Thực tiễn dạy học vật lí ở trường phổ thông, GV chưa khai thác, sử dụngbài tập vật lí dạy học một cách có hiệu quả trong đổi mới phương pháp dạy học.Việc nâng cao chất lượng giáo dục phả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ PHƯỚC THÔNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” – VẬT LÍ 12 THPT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật Lí
Mã số: 60.14.10
Cán bộ hướng dẫnkhoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH THƯỚC
Nghệ An – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tác giả xin cảm ơn sâu sắc đến cán bộ hớng dẫnkhoa học: PGS – TS Nguyễn Đình Thớc – trờng Đại học Vinh, đã giúp đỡ hớngdẫn hết sức tận tình
Xin chân thành cảm ơn đến gia đình và ngời thân đã tạo điều kiện vật chất
và tinh thần cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn quí thầy, cô chuyên ngành Lý luận và Phơng phápdạy học bộ môn Vật lý - Khoa Vật lý trờng Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện,giúp đỡ trong suốt thời gian học tập
Xin chân thành cảm ơn quí đồng nghiệp trong cơ quan, Ban giám hiệu,thầy cô và học sinh trờng THPT Tân An, Long An đã tạo điều kiện cho tôi thựcnghiệm s phạm kiểm chứng kết quả nghiên cứu
Long An, ngày 25 thỏng 8 năm 2012
Tỏc giả
Lờ Phước Thụng
BẢNG CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
Chương 1 :
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1.2 Sử dụng bài tập vào các mục đích của quá trình dạy học 4
1.2.2 Phân loại bài tập theo phương thức cho điều kiện hoặc phương
thức giải
7
1.3 Bài tập trắc nghiệm tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan 13
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC
CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” – VẬT LÍ 12 THPT
21
2.1 Mục tiêu dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” 21
2.1.2 Những nội dung kiến thức cơ bản HS cần phải nắm vững chương
2.2 Hệ thống bài tập chương “Hạt nhân nguyên tử” 222.2.1 Phần I: Hệ thống bài tập câu hỏi: là dạng bài tập định tính 22
2.2.3 Phần III Hệ thống bài tập câu hỏi trắc nghiệm khách quan (MCQ) 40
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI Phần II Hệ thống bài tập câu hỏi trắc nghiệm khách quan (MCQ) 462.3 Xây dựng tiến trình dạy học một số tiết bài tập 502.3.1 Giáo án tiết 64: Bài tập “Năng lượng liên kết hạt nhân Phản ứng
hạt nhân”
50
Trang 6Kết luận chương 2 68
Chương 3:
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Vật lí là một trong những môn học có bài tập rất đa dạng và phong phú GV
có thể sử dụng bài tập vật lí trong dạy học để thực hiện tốt 4 nhiệm vụ quan trọngcủa dạy học vật lí trong nhà trường đó là: giáo dưỡng, giáo dục, phát triển trí tuệ
Trang 7Thực tiễn dạy học vật lí ở trường phổ thông, GV chưa khai thác, sử dụngbài tập vật lí dạy học một cách có hiệu quả trong đổi mới phương pháp dạy học.Việc nâng cao chất lượng giáo dục phải gắn liền với việc đổi mới mục tiêu, nộidung chương trình và phương pháp giảng dạy để đảm bảo HS có thể đáp ứngđược những yêu cầu nhất định.
Với những lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPT nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS.”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí
12 THPT dựa vào chuẩn kiến thức để nâng cao chất lượng học tập của HS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học vật lí ở trường THPT
- Sử dụng bài tập vật lí trong dạy học ở THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bài tập dùng để dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPTchương trình cơ bản
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng được hệ thống bài tập dạy học chương “Hạt nhânnguyên tử” – Vật lí 12 THPT đảm bảo tính khoa học thì có thể nâng cao đượcchất lượng học tập của HS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông; phương pháp
Trang 85.7 Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Nghiên cứu các tư liệu về phương pháp dạy học vật lí và phương pháp dạybài tập vật lí ở trường phổ thông
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, bài tập vật lí chương
“Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT
- Nghiên cứu lý luận xây dựng hệ thống bài tập và sử dụng nó trong dạyhọc chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT, nhằm nâng cao chất lượnghọc tập của HS
6.2 Phương pháp điều tra và phương pháp thực nghiệm sư phạm
Điều tra thực trạng dạy học bài tập chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí
12 THPT
6.3 Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả
nghiên cứu
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các số liệu điều tra và các kết quả của thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của đề tài
- Xây dựng được một hệ thống bài tập dạy học chương “Hạt nhân nguyêntử”, theo chương trình cơ bản vật lí lớp 12, THPT; bao gồm 17 bài tập định tính, 17 bài tập định lượng và 47 bài tập trắc nghiệm khách quan nội dung chương “Hạt nhân nguyên tử”.
- Ngoài ra hệ thống bài tập định lượng có phần định hướng tư duy giúp cho HS tìm ra kết quả của bài toán nhằm bồi dưỡng phát triển tư duy
và năng lực sáng tạo của học sinh.
8 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề cương luận văn gồm bachương chính:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học bài tập vật lí ở trường phổ
Trang 9- Tài liệu tham khảo.
Trang 10Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề không lớn, được giảiquyết nhờ những suy lí logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở cácđịnh luật và các phương pháp vật lí, vấn đề đó gọi là BTVL Hiểu theo nghĩarộng thì mỗi vấn đề xuất hiện trong nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính làmột bài tập đối với HS Sự tư duy định hướng một cách tích cực là việc luôn luôngiải bài tập.
1.1.2 Sử dụng bài tập vào các mục đích của quá trình dạy học
1.1.2.1 BTVL có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu
mới:
- Bài tập tạo ra tình huống có vấn đề để bước vào dạy bài học mới: ví dụ đểdạy bài Phản xạ toàn phần, ta có thể dùng bài tập sau: “ Chiếu một tia sáng từnước ra ngoài không khí Tính góc khúc xạ, biết góc tới bằng: a/ 30° ; b/ 45°; c/60° Chiết suất của nước là 4/3” Trong trường hợp a/ và b/ HS tính được góckhúc xạ còn trường hợp c/ áp dụng định luật khúc xạ ánh sáng lúc này xuất hiệnmâu thuẫn, “tình huống có vấn đề” xuất hiện
- Bài tập có thể là điểm khởi đầu dẫn dắt đến kiến thức mới
Khi đã có trình độ toán học, nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo cóthể dẫn HS đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một kháiniệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra
Ví dụ: trong khi vận dụng định luật thứ hai của Newton để giải bài toán haivật tương tác, có thể thấy một đại lượng luôn không đổi là tích mv của hai vậttương tác
Kết quả của việc giải bài tập đó dẫn đến việc cần thiết phải xây dựng kháiniệm động lượng và định luật bảo toàn động lượng
1.1.2.2 BTVL là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức: một cách sinh
động có hiệu quả Khi giải các bài tập đòi hỏi HS phải ghi nhớ lại các công thức,định luật, kiến thức đã học, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp cáckiến thức đã học trong cả một chương, một phần hoặc giữa các phần nhờ đó HS
sẽ hiểu rõ hơn, ghi nhớ vững chắc các kiến thức đã học
1.1.2.3 BTVL là một phương tiện rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát:
Trang 11Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, khi giải các bài tập
đó không chỉ làm cho HS nắm vững hơn các kiến thức đã học, mà còn tập cho
HS quen với việc liên hệ lí thuyết với thực tế vận dụng kiến thức đã học giảiquyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống như giải thích các hiện tượng cụ thểcủa thực tiễn, dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điềukiện cho trước
1.1.2.4 Bài tập là một phương tiện (công cụ) có tầm quan trọng đặc biệt
trong việc rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho HS:
Giải BTVL là hình thức làm việc tự lực căn bản của HS Trong khi giải bài
tập HS phải phân tích các điều kiện của đề bài, tự xây dựng những lập luận,phải huy động các thao tác tư duy để xây dựng những lập luận, thực hiện việctính toán, có khi phải tiến hành thí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sựphụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận của mình (đánh giákết quả giải quyết), trong những điều kiện đó tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của
HS được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực làm việc độc lập của
HS được nâng cao
1.1.2.5 Thông qua giải bài tập có thể rèn luyện cho HS những đức tính tốt
và tác phong làm việc khoa học như tính tự lực cao, tính kiên trì vượt khó, tính
Tóm lại: BTVL là phương tiện có vai trò và chức năng để thực hiện mục đích nêu trên Ta có thể sử dụng BTVL vào bất cứ giai đoạn nào của quá trình dạy học Cần chú ý rằng, việc rèn luyện cho HS giải các BTVL không phải là
mục đích dạy học (vì giải bài tập là phương tiện để thực hiện hoạt động rènluyện tư duy, nó không có mục đích tự thân của dạy học) Mục đích cơ bản đặt
ra, khi giải BTVL là làm sao cho HS hiểu sâu sắc hơn những qui luật vật lí, biết
phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào kĩ thuật và cuối
Trang 12cùng phát triển được năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề Giải BTVL cógiá trị rất lớn về mặt phát triển tính tích cực, tự học của HS Qua hoạt động giảibài tập giáo dục cho HS ý chí, tinh thần vượt khó, rèn luyện phong cách nghiêncứu khoa học, yêu thích môn học vật lí.
BTVL là phương tiện dạy học thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng của DHVL
trong nhà trường (nhiệm vụ giáo dưỡng, nhiệm vụ phát triển trí tuệ, nhiệm vụgiáo dục và nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp)
1.2 Phân loại bài tập [14]
BTVL đa dạng, phong phú Người ta phân loại BTVL bằng nhiều cách
khác nhau theo nhiều đặc điểm: theo nội dung, theo ý nghĩa mục đích, theo chiềusâu của việc nghiên cứu vấn đề, theo phương thức giải, theo phương thức chogiả thiết, theo mức độ khó của nhận thức
1.2.1. Phân loại theo nội dung:
- Các bài tập được sắp xếp theo các đề tài của tài liệu vật lí Người ta phânbiệt các bài tập về cơ học, về vật lí phân tử, về điện học, v.v… Sự phân chia nhưvậy có tính chất qui ước Bởi vì kiến thức sử dụng trong giả thiết của một bài tậpthường không lấy từ một chương, một phần mà có thể tích hợp nhiều kiến thứccác phần khác nhau của giáo trình vật lí
- Người ta còn phân biệt các bài tập nội dung trừu tượng, bài tập nội dung
cụ thể
Ví dụ về một bài tập có nội dung trừu tượng: Phải dùng một lực như thếnào để có thể kéo một vật có khối lượng là m trên mặt phẳng nghiêng có chiềudài là l và chiều cao là h, bỏ qua lực ma sát Áp lực do vật tác dụng lên mặtphẳng nghiêng là lực nào?
Nếu trong bài tập nói rõ mặt phẳng nghiêng dùng ở đây là mặt phẳng nhưthế nào, vật kéo lên là cái gì, nó được kéo lên như thế nào, thì đó là một bài tập
cụ thể
Nét nổi bật của những bài tập trừu tượng là bản chất vật lí nêu bật lên, nóđược tách ra và không lẫn lộn với các chi tiết không bản chất Ưu điểm của bàitập cụ thể là tính trực quan cao, gắn với thực tế
- Các bài tập mà nội dung chứa đựng những thông tin về kĩ thuật, về sảnxuất công nông nghiệp, về giao thông, được gọi là những bài tập có nội dung
kĩ thuật tổng hợp
Trang 13- Bài tập có nội dung lịch sử, đó là những bài tập chứa đựng những kiếnthức có đặc điểm lịch sử: những dự liệu và các thí nghiệm vật lí cổ điển, vềnhững phát minh, sáng chế hoặc những câu chuyện có tính chất lịch sử.
- BTVL vui cũng được sử dụng rộng rãi Nét nổi bật trong nội dung loại bài
tập này là sử dụng những sự kiện, hiện tượng kì lạ hoặc vui Việc giải các bàitập này sẽ làm cho tiết học thêm sinh động, nâng cao được hứng thú học tập của
HS Trong các cuốn sách của IA.I PÊ-REN-MAN “Vật lí vui”, NXB Giáo dục,
có rất nhiều bài tập như vậy
1.2.2. Phân loại bài tập theo phương thức cho điều kiện hoặc phương thức giải:
Người ta phân biệt bài tập bằng lời hay còn gọi là bài tập định tính, bài tậpthí nghiệm, bài tập tính toán, bài tập đồ thị, bài tập nghịch lí và nguỵ biện
1.2.2.1 Bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập khi giải, HS không cần phải thực hiệncác phép tính phức tạp khi cần thiết chỉ làm những phép tính đơn giản, có thểtính nhẩm được Muốn giải những bài tập định tính, HS phải thực hiện nhữngphép suy luận lôgic, do đó phải hiểu rõ bản chất (nội hàm) của các khái niệm,định luật vật lí và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong những trườnghợp cụ thể Đa số các bài tập định tính yêu cầu HS giải thích hoặc dự đoán mộthiện tượng xảy ra trong những điều kiện xác định Cũng có nhiều tài liệu gọi bàitập định tính là bài tập - câu hỏi
Bài tập định tính có rất nhiều ưu điểm về mặt phương pháp học Đưa được
lí thuyết vừa học lại gần với đời sống, thực tiễn xung quanh, các bài tập địnhtính làm tăng thêm ở HS hứng thú môn học, tạo điều kiện cho HS suy luận pháttriển ngôn ngữ vật lí Phương pháp giải những bài tập định tính bao gồm việcxây dựng những suy lí lôgic dựa trên những định luật vật lí nên bài tập định tính
là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy lôgic của HS Việc giải các bài tậpđịnh tính rèn luyện cho HS hiểu rõ được bản chất của các hiện tượng vật lí vànhững quy luật của chúng, dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn Giảibài tập định tính rèn luyện cho HS thao tác tư duy phân tích, như vậy tạo cơ sở
HS biết phân tích nội dung vật lí của một bài tập nói chung và bài tập tính toánnói riêng
- Bài tập định tính được sử dụng ưu tiên hàng đầu sau khi học xong lí
Trang 14thuyết, trong khi luyện tập, ôn tập vật lí.
- Có 3 mức độ về bài tập định tính:
Loại bài tập định tính đơn giản là loại bài tập HS chỉ cần áp dụng mộtđịnh luật, một qui tắc hay một phép suy luận lôgic là giải được
Loại bài tập định tính tổng hợp là loại bài tập định tính khi giải HS phải
áp dụng một chuỗi các suy luận lôgic dựa trên cơ sở các định luật, quy tắc mới
có thể giải được
Loại bài tập đinh tính sáng tạo là loại bài tập định tính giải nó đòi hỏicác phép suy luận lôgic mới, không theo khuôn mẫu quen thuộc, mới có thể tìm
ra phương án giải quyết bài tập
- Bài tập định tính thường có hai dạng: Bài tập giải thích hiện tượng và bàitập dự đoán hiện tượng
1.2.2.2 Bài tập tính toán
Bài tập tính toán là những bài tập muốn giải chúng, ta phải thực hiện mộtloạt phép tính và kết quả thu được là đáp số định lượng, tìm giá trị một số đạilượng vật lí Bài tập tính toán có thể chia làm hai loại:
Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ
đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép toán đơngiản Nó có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, giúp HS hiểu rõ ý nghĩađịnh luật và công thức biểu diễn, sử dụng các đơn vị vật lí tương ứng và có thóiquen cần thiết để giải bài tập phức tạp
Bài tập tính toán tổng hợp là loại bài tập muốn giải nó thì phải vận dụngnhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Kiến thức tích hợp nhiều nộidung kiến thức trong một chương, một phần hoặc các phần của tài liệu vật lí.Loại bài tập này giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy được mối liên hệ giữacác kiến thức vật lí với nhau, luyện tập phân tích những hiện tượng phức tạp rathành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định
1.2.2.3 Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là loại bài tập yêu cầu xác định một đại lượng vật lí, chobiết dụng cụ và vật liệu để sử dụng, yêu cầu HS giải bài tập hoàn toàn theo conđường thực nghiệm hoặc là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứnglời giải lí thuyết
Trang 15Các bài tập thí nghiệm ở trường phổ thông thường các dụng cụ thiết bị thínghiệm có thể khai thác ở phòng thí nghiệm trong nhà trường hoặc HS sử dụngcác thiết bị tự làm Bài tập thí nghiệm có thể là dạng bài tập thí nghiệm định tínhhoặc dạng bài tập thí nghiệm định lượng.
Ta có thể chuyển từ một bài tập định tính hoặc một bài tập tính toán thànhmột bài tập thí nghiệm
Ví dụ về bài tập thí nghiệm:
1 Cầm đầu trên của một sợi dây cao su có quả nặng buộc ở đầu dưới Sợi
dây cao su dãn ra hay co lại, nếu ta đột ngột nâng lên cao hay hạ tay xuống thấp?Hãy làm thí nghiệm kiểm tra dự đoán
2 Cho một khối gỗ hình hộp chữ nhật và một tấm ván phẳng, xác định hệ
số ma sát giữa khối gỗ và tấm ván đó
Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về các mặt giáo dưỡng, phát triểntrí tuệ, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt bồi dưỡng năng lực thựcnghiệm và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn
Hoạt động giải bài tập thí nghiệm luôn gây được hứng thú lớn đối với HS,lôi cuốn được sự chú ý của HS vào các vấn đề bài tập yêu cầu, phát huy tính tíchcực tìm tòi, khám phá và sáng tạo Những số liệu khởi đầu về mặt lí thuyết củabài tập sẽ được kiểm tra tính đúng đắn thông qua các kết quả thu được bằng conđường thực nghiệm
Có thể giải bài tập thí nghiệm dùng những thiết bị rất thông thường, đơngiản, bề ngoài có vẻ kém hiệu lực trong việc gây hứng thú cho HS, song nếu biếtkhai thác lại có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy sáng tạo của HS Ka-pi-xa đã từng nói: “thiết bị dạy học càng đơn giản càng có tác dụng trong việcphát huy năng lực sáng tạo của người học”
1.2.2.4 Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là những bài tập trong đó đối tượng nghiên cứu là những đồthị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng vật lí Nó đòi hỏi HS phải biểudiễn quá trình diễn biến của các hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị
Đồ thị là một hình thức biểu đạt mối quan hệ giữa các đại lượng vật lí,tương đương với cách biểu đạt bằng lời hay công thức Nhiều khi, nhờ vẽ được
đồ thị chính xác, đồ thị biểu diễn số liệu thực nghiệm mà ta có thể tìm được địnhluật vật lí mới (đồ thị là một dạng mô hình sử dụng nghiên cứu vật lí vào trong
Trang 16DHVL) Bởi vậy, các bài tập sử dụng đồ thị hoặc xây dựng đồ thị có vị trí quantrọng trong DHVL.
Các bài tập đồ thị thường có 2 dạng:
- Dạng 1 Giả thiết cho đồ thị, đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đạilượng, thì phải “đọc đồ thị” đòi hỏi phải thông hiểu đồ thị đó, phân tích đặc điểmcủa sự phụ thuộc trên từng phần của nó Nếu sử dụng tỉ xích phải làm sao để cóthể xác định được đại lượng cần tìm theo đồ thị (giá trị trên trục tung, trụchoành, diện tích giới hạn bởi các tọa độ tương ứng và đồ thị, v.v )
- Dạng 2 Từ thông tin giả thiết của bài toán cần phải vẽ đồ thị để giải bàitập Nếu không cho đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng thì phải vẽ
đồ thị theo giả thiết của bài tập hoặc theo các giá trị lấy từ các bảng riêng Muốnvậy, cho HS vẽ các trục tọa độ, chọn tỉ xích nhất định cho chúng, lập các bảng
và sau đó chấm vào mặt phẳng giới hạn bởi các trục tọa độ các điểm có hoành
độ và tung độ tương ứng Nối các điểm đó lại với nhau ta có đồ thị biểu diễn sựphụ thuộc các đại lượng vật lí và sau đó khảo sát như trong dạng 1
1.2.2.5 Bài tập nghịch lí và ngụy biện
Nghịch lí và ngụy biện trong vật lí học đã tồn tại từ lâu trong lịch sử khoahọc Chẳng hạn từ thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên, Zénon ở Élée đã xây dựngmột nghịch lí rất nổi tiếng thời cổ đại về chuyển động, gọi là “nghịch lí vềAchille và con rùa” theo đó thì chàng dũng sĩ Achille không bao giờ đuổi kịpcon rùa Ở Trung Quốc cũng ở thời đó cũng có chuyện nghịch lí khoảng cách từTrái Đất đến Mặt Trời, học giả tài ba như Khổng Tử cũng không sao giải thíchđược: buổi sáng, Mặt Trời dường như gần ta hơn nên trông thấy to hơn, nhưnglại không nung nóng ta nhiều so với buổi trưa Mặt Trời dường như ở xa ta hơn,trông thấy nhỏ hơn lại nung nóng ta hơn!
Trước khi khoa học khẳng định được định luật bảo toàn và chuyển hóanăng lượng đã có vô số những “đồ án động cơ vĩnh cửu” ra đời trên những ngụybiện khác nhau về cơ chế hoạt động của chúng
Trong thế kỉ 20, trong vật lí học còn nhiều nghịch lí vẫn chưa giải quyếtđược Các nghịch lí đó được giải quyết là bước tiến mới về khoa học Nói cáchkhác: không ít khám phá, phát minh mới ra đời trên cơ sở nghịch lí vật lí
Ví dụ: cuối thế kỉ 19 theo quan điểm của vật lí Newton thì vận tốc ánh sángtrong những vật chuyển động khác nhau phải khác nhau Song mọi thí nghiệm
Trang 17đo vận tốc ánh sáng, đặc biệt là những thí nghiệm rất chính xác của Michelson,lại luôn cho kết quả “nghịch lí”: vận tốc ánh sáng không bao giờ thay đổi dù vậtchuyển động như thế nào! Chính “nghịch lí” này đã dẫn đến sự ra đời của thuyếttương đối hẹp A Einstein, mở ra kỉ nguyên mới của vật lí học thế kỉ 20.
Trong DHVL, tiếp cận với những cách hiểu thiếu sót và sai lầm về tri thứcvật lí nảy sinh do sự phân tích phiến diện, các điều kiện qui định sự diễn biếncủa hiện tượng Học giải những bài toán nghịch lí và ngụy biện sẽ là một trongnhững con đường có hiệu quả và thú vị; học cách khắc phục sự phiến diện, hờihợt trong tìm hiểu, phân tích, lĩnh hội và vận dụng tri thức vật lí Có thể coi đócũng là con đường tích cực học vật lí thông qua những bài học phản diện, tức làthông qua những ví dụ hiểu sai, vận dụng sai tri thức vật lí
Các bài toán nghịch lí và ngụy biện về vật lí là những bài toán loại đặc biệt
mà phương pháp giải chung nhất là phân tích và tìm ra nguyên nhân của sự hiểusai các khái niệm, định luật và lí thuyết vật lí
Giải các bài tập loại này, công việc đầu tiên phải làm bao giờ cũng lànghiên cứu lại chính khái niệm, định luật và lí thuyết vật lí mà bài toán đề cậpđến Nghiên cứu để hiểu thật chính xác nội dung của khái niệm hoặc định luật:
nó diễn tả mối quan hệ như thế nào, giữa những đại lượng nào trong khái niệmhoặc định luật; điều kiện nào để xảy ra mối quan hệ đó?
Sau khi đã đối chiếu đúng nội dung và phạm vi vận dụng của tri thức vật lítương ứng với nghịch lí và ngụy biện đề cập trong bài toán, ta sẽ bước sang giaiđoạn đi tìm nguyên nhân của kết luận trái ngược hoặc sai khác giữa điều khẳngđịnh trong bài toán với điều đáng lí phải xảy ra theo đúng như kết luận do trithức hiểu đúng đem lại Nói cách khác, ta phải đi tìm lí do hiểu sai về khái niệm,định luật vật lí hoặc phạm vi, điều kiện của bài toán đối với việc vận dụng kháiniệm và định luật vật lí
Có khi ngụy biện xuất phát từ sự cố ý đánh tráo khái niệm, cố ý sử dụng saiđịnh luật, có khi cố ý cho những hằng số vật lí không phù hợp, thậm chí cố ýphạm sai sót trong tính toán Chính vì vậy, ta cần phải thận trọng dò xét cẩn thận,cảnh giác với các kiểu ngụy biện để tìm ra cái sai Tìm ra cái sai lầm của ngườikhác (qua bài tập nghịch lí và ngụy biện) cũng chính là đã học tập tích cực
Do nguyên nhân của những sai lầm tiềm ẩn trong các nghịch lí và ngụybiện luôn đa dạng, cho nên các bài tập loại này bao giờ cũng có nhiều yếu tố
Trang 18mới, bất ngờ, dễ kích thích sự tò mò, tìm hiểu của người giải Các bài toán ngụybiện có tác dụng tích cực rèn luyện năng lực tự đánh giá và kiểm tra mức lĩnh hộitri thức vật lí, còn các bài tập nghịch lí có giá trị lớn phát triển sự khám phá, tìmtòi tri thức.
Hoạt động giải bài tập nghịch lí và ngụy biện có tác dụng lớn trong việc bồidưỡng phát triển tư duy lôgic, tư duy phê phán
1.2.3. Phân loại bài tập theo mức độ nhận thức
Ta có thể chia BTVL làm hai loại: bài tập luyện tập (ôn tập kiến thức, rèn
luyện các kĩ năng) và loại bài tập sáng tạo về vật lí
Nhìn từ góc độ lý luận và phương pháp dạy học thì việc phân loại BTVLcòn nhiều quan điểm khác nhau, như cách phân loại ở trên cũng chỉ có tínhtương đối
1.3 Bài tập trắc nghiệm tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan
1.3.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận
Bài tập trắc nghiệm tự luận là dạng bài tập mà lời giải nó tạo điều kiện cho
HS có cơ hội để phân tích, tổng hợp dự kiện theo ngôn ngữ riêng của mình, dựavào kiến thức, kinh nghiệm học tập và kinh nghiệm cuộc sống
Như vậy, giải bài tập trắc nghiệm tự luận HS có điều kiện bộc lộ năng lựcgiải quyết vấn đề hay khả năng suy luận trong việc:
- Sắp đặt các dự kiện hay sự kiện;
- So sánh các tính chất hay ý kiến;
- Giải thích dựa vào các định luật, qui tắc;
- Vận dụng kiến thức vào những vấn đề cần giải quyết;
- Suy diễn từ những giả thiết đã cho của những đề bài;
- Giải thích hay thiết lập mối tương quan giữa các đại lượng đã biết và đạilượng cần tìm;
- Tự xây dựng lập luận, nhận xét, đề xuất mới về vấn đề bài tập
1.3.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan
Bài tập trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại:
- Loại Điền vào chỗ trống (điền khuyết):
HS phải viết vào chỗ trống thường 1 đến 10 từ, các câu trả lời thường thuộcloại đòi hỏi trí nhớ
- Loại Ghép đôi (hay xướng hợp):
Trang 19Trong loại này, HS tìm cách ghép mỗi từ, cụm từ hay câu trả lời trong mộtcột với một từ, cụm từ hay câu xếp trong cột khác.
- Loại Đúng sai:
Trong loại này, HS đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội dunghay hình thức của câu đúng hay sai
- Loại Câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn (MCQ):
Loại bài tập này gồm có một câu dẫn (hay câu hỏi), đi với nhiều câu trả lời
để HS lựa chọn khi làm bài
1.4 Hướng dẫn HS giải BTVL [14]
1.4.1 Hoạt động giải BTVL
Mục tiêu cần đạt tới khi giải một BTVL là tìm được câu trả lời đúng đắn,
giải quyết được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học
Quá trình giải một BTVL thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài
tập, xem xét hiện tượng vật lí được đề cập và dựa trên kiến thức vật lí toán đểnghĩ tới những mối quan hệ có thể có của cái đã cho và cái phải tìm, sao cho cóthể thấy được cái phải tìm có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cái đã cho Từ
đó tìm ra mối liên hệ tường minh giữa cái cần tìm với cái đã biết, tức là tìm đượclời giải đáp
BTVL đa dạng và phong phú, có nhiều cách phân loại khác nhau (Bài tập
định tính, Bài tập định lượng, Bài tập TN, Bài tập nguỵ biện, ) Dựa vào cáchđặt vấn đề, tiêu chí giải mà phân loại các dạng BTVL
Cũng khó có thể đưa ra một phương pháp chung để giải BTVL có tính vạn
năng để áp dụng cho việc giải một bài tập cụ thể
Ở đây, chỉ đưa ra sơ đồ định hướng chung (gồm các bước) đề tiến hành giải
một BTVL (HS đã được làm quen từ THCS) Dựa vào các bước để tiến hành giải
một bài tập GV có thể kiểm tra hoạt động học của HS và giúp HS phát triển nănglực tư duy có hiệu quả
Bước 1 Tìm hiểu đầu bài
Bước 2 Xác lập các mối liên hệ cơ bản giữa các dự liệu xuất phát và cáicần phải tìm
Bước 3 Rút ra các kết quả cần tìm
Bước 4 Kiểm tra xác nhận kết quả, nhận xét lời giải, tìm lời giải khác (nếu
có thể)
Trang 201.4.2 Cơ sở định hướng việc hướng dẫn HS giải BTVL
Muốn cho việc hướng dẫn giải bài tập được định hướng một cách đúng đắn
GV phải phân tích được phương pháp giải bài tập cụ thể bằng cách vận dụngnhững hiểu biết về tư duy giải bài tập vật lí Mặt khác phải xuất phát từ mục đích
sư phạm cụ thể của việc cho HS giải bài tập để xác định kiểu hướng dẫn phùhợp Nội dung trên được minh hoạ bằng sơ đồ sau:
Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến các kiểu hướng dẫn giải BTVL theo các
mục đích sư phạm khác nhau
Mức độ 1 Hướng dẫn theo mẫu (Hướng dẫn angôrit) là sự hướng dẫn chỉ
rõ cho HS những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hànhđộng đó để đạt được kết quả mong muốn Những hành động này được coi lànhững hành động sơ cấp HS phải hiểu một cách đơn giá, HS đã nắm vững, nếuthực hiện theo các bước đã qui định theo con đường đó HS sẽ giải được bài tập
đã cho
Kiểu định hướng theo mẫu đòi hỏi GV phải phân tích một cách khoa họcviệc giải bài toán, xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng để xây dựng angôritgiải bài tập
Kiểu hướng dẫn theo mẫu nhằm luyện tập cho HS kĩ năng giải một loại bàitập nào đó Khi xây dựng các angôrit giải cho từng loại bài tập cơ bản, điển hìnhnào đó (ví dụ bài tập động học, động lực học,…) thông qua việc giải toán HSnắm được các angôrit giải cho từng loại bài tập
Mức độ 2 Hướng dẫn tìm tòi Là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho
HS suy nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải quyết, không phải là GV chỉ dẫn cho HShành động theo mẫu đã có mà GV gợi mở để HS tự tìm cách giải quyết, HS tựxác định các hành động cần thực hiện để đạt được kết quả Kiểu định hướng nàyđảm bảo yêu cầu phát triển tư duy của HS, tạo điều kiện để HS tự lực tìm tòicách giải quyết
Tư duy giải bài tập
Mục đích sư phạm
Phân tích Phương pháp giải bài tập cụ thể
Xác định kiểu hướng
dẫn
Phương pháp hướng dẫn giải bài tập
cụ thể
Trang 21Khó khăn của kiểu định hướng tìm tòi chính là ở chỗ hướng dẫn của GVphải làm sao không đưa HS thực hiện các hành động theo mẫu mà phải có tácdụng hướng tư duy của HS vào phạm vi cần và có thể tìm tòi phát hiện cách giảiquyết vấn đề của bài tập.
Mức độ 3 Định hướng khái quát chương trình hoá Là kiểu hướng dẫn HS
tự tìm tòi cách giải quyết Nét đặc trưng của kiểu hướng dẫn này là GV địnhhướng hoạt động tư duy của HS theo đường lối khái quát hoá giải quyết vấn đề
Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực tìm tòi giải quyết của HS Nếu HS gặptrở ngại không vượt qua được để tìm cách giải quyết thì GV phát triển địnhhướng khái quát ban đầu, cụ thể hoá thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho
HS để thu hẹp hơn phạm vi tìm tòi, giải quyết vấn đề Nếu HS vẫn không giảiquyết được thì GV chuyển dần hướng dẫn theo mẫu giúp HS hoàn thành yêu cầucủa một bước, sau đó yêu cầu HS tự lực, tìm tòi giải quyết bước tiếp theo Cứnhư thế cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra
Kiểu hướng dẫn khái quát chương trình hoá trong hoạt động giải BTVL của
HS nhằm phát huy tính độc lập, tự lực thực hiện các hành động tư duy đồng thờidạy cho HS cách tư duy
Như vậy, GV phải có kĩ thuật đặt ra hệ thống câu hỏi chuyển từ mức độ 3đến mức độ 1 giúp đỡ HS trong quá trình hoạt động giải một BTVL cụ thể
1.5 Thực trạng sử dụng BTVL hiện nay
Trong nhà trường GV chủ yếu quan tâm sử dụng các bài tập định lượng,giải quyết câu hỏi (vấn đề) đặt ra bằng các phép tính toán và giải các phươngtrình Người ta dành nhiều công sức vào việc dạy HS nhận diện các kiểu, loạitoán vật lí khác nhau và cách thức vận dụng các công thức vật lí cho từng kiểu,loại toán đó, mà quyên phần lớn vấn đề ý nghĩa đích thực của việc giải toán vật lílàm sáng tỏ bản chất vật lí của các hiện tượng mô tả trong các đề toán nói riêng
và các hiện tượng thực xảy ra trong đời sống bao gồm cả các đối tượng kĩ thuật,
ta đã biết, các bài toán giáo khoa về vật lí không chỉ gồm những bài tập định
lượng mà còn nhiều loại BTVL theo cách phân loại.
Thông thường việc giải BTVL không được bắt đầu tìm hiểu bản chất vật lí
của chúng mà chỉ chọn máy móc những công thức có chứa các đại lượng đã cho.Cùng với điều đó, giải các phương trình, tính toán làm lu mờ bản chất vật lí của
Trang 22bài tập nói một cách khác là toán học hóa bài tập (bài toán) vật lí, đó là một quanđiểm sai lầm.
Ta thường gặp những sai lầm điển hình trong việc chọn hệ đơn vị đo lườngcác đại lượng vật lí, ít khi đáp số lại kết thúc bằng một phép phân tích hay đánhgiá nào đó về tính chất thực tế và chính xác của nó
Không ít HS và sinh viên lúng túng, vướng mắc trong giải toán vật lí Điềunhận xét thường được nghe là: “em hiểu tài liệu (lý thuyết SGK, giáo trình)nhưng em không làm được toán!” Thái độ tiêu cực của HS, sinh viên trong việc
giải BTVL là những trở ngại lớn nhất mà GV vật lí cần thấy ở họ có những quan
điểm sai về vấn đề giải bài tập:
- Mới đọc qua đề bài toán đã (cho là) thấy rõ ngay con đường giải bài toánđó;
- Không tiến hành “thử và sai” hoặc không tiếp cận bài toán một cách khác;
- (Cho rằng) chỉ có một con đường “đúng” để giải bài toán;
- (Cho rằng) không thể thay đổi bài toán để cho nó trở thành đơn giản hơn;
- (Cho rằng) việc giải toán luôn luôn diễn biến theo một cách thức lôgic,thẳng tắp;
- Không nghĩ đến việc giải toán theo lối phỏng đoán và đi theo “đườngvòng”
Bước đầu tìm hiểu thực trạng dạy BTVL ở một số trường THPT ở Tp Tân
An, ngoài những vấn đề nêu trên còn cho thấy:
- Trong quá trình dạy học, GV chưa khai thác hết vai trò, chức năng to lớncủa BTVL
- Để thi tốt nghiệp, thi Đại học có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay (nộidung đề thi chỉ tập trung kiến thức vật lí lớp 12 và đề thi trắc nghiệm khách quandạng MCQ), GV vật lí chỉ coi trọng rèn luyện cho HS giải BTVL theo hướng đềthi trắc nghiệm khách quan Những dạng bài tập khác vẫn chưa được quan tâmđúng mức
1.6 Xây dựng một hệ thống bài tập
1.6.1 Xây dựng hệ thống bài tập
Trong dạy học bất cứ đề tài nào GV cần phải lựa chọn xây dựng một hệthống bài tập Xây dựng một hệ thống bài tập cho quá trình học tập của HS làmột việc khó Cho tới nay, trong các sách về phương pháp giảng dạy chưa có tiêu
Trang 23chuẩn, có cơ sở khoa học cho sự lựa chọn định tính và định lượng bài tập ápdụng cho từng mối quan hệ phụ thuộc về vật lí và cho những mối liên hệ đặctrưng nhất.
Cần tìm tòi về phương pháp để xác định những mối liên hệ quan trọng nhất,điển hình nhất Có thể xuất phát giải những bài tập cơ bản cho HS xây dựng nênmột vài angôrit giải
Nhiệm vụ giải một bài tập, một số bài tập có tác dụng làm hiểu rõ đặc tínhcủa mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng vật lí có hữu ích, đáng kể hơn việcgiải hàng chục bài tập chọn trong các sách bài tập khác nhau Xây dựng hệ thốngbài tập cần xác định rõ những vấn đề sau:
- Mục đích của hệ thống bài tập?
- Hệ thống bài tập phải đạt được những tiêu chí nào?
Hệ thống bài tập cần có tính hệ thống chặt chẽ trong việc lựa chọn nộidung, trong áp dụng những thủ thuật giải, bài tập phải đi từ đơn giản đến phứctạp Bảo đảm nguyên tắc phân hóa và cá biệt hóa trong dạy học Trong hệ thốngbài tập, mỗi bài tập sau phải đem lại cho HS một điều mới lạ nhất định và mộtkhó khăn vừa sức; HS phải hiểu trong bài tập này có gì mới so với các bài tậpgiải trước đó
Hệ thống bài tập dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” với mục đích làmphương tiện thực hiện mục tiêu dạy học của chương và mục tiêu dạy học của cácbài trong chương trình hiện hành:
Bài 35 Tính chất và cấu tạo hạt nhân
Bài 36 Năng lượng liên kết của hạt nhân – Phản ứng hạt nhân
Bài 37 Phóng xạ
Bài 38 Phản ứng phân hạch
Bài đọc thêm: Lò phản ứng PWR
Bài 39 Phản ứng nhiệt hạch
Theo các tiêu chí cụ thể như sau:
- Bảo đảm tính hệ thống về kiến thức và kỹ năng; từ đơn giản đến phức tạp;
- Phù hợp với năng lực học tập vật lí của HS;
- Có tính đa dạng bài tập trong hệ thống bài tập Trong hệ thống bài tập có 2phần: phần bài tập câu hỏi về lý thuyết và phần những bài tập tự luận kết hợp trắcnghiệm khách quan;
Trang 24- Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình:
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương “Hạt nhân nguyên tử” là các yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần phải và cóthể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản,tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và cóthể đạt được
Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kĩnăng
Mỗi yêu cầu về kiến thức, kĩ năng có thể được chi tiết hoá hơn bằngnhững yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cụ thể, tường minh hơn; được minh chứngbằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung kiến thức, kĩ năng và mức độ cần đạt
đã học ở mônHoá học lớp 10
Trang 25- Nêu được phản ứng hạt nhân là gì.
- Phát biểu được các định luật bảo toàn số khối, điện tích, động lượng và năng lượng toàn phần trong phản ứng hạt nhân
- Nêu được hiện tượng phóng xạ là gì
- Nêu được thành phần và bản chất của cáctia phóng xạ
- Viết được hệ thức của định luật phóng xạ
- Nêu được một số ứng dụng của các đồng
vị phóng xạ
- Nêu được phản ứng phân hạch là gì
- Nêu được phản ứng dây chuyền là gì và nêu được các điều kiện để phản ứng dây chuyền xảy ra
- Nêu được phản ứng nhiệt hạch là gì và nêu được điều kiện để phản ứng nhiệt hạchxảy ra
- Nêu được những ưu việt của năng lượng phản ứng nhiệt hạch
Kĩ năng
Vận dụng được hệ thức của định luật phóng xạ để giải một số bài tập đơn giản
1.6.2 Sử dụng hệ thống bài tập vào dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử”
Hệ thống bài tập mà chúng tôi xây dựng, được sử dụng vào mọi giai đoạncủa quá trình dạy học: trong giờ học xây dựng kiến thức mới (sử dụng bài tậpcâu hỏi kiến thức bài cũ), trong giờ bài tập, trong ôn tập, trong tổng kết chương,trong luyện ôn thi học kỳ, thi tốt nghiệp THPT và bồi dưỡng thi vào đại học.Các bài tập trong hệ thống bài tập yêu cầu HS làm ở lớp có hướng dẫn của
GV và giao cho HS tự lực giải ở nhà
Kết luận chương 1
Nội dung cơ sở lý luận xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dạy họcchương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 THPT, tác giả luận văn đã hệ thống nhữngvấn đề về cơ sở lý luận; BTVL, vai trò chức năng của bài tập trong quá trình dạyhọc, các dạng BTVL, hướng dẫn HS giải BTVL, các tiêu chí để xây dựng hệthống bài tập để sử dụng bài tập vào các hình thức khác nhau trong dạy học
Trang 26Việc phân loại, lựa chọn hệ thống bài tập vừa thực hiện tốt chức năng ôntập củng cố hệ thống hoá kiến thức vừa góp phần phát triển tính tự lực, tích cựctrong nhận thức của học sinh, giúp phát triển năng lực diễn đạt ngôn ngữ cho các
em Trong quá trình học tập học sinh không còn thụ động tìm các bài tập để giải
mà các em có một nhiệm vụ lớn hơn đó là phải phân loại, tìm phương pháp giảichung cho mỗi loại, cao hơn nữa là tự mình đặt các đề bài và giải chúng mộtcách nhanh chóng theo phương pháp đã có So với việc phải giải một khối lượnglớn bài tập trong các sách khác nhau thì việc phân loại, lựa chọn hệ thống bài tập
có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều Ở đây vừa phát huy năng lực tự học của học sinhvừa tiết kiệm thời gian học tập
Vậy thông qua việc phân loại, xây dựng hệ thống bài tập không nhữngkiến thức của học sinh được rèn luyện và nâng cao mà tính tự lực, tích cực, chủđộng trong học tập Chất lượng, hiệu quả dạy học được nâng lên
Những tiêu chí để xây dựng hệ thống bài tập là cở sở định hướng choviệc xây dựng hệ thống bài tập và sử dụng hệ thống bài tập đó vào dạy học đượctrình bày trong chương 2
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY
HỌC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” – VẬT LÍ 12 THPT
2.1 Mục tiêu dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử”
2.1.1 Mục tiêu của chương “Hạt nhân nguyên tử”
- Biết cấu tạo của các hạt nhân nguyên tử; và biết sử dụng đơn vị khốilượng nguyên tử Hiểu và biết tính toán độ hụt khối và năng lượng liên kết hạtnhân
- Biết sự phóng xạ, định luật phóng xạ
- Hiểu và biết các định luật bảo toàn trong phản ứng hạt nhân
Trang 27- Hiểu và biết về năng lượng của một phản ứng hạt nhân và những ứngdụng kiến thức vật lí hạt nhân
2.1.2 Những nội dung kiến thức cơ bản HS cần phải nắm vững chương
“Hạt nhân nguyên tử”
- Hạt nhân của mỗi nguyên tử tạo nuclôn (trong đó gồm: Z prôton, N = (A –Z) nơtrôn)
Ký hiệu A
Z X điện tích hạt nhân +Ze
- Hệ thức Anhxtanh giữa năng lượng và khối lượng: E mc 2
- Năng lượng liên kết wlk của hạt nhân A
- Quá trình biến đổi của hạt nhân được mô tả bằng phản ứng hạt nhân
Trong phản ứng hạt nhân có các định luật bảo toàn:
Năng lượng toàn phần;
W > 0: tỏa năng lượng
W < 0: thu năng lượng
- Các phản ứng hạt nhân tỏa năng lượng quan trọng (có nhiều ứng dụng)
- Có thể kèm theo phát xạ
+Kích thích
2.2 Hệ thống bài tập chương “Hạt nhân nguyên tử”
2.2.1 Phần I: Hệ thống bài tập câu hỏi là dạng bài tập định tính (sưu tầm)
CH1:
Trang 28a) Trong phóng xạ ngoài electron ra còn có hạt nào phát ra kèm theo nữakhông? Căn cứ vào đâu để kết luận điều đó?
b) Tia + hoặc - có phải là bức xạ hay không? Giải thích?
c) Thực chất của hiện tượng phóng xạ là sự biến đổi hạt gì? Viết phươngtrình của quá trình biến đổi đó?
Z X eZY
Số prôtôn của Y lớn hơn của X 1 đơn vị, số A không đổi nên số nơtrôn của
Y nhỏ hơn của X 1 đơn vị Vậy thực chất của phóng xạ - là:
Sử dụng buồng Ưynhxơn: cho tia phóng xạ qua không khí chứa hơi nướcquá bão hòa thì nước sẽ ngưng tụ trên các ion do tia phóng xạ tạo ra trên đường
đi của nó, làm thành các hạt nước nhỏ li ti Chiếu ánh sáng mạnh theo phươngngang, thấy quỹ đạo hạt qua các hạt nước và chụp ảnh chúng Từ ảnh, phân tích
và tìm được nhiều đặc điểm của các tia phóng xạ
CH3: Có cách nào làm tăng hay giảm sự phóng.xạ không ?
TL3:
Phóng xạ là một quá trình tự phát (có quy luật nội tại) không phụ thuộc cácyếu tố hóa, lý bên ngoài
Trang 29Vì vậy, không có cách nào làm thay đổi độ phóng xạ.
CH4:
a) Với khối lượng 235
92U thế nào thì có quá trình phóng xạ tự nhiên, phản ứngdây chuyền ? Vì sao ?
b) Trong từng quá trình trên, tổng khối lượhg nghỉ của các hạt riêng biệttrước phản ứng lớn hơn hay nhỏ hơn tổng khối lương nghỉ các hạt riêng biệt sauphản ứng ? Vì sao ?
A Z
Nếu m > 0 E > 0: phản ứng toả năng lượng
Nếu m < 0 E < 0: phản ứng thu năng lượng
Cách 2:
Gọi m1, m2, m3, m4: độ hụt khối từng hạt nhân X1, X2, X3, X4
Thì độ hụt khối của phản ứng hạt nhân:
ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm ; ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cE ΔmΔmΔmΔmΔm;ΔEΔm.cm.c
Nếu m > 0 E > 0: phản ứng toả năng lượng
Nếu m < 0 E < 0: phản ứng thu năng lượng
CH6: So sánh sự phóng xạ và phản ứng hạt nhân?
Trang 30+ Đều là phản ứng hạt nhân (có biến đổi hạt nhân)
+ Đều tỏa năng lượng
Trong tự nhiên cácbon gồm các đồng vị C11, C12, C13, C14 chiếm theo những
tỉ lệ hoàn toàn khác nhau Trong đó, C12 là phổ biến nhất
C = 12,011 là tính theo tỉ lệ các đồng vị ở trên nên nó không thể bằng 12
CH9: Hạt nhân nào bền vững hơn?
TL9:
Sự bền vững của hạt nhản không E/A phải do
năng lượng liên kết của hạt nhân quyết định Thực
Trang 31nghiệm cho thấy rằng, độ bền vững này phụ thuộc vào năng lượng liên kết riêng(xem đồ thị thực nghiệm)
Năng lượng liên kết riêng E/A là năng lượng liên kết ứng với 1 nuclôn.Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền
Từ đồ thị ta thấy các hạt nhân trung bình E/A lớn hơn cả
Phản ứng tỏa năng lượng sinh ra các hạt nhân bền hơn nên chỉ có thể là: sựtổng hợp các hạt nhân nhẹ thành hạt nhân nặng hơn (phản ứng nhiệt hạch) hoặcphản ứng phân hạch của các hạt nhân nặng tạo các hạt nhân trung bình
CH10: Trong phóng xạ, vì sao gọi T là chu kì bán rã ?
TL10:
Theo nghĩa "bán rã" nghĩa là phóng xạ mất một nửa
Cứ sau T, khối lượng của chất phóng xạ bị phân rã mất một nửa khối lượngcủa đầu chu kì và cứ thế chất phóng xạ sau T, 2T, 3T, KT chỉ còn lại
2 2 2 2 Chính vì vậy T được gọi là chu kì bán rã
CH11: Vì sao trong phản ứng hạt nhân không có định luật bảo toàn khối
TL12:
Viết phương trìuh phản ứng: 23290Th m He nβ) có phóng xạ β42 20882Pb
Dùng các định luật bảo toàn số khối và điện tích với chú ý phóng xạ β) có phóng xạ β- hayβ) có phóng xạ β+đều có số khối bằng 0
232 = 4m + 0.n + 208 m = 6; có 6 lần phóng xạ α
90 = 2m ± l.n + 82 = 12 + 82 ± n (với n > 0)
Nếu 90 = 12 + 82 + n thì vô lý
Vậy 90 = 12 + 82 - n n = 4 4 lần phóng xạ β) có phóng xạ β
Trang 32-ra với nhiều con đường khác nhau)
CH13: So sánh thành phần tia phóng xạ của một chất phóng xạ và thành
phần tia phóng xạ của khối chất phóng xạ tự nhiên ? Vì sao có sự khác nhau đó?
TL13:
Một chất phóng xạ khi phân rã chỉ phát ra một loại (hoặc hai) tia phóng xạ
mà thôi Ví dụ C14 phóng xạ β) có phóng xạ β- thành N rồi không phóng xạ nữa (vì nó chỉ gồm
Đồng vị đều có Z như nhau, nhưng A khác nhau nên N khác nhau
Đồng vị bền không bị phân rã, không biến đổi thành hạt nhân khác Cònđồng vị phóng xạ thì bị phân rã tự phát và biến đổi thành hạt nhân khác
Hoặc qua độ phóng xạ H : nếu H càng lớn (số phân rã trong 1s càng lớn) thì
sự phóng xạ càng nhanh, càng mạnh)
Thực tế (ví dụ trong y học hạt nhân), người ta dùng H để đánh giá và chọncác chất phóng xạ có H trung bình (ví dụ cho bệnh nhân bị bướu cổ uống
Trang 33Photphat đồng vị phóng xạ với H vừa phải để quá trình phóng xạ xảy ra từ từ vàtiêu diệt các bướu nhưng không quá kéo dài gây nhiễm độc tia phóng xạ chonhững người xung quanh.
CH16: Tia phóng xạ khác tia α và β) có phóng xạ β ở những điểm nào ?
CH17: Phản ứng nhiệt hạch là gì ? Điều kiện nào xảy ra phản ứng nhiệt
hạch ? Giải thích ? Nêu những lý do khiến người ta quan tâm nhiều đến nănglượng nhiệt hạch
b) Điều kiện xảy ra phản ứng nhiệt hạch :
- Do các hạt nhân tích điện dương nên đẩy nhau Muốn chúng kết hợp đượcphải cung cấp năng lượng rất lớn để chúng thắng lực đẩy Coulomb và tạo nên hạtnhân mới Vì thế phản ứng nhiệt hạch chỉ xảy ra ở nhiệt độ rất cao nên gọi làphản ứng nhiệt hạch
- Vậy: nhiệt độ rất cao (hàng chục, hàng trăm triệu độ) là điều kiện để xảy
ra phản ứng nhiệt hạch
c) Lý do quan tâm nhiều đến năng lượng nhiệt hạch :
- Năng lượng nhiệt hạch là nguồn năng lượng vô tận vì nhiên liệu (2
1H,3
1H )
có rất nhiều trên Trái đất (trong nước)
Trang 34- Về mặt sinh thái, phản ứng nhiệt hạch sạch hơn phản ứng phân hạch vì ít
có bức xạ hay cặn bã phóng xạ làm ô nhiễm môi trường
2.2.2 Phần II: Hệ thống bài tập tự luận (sưu tầm)
Bài 1: Tính số nơtron trong 119g urani 238
92U
Định hướng tư duy cho HS:
Trong mỗi hạt nhân, số nơtron bằng hiệu của số nuclôn và số hạt prôtôn Đểtính được số nơtron trong một khối lượng nào đó của một chất, ta cần biết được
số nguyên tử trong khối lượng đó là bao nhiêu
Lời giải
Số nơtron trong hạt nhân 238
92U là : No = A - Z = 238 - 92 = 146
Mỗi mol 238
92U (238gam) chứa sổ hạt (nguyên tử) là NA, vậy trong m gam
chứa số nguyên tử (cũng là số hạt nhân) là :
Bài 2: Tính năng lượng liên kết riêng trong nguyên tử 16
8O Biết khối lượngcủa nguyên tử này bằng mO=15,99491u; khối lượng prôtôn là mp=l,00783u; khốilượng nơtron là mn=1,00867u
Định hướng tư duy cho HS:
Biết được khối lượng các nuclôn và khối lượng hạt nhân ôxi, ta tính được
độ hụt khối nên sẽ tính được năng lượng liên kết và từ đó tính năng lượng liênkết riêng
Lời giải
Tổng khối lượng của các nuclôn riêng biệt có mặt trong nguyên tử 16
8O là:
mO = 8mp + 8mn
Khi chúng liên kết với nhau để tạo thành hạt nhân 16
8O thì có khối lượng củahạt nhân Vậy độ hụt khối của nguyên tử này bằng :
Trang 35Định hướng tư duy cho HS:
Do độ hụt khối của các hạt nhân trước và sau phản ứng là khác nhau nêntheo hệ thức Anh-xtanh thì tổng năng lượng nghỉ của chúng cùng khác nhau Nếutổng năng lượng nghỉ của các hạt trước phản ứng lớn hơn tổng năng lượng nghỉcác hạt sau phản ứng (nói cách khác, tổng năng lượng nghỉ các hạt trước phảnứng lớn hơn tổng khối lượng nghỉ các hạt sau phản ứng) thì phản ứng tỏa nănglượng và năng lượng tỏa ra đúng bằng độ chêch lệch của năng lượng nghỉ củachúng
Định hướng tư duy cho HS:
Trang 36Để tính năng lượng tỏa ra trong một phản ứng, cách làm hoàn toàn giốngnhư các bài toán trên Tuy nhiên, trong bài toán này cần chú ý rằng : để phản ứng
có thể xảy ra thì cần tiêu tốn một năng lượng nào đó - chính là động năng củaprôtôn khi bắn vào hạt nitơ Vì vậy sau khi tính toán năng lượng do phản ứng tỏa
ra, phải trừ đi phần năng lượng ban đầu này
Vậy năng lượng giải phóng ra do phản ứng là : W m c 2 4,97MeV
Nhưng để phản ứng xảy ra thì phải tiêu tốn một năng lượng 1,2 MeV nênphần năng lượng còn lại giải phóng ra do phản ứng là :4,97 1, 2 3,77
Bài 5: Khi hạt prôtôn tương tác với hạt nhân liti 7
3Li thì tạo thành hai hạtgiống nhau và giải phóng năng lượng W0 =17,3MeV Xác định các hạt tạo thành
và tính năng lượng giải phóng ra nếu số hạt prôtôn tham gia phản ứng bằng sổhạt nhân chứa trong 1gam liti
Định hướng tư duy cho HS:
Hạt được tạo thành sau phản ứng được xác định theo các đlbt
Năng lượng giải phóng cho bởi mỗi phản ứng đã biết Để tính năng lượnggiải phóng do nhiều phản ứng, ta cần phải tính số phản ứng xảy ra (mỗi prôtôncho một phản ứng)
Lời giải
Tổng số nuclôn của hệ trước phản ứng 2 7
1p3Li:8 và số prôtôn: 4, do hai hạtsau phản ứng giống nhau nên các hạt này chỉ có thể: hạt heli: 4
2He.Mỗi phản ứng cần có một prôtôn Số prôtôn tham gia phản ứng bằng số hạtnhân có trong 1 g liti, vậy số hạt này bằng :
Trang 37Wα = 4 MeV Xác định động năng của hạt Li tạo thành Biết : mp= u; mBe = 9u ;
mα = 4u ; mLi = 6u
Định hướng tư duy cho HS:
Trong sự tương tác của các hạt trong
phản ứng thì động lượng của hệ bảo toàn Nếu
chú ý đến mối quan hệ giữa động lượng và
động năng, cùng với điều kiện hạt α bay
vuông góc với prôtôn thì có thể suy ra động năng của hạt Li
Lời giải
Theo định luật bảo toàn động lượng thì : p p p p Li
Do hạt α bay vuông góc với hướng bay của hạt prôtôn (hình vẽ) nên ápdụng định lí Pi-ta-go ta có: 2 2 2 2 2 2 2 2 2
Định hướng tư duy cho HS:
Trang 38Quan hệ giữa số hạt ban đầu và số hạt còn lại sau một thời gian nào đó chỉthông qua chu kì bán rã (hoặc hằng số phóng xạ) của chất phóng xạ Vậy chỉ cầnxác định T hoặc λ.
Như vậy sau 3 năm, số hạt giảm đi 64 lần
Cách thứ hai : Sau 1 năm thì số hạt chỉ còn lại 1/4 số hạt ban đầu, nghĩa là 1năm bằng 2 chu kì bán rã Sau thời gian 3 năm tức là sau 6 chu kì bán rã Vậy số
hạt còn lại sau 3 năm là: 6
Định hướng tư duy cho HS:
Biết số hạt ban đầu và số hạt bị phóng xạ, ta tính được số hạt còn lại sauthời gian t Từ định luật phóng xạ, ta sẽ tính được chu kì bán rã của chất phóngxạ
ln 2
3,6ln
t T
Trang 39Hãy xác định số nguyên tử bị phóng xạ trong 1 g đồng vị phóng xạ xêdi
137
55Cstrong khoảng thời gian t = 20 ngày biết chu kì bán rã của chất này là T = 30ngày
Định hướng tư duy cho HS:
Có thể tính được số hạt ban đầu trong lg Cs, biết được chu kì bán rã ta sẽtính được số hạt còn lại sau thời gian t Vậy số hạt đã bị phóng xạ sẽ bằng hiệu sốhạt ban đầu và số hạt còn lại sau thời gian t
Lời giải
Số hạt ban đầu (số hạt có trong 1 g xêdi) là :
137
A o
Định hướng tư duy cho HS:
Sau khi xác định số hạt ban đầu, ta sử dụng mối quan hệ giữa độ phóng xạ
và số hạt, sau đó dùng định luật phóng xạ thì sẽ tính được độ phóng xạ sau thờigian t
Trang 40Bài 11:
Tìm hằng số phóng xạ của rađôn nếu biết rằng sau thời gian t = 1 ngày đêmthì số hạt ban đầu bị giảm đi 18,2%
Định hướng tư duy cho HS:
Biết được tỉ lệ số hạt bị giảm (đã phân rã) sẽ tính được tỉ lệ số hạt còn lạisau thời gian t Trong biếu thức của định luật phóng xạ, có thể ước lược số hạt No
a) Hiện tại số nguyên tử U238 lớn gấp số nguyên tử Pb206 là bao nhiêulần ?
b) Tuổi của mẫu khoáng vật là bao nhiêu ?
Định hướng tư duy cho HS:
*Vì khối lượng U238 và Pb206 trong mẫu khoáng vật đã cho nên có thểtính được số nguyên tử tương ứng của chúng qua số A-vô-ga-đrô
*Số nguyên tử chì hiện tại chính bằng số nguyên tử U238 đã bị phân rã.Biết được số lượng các hạt hiện tại có thể suy ra số hạt U238 ban đầu nên sẽ tìmđược thời gian đã tồn tại của mẫu khoáng vật (tuổi của nó)