Luận văn giúp góp phần bổ sung sự hiểu biết về sự tác động của các yếu tố Vĩ mô và nội tại của các Ngân hàng đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam; kết quả sau khi phân tích về mối quan hệ và mức độ tác động của các yếu tố đến nợ xấu có thể giúp các nhà quản lý ngân hàng nhận diện được các vấn đề nội tại để có hệ thống quản trị rủi ro chính xác, các nhà làm chính sách đề ra chiến lược, chính sách phù hợp nhằm xử lý nợ xấu hiện tại.
Trang 1LÊ MINH NHẬT
PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Quang Thông
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Quang Thông
Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi bảo đảm các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn độc lập không sao chép từ bất
kỳ một công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả
LÊ MINH NHẬT
Trang 3sản
basel về giám sát ngân hàng
EA Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
quốc tế
mực báo cáo tài chính quốc tế
NII Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập ngân hàng
LA Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản
nhiên
lý tài sản
Trang 4Bảng 3.1 Số lượng các NHTM giai đoạn từ 2006 -2014 28
Bảng 3.2 Danh sách 11 NHTM Việt Nam 29
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của 11 NHTM Việt Nam trong giai……… 30
Bảng 3.4 Dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dụng của 11 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006- 2014……… 32
Bảng 3.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng của 11 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 -2014 ……… 33
Bảng 3.6 Tỷ lệ nợ xấu của 11 NHTM Việt Nam…… 35
Bảng 3.7 Mô tả tóm tắt các biến nghiên cứu của mô hình 42
Bảng 3.8 Kết quả mô tả các biến nghiên cứu……… 44
Bảng 3.9 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến…… 45
Bảng 3.10 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng 46
Bảng 3.11 Kết quả hồi quy các yếu tố tác động tới tỷ lệ nợ xấu 48
Bảng 3.12 Kết quả kiểm định Hausman đối với mô hình NPL 49
Trang 5Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng tín dụng của 11 NHTM Việt nam so với toàn hệ
thống Ngân hàng giai đoạn 2006-2014 32 Biểu đồ 3.2 Lợi nhuận sau thuế của 11 NHTM Việt nam giai đoạn 2006-2014 34 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2006-2014 35 Biểu đồ 3.4: Biểu đồ tần suất phần dư NPL 50
Trang 62 Các báo cáo thu thập từ website của Vietstock http://finance.vietstock.vn/
3 Nguyễn Khắc Hải Minh,2014.“Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam”.Luận văn thạc sĩ.Đại học kinh tế Tp HCM
4 Nguyễn Thị Thúy Nga,2014.“Các yếu tố tác đông đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”.Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế Tp.HCM
5 Nguyễn Thị Vân Hiền,2014.“Phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”.Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế Tp.HCM
6 Ngân hàng nhà nước Việt Nam,2005, “Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN”
7 Ngân hàng nhà nước Việt Nam,2007,” Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN”
8 Ngân hàng nhà nước Việt Nam,2013, “ Thông tư số 02/2013/TT-NHNN”
9 Ngân hàng nhà nước Việt Nam,2014, “ Thông tư 36/2014/TT-NHNN”
10 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
11 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013
12 Phạm Nguyễn Hoàng Vũ,2013.“Giải pháp xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam” Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế Tp.HCM
13 Quyết định 254/QĐ-TTg, ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt Đề án “ Cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”
14 Quyết định 843/QĐ-TTg, ngày 31/05/2013 về Đề án “ Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và Đề án “ Thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam”
15 Trương Thị Liễu,2014 “Ảnh hưởng của một số yếu tố đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay” Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế Tp.HCM
Trang 7Tài liệu tiếng Anh
1 Berger, A.N., DeYoung, R.,1997 Problem loans and cost efficient in commercial banks Journal of Banking & Finance,21(6): 849-870
2 Boudriga, A.et al.,2009 Banking supervision and nonperforming loans: a cross- country analysis Journal of Finance Economic Policy,7(4):286-312
3 Dash, MK., Kabra,G,2010.The deteminants of non- performing assets in Indian commercial bank Middle Eastern Finance and Economic,7:94-106
4 Fofack,H.,2005 Non- Performing loans in sub- Saharan Africa : Causal Analysis and Macroeconomic Implications.World Bank Policy ResearchWorking Paper,
7 Nkusu,M.,2011 Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies, IMF Working Paper,WP/11/161
8 Podpeira, J., Weil, L,2008 Bad Luck or Bad Management? Emerging Banking Market Experience Journal of Financial Stability,4(2):135-148
9 Rajan, R., Dhal, S.C,2003.Nonperforming loans and terms of credit of public sector bank in India : An empirical assetment Reserve Bank of India Occasional paper,24(3),81-121
10 Salas,V., Saurina,J,2002.Credit risk in two institutional regimes: Spain commercial and savings bank Jourmal of Financial Service Research,22(3):202-224
11 Sinkey,JF.,Greenwalt,M,1991 Loan-loss experience and risk-taking behavior at large commercial banks Journal of Financial Service Research, 5(1):43-49
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Tên đề tài: Phân tích thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các
Ngân hàng thương mại Việt nam
1.2 Lý do chọn đề tài
Các tổ chức tài chính trung gian giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, chúng cung cấp các cơ chế thanh toán đảm bảo, phù hợp với cung cầu trên thị trường tài chính.Giải quyết các công cụ và thị trường tài chính phức tạp, tạo
ra tính minh bạch thị trường, thực hiện chuyển giao rủi ro và chức năng quản lý rủi
ro
Ngân hàng thương mại ( NHTMCP) là tổ chức tài chính trung gian phổ biến nhất trong nền kinh tế, các ngân hàng cung cấp một gói những dịch vụ khác nhau.Là một trung gian tài chính, NHTMCP đóng một vai trò huyết mạch trong hầu hết các nền kinh tế Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây đối diện với những biến động: sự tụt dốc của thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản đóng băng, tình trạng nợ xấu ngân hàng tăng cao Giải quyết các vấn đề trên từ năm
2011 Chính phủ thực hiện tái cấu trúc kinh tế , trong đó tái cấu trúc hệ thống Tài chính – Ngân hàng là vấn đề trọng tâm nhằm cơ cấu tài chính của tổ chức tín dụng , trong đó có đề cập các biện pháp xử lý nợ xấu mà minh chứng rõ ràng nhất là thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) và tiến hành các vụ mua bán sáp nhập ngân hàng yếu kém
Do đó, việc xem xét và phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, bởi lẽ nợ xấu là “cục máu đông nguy hiểm” gây ách tắc hoạt động hệ thống ngân hàng và cản trở sự phát triển kinh tế, Tìm hiểu nguyên nhân thực trạng nợ xấu hiện nay là gì, những giải pháp nào để giải quyết?
Để trả lợi câu hỏi trên tác giả chọn đề tài: “Phân tích thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt nam” làm đề tài nghiên
cứu
Trang 91.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trong luận văn này tác giả đưa ra các mục tiêu nghiên cứu sau:
(1) Phân tích, đánh giá thực trạng nợ xấu của hệ thống NHTMCP Việt nam trong khoảng thời gian năm 2006 đến 2014
(2) Xác định mức độ tác động của hai nhóm nhân tố : Vĩ mô và nội tại của Ngân hàng đến nợ xấu tại các NHTM Việt nam, đề xuất gợi ý nhằm góp phần hạn chế
và xử lý nợ xấu tại các NHTM Việt nam
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nợ xấu của ngân NHTM Việt nam được thể hiện qua chỉ số tài chính tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (Non-performing loan NPL)
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu 11 NHTMCP Việt nam (bao gồm 3 NHTMNN và
8 NHTMCP, không bao gồm các NHTM nước ngoài).Tác giả quy ước sử dụng thuật ngữ NHTM trong luận văn này thay thế cho thuật ngữ NHTMCP
Về thời gian: Dữ liệu được dùng thực hiện luận văn được thu thập trong khoảng thời gian năm 2006 tới năm 2014, nguồn dữ liệu từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng và số liệu từ các trang web của các tổ chức
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau đây:
(i) Phương pháp định tính: dựa vào kết quả và mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu trước để dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Việt nam
(ii) Phương pháp định lượng: Trên cơ sở xây dựng các dữ liệu và mô hình hồi quy
Đề tài tiến hành kiểm định mô hình nghiên cứu, xác định mức độ ảnh hưởng các nhân tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu của NHTM Việt nam thông qua phương pháp bình phương bé nhất (OLS) theo đường thẳng (Brooks, 2008)
Trang 101.6 Ý nghĩathực tiễn của nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt nam, vì vậy luận văn này có một số đóng góp vào ý nghĩa thực tiễn như sau:
(1) Luận văn giúp góp phần bổ sung sự hiểu biết về sự tác động của các yếu tố Vĩ
mô và nội tại của các Ngân hàng đến nợ xấu của các NHTM Việt nam
(2) Kết quả sau khi phân tích về mối quan hệ và mức độ tác động của các yếu tố đến nợ xấu có thể giúp các nhà quản lý ngân hàng nhận diện được các vấn đề nội tại để có hệ thống quản trị rủi ro chính xác, các nhà làm chính sách đề ra chiến lược, chính sách phù hợp nhằm xử lý nợ xấu hiện tại
1.7 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài
Chương 2 :Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến nợ xấu tại NHTM
Chương 3: Đánh giá các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM Việt nam Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt
nam
Trang 11CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
NỢ XẤU TẠI NHTM
2.1 TỔNG QUAN NỢ XẤU.
Hiện nay, Nợ xấu” Non –performing loan” (NPL) được hiểu là các khoản
nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng.Sau đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt nam:
Theo quốc tế:
Theo tổ chức tiền tệ thế giới (IMF): trong hướng dẫn tính toán các chỉ số
lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS) , IMF định nghĩa về nợ xấu như sau:
“Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngàyhoặc hơn; khi các khoảnlãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ khôngthể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế
(IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004)
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế(IAS): chuẩn mực Kế toán quốc tế về
ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL) Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000, lần 2 vào tháng 12 năm 2003) và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống
do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra
Trang 12Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách hàng) Hệ thống này được coi
là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, nó đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tiếp tục nghiên cứu
để hoàn chỉnh
Theo Ủy ban basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS):trong các hướng dẫn
về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc các khoản nợ được cholà không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau đây xẩy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày
(Basel committee on banking Supervision, 2002)
BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xẩy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực
tế nhận được
Tại Việt nam
Khái niệm nợ xấu xuất hiện từ khi quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theoQuyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày22/04/2005 của thống đốc NHNN Việt nam
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493 của NHNN ban hành ngày 22/4/2005 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi bổ sung Quyết định 493 thì:
Trang 13Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 ( nghi ngờ), nhóm 5 ( có khả năng mất vốn) được quy định tại điều 10 và điều 11 của thông tư này Thông tư có bổ sung thêm một số khoản nợ được xếp vào 3 nhóm trên.Từ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc 90 ngày Nợ xấu được xác định dựa vào hai yếu tố: Đã quá hạn 90 ngày và khả năng trả nợ đáng
lo ngại Đây được coi là định nghĩa theo chuẩn mực chung báo cáo tài chính
Từ những khái niệm nêu trên, có thể nhận thấy sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các tổ chức quốc tế và Việt nam Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu về mặt thời gian trả nợ quá hạn trên 90 ngày , còn xét về tính chất cụ thể thì phải xem xét khả năng trả nợ của khách hàng và tổn thất khoản vay trong tương lai
2.1.1 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM
Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ
khoản nợ xấu của ngân hàng Chỉ tiêu này chưa chưa cho biết trong tổng số dư nợ ngân hàng thì dư nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là
bao nhiêu
Tỷ lệ các khoản nợ xấu/Tổng dƣ nợ tín dụng: Chỉ tiêu này phản ánh mức
độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Cho biết cứ 100 đơn vị tiền khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền mà ngân hàng khó có khả năng thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi được tại thời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2014 “ Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” thì tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của ngân hàng được xem
là an toàn nếu tỷ lệ này dưới 3%
Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ Nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro
có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bù
Trang 14đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
càng cao và ngược lại
Ngoài ra tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi Ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý
2.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các quốc gia trên thế giới
Các công ty đó là: KAMCO – Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc, TAMC- Công ty quản lý tà sản Thái Lan, Công ty quản lý tài sản Malaysia, Công ty quản lý tài sản Trung Quốc
2.2.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc
Những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào tăng trưởng tín dụng mạnh thêm vào dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 dẫn tới khủng hoảng tín dụng và sau đó khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia Trước tình hình trên chính phủ Hàn Quốc tiến hành biện pháp can thiệp bằng giải pháp lập ra Quỹ công chúng và Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc – Korean Asset Management Corporation,KAMCO ưutiên mua các khoản nợ có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ, mua các khoản nợ với mức chiết khấu cao Hình thức xử lý các khoản nợ xấu là rất đa dạng thông qua bán đấu giá quốc tế cạnh tranh, phát hành chứng khoán
có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua.Ngoài ra còn áp dụng các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu, bán các khoản nợ xấu cho công ty quản lý tài sản
Kết quả đạt được là giảm tỷ lệ nợ xấu rất nhanh chóng từ 17,7% vào năm
1998 xuống 14,9% vào năm 1999, 3,9% vào năm 2002 Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính góp phần ổn định nền kinh tế
Trang 152.2.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu Thái Lan
Khủng hoảng Châu Á năm 1997 đã gây nhiều tác động nặng nề lên hệ thống tài chính ở Thái Lan, đặc biệt là khu vực ngân hàng Nợ xấu của khu vực ngân hàng liên tục gia tăng, cuối năm 1997 đạt mức cao kỷ lục 46% trên tổng dư nợ tín dụng
đã tạo áp lực cho Chính phủ phải nhanh chóng đưa ra những giải pháp kịp thời kiểm soát vấn đề này.Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Thái Lan dựa trên các AMC có thể chia thành 02 thời kỳ: phân tán và tập trung, trong đó mô hình phân tán có sự tham gia của cả AMC sở hữu nhà nước (hỗ trợ bởi Quỹ Phát triển các Định chế tài chính-FIDF) và các AMC sở hữu bởi ngân hàng tư nhân được áp dụng lần lượt năm 1998
và 1999; còn mô hình AMC tập trung dựa trên sự thành lập của Công ty quản lý tài sản Thái Lan (Thai Asset Management Corporation – TAMC) vào năm 2001 Ba cơ chế AMC có nhiều điểm khác nhau ở nguồn gốc tổ chức, điều khoản và điều kiện
các tài sản chuyển giao (xem Bảng 2.1) Thái Lan chỉ thực sự giải quyết nợ xấu
thành công theo mô hình AMC tập trung áp dụng trong giai đoạn sau khủng hoảng
Bảng 2.1: Đặc điểm của 3 cơ chế AMC
Phân tán và định hướng thị trường
Phân tán và định hướng nhà nước
Tập trung và định hướng nhà nước
Số AMC 12 AMC hoạt động
4 AMC (BAM,PAM , SAM và Radhanasin AMC)
Thai Asset Management Corporation (TAMC)
Sở hữu Các ngân hàng tư
nhân
Quỹ phát triển các định chế Tài chính (FIDF) Bộ Tài Chính
Năm thành
1998 (BBC),1999(UOBR),
2000 (KTB), 2002 (BMB và SCIB)
FIDF đảm bảo các trái phiếu được phát ra để mua lại nợ xấu từ các ngân hàng nhà nước
TAMC phát hành trái phếu ( có sự bảo đảm của FIDF) để tạo nguồn vốn mua nợ xấu của các TCTD- Nguyên tắc xử lý
nợ xấu là chia sẻ lời lỗ giữa TAMC và các
Trang 16Đáng kể, vì việc xử lý
nợ xấu đáp ứng được nhu cầu nguồn vốn
Đáng kể, nợ xấu được tách ra khỏi bảng cân đối tài sản Ngân hàng, lời lỗ được chia giưa TAMC và TCTD
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Chú thích: BAM: Bangkok Commerce Asset Management Company; BBC:
Bangkok Bank of Commerce; BMC: Bangkok Metropolitan Bank; FIDF: Financial Institution Development Fund; KTB: Krung Thai Bank; PAM: Petchburi Asset Management Company; SAM: Sukumvit Asset Management Company; SCIB: Siam City Bank; TAMC: Thai Asset Management Corporation; UOBR: United Overseas Bank
Trong khi AMC phân tán hầu như chỉ xử lý được nợ xấu với tỷ lệ rất nhỏ thì với AMC tập trung , tính đến tháng 6/2003, số nợ xấu được TAMC giải quyết là 784,4
tỷ Bath, đạt được 73,46% tổng số nợ cần xử lý Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Thái Lan giảm rõ rệt xuống 12,9% năm 2003; 10% năm 2004 và tiếp tục giảm dần ở mức ổn định qua các quý từ năm 2005 đến nay
Trang 17Hình 2.1: Tỷ lệ nợ xấu /Tổng dƣ nợ của hệ thống ngân hàng Thái Lan giai
đoạn 2005-2011
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN
2.2.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu Malaysia
Malaysia chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Giải pháp chính phủ Malaysia đã thực hiện để giải quyết nợ xấu chính là thành lập một công ty mua bán nợ quốc gia (AMC) một công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước
Vào tháng 6/1998, Malaysia đã thành lập ra Danaharta (một AMC) Nhiệm
vụ chính là loại bỏ các khoản nợ xấu khỏi bảng kế toán của các định chế tài chính với mức giá hợp lý và tối đa hóa giá trị có thể phục hồi của các khoản nợ Hoạt động này giúp cho các tổ chức tài chính thoát khỏi gánh nặng nợ đang ngăn cản chức năng trung gian tài chính.Danaharta đã thành công trong việc xử lý các khoản
nợ xấu Danaharta đã mua 23.1 tỷ Ringgit Malaysia (RM), tương đương 31.8% nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đưa nợ xấu của Malaysia về khoảng 12.4% vào giữa
năm 2009 Bước thứ nhất Danaharta thực hiện thu mua nợ xấu, kết quả việc mua
bán nợ được thực hiện trong vòng 6 tháng, nhanh hơn cả mục tiêu đề ra Các tổ chức tài chính chấp nhận lỗ khi bán nợ cho AMC Mức chiết khấu bình quân là 57%, tức là các ngân hàng buộc phải chấp nhận mất hơn nửa các khoản nợ
Trang 18Bước thứ hai của Danaharta là quản lý tài sản, bước vô cùng quan trọng vì
Danaharta phải cân bằng các mục tiêu: không thở thành nhà kho (warehouse) của
nợ xấu, tối đa hóa giá trị phục hồi, không làm rối loạn thị trường khi bán ra các tài sản, tạo ra lợi nhuận trên vốn.Danaharta thiết lập một cơ chế minh bạch và rõ ràng trong việc xử lý các tài sản, chỉ định các chuyên gia quản lý và xem xét các chuyên viên này, cơ chế chào bán mở và được thực hiện bởi các hãng chuyên nghiệp
Bên cạnh Danaharta, Malaysia còn lập ra Danamodal, một công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước Danamodal đã bơm 6.4 tỷ RM vào 10 tổ chức tài chính
để loại bỏ đi rủi ro hệ thống trong ngành ngân hàng Kết quả, hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) tăng lên 12.7%.Song hành với việc bơm vốn là việc các cổ đông ngân hàng chấp nhận việc giảm cổ phần trong tổ chức tài chính, thay đổi hội đồng quản trị, ban lãnh đạo Danamodal chỉ định đại diện vốn trong các tổ chức tài chính để giám sát quản lý một cách cẩn thận và tiến hành những thay đổi cần thiết
Ngoài ra, Malaysia còn đưa ra kế hoạch sáp nhập 58 tổ chức tài chính vào 6 nhóm Kế hoạch này được sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương Malaysia và được thực hiện dựa trên những cam kết với WTO trong lĩnh vực tài chính
Sau khi tiến hành các bước trên, Malaysia đã tập trung xây dựng thị trường trái phiếu để tránh cho việc thị trường tài chính bị mắc kẹt trong nợ xấu Malaysia
có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam về kinh tế, văn hóa, lịch sử, cơ cấu dân số… Với những chính sách hợp lý, đất nước này đã có những bước tiến mạnh mẽ trong thời gian qua Điều đó, có nghĩa là kinh nghiệm của Malaysia rất hữu dụng với nền kinh tế Việt Nam
2.2.4 Kinh nghiệm xủa lý nợ xấu Trung Quốc
Nguyên nhân gây ra nợ xấu của Trung Quốc chính là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi hoạt động của các Ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước chỉ như những cơ quan hành chính, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty
và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ Những khoản vay
Trang 19này cũng không qua quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ nên rủi ro tín dụng là điều không tránh khỏi.Quá trình xử lý nợ xấu trung quốc trải qua ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất
Trung Quốc tiến hành quá trình tái cấu trúc tài chính từ giữa những năm
1990 tách cho vay chính sách khỏi cho vay thương mại bằng cách thành lập 3 ngân hàng chính sách chịu trách nhiệm xử lý các khoản vay chính sách Bên cạnh đó, NHTM của Trung Quốc bắt đầu sử dụng cách phân loại nợ thành 5 nhóm theo cách chia của BIS, thay vì 4 nhóm như trước đây, thực hiện phê duyệt tín dụng một cách độc lập với ít can thiệp hành chính từ phía cơ quan nhà nước
Giai đoạn thứ hai
Thành lập các công ty quản lý tài sản được nhà nước tài trợ (AMC) Trong giai đoạn 1999 – 2003 có 4 AMC được thành lập, mỗi công ty tương ứng với một trong số 4 NHTM Nhà nước lớn (chiếm tới 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng), nhằm giải quyết những khoản nợ xấu của 4 ngân hàng này từ trước năm
1996 Các khoản nợ xấu được chuyển giao tại mức giá trị sổ sách trực tiếp từ 4 NHTM cho 4AMC tương ứng được thực hiện suốt năm 1999 và 2000, và trách nhiệm của 4 AMC này là phải xử lý hết các khoản nợ xấu này trong vòng 10 năm
Trang 20Kết quả của việc xử lý nợ xấu là chất lượng tài sản tại 4 NHTM Nhà nước được cải thiện và tiến hành niêm yết ra công chúng sau khi được tái cơ cấu vốn Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này không hề biến mất khỏi hệ thống tài chính Trung Quốc, chúng chỉ được chuyển giao từ tổ chức này sang tổ chức khác, những nguy
cơ tiềm ẩn gây ra cho hệ thống tài chính Trung Quốc không có nghĩa là được giảm bớt
2.2.5 Bài học kinh nghiệm trong quá trình xử lý nợ xấu tại Việt nam
Trước tình hình nợ xấu gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn năm 2010
-2013
mà theo các chuyên gia phân tích tại hãng xếp hạng tín dụng Moody’s thì tỷ lệ nợ xấu vào cuối năm 2013 là khoảng 15% trong khi báo cáo của NHNN là khoảng 4%, trong bối cảnh như vậy vào ngày 18/5/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức, và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) với vốn điều lệ ban đầu là 500
tỷ đồng Vận dụng kinh nghiệm các nước trên thế giới để VAMC hoạt động có hiệu quả xin đề xuất các khuyến nghị sau:
- Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy thực chất của việc xử lý nợ xấu là nhà nước đứng ra mua lại các khoản nợ xấu này bằng tiền mặt giữ chúng trong
Trang 21một thời gian rồi khi thị trường ấm lên thì bán ra để thu hồi vốn.Vì vậy,VAMC cần cung cấp được khối lượng vốn bằng tiền mặt đủ lớn tương xứng với số nợ xấu thực tế
- Hoạt động của VAMC cần rõ ràng và minh bạch cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ cho các thành viên tham gia mua bán nợ và cho toàn xã hội, tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ xấu thu mua và tiến hành xử lý nợ xấu như vậy mới có thể thúc đẩy quá trình xử lý nhanh chóng
- Nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhưng không tách biệt với hoàn cảnh cụ thể Việt nam khi mà các chỉ số kinh tế vĩ mô không tốt, phần lớn các khoản nợ xấu hình thành từ thị trường BĐS đang bị đóng băng do vậy Chính phủ cần có các chính sách khơi thông dòng vốn đối với BĐS, hỗ trợ tình hình kinh tế Vĩ mô
- Hoàn thiện khung pháp lý mua bán, xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường Các văn bản hướng dẫn xử lý các tài sản thế chấp, phát mãi tài sản nhanh chóng
2.3Các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu NHTMVN:
Nợ xấu là một vấn đề không khỏi tránh khỏi trong bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới Tác động của nợ xấu tới hoạt động Ngân hàng và rộng ra là toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia là vô cùng nguy hiểm Vì vậy việc quản trị để hạn chế, phòng ngừa nợ xấu là hết sức cần thiết, như vậy chúng ta cần xác định các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu của Ngân hàng để có công tác quản trị đúng đắn Trong luận văn, tác giả chia ra hai nhóm yếu tố chính: Nhóm các yếu tố đặc trưng của NHTM
và nhóm các yếu tố kinh tế Vĩ mô
2.3.1 Những yếu tố nội tại của NHTM
2.3.1.1 Quy mô tổng tài sản của NHTM (SIZE)
Nội dung hoạt động chủ yếu của một NHTM thể hiện ở phía tài sản Quy mô,
cơ cấu, chât lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM
Trang 22Tài sản nợ:Các chỉ tiêu ở phần tài sản nợ phản ánh toàn bộ giá trị tiền tệ
hiện có của ngân hàng do huy động, vốn vay các tổ chức tín dụng khác,vốn của NHTM
Tài sản có: Là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng.Tài sản có bao
gồm tài sản sinh lời chiếm (80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời chiếm (10-20% tổng tài sản có) bao gồm: Tiền dự trữ bắt buộc, dự trữ thặng dư, các khoản mục đầu tư chứng khoán, các khoản mục tín dụng, tài sản cố định
Đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu : Tốc độ tăng trưởng tài sản, tính đa dạng hóa trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu…
Quy mô ngân hàng càng lớn ngân hàng càng có cơ hội gia tăng thêm các khoản mục kinh doanh bên cạnh hoạt động tín dụng nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng,hạn chế rủi ro khi có tác động từ nền kinh
tế Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng có những nét đặc trưng riêng so với các lĩnh vực kinh doanh khác mà cụ thể với tính bảo đảm không buộc phải phá sản nên các ngân hàng có thể dùng đòn bẩy tài chính quá mức để gia tăng các khoản vay có chât lượng thấp tạo nên nhiều rủi ro cho phía ngân hàng
Quy mô ngân hàng = Tổng tài sản của ngân hàng i
Trang 23ngân hàng Các nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thấp thường gặp phải rủi ro đạo đức khi mà các nhà quản lý ngân hàng thực hiện các danh mục vay có rủi ro cao
2.3.1.3.1 Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LA)
Tỷ lệ cho vay là khoản ngân hàng cho khách hàng vay Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản thể hiện khoản vay chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng tài sản Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy khả năng sử dụng hiệu quả đối với nguồn vốn, bên cạnh
đó thể hiện sự chấp nhậ rủi ro của ngân hàng đối với các khoản nợ xấu, nguyên nhân là khi ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cao có thể gặp phải rủi ro thu hồi nợ khi nền kinh tế suy thoái
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LA)=Tổng dƣ nợ tín dụng/Tổng tài sản
Giả thuyết: Dư nợ cho vay trên tổng tài sản có quan hệ đồng biến với tỷ lệ nợ xấu (Sinkey&Greenwalt,1991; Dash &Kabra,2010)
2.3.1.3.2Tốc độ tăng trưởng tín dụng( Loans)
Dư nợ năm trước Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng, trong nền kinh tế phát triển các ngân hàng cạnh tranh mạnh mẽ ở thị phần cho vay, điều nay khiến các ngân hàng luôn chạy đua về mức tăng trưởng tín dụng cùng với đó mức tăng trưởng tín dụng cao thường là hệ quả
Trang 24kéo theo khi nền kinh tế bùng nổ các ngân hàng có nguy cơ gặp phải những khoản vay kém chất lượng, vấn đề người đại diện có thể thúc đẩy các nhà quản lý cho vay vượt quá quy định nguyên nhân gây ra tỷ lệ nợ xấu hình thành trong tương lai
Giả thuyết: Sự tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu (Salas&Saurina,2002; Jimesnez&Saurina,2006)
2.3.1.3.3Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng
Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự
phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của các tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài Dự phòng rủi ro gồm có dự phòng cụ thể và dự phòng
chung
Căn cứ vào thông tư 02/2013/TT-NHNN về “Quy định về phân loại tài sản
có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, điều 3 quy định cụ thể như sau:
Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với những khoản nợ cụ thể
Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể
Mức trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ được quy định theo điều 12, thông
tư 02/2013/TT- NHNN như sau:
Nhóm nợ Phân loại nợ theo số ngày quá
Trang 25Dự phòng rủi ro tín dụng thể hiện thái độ về quản trị rủi ro của ngân hàng,ngân hàng có thể tăng dự trữ tín dụng nhằm tránh khả năng suy giảm vốn bởi
sự biến động của nguồn thu
Giả thuyết: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tương quan đồng biến với nợ xấu ( Nguyễn Thị Thúy Nga, 2014), tương quan nghịch biến với nợ xấu (Boudriga et al,2009)
2.3.1.3.4Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ:NPLit-1
Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ(NPL it-1 ) = Dư nợ nhóm (3,4,5) trong quá khứ
Tổng dư nợ quá khứ
Nợ xấu phát sinh đáng kể từ sự yếu kém trong quá trình thu hồi nợ hiện tại, nguồn dự phòng không tương xứng với khoản nợ xấu chưa giải quyết tạo thêm gánh nặng phải xử lý cho các khoản nợ trong tương lai Ở đây tác giả sử dụng biến NPLit , NPLit-1 để đại diện cho tỷ lệ nợ xấu trong hiện tại và quá khứ
Giả thuyết: Tác động cùng chiều đối với tỷ lệ nợ xấu giai đoạn trước lên giai đoạn hiện tại (Louzis et al ,2010;Salas&Saurina,2002)
2.3.1.4 Chỉ số chi tiêu, thu nhập của NHTM
2.3.1.4.1 Chỉ số thu nhập trên vốn CSH
Chỉ số thu nhập trên VCSH (ROE) = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu
Chỉ số ROE cho thấy việc sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng
có hiệu quả, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Hiện nay lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng bắt nguồn từ hoạt động tín dụng do vậy khi nợ xấu phát sinh làm giảm nguồn thu của ngân hàng, tăng dự phòng rủi ro qua từng thời kì làm cho lợi nhuận ngân hàng suy giảm
Giả thuyết: Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) nghịch biến với nợ xấu (Louzis et al,2011; Nguyễn Thị Vân Hiền ,2014)
Trang 262.3.1.4.2 Chỉ số thu nhập ngoài lãi (NII)
Chỉ số thu nhập ngoài lãi = Tổng thu nhập ngoài lãi
Tổng thu nhập ngân hàng Tổng thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ dịch vụ, đầu tư, kinh doanh trong bảng cân đối kế toán ngân hàng Nợ xấu bắt nguồn từ rủi ro trong hoạt động tín dụng và khi nợ xấu xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của ngân hàng , do vậy để giảm tỷ lệ nợ xấu về mặt nguồn gốc các ngân hàng phải tập trung khai thác tối đa các khoản thu nhập ngoài lãi để có thể bù đắp cho rủi ro hoạt động tín dụng gây ra và đa dạng hóa nguồn thu duy trì lợi nhuận trước những biến động xấu của nền kinh tế Hầu hết các NHTM Việt nam thì chỉ số NII là nhỏ nhưng tốc độ tăng nguồn thu nhập ngoài lãi tăng khá mạnh
Giả thuyết: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi có tỷ lệ nghịch với nợ xấu ( Salas& Saurina, 2002)
2.3.2 Những yếu tố kinh tếVĩ mô
2.3.2.1 Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) hàng năm
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là một quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Đây là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất Nó phản ánh mối quan hệ tương hỗ trong quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng cuối cùng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội GDP có hai dạng gồm GDP danh nghĩa, GDP thực
GDP danh nghĩa là giá trị của tổng sản phẩm quốc nội theo giá cả đương thời khi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra
GDP thực là giá trị của tổng sản phẩm quốc nội danh nghĩa có điều chỉnh lạm phát
Chỉ tiêu này tăng thể hiện nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng kéo theo sự mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng cùng với đó nguồn thu nhập của các khách hàng doanh nghiệp, cá nhân đủ đáp ứng khả năng chi trả của các khoản
Trang 27vay, tuy nhiên khi nền kinh tế đi xuống ảnh hưởng đến nguồn thu của khách hàng dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu Vì vậy, nhân tố tốc độ tăng GDP có tính độ trễ về thời gian
Tỷ lệ lạm phát = CPIt-CPIt-1
CPIt-1
Về cơ bản tỷ lệ lạm phát là giảm giá trị của các khoản vay nên khả năng trả
nợ là thuận lợi hơn nhưng lạm phát cũng ảnh hưởng thu nhập thực của khách hàng giảm, bên cạnh đó tiền lương có tốc độ tăng chậm hơn thì lạm phát lại gây ra tăng tỷ
lệ nợ xấu Mặt khác, trong trường hợp các khoản vay áp dụng theo lãi suất thả nỗi thì lạm phát cao dẫn tới lãi suất trong các hợp đồng vay tăng cao, khi lạm phát tăng cao các chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm phát ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của khách hàng vay ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh tăng nguy cơ không trả được nợ của khách hàng
Giả thuyết: Tỷ lệ lạm phát cao dẫn tới sự tăng lên của các khoản nợ xấu (Fofack,2005)
2.4 Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu NHTM
Trong những năm gần đây, các lý thuyết nghiên cứu về nợ xấu được các tác giả rất được quan tâm đặc biệt các tác giả dành sự hiểu biết của mình chú ý tới các biến phụ thuộc lỗ hổng tài chính Lỗ hổng này được giải thích bởi tác động nguy hiểm của nợ xấu, tiến trình dẫn đến lỗ hổng này có quan hệ chặt với nợ xấu và khủng hoảng hệ thống Ngân hàng (Khemraj và Pasha,2009)
Trang 28Nkusu (2011) chia lý thuyết nghiên cứu thành ba nhóm: Nhóm thứ nhât, lựa chọn các biến kinh tế Vĩ mô, chất lượng đội ngũ quản lý Ngân hàng, Chính sách kinh tế của chính phủ để giải thích nợ xấu ở các tổ chức tín dụng ở các quốc gia nghiên cứu (Dash và Kabra, 2010; Espinoza và Prasad, 2010; Louzi et al, 2010) Nhóm thứ 2, phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và các điều kiện kinh tế Vĩ mô xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới nợ xấu, dùng tỷ lệ nợ xấu để dự đoán xác suất Ngân hàng rơi vào khủng hoảng Nhóm thứ ba, các lý thuyết nghiên cứu vừa giải thích và dự đoán nợ xấu tương ứng với những chỉ báo Vĩ mô, dữ liệu thu thập được có thể chung cho các khoản vay hay chia ra những khoản vay riêng biệt (Rinaldi và Sanchis- Arellano, 2006;Pesola, 2007; Jappelli et al ,) Như vậy, các nhân tố giải thích cho nợ xấu có thể liên quan đến các chỉ số kinh tế Vĩ mô hoặc các chỉ số đặc trưng Ngân hàng, cụ thể như sau:
2.4.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Berger và Deyoung (1997)sử dụng quan hệ nhân quả Granger để kiểm định
bốn giả thuyết nghiên cứu liên quan tới gia tăng tỷ lệ nợ xấu “ bad luck”, “ bad Managemnet”,”Skimping”, “Moral hazard” với các yếu tố chất lượng khoản vay, chi phí hiệu quả, nguồn vốn của Ngân hàng, dữ liệu nghiên cứu của hệ thống Ngân hàng Mỹ với 1,290 ngân hàng thương mại giai đoạn 1985 đến năm 1994 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố chât lượng khoản vay và chi phí hiệu quả có quan
hệ liên đới trực tiếp nhau, dữ liệu kết quả hỗ trợ mối quan hệ cho ba giả thuyết” bad luck”,“bad Managerment”,” Skimping” với yếu tố là chi phí hiệu quả theo đó nguyên nhân dẫn tới tăng tỷ lệ nợ xấu là do quản lý chi phí kém hiệu quả cụ thể là chi phí giám sát, kĩ năng nghiệp vụ và rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng, các khoản vay không có đảm bảo khi xảy ra tình trạng khách hàng không trả được nợ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu cao hơn đối với những ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ
sở hữu thấp điều này được lý giải bởi rủi ro đạo đức của các nhà quan lý muốn gia tăng danh mục đầu tư mà bất chấp các khoản vay có rủi ro cao nhằm gia tăng khối tài sản
Trang 29Salas và Saurina(2002) sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn 1985 đến
1997 Tác giả so sánh cùng một nhóm các nhân tố tác động tới nợ xấu của ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư ở Tây Ban Nha Nhóm các nhân tố tác giả sử dụng bao gồm các biến kinh tế Vĩ mô và các biến đặc trưng của ngân hàng bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP,khoản nợ công ty và hộ gia đình tốc độ tăng trưởng tín dụng hoặc mở rộng mạng lưới chi nhánh,thành phần trong danh mục đầu tư, quy
mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lãi cận biên.Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng và nợ xấu có quan hệ ngược chiều với nhau,các ngân hàng cho vay quá mức dễ dẫn đến các khoản nợ xấu trong tương lai
Rajan và Dhal (2003) sử dụng phân tích hồi quy với dữ liệu bảng thu thập
hệ thống các NHTM nước Ấn Độ chỉ ra rằng các yếu tố: Tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng , chính sách tín dụng và lãi suất cho vay tác động rất lớn đến tỷ
lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng nước này
Podpiera và Weill (2008) sử dụng phân tích nhân quả , phân tích động
dữ liệu bảng với cơ sở dữ liệu là các Ngân hàng Cộng hóa Séc giai đoạn 1994 đến
2005 Kết quả cho thấy ủng hộ cho giả thuyết về khả năng quản lý kém và thiếu hiệu quả làm phát sinh nợ xấu
Hippolyte Fofack (2005) sử dụng phân tích nhân quả, tính tương quan giữa
các biến và dữ liệu bảng để tìm hiểu những nhân tố gây ra nợ xấu ở các quốc gia trong tiểu vùng Sahara Châu Phi.Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố lãi suất thực, tốc
độ tăng GDP, chỉ số lạm phát, thu nhập trên tổng tài sản (ROA), thu nhập lãi cận biên (NIM)
Boudriga et al (2009) sử dụng phân tích động dữ liệu bảng, dữ liệu thu được
trong giai đoạn 2003 đến 2012 của 16 ngân hang Tunisia Bài nghiên cứu về các yếu tố tác động tới nợ xấu của các khoản vay hộ gia đình,các yếu tố tác giả xác định: các yếu tố vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất), các yếu tố đặc trưng ngân hàng mà
cụ thể là trình độ quản lý kém
Dash và Kabara (2010)sử dụng nguồn dữ liệu hệ thống ngân hàng thương
mại Ấn Độ, tác giả phân tích và chỉ ra các yếu tố tác động đến nợ xấu bao gồm các
Trang 30nhân tố Vĩ mô : Tốc độ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát, Lãi suất thực; các nhân tố đặc trưng NH: quy mô ngân hàng, lãi suất cho vay, Tốc độ tăng trưởng tín dụng, Tỷ
lệ dư nợ tín dụng trên tổng tài sản
Louzis et al (2010) phân tích động dữ liệu bảng, dữ liệu là hệ thống ngân
hàng Hy Lạp trong giai đoạn quý 1 năm 2003 đến quý 3 năm 2009, dữ liệu được chia thành theo phân loại các khoản vay: vay thế châp, vay kinh doanh, vay tiêu dùng Các yếu tố được xác định để đưa vào mô hình nghiên cứu: nợ công (tỷ lệ nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)), các biến Vĩ mô (tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số lạm phát), các biến nội tại ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ, quy mô ngân hàng, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Mwanza Nkusu (2011) bài nghiên cứu trả lời các yếu tố tác động tới nợ xấu,
sự tương tác giữa nợ xấu và hiệu suất của nền kinh tế.Tác giả sử dụng hai phương pháp tiếp cận bổ sung cho nhau với dữ liệu của 26 quốc gia phát triển trong giai đoạn từ 1998 đến năm 2009 Để trả lời cho câu hỏi các yếu tố tác động tới nợ xấu tác giả sử dụng mô hình hồi quy đơn biến các yếu tố được tác giả sử dụng: tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Câu hỏi thứ hai tác giả dùng mô hình cấu trúc tự hồi quy vector (SVAR), hàm phản ứng xung để xét mức độ của những cú sốc (shock) khác nhau đã tác động tới nợ xấu
2.4.2 Nghiên cứu ở Việt nam
Tại Việt nam có nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động tới nợ xấu tại các NHTM và giải pháp xử lý phòng ngừa nợ xấu Tác giả liệt kê một số bài viết sau:
Nguyễn Thị Thúy Nga (2014) Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các Ngân
hàng thương mại Việt nam Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh
Luận văn sử dụng dữ liệu của 17 Ngân hàng thương mại Việt nam trong giai đoạn
2005 đến 2013, phương pháp sử dụng là thống kê mô tả, phân tích dữ liệu bảng bằng kỹ thuật Fixed Effect Model ( Mô hình ảnh hưởng cố định) và Random Effect Model ( Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên) tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng tới
Trang 31nợ xấu : Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế, Lãi suất thực tế, Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Nguyễn Khắc Hải Minh (2014) Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại một số
Ngân hàng thương mại Việt nam Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.Luận văn nghiên cứu về các nhân tố tác động tới nợ xấu tại các NHTM Việt Nam,dữ liệu tác giả sử dụng dữ liệu của 8 ngân hàng đang niêm yết trên sàn chứng khoán trong giai đoạn 2009 đến 2013 Phân tích hồi quy với mức ý nghĩa là 5% tác giả xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu: chỉ số kinh tế Vĩ mô (tốc
độ GDP, tỷ lệ lạm phát), các đặc trưng ngân hàng (Tỷ lệ nợ xấu quá khứ, tốc độ
tăng trưởng tín dụng, quy mô ngân hàng), đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu
Vũ Minh Hiếu (2014) Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại Ngân hàng
thương mại Việt nam trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ Trường đại
học kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Luận văn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu với dữ liệu các ngân hàng được thành lập tại Việt nam hoạt động tại địa bàn Tp Hồ Chí Minh (không bao gồm Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh giữ Việt nam và nước ngoài) trong giai đoạn 2006 đến tháng 6 năm 2014 Các yếu tố tác giả xác định có ảnh hưởng đến nợ xấu xuất phát từ ngân hàng và khách hàng
Nguyễn Thị Vân Hiền (2014) Phân tích các yếu tố tác động tới nợ xấu tại
các Ngân hàng thương mại Việt nam Luận văn thạc sĩ Trường đại học kinh tế Tp
Hồ Chí Minh.Luận văn sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng để xây dựng mô hình
và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm xem xét ảnh hưởng của các yếu tố và mức độ ảnh hưởng tới tỷ lệ nợ xấu với dữ liệu nghiên cứu: tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ vốn vay trên huy động, tỷ lệ vốn chủ
sở hữu được lấy từ Báo cáo tài chính hợp nhất của 29 ngân hàng giai đoạn từ 2006 đến 2013, các chỉ số vĩ mô: Tỷ lệ lạm phát (INF), Tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc nội (GDP)
Trương Thị Liễu (2014) Ảnh hưởng của một số yếu tố đến nợ xâu trong hệ
thống Ngân hàng thương mại Việt nam hiện nay Luận văn thạc sĩ Trường đại học
Trang 32kinh tế Tp Hồ Chí Minh.Luận văn nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 12 Ngân hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn 2008 đến 2013.Phương pháp sử dụng ước lượng ảnh hưởng cố định cho mô hình ước lượng cố định, ước lượng GMM 1 bước cho mô hình động cho mô hình ước lượng mô hình động, nhóm yếu tố tác giả sử dụng là nhóm từ các chỉ biến Vĩ mô, nhóm từ phía hoạt động ngân hàng, tác giả đề xuất những biện pháp xử lý và phòng ngừa nợ xấu
Phạm Nguyễn Hoàng Vũ (2013) Giải pháp xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng
thương mại Việt nam Luận văn thạc sĩ Trường đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh Luận văn này được nghiên cứu dựa trên phương pháp kết hợp giữa định tính và định lượng trọng tâm nghiên cứu là phân tích nợ xấu các Ngân hàng thương mại Việt nam trong giai đoạn 2008 đến 2013.Tác giả sử dụng phần mềm eview để xây dựng
mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu qua đó đề xuất các nhóm giải pháp thích hợp với các biến nghiên cứu
Kết luận: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây đã khái quát về các yếu tố tác
động tới nợ xấu và phương pháp nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây đã sử dụng Trong luận văn tác giả vẫn giữ nguyên hai nhóm nhân tố tác tác động tới nợ xấu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cùng với bộ dữ liệu của các ngân hàng trong khoảng thời gian 2006-2014, đây được xem là khoảng thời gian có sự biến động tăng phát sinh nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt nam
2.4.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở các lý thuyết của các mô hình nghiên cứu trước đây được tác giả trình bày phần trên Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố vĩ
mô, nội tại của ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu của NHTM Việt nam theo mô hình hồi quy OLS theo đường thẳng của Brook,2008 như sau:
Trang 33Trong đó:
C: hệ số tự do, βi: hệ số hồi quy của các biến độc lập ( biến giải thích)
SIZE là quy mô tổng tài sản ngân hàng, EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữ trên tổng tài sản,
LA là tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản ngân hàng, LOANS tốc độ tăng trưởng tín dụng, LLR/TL tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ tín dụng, NPLt-1 tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ , NII tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập ngân hàng, GDPt-1tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm, INF tỷ lệ lạm phát
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tóm lại, trong chương 2 tác giả trình bày cơ sở lý luận của nợ xấu, kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt nam, các nhân tố tác động tới nợ xấu của ngân hàng thương mại bao gồm nhân tố vĩ mô, nhân
tố nội tại của ngân hàng thương mại
Nhân tố nội tại ngân hàng thương mại bao gồm: quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng, dự phòng rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ , chi phí hoạt động hiệu quả Nhân tố vĩ mô bao gồm : tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP, tỷ lệ lạm phát Tác giả cũng giới thiệu sơ lược về nội dung các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về tỷ
lệ nợ xấu của ngân hàng
Toàn bộ nội dung trình bày chương 2 là sơ sở để phân tích ở chương 3
Trang 34CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU
TẠI CÁC NHTMVN
3.1 Thực trạng nợ xấu của NHTM Việt Nam
3.1.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của NHTM Việt Nam
Trước khi phân tích về thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt nam , tác giả xin giới thiệu sơ lược về tình hình hoạt động của NHTM Việt nam trong giai đoạn từ
2006 đến 2014 về các chỉ tiêu như sau: Số lượng NHTM, quy mô tài sản, vốn điều
lệ, cơ cấu chi tiêu- thu nhập.của NHTM Việt nam
Về số lượng ngân hàng:Theo thống kê của Ngân hàng nhà nước Việt nam
(SBV) số lượng các Ngân hàng thương mại Việt nam trong giai đoạn được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Số lượng NHTM trong giai đoạn 2006-2014 Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Nguồn: Tác giả tự thống kê từ báo cáo thường niên của NHNN
Sau 3 năm thực hiện đề án tái cấu trúc nền kinh tế với chủ đạo là hệ thống ngân hàng theo Quyết định số 254/QĐ-TTG ban hành ngày 1/3/2012 của Thủ tường chính phủ về cơ cấu lại hệ thống tín dụng giai đoạn 2011-215 Trong lộ trình tái cơ cấu bắt đầu từ đầu năm 2012 nhằm mục đích cho ra đời một số ngân hàng quy mô lớn tầm cỡ khu vực , bên cạnh việc xử lý những đơn vị yếu kém hoạt động không hiệu quả và không minh bạch về quản trị và sở hữu Hoạt động sáp nhập, hợp nhất trong hệ thống ngân hàng diễn ra mạnh mẽ , năm 2012 hệ thống ngân hàng chứng kiến hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank, Việt nam thương tín thành ngân hàng Thương mại cổ phần Sài gòn, Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội(Habubank) chính thức sáp nhập vào ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-
Trang 35Hà Nội (SHB) Sang năm 2013 thương vụ giữa Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM ( HDBank) nhận sáp nhập Ngân hàng Đại Á ( DaiABank) và mua lại công
ty TNHH một thành viên tài chính Việt – Societe( SGVF), Tổng công ty tài chính
cổ phần Dầu khí Việt nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt nam (Pvcombank) hợp nhất và chuyển thành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt nam (Pvcombank) Bước qua năm 2014, tuy không có thêm vụ sáp nhập, hợp nhất nào nhưng đấy là thời gian tích lũy cho các vụ sáp nhập tiến hành trong thời gian tới
Trong luận văn vì lý do tiếp cận dữ liệu hạn chế tác giả chỉ thu thập số liệu dựa trên báo cáo tài chính của 11 ngân hàng thương mại Việt nam không bao gồm Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam (Agribank)( trong đó có 3 ngân hàng thương mại Nhà nước và 8 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân),tuy nhiên
11 ngân hàng trong bài nghiên cứu có thể đại diện khoảng 60% thị phần của hệ thống ngân hàng, bảng 3.2 là danh sách của 11 ngân hàng được chọn làm mẫu dữ liệu bởi các ngân hàng này có các thông tin trên báo cáo tài chính trong giai đoạn
2006 -2014 trình bày theo quy chuẩn,hệ thống các chi nhánh,phòng giao dịch có quy mô lớn
Bảng 3.2 : Danh sách 11 NHTMCP Việt Nam
Trang 36Về quy mô tài sản:Từ số liệu từ bảng 3.3, ta thấy quy mô tài sản của 11 ngân
hàng tăng lên qua các năm trong giai đoạn 2006 đến năm 2014 từ 605 nghìn tỷ đồng (2006) tăng lên 3,083 nghìn tỷ đồng (2014) đây được xem là điều kiện bắt buộc để ngân hàng tồn tại trước áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng Tổng tài sản của 11 NHTM Việt nam trong giai
đoạn 2006-2014:
Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng
Tổng tài sản 605 869 1,037 1,366 1,902 2,315 2,443 2,655 3,083 Tốc độ tăng
trưởng (%) 34,1 43,7 19,3 31,7 39,2 21,7 5,5 8,7 16,1
Nguồn : Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các NHTM
Trong giai đoạn đầu từ năm 2006 đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng tài sản nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của thời kỳ còn lại bởi giai đoạn đầu được xem giai đoạn phát triển thịnh vượng của hệ thống ngân hàng và với quy mô ban đầu nhỏ nên tốc độ tăng trưởng rất cao, thời kỳ tiếp theo chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng thế giới năm 2008 lên nền kinh tế Việt nam qua đó tác động tới hoạt động của hệ thống ngân hàng làm cho tốc độ tăng trưởng tài sản chậm lại Bước qua năm
2011 với bối cảnh kinh tế Vĩ mô gặp nhiều khó khăn và ngành ngân hàng quyết liệt thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP, tốc độ tăng trưởng tài sản đã có sự sụt giảm với các nguyên nhân là sự khống chế của ngân hàng nhà nước về tốc độ tăng trưởng tín dụng, lãi suất vay vốn cao, nền kinh tế suy thoái nên khả năng vay vốn của khách hàng cũng bị ảnh hưởng
Về hoạt động tín dụng: Hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là là hoạt động
mang lại nguồn thu nhập chủ yếu của các NHTM Việt nam Từ số liệu của bảng 3.4 cho thấy rằng trong giai đoạn 2006-2014 hoạt động tín dụng của 11 NHTM luôn tăng trưởng qua các năm, với mức tăng trưởng bình quan năm là 20,3% Trong đó, năm 2007 với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất 54,7% điều này được giải thích
Trang 37bởi dòng vốn đầu tư mạnh vào thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản gây nên hiện tượng định giá quá cao cho tài sản trong nền kinh tế đó cũng là nguyên nhân gây nên nợ xấu cho các năm sau đó Trong giai đoạn 2008-2013 trước tình hình kinh tế suy giảm với mức lạm phát cao đỉnh điểm là 23,1% vào năm 2008 khiến Ngân hàng nhà nước sử dụng công cụ chính sách tiền tệ thắt chặt giảm giảm
tỷ lệ lạm phát Thêm vào đó, tháng 9/2008, khủng hoảng tài chính bắt đầu bùng phát tại Mỹ và lan rộng trên thế giới với một loạt định chế tài chính lớn sụp đổ khiến các ngân hàng cho doanh nghiệp vay với những điều kiện khó khăn hơn và cũng tăng cường thu hồi nợ…Tăng trưởng tín dụng năm 2008 giảm hơn một nửa, chỉ còn 20,4%, và giảm liên tục từ năm 2009 tới năm 2012 Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong ba năm gần đây đã giảm đáng kể Cụ thể tăng trưởng tín dụng năm 2011
là 18,1%, năm 2012 chỉ đạt 13,3%, và năm 2013 là 13,4% Năm 2014 , Ngân hàng nhà nước đề ra mục tiêu mở rộng tín dụng hiệu quả gắn với an toàn, nâng cao chất lượng tín dụng , mục tiêu trên trên được thông qua Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 15/1/2014 cụ thể Ngân hàng nhà nước thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và vàng, triển khai các giải pháp tăng cường hoạt động tín dụng gắn với cơ chế giám sát , thanh tra tín dụng, kết quả năm 2014 tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng là 12,51%, trong đó 11 NHTM trong bài nghiên cứu là 22,5%
Bảng 3.4: Dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dụng của 11 NHTM Việt
nam trong giai đoạn 2006-2014:
Trang 38Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của 11 NHTM so với toàn hệ thống
Ngân hàng giai đoạn 2006-2014:
Nguồn : Báo cáo thường niên NHNN và số liệu từ BCTC của các NHTM
Về hoạt động huy động vốn:NHTM Việt nam thể hiện sự tăng trưởng số
lượng về huy động trong giai đoạn 2006 -2014 thể hiện ở bảng 3.5 Trong giai đoạn này tỷ lệ tăng trưởng bình quân hằng năm khoản 23,6 %, tuy nhiên về tốc độ tăng trưởng vốn huy động không đều giữa các năm, quy mô vốn huy động giữa các ngân hàng cũng có sự khác biệt nhau.Sự tăng trưởng vốn huy động đạt đỉnh vào năm
2007 ở mức 46,4% điều này được giải thích bởi mức tăng trưởng tín dụng vào năm này cũng đạt đỉnh 54,7%.Tuy nhiên qua năm 2008 tốc độ tăng trưởng huy động vốn chỉ còn 18,8% phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm đó Trong giai đoạn 2010-2014 tốc độ tăng trưởng huy động vốn giảm rõ rệt 31,4 (2010) xuống 17,8 (2013) tới năm 2014 tăng lên 23,6 % những số liệu nêu trên phản ánh tình hình của toàn bộ nền kinh tế đang khó khăn tác động tới hoạt động cấp tín dụng và nhu cầu cần vốn của ngân hàng