm 2005 hàng năm, POP là tổng dân số trung bình năm Tốc độ tăng trưởng của GDP bình quân đầu người được lấy từ dữ liệu “GDP per capita growth, annual %” của Worldbank
• Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) đưa biến lạm phát là biến giải thích đầu tiên trong mô hình được tính bằng chỉ số giá bán buôn (WPI), chỉ số này được sử dụng ở Ấn Độ để đánh giá tình hình lạm phát nhưng đa số các nước sử
dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính lạm phát Hầu hết các nước trên thế giới và
ở Việt Nam, lạm phát được tính dựa trên chỉ số CPI nên trong luận văn nghiên cứu tác giả chọn biến lạm phát dựa trên chỉ số CPI theo năm được công bố từ dữ liệu
thống kê “Inflation, consumer prices, annual %” của Worldbank Ký hiệu là P
• Sau đó là hệ thống các biến giải thích khác ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế để kiểm tra sự vững mạnh hệ số ước lượng của lạm phát tác động trong mô hình, bao gồm các biến:
+ Sự thay đổi lượng mưa trung bình trong năm, lượng mưa là biến ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua lĩnh vực nông nghiệp Trong luận văn nghiên cứu, tác giả không thu thập được dữ liệu về lượng mưa trung bình hàng năm cho tất cả các năm trong giai đoạn nghiên cứu nên tác giả đã sử dụng biến thay thế
là giá trị sản lượng nông nghiệp so với GDP (Agriculture value added), ký hiệu là AGRIV
Giá trị sản lượng nông nghiệp là tổng giá trị sản lượng nông nghiệp ròng (bao gồm giá trị sản lượng của lâm nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản và
trồng trọt) được tính bằng tổng giá trị sản lượng đầu ra nông nghiệp trừ cho các chi phí trung gian Giá trị này có sẵn từ dữ liệu thống kê “Agriculture, value added (%
of GDP)” của Worldbank
+ Dân số trung bình hàng năm, ký hiệu là POP (Population) và tỷ lệ dân số
biết chữ như là tỷ lệ của dân số có độ tuổi trên 15 tuổi so với tổng dân số hàng năm,
ký hiệu là LIT (Literacy) Hai biến này được xem như yếu tố quan trọng trong mô hình tăng trưởng kinh tế
+ Vốn đầu tư khu vực tư nhân và khu vực nhà nước được sử dụng như hai
biến độc lập riêng được tính theo tỷ lệ phần trăm của nguồn vốn đầu tư từng khu
Trang 37vực so với GPD Ký hiệu tỷ lệ vốn đầu tư khu vực tư nhân so với GDP là GDIZPV (Gross domestic investment in private sector) và tỷ lệ vốn đầu tư khu vực nhà nước
so với GDP là GDIZPB (Gross domestic investment in public sector)
GDIZPV = Tổng vốn đầu tư khu vực tư nhân / GDP * 100 GDIZPB = Tổng vốn đầu tư khu vực nhà nước / GDP * 100 Trong đó, GDP là giá trị tổng sản phẩm trong nước hàng năm được tính theo giá cố định năm 2005
+ Tỷ lệ chi tiêu chính phủ so với GDP là tỷ lệ của tổng chi tiêu chính phủ trên GDP, được ký hiệu là GCER (General government consumption) Dữ liệu có từ
“General government final consumption expenditure (% of GDP)” của Worldbank
+ Tỷ giá thương mại thể hiện bằng tỷ số giữa chỉ số giá hàng xuất khẩu với
chỉ số giá hàng nhập khẩu Được ký hiệu bởi chỉ số TOT (Term of trade)
Tỷ giá thương mại hay điều kiện trao đổi thương mại (TOT – Terms of trade)
là tỷ lệ phần trăm của chỉ số giá xuất khẩu (Export value index (2000 = 100)) trên
chỉ số giá nhập khẩu (Import value index (2000 = 100)) theo cách tính toán của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003) như sau:
có thể là giá giảm trong trường hợp giá hàng xuất khẩu giảm ít hơn so với giá hàng
nhập Thông qua trao đổi quốc tế vẫn có thể xuất khẩu với sản lượng như cũ, nhưng
có thể nhập về với lượng sản phẩm nhiều hơn trước
* TOT < 100%: Nước đó đang ở vị trí bất lợi
* TOT = 100%: Sự biến động của giá cả của hàng hoá xuất nhập khẩu không
có ảnh hưởng gì tới đất nước
Trang 38Tỷ lệ trao đổi gắn liền với xu hướng “giá cánh kéo” thì đối với các nước đang phát triển sẽ bị rơi vào tình trạng bất lợi, với “giá cánh kéo” thì giá hàng thành
phẩm, máy móc thiết bị tăng nhanh hơn rất nhiều so với nhóm hàng nguyên vật liệu, hàng thô sơ chế, nông sản là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển Rất nhiều nước đang phát triển đã cải biến được cơ cấu xuất khẩu của mình và họ đã tăng dần tỷ trọng của mình trong cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm máy móc thiết bị, các mặt hàng chế biến trên thế giới Ví dụ: các nước công nghiệp mới như: Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông
Có thể tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu như sau:
B ảng 3.1- Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
1 YPC Tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân đầu người hàng năm (%)
Worldbank (WB)
3 POP Tổng dân số trung bình hàng năm (Triệu người) WB
5 AGRIV Tỷ lệ giá trị sản lượng nông
6 GDIZPV Tỷ lệ vốn đầu tư khu vực tư nhân
7 GDIZPB Tỷ lệ vốn đầu tư khu vực nhà
8 GCEZ Tỷ lệ chi tiêu chính phủ
Tỷ giá thương mại là tỷ lệ phần trăm giữa chỉ số giá xuất khẩu trên chỉ số giá nhập khẩu
& Tính toán
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 39Tác giả có kỳ vọng về dấu các hệ số ước lượng trong mô hình tăng trưởng kinh tế:
+ Quan hệ nghịch biến với tăng trưởng kinh tế, dấu (-): gồm các biến P, POP, GDIZPB;
+ Quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế, dấu (+): gồm các biến AGRIV, LIT, GDIZPV, GCEZ, TOT
Theo phương pháp nghiên cứu của Kanhaiya Singh và Kaliappa Kalirajan (2003), đầu tiên nghiên cứu thực hiện ước lượng mô hình hồi qui theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) trên cơ sở các biến trong mô hình là một chuỗi dữ liệu
dừng để hạn chế được những khuyết tật của mô hình, đảm bảo tính phù hợp và biến động của mô hình, tác giả đã thực hiện một số kiểm định cho mô hình gồm kiểm định Durbin Watson, kiểm định Breusch-Godfrey, kiểm định ARCH và kiểm định nghiệm đơn vị cho phần dư của mô hình Như vậy, mô hình tăng trưởng kinh tế được xác định dựa trên phương pháp ước lượng bình phương bé nhất
Tiếp theo, để phân tích ngưỡng lạm phát, tác giả dựa trên phương pháp nghiên
cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2010), phân tích hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn (10 năm) và trong giai đoạn dài hơn (20 năm) để phân tích quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Sử dụng
hệ số tương quan tích luỹ trong chuỗi thời gian nghiên cứu để phân tích ngưỡng lạm phát ở Việt Nam
Tác giả sử dụng phần mềm Eviews 8 để hỗ trợ quá trình tổng hợp và báo cáo
kết quả nghiên cứu
Sau đây là một số lý thuyết cơ bản được thực hiện để ước lượng mô hình nghiên cứu:
Dickey và Fuller) để kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu
Có nhiều cách để kiểm tra tính dừng, tác giả sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root test) để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu Một trong các giả thuyết
Trang 40của mô hình hồi qui là các biến độc lập phải phi ngẫu nhiên Nếu ước lượng mô hình với chuỗi dữ liệu không dừng sẽ cho ra mô hình hồi qui giả mạo và các hệ số
mô hình bị sai lệch, mô hình không đáng tin cậy
Để kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu, thực hiện kiểm định Augmented Dickey và Fuller (ADF) đưa ra giả thuyết kiểm định như sau:
H0: δ = 0 (kiểm định nghiệm đơn vị/chuỗi dữ liệu không dừng)
H1: δ ≠ 0 (không kiểm định nghiệm đơn vị/chuỗi dữ liệu dừng)
Giá trị tới hạn
( )
t se
ρ ρ
= được xác định dựa trên bảng giá trị tính sẵn của
Mackinnon (1996) Giá trị tới hạn này cũng được tính sẵn khi kiểm định ADF bằng
phần mềm Eviews Để kiểm định giả thuyết H0, so sánh giá trị kiểm định t tính toán
với giá trị t tới hạn của Mackinnon và kết luận về tính dừng của các chuỗi quan sát
ý nghĩa thống kê mà │tADF│> │t level│ Nếu kiểm tra biến không có tính dừng ta
tiếp tục kiểm định biến đó ở sai phân bậc 1 (Ký hiệu Δ_) để có thể đưa biến trở nên
dừng Sử dụng sai phân nhằm mục đích đưa chuỗi thời gian về trạng thái dừng Sai phân bậc nhất:
ΔYt = Yt - Yt-1 = Yt – L(Yt) = (1- L) YtTrong đó: Yt-1= LYt hay có thể ký hiệu Y(-1) là độ trễ (Lag) có tác dụng dịch chuyển dữ liệu trở lại một thời đoạn, dịch chuyển dữ liệu trở lại 2 lần ta có: L(LYt)