Và học sinh buộc phảinhớ lại các kiến thức đã học mà có liên quan đến đề tài, xác định mối liên hệgiữa các điều kiện đã cho và yêu cầu của đề để tìm ra cách giải tối ưu nhất.Qua đó tư du
Trang 1Trờng đại học vinhKHOA HOá HọC
=== ===
Xây dựng hệ thống bài tập giải nhanh
bằng các phơng pháp bảo toàn
KHóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Chuyên ngành: phơng pháp giảng dạy
Giáo viên hớng dẫn: pgs.ts cao cự giác
Sinh viên thực hiện: trần thị vân
Lớp: 49A - Hoá
MSSV: 0852010391
Vinh – 2012 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thầy giáo PGS.
TS Cao Cự Giác – Người đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Hóa học trường Đại học Vinh và đặc biệt là các Thầy, Cô trong tổ bộ môn PPGD, các thầy cô trong Ban giám hiệu, tổ Hóa và các em học sinh trường THPT Nghi Lộc I đã giúp đỡ và tạo điều kiện để cho em thực hiện đề tài này.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tới tất cả bạn bè và người thân
đã quan tâm và khích lệ em hoàn thành khóa luận của mình.
Vinh, ngày 8 tháng 5 năm 2012
Tác giả Trần Thị Vân
Trang 3NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
PP BTKL Phương pháp bảo toàn khối lượng
PP BTNT Phương pháp bảo toàn nguyên tố
PP BTe Phương pháp bảo toàn electron
PP BTĐT Phương pháp bảo toàn điện tích
PP BTp Phương pháp bảo toàn proton
PPBTNĐ Phương pháp bảo toàn nồng độ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Giả thiết khoa học 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận về bài tập hoá học 5
1.1.1 Khái niệm về bài tập hoá học 5
1.1.2 Tác dụng của bài tập hoá học 5
1.1.3 Nguyên tắc chung để thiết kế và xây dựng bài tập hoá học 10
1.1.4 Phân loại bài tập hoá học 11
1.2 Hệ thống hoá các phương pháp giải bài tập hoá học 13
1.3 Cách thức lựa chọn bài tập hoá học 13
1.4 Thực trạng xây dựng và giải bài tập bằng các phương pháp bảo toàn ở trường phổ thông 14
1.4.1 Thực trạng và xu hướng sử dụng BTHH trong dạy học hiện nay 14
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÁC HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ THỂ GIẢI NHANH BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO TOÀN 17
2.1 Phương pháp bảo toàn khối lượng 17
2.1.1 Nội dung phương pháp 17
2.1.2 Dấu hiệu nhận biết 18
2.1.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 18
2.1.4 Các ví dụ minh hoạ 19 2.1.5 Hệ thống các bài tập có thể giải bằng phương pháp bảo toàn khối lượng.26
Trang 52.2 Phương pháp bảo toàn nguyên tố 28
2.2.1 Nội dung phương pháp 28
2.2.2 Dấu hiệu nhận biết 28
2.2.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 28
2.2.4 Các ví dụ minh hoạ 29
2.2.5 Hệ thống các bài tập có thể giải bằng phương pháp bảo toàn nguyên tố 36
2.3 Phương pháp bảo toàn electron 38
2.3.1 Nội dung phương pháp 38
2.3.2 Dấu hiệu nhận biết 38
2.3.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 38
2.3.4 Các ví dụ minh hoạ 39
2.3.5 Hệ thống các bài tập có thể giải bằng phương pháp bảo toàn electron 51 2.4 Phương pháp bảo toàn điện tích 53
2.4.1 Nội dung phương pháp 53
2.4.2 Dấu hiệu nhận biết 53
2.4.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 54
2.4.4 Các ví dụ minh hoạ 54
2.4.5 Hệ thống các bài tập có thể giải bằng phương pháp bảo toàn điện tích 61 2.5 Phương pháp bảo toàn proton 63
2.5.1 Nội dung phương pháp 63
2.5.2 Dấu hiệu nhận biết 63
2.5.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 63
2.5.4 Các ví dụ minh hoạ 63
2.6 Phương pháp bảo toàn nồng độ 66
2.6.1 Nội dung phương pháp 66
2.6.2 Dấu hiệu nhận biết 66
2.6.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý 66
Trang 62.6.4 Các ví dụ minh hoạ 70
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 73
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 73
3.4 Kết quả thực nghiệm 75
KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Điều 24 luật giáo dục đã xác định: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tựhọc ”.
Từ thực tế của nghành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhânlực cho sự phát triển của đất nước Chúng ta đang tiến hành đổi mới phươngpháp dạy học chủ trọng đến việc phát huy tính tích cực của học sinh
Đối với giáo viên yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướngtích cực hoá hoạt động học tập của học sinh thì hoạt động của giáo viên hoáhọc cũng phải có sự đổi mới Người giáo viên hoá học với vai trò là ngườithiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động của học sinh để đạt được mục đíchdạy học
Với học sinh, hoạt động học tập của học sinh được chủ trọng, tăngcường trong giờ học và mang tính chủ động Quá trình học tập là quá trìnhhọc sinh tự học, tự khám phá, tìm tòi để thu nhận kiến thức một cách chủđộng, tích cực Đây chính là quá trình tự phát triển và giải quyết vấn đề
Theo tinh thần đó việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh cầnđược tiến hành trong suốt thời gian các em ngồi trên ghế nhà trường thông
Trang 8qua quá trình sư phạm đối với tất cả các môn học nói chung và môn hoá họcnói riêng.
Bài tập hoá học là một phương tiện cơ bản để dạy học sinh vận dụngkiến thức vào thực hành Sự vận dụng kiến thức thông qua các bài tập cónhiều hình thức và đa dạng Nhờ vậy mà kiến thức được củng cố, khắc sâu,chính xác hoá, mở rộng và nâng cao Giải bài tập hoá học, học sinh không chỉđơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến thức mới Như vậybài tập vừa là nội dung vừa là phương tiện đắc lực giúp giáo viên truyền tảikiến thức cho học sinh và ngược lại, học sinh cũng đón nhận kiến thức mộtcách chủ động, tích cực, sáng tạo thông qua hoạt động giải bài tập
Thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay, người giáo viên còn chưatìm được câu trả lời nên dạy bài tập hoá học như thế nào để đạt hiệu quả caonhất Thông thường thì người giáo viên sử dụng bài tập theo tài liệu có sẵnchưa đầu tư thời gian và trí tuệ để xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phù hợpvới từng đối tượng học sinh cụ thể Giáo viên ra bài tập và học sinh chỉ giảinhững bài tập đó sao cho ra kết quả Việc tìm ra phương pháp giải và giảinhanh các dạng bài tập còn hạn chế Thực tế cho thấy các em thường chỉ giảinhững bài tập quen thuộc và lúng túng khi gặp bài toán mới mặc dù khôngkhó Đó là vì các em chưa xác định được rõ ràng dạng toán cũng như làphương pháp giải toán Để giúp các em có thể giải tốt các bài tập hoá học, tìm
ra cách giải nhanh nhất, đơn giản nhất và tối ưu nhất, sau đó hướng dẫn họcsinh tự lực giải bài tập thông qua đó mà tư duy của học sinh phát triển Chính
vì vậy mà tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập giải nhanh bằng các
phương pháp bảo toàn” làm khoá luận tốt nghiệp.
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều tài liệu viết về phương pháp giải bài tập, nhiều sách thamkhảo của các tác giả như Cao Cự Giác, Cao Thị Thiên An, Nguyễn PhướcHoà Tân
Tuy nhiên để tập trung một phương pháp, phân tích nghiên cứu mộtcách có hệ thống và đầy đủ thì đề tài này đã đề cập đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hoá học ở phổ thông
- Giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn đầy đủ, hệ thống về các bài tập
có thể giải nhanh bằng các phương pháp bảo toàn
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong phạm vi của luận văn chúng tôi tập trung nghiên cứu, giải quyếtnhững vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập hoá học
- Thực trạng xây dựng và giải bài tập hoá học ở phổ thông
- Xây dựng hệ thống bài tập có thể giải nhanh bằng các phương phápbảo toàn
- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi của đề tài
4 Giả thiết khoa học
Trong quá trình dạy học hoá học, nếu người giáo viên xây dựng được
hệ thống bài tập và phương pháp giải nhanh, đúng đắn sẽ góp phần phát triểnnăng lực tư duy môn hoá học, gây hứng thú học tập cho học sinh Góp phầnnâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học bộ môn ở nhà trường phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của giảng dạy bài tập hoá học trong nhàtrường
Trang 10- Nghiên cứu tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo cóliên quan.
- Phương pháp điều tra cơ bản, test, dự giờ
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận về bài tập hoá học
1.1.1 Khái niệm về bài tập hoá học
Bài tập hoá học là một hoặc nhiều vấn đề (câu hỏi hoặc bài toán) màngười giải quyết phải trả lời được thông qua các hoạt động của tư duy
Mỗi loại bài tập có tính chất và tác dụng riêng, tuy nhiên trong khuônkhổ có hạn, luận văn chỉ trình bày loại bài tập định lượng tức bài toán hoáhọc
Bài tập định lượng hay là bài toán hoá học là loại bài tập vừa có tínhhoá học (cần dùng đến kiến thức hoá học, ngôn ngữ hoá học mới giải được),vừa có tính toán học (cần dùng các kỹ năng toán học mới giải được) Đối vớihọc sinh cần phải hiểu rõ các dữ kiện, các yêu cầu cần giải quyết, xác địnhcác bước giải và các thao tác cần thiết Do đó khi giải bài toán hoá học, nhữngkiến thức học sinh đã được lĩnh hội trong quá trình học tập được củng cổ, đàosâu, vận dụng Việc hoàn thành và phát triển kỹ năng giải các bài toán hoáhọc, cho phép thực hiện những mối liên hệ qua lại giữa các tri thức thuộccùng một trình độ của cùng một năm học, và thuộc những trình độ khác nhaucủa những năm học khác nhau, cũng như giữa tri thức và kỹ năng Thông quabài tập, Giáo viên có thể kiểm tra được khả năng tiếp thu kiến thức của họcsinh, đồng thời phát hiện những sai sót, yếu kém của học sinh, qua đó có kếhoạch rèn luyện kịp thời
1.1.2 Tác dụng của bài tập hoá học
1.1.2.1 Bài tập hoá học có tác dụng làm cho học sinh hiểu sâu và làm chính xác hoá các khái niệm đã học
Học sinh có thể học thuộc lòng các khái niệm, định luật Nhưng nếukhông qua việc giải bài tập học sinh chưa thế nào nắm vững những cái màhọc sinh học thuộc lòng Bài tập hoá học sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng
Trang 12vận dụng được các kiến thức đã học, biến kiến thức tiếp thu được qua các bàigiảng của thầy thành kiến thức của chính mình.
Ví dụ: Hoà tan 2,7g Al vào lượng dư dung dịch H2SO4 chưa rõ nồng độthấy thoát ra V lít (đktc) một khí A có tỉ khối so với H2 là 17 Giá tri V là:
A 0,84l B 2,24l C 1,12l D 4,48l
Để giải bài tập này học sinh phải rà soát lại kiến thức, lựa chọn khíthích hợp và viết được PTPƯ, cách cân bằng PTPƯ oxh - khử Từ đó học sinh
1.1.2.2 Bài tập hoá học đào sâu, mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động phương pháp mà không làm nặng nề về khối lượng kiến thức của học sinh
Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vững kiếnthức một cách sâu sắc Hơn nữa một số bài tập với các tình huống có vấn đề
sẽ tạo hứng thú cho học sinh tiếp thu kiến thức được mở rộng hơn từ lý thyếtphản ứng đã học
Ví dụ: Hoà tan 27,8g Fe vào Vml dd HNO3 1 M thấy tạo ra 6,72l khí(đktc) không màu, hoá nâu trong không khí và một lượng chất rắn không tan
có khối lượng mg Tính giá trị của V và m?
Phân tích: Với bài tập này nếu học sinh hấp tấp, vội vàng sẽ chỉ viết 1
chắc kiến thức thì sẽ nhận ra ngay đây là tình huống có vấn đề khiến cho học
điện hoá sẽ được thực tế hoá Đây cũng là cách mở rộng kiến thức ở bài tập vìkhông có thời gian đề cập nhiều ở bài giảng lý thuyết
1.1.2.3 Bài tập hoá học củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoá các kiến thức đã học
Kiến thức cũ nếu chỉ đơn thuần nhắc lại sẽ làm cho học sinh nhàm chán
vì không có gì mới và hấp dẫn Bài tập hoá học sẽ ôn tập, củng cố và hệ thống
Trang 13hoá kiến thức một cách thuận lợi nhất Một số đáng kể bài tập đòi hỏi họcsinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung, nhiều chương,nhiều bài khác nhau Qua việc giải bài tập hoá học này, học sinh sẽ tìm rađược mối liên hệ giữa các nội dung của nhiều bài, nhiều chương khác nhau, từ
đó sẽ hệ thống hoá các kiến thức đã học
Ví dụ: Đối với chương trình 12, sau khi học xong bài Fe có bài tập sau:
Chia m gam hỗn hợp A gồm Ba, Al, Fe thành 3 phần bằng nhau:
Phần 2: Cho vào dd NaOH dư thấy có 6,944l khí bay ra
Phần 3: Cho vào dd HCl dư thu được 9,184l khí
Tìm m và khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp A, các khí đo ở đktc
Phân tích: Để giải được bài tập này, học sinh phải nắm được tính chất
hoá học của Fe và cả chương trước là kim loại kiềm thổ và Al Như vậy vớibài tập này đã giúp học sinh ôn lại kiến thức của phần trước cũng như phầnvừa học xong
1.1.2.4 Bài tập hoá học giúp rèn luyện các kỹ năng hoá học
Các kỹ năng về hoá học như:
- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học
- Lập công thức cân bằng phương trình hoá học
- Tính theo phương trình hoá học
- Các tính toán đại số: Quy tắc tam suất, giải phương trình và hệ phương trình,
kỹ năng nhận biết các chất
Qua việc thường xuyên giải các bài tập hoá học, lâu dần học sinh sẽthuộc các ký hiệu hoá học, nhớ hoá trị, số oxh của các nguyên tố
1.1.2.5 Bài tập hoá học tạo điều kiện để tư duy phát triển
Bài tập hoá học phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện trí thông minhcho học sinh Khi giải một bài tập học sinh rèn luyện được các thao tác tư duy
Trang 14như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch quy nạp Và học sinh buộc phảinhớ lại các kiến thức đã học mà có liên quan đến đề tài, xác định mối liên hệgiữa các điều kiện đã cho và yêu cầu của đề để tìm ra cách giải tối ưu nhất.Qua đó tư duy của học sinh được phát triển, tính tích cực, độc lập của họcsinh được nâng cao.
Ví dụ: Cho 6,8g hỗn hợp Fe, CuO tác dụng với dung dịch HCl dư thu
được chất rắn B và dd A Cho tiếp dd HCl dư vào thì tan 1 phần, còn lại 1,28gchất rắn không tan Lọc bỏ chất rắn thêm NaOH dư vào và lọc kết tủa, nungtrong môi trường không có không khí thu được 6g chất rắn Tìm khối lượngcủa mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu
Phân tích: Để giải được bài tập này học sinh phải nhớ lại tính chất hoá
học của kim loại, oxit kim loại khi có tác dụng với axit không có tính oxh.Học sinh phải phân tích, lập luận được tại sao sau 2 lần cho HCl vào thì cònmột chất rắn không tan mà đáng ra cả Fe và CuO đều tan hết trong HCl dư.Đến đây học sinh phải dự đoán được chất không tan là Cu, nhưng Cu sinh ra
từ đâu? Để trả lời câu hỏi này học sinh phải suy luận được các PTPƯ khi cho
Fe, CuO tác dụng với HCl thiếu Khi đó Fe, CuO tác dụng vói HCl thiếu tạo
rắn B có Cu, có thể có CuO dư, Fe dư Cho HCl dư vào B thì Fe và CuO tanhết, còn lại Cu Từ suy luận này học sinh sẽ tìm ra được cách giải thích hợp
1.1.2.6 Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục tư tưởng
Khi giải bài tâp hoá học, học sinh được rèn luyện về tính kiên nhẫn,tính trung thực trong lao động, học tập, tính độc lập, sáng tạo khi xử lý cácvấn đề xảy ra Mặt khác, việc tự mình giải các bài tập hoá học còn giúp chohọc sinh rèn luyện tinh thần kỷ luật, biết tự kiềm chế, có cách suy nghĩ vàtrình bày chính xác, khoa học, nâng cao lòng yêu thích bộ môn hoá học Tácdụng này được thể hiện rõ trong các bài tập hoá học Bài tập hoá học gồm
Trang 15nhiều bước đi để đến đáp số cuối cùng Nếu các em sai ở bất kỳ một khâu nào
sẽ làm cho hệ thống bài toán bị sai
Ví dụ: Cho m1g hỗn hợp Mg và Al vào m2g dd HNO3 24% Sau khi các
hợp khí Y Dẫn Y từ từ qua dd NaOH dư có 4,48l hỗn hợp khí Z đi ra (đktc)
lượng kết tủa lớn nhất thì thu được 62,2g kết tủa
Phân tích: Để giải được bài tập này học sinh phải thực hiện từng bước
một các phản ứng, nhìn nhận bản chất vấn đề để tìm ra cách giải thích hợp.Nếu học sinh hấp tấp, vội vàng tính sai bất kỳ bước nào thì hệ thống bài toán
sẽ sai
Bài tập hoá học có nội dung thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyệntính cẩn thận, tuân thủ triệt để quy định khoa học, chống tác phong luộmthuộm dựa vào kinh nghiệm lặt vặt, chưa khái quát, vi phạm những nguyêntắc khoa học
1.1.2.7 Giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Bộ môn hoá có nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp, còn các bài tậphoá học thì tạo điều kiện cho nhiệm vụ này phát triển vì những vấn đề kỹthuật của sản xuất được chuyển hoá thành nội dung trong các bài tập hoá họcnhư: Hiệu suất, cách khảo sát thành phần hoá học vật chất, quy trình sản xuất
H2SO4, HNO3, bài toán nhiệt nhôm
Ví dụ: Tính khối lượng quặng chứa 92,8% Fe3O4 để sản xuất 10 tấngang chứa 4% C và một số tạp chất Biết hiệu suất của quá trình là 87,5%
Trang 16Phân tích: Với bài tập này, học sinh phải hiểu được gang có thành phần
chính là gì? Biết được nguyên liệu sản xuất gang, hiểu được các quá trình sảnxuất trên thực tế không đạt hiệu suất 100%
Bài tập hoá học còn cung cấp cho học sinh những số liệu lý thú của kỹthuật, những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượngnghành sản xuất giúp học sinh hoà nhịp với sự phát triển của khoa học kỹthuật
Chính vì tác dụng của bài tập kể trên, chúng ta với tư cách là ngườigiáo viên phải rèn luyện cho học sinh khả năng giải bài tập hoá học thườngxuyên để học sinh phát triển tư duy, nâng cao kiến thức và đặc biệt càng thêm
tự tin và hứng thú học tập môn hoá học
1.1.3 Nguyên tắc chung để thiết kế và xây dựng bài tập hoá học
Việc thiết kế và xây dựng bài tập hoá học sử dụng vào nội dung giảngdạy là một công việc rất quan trọng của người giáo viên Để cho việc lĩnh hộitri thức của người học đạt hiệu quả tốt nhất thì giáo viên ngoài việc đưa ra cáckiến thức mới còn phải biết kết hợp các bài tập thích hợp giúp người học hiểusâu và nắm vững hơn
Hiện nay xu hướng chung của bài tập hoá học là không quá phức tạp vềtính toán thiên về bản chất tư duy hoá học và có tính chất tổng hợp cũng nhưkhả năng ứng dụng cao (hiểu biết nhiều về thực tế cuộc sống, thiên nhiên, môitrường )
Như vậy để đạt được mục đích đó thì ngoài bài tập sách giáo khoa, một
số tài liệu tham khảo, người giáo viên phải biết tìm tòi, tự xây dựng cho mìnhmột hệ thống bài tập mới Nó sẽ giúp cho giáo viên và học sinh giải quyếtđược những vấn đề sau:
- Giúp học sinh khỏi nhàm chán như phải giải những bài tập quá quenthuộc hoặc đã làm một số lần ở sách giáo khoa và sách tham khảo
Trang 17- Soạn được những bài tập theo mục đích cụ thể, định hướng được tưduy cho học sinh, giúp học sinh củng cố kiến thức hổng theo đúng yêu cầu(tuỳ vào đối tượng học sinh).
- Giúp cho giáo viên ra được các đề thi theo hướng tư duy hoá học,không lệ thuộc vào các bài tập sẵn có trong tài liệu Và trên cơ sở tổng hợp,
kế thừa ta xây dựng được các bài tập hoá học để sử dụng thiết kế nội dung cácbài giảng trong chương trình phổ thông theo hai nguyên tắc sau:
+ Bài tập phải ngắn gọn, phản ánh đúng bản chất kiến thức của sáchgiáo khoa
+ Có thể sử dụng nhanh, chính xác trong từng tiết học để nhằm: củng
cố, hoàn thiện, nâng cao kiến thức hoặc làm xuất hiện kiến thức mới cho họcsinh
1.1.4 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cơ sở để phân loại bài tập hoá học
1.1.4.1 Phân loại dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Bài tập để củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức và hình thành quy luậtcủa các quá trình hoá học
- Bài tập để rèn luyện kỹ năng
- Bài tập để rèn luyện tư duy logic
- Bài tập để rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
1.1.4.2 Phân loại dựa vào nhiệm vụ và yêu cầu giải bài tập
- Bài tập xác định công thức của hợp chất, tên các nguyên tố
Trang 18- Bài tập bằng hình vẽ…
1.1.4.3 Phân loại dựa vào nội dung hoá học của bài tập
- Bài tập lý thuyết
- Bài tập định lượng (bài toán hóa học)
- Bài tập thực nghiệm (có nội dung thí nghiệm)
- Bài tập tổng hợp có nội dung chứa cả 2 hoặc 3 loại trên
1.1.4.4 Phân loại dựa vào phương pháp giải bài tập
- Bài tập sử dụng phương pháp bảo toàn (khối lượng, nguyên tố, điệntích, electron, proton, nồng độ)
- Bài tập sử dụng phương pháp đường chéo
- Bài tập sử dụng phương pháp quy đổi
- Bài tập sử dụng phương pháp tăng, giảm khối lượng
- Bài tập sử dụng phương pháp đồ thị
- Bài tập sử dụng phương pháp quan sát
- Bài tập sử dụng phương pháp biện luận
- Bài tập sử dụng phương pháp đại số
- Bài tập sử dụng phương pháp trung bình
1.1.4.5 Phân loại bài tập dựa vào đặc điểm nhận thức của học sinh khi tiếp nhận bài tập
Trang 191.2 Hệ thống hoá các phương pháp giải bài tập hoá học
- Phương pháp bảo toàn
- Phương pháp đồ thị
- Phương pháp đường chéo
- Phương pháp biện luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp quy đổi
- Phương pháp tăng giảm khối lượng
- Phương pháp ghép ẩn số
1.3 Cách thức lựa chọn bài tập hoá học
Thời gian học tập của học sinh là có hạn nên việc lựa chọn bài tập đểbồi dưỡng kiến thức cho học sinh là rất quan trọng, đòi hỏi người giáo viênphải đầu tư nhiều thời gian vào việc lựa chọn bài tập Không phải bất kỳ mộtngười giáo viên nào cũng có nhiều thời gian để tiến hành nghiên cứu và xâydựng cho mình những bài tập phù hợp, trong khi đó hệ thống sách tham khảorất phong phú và đa dạng Do đó thay vì phải tiến hành từng công đoạn nhỏ
để có được một bài tập hoá học phù hợp, giáo viên có thể lựa chọn những bàitập phù hợp với mục đích giảng dạy của mình trên cơ sở phân tích kỹ lưỡngcác mục đích của bài tập Để lựa chọn được một bài tập thích hợp cần dựatrên những nguyên tắc sau:
a Chọn một số bài tập hoá học chuẩn:
BTHH chuẩn là bài tập ngắn gọn, súc tích, tính chất điển hình, có ýnghĩa về mặt giáo dục (đạt được mục đích trí dục, giáo dục, phát triển: Cungcấp tri thức khoa học, phát triển tư duy hoá học, rèn luyện kỹ năng hoá học )
BTHH chuẩn có thể lấy từ các nguồn sau:
- Các sách giáo khoa hoá học và sách bài tập hoá học phổ thông
- Các sách bài tâp có trên thị trường
Trang 20- Các bài tập trong giáo trình đại học dùng cho học sinh giỏi hoặc cảibiến cho phù hợp với phổ thông.
b Phân tích bài tập hóa học để xác định các mục đích dạy học cần đạt đượckhi sử dụng bài tập đó
c Dự đoán đối tượng học sinh có thể giải được bài tập đã lựa chọn
d Xây dựng bài tập mới trên cơ sở bài tập đã có theo mức độ khác nhau phùhợp với mục đích dạy học
1.4 Thực trạng xây dựng và giải bài tập bằng các phương pháp bảo toàn
ở trường phổ thông
1.4.1 Thực trạng và xu hướng sử dụng BTHH trong dạy học hiện nay
1.4.1.1 Thực trạng sử dụng BTHH trong dạy học hiện nay
BTHH là một công cụ, phương tiện mạnh nhất để giúp học sinh biếnnhững kiến thức trên lý thuyết thành những hiểu biết của mình và vận dụng đểgiải thích các hiện tượng tự nhiên BTHH có một vị trí rất quan trọng tronghọc tập hoá học, nhưng nó vẫn chưa được sử dụng để phát huy hết những tácdụng của nó:
- GV hoá học chưa chú ý hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho HS
và chưa có biện pháp hình thành năng lực giải quyết vấn đề, giúp HS hìnhthành các kỹ năng cho mình thông qua hệ thống BTHH trong giảng dạy hoáhọc
- Bài tập chưa sử dụng đúng mục đích của nó, cách thức sử dụng nóchưa phù hợp
- Bài tập đôi khi sử dụng không phù hợp với trình độ của HS Bài tậpquá khó gây cảm giác tự ti, chản nản đối với HS Bài tập quá dễ thì làm cho
HS nhanh nhàm chán, làm cho HS không tiếp thu được kiến thức từ bài tậpđó
Trang 21- GV khi sử dụng BTHH thường không có liên hệ với thực tiễn cho HS,chưa giúp HS giải thích được các hiện tượng trong cuộc sống có liên quan đếnkiến thức hoá học.
- Phương pháp nhận thức chủ yếu của hoá học là thực nghiệm, nhưng
đa số các GV là chưa sử dụng thường xuyên thí nghiệm hoá học trong các giờ
lý thuyết cũng như các giờ bài tập lý thuyết
1.4.1.2 Xu hướng sử dụng BTHH trong dạy học hiện nay
Bản thân BTHH đã là phương pháp dạy học hoá học tích cực Songphương pháp tích cực của phương pháp này là được nâng cao hơn khi sử dụngnhư là nguồn kiến thức để HS tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức
Với tính đa dạng của mình BTHH là phương tiện để tích cực hoá hoạtđộng của HS trong các dạng BTHH, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộcvào sử dụng của GV trong quá trình dạy học hoá học
a Sử dụng BTHH để hình thành các khái niệm hoá học
Ngoài việc sử dụng BTHH để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng hoáhọc cho HS, người GV có thể dùng BTHH để tổ chức, điều khiển quá trìnhnhận thức của HS hình thành khái niệm mới Trong bài dạy hình thành kháiniệm HS phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà HS chưa biết hoặc chưa biếtchính xác, rõ ràng
GV có thể xây dựng, lựa chọn bài tập phù hợp để giúp HS hình thànhkhái niệm mới một cách vững chắc hoặc hình thành quy luật của quá trình hoáhọc
b Sử dụng BTHH để cung cấp, mở rộng, đào sâu kiến thức và rèn kuyện kỹnăng cho HS
c Sử dụng BTHH để rèn luyện tư duy logic
Có rất nhiều HS cho rằng, hoá học phải nhớ vụn vặt và nhớ là chính.Điều đó không đúng, hoá học rất cần đến sự suy luận và cần nhớ thông qua sự
Trang 22suy luận logic Để rèn luyện tư duy logic cần phải sử dụng bài tập và khi giảicần dựa vào tính logic của vấn đề.
d Sử dụng BTHH để rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Việc rèn luyện cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề hiện nay cầnđược đặt ra như một mục tiêu giáo dục BTHH có rất nhiều khả năng rènluyện cho HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Trang 23CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÁC HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ THỂ GIẢI
NHANH BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO TOÀN
2.1 Phương pháp bảo toàn khối lượng
2.1.1 Nội dung phương pháp
Trong một phản ứng hoá học tổng khối lượng các chất tham gia bằngtổng khối lượng sản phẩm
Xét phản ứng: A + B C + D
Ta có: mA + mB = mC + mD
Hệ quả 1: Gọi mT là tổng khối lượng các chất trước phản ứng, mS làkhối lượng các chất sau phản ứng Dù cho phản ứng xảy ra vừa đủ hay có chất
Hệ quả 2 : Khi cation kim loại kết hợp với anion phi kim để tạo ra hợp
chất (như hiđroxit, oxit, muối) thì ta luôn có :
Khối lượng hợp chất = Khối lượng kim loại + Khối lượng anion
Hệ quả 3 : Khi cation kim loại thay đổi anion tạo ra hợp chất mới, sự
chênh lệch khối lượng giữa hai hợp chất bằng sự chênh lệch về khối lượnggiữa các cation
Hệ quả 4 : Tổng khối lượng của một nguyên tố trước phản ứng bằng
tổng khối lượng của nguyên tố đó sau phản ứng
Hệ quả 5 : Trong phản ứng khử oxit kim loại bằng CO, H2, Al :
khối lượng oxi trong oxit (hay hỗn hợp oxit) và suy ra khối lượng kim loại(hay hỗn hợp kim loại)
NO(trong oxit) = nCO = n CO2 =n H O
2
Trang 242.1.2 Dấu hiệu nhận biết
- Bài toán có nhiều phương trình phản ứng tương tự như nhau
- Bài toán chỉ yêu cầu tìm khối lượng chung của hỗn hợp nào đó
- Dữ liệu bài toán chỉ cho biết số liệu một cách chung chung
Đối với những bài toán này nếu giải bằng phương pháp thông thườngthì sẽ phải viết nhiều phương trình, tốn thời gian đôi khi còn thiếu dữ kiện nêngặp rất nhiều khó khăn và có thể không giải được Vì vậy chúng ta nên ápdụng PP BTKL để giải Các dạng toán chúng ta thường gặp :
+ Cho hỗn hợp các kim loại tác dụng với các axit
+ Cho hỗn hợp nhiều muối tác dụng với dung dịch axit
+ Phản ứng đốt cháy các hợp chất hữu cơ
+ Phản ứng n chất tham gia, khi biết khối lượng n - 1 chất suy ra khốilượng chất còn lại
2.1.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý
- Không tính khối lượng của phần không tham gia phản ứng
- Đối với các phản ứng có khí thoát ra thì tổng khối lượng sản phẩmnhỏ hơn tổng khối lượng các chất tham gia
- Đối với phản ứng có dư chất tham gia thì khi áp dụng PP BTKL phảicộng phần dư vào sản phẩm
Phương pháp này dùng để giải các bài toán vô cơ và hữu cơ và áp dụngcho mọi quá trình oxh - khử và không phải là quá trình oxh - khử Thườngđược dùng để vô hiệu hoá các phép tính phức tạp , nhiều bài toán vô cơ, hữu
cơ mà trong các bài toán đó xảy ra nhiều phản ứng Khi đó ta chỉ cần lập sơ
đồ để thấy rõ mối quan hệ về tỉ lệ môn của các chất mà không cần viết PTPƯ
- Phản ứng hạt nhân có độ hụt khối nên không áp dụng phương phápnày
Trang 252.1.4 Các ví dụ minh hoạ
Ví dụ 1: Cho 20 gam hỗn hợp 3 amin no đơn chức đồng đẳng liên tiếp
tác dụng vừa đủ với dd HCl 1M, cô cạn dd thu được 31,68 gam muối Thểtích dd HCl đã dùng:
A 320 ml B 160 ml C 16 ml D 32 ml
Phân tích: Đối với bài toán này dữ kiện bài toán cho một cách chung
chung (khối lượng của 3 amin), mặt khác khối lượng của hỗn hợp 3 amin vàmuối đã biết còn lại là khối lượng của axit HCl Vậy nên áp dụng PP BTKL
để giải bài toán này là phương pháp nhanh nhất, tối ưu nhất
Khi tính được thể tích của HCl nhiều HS đổi sai đơn vị dẫn đến tìm sai
Như vậy đáp án D là đáp án nhiễu
Ví dụ 2: Hoà tan hoàn toàn 20 gam hỗn hợp Mg và Fe vào dd axit HCl
dư thấy có 11,2 l khí (đktc) thoát ra và dd X Cô cạn dd X thì khối lượng muốikhan thu được là:
A 23,75 gam B 31,75 gam C 55,5 gam D 37,25 gam
Phân tích: Với bài toán này HS có thể sử dụng phương pháp đại số và
PP BTKL để giải Với đa số HS thì các em sẽ lựa chọn phương pháp phổ biến
là phương pháp đại số và thực hiện cách giải như sau:
Gọi x, y lần lượt là số mol của Mg và Fe
Trang 26Theo bài ra ta có: n H2 = 2211,,24 = 0,5 mol
Trang 27Ở bài tập này nhiều HS hấp tấp, vội vàng sẽ tính khối lượng muối khanchỉ là:
hai muối lại với nhau dẫn đến tìm sai đáp án của bài toán
Như vậy đáp án A, B là đáp án nhiễu
Ví dụ 3: Hỗn hợp X gồm axit HCOOH và CH3COOH có số mol bằng
xúc tác) thu được m gam hỗn hợp este (với H% = 80%) Giá trị m là:
A.7,4 gam B 8,1 gam C 7,04 gam D 6,48 gam
Phân tích: Với bài toán này HS có thể sử dụng phương pháp đại số để
giải như sau:
Gọi a là số mol của mỗi axit
OH H
5 2
3COOC H
CH
Nếu giải theo phương pháp đại số thông thường thì sẽ mất thời gian
HS có thể giải bằng cách áp dụng PP BTKL như sau:
Trang 28Đặt công thức chung của hỗn hợp axit là: R COOH
Gọi a là số mol của mỗi axit
Trang 290,1 0,125 mtăng = 3,5g
- Một số HS không chú ý đến hiệu suất của phản ứng và cho rằng kết
Như vậy đáp án A, B, C là đáp án nhiễu
Nhận xét: Ở bài này khi áp dụng PP BTKL thì chú ý rằng: C2H5OH dưnên ta chỉ tính khối lượng nó phản ứng theo số mol của axit
Ví dụ 4: Thổi 1 luồng khí CO dư qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp gồm
thoát ra sục vào nước vôi trong dư, thấy có 15 gam kết tủa trắng Khối lượngcủa hỗn hợp oxit kim loại ban đầu?
A 7,3 gam B 4,9 gam C 9,8 gam D 23 gam
Phân tích: Đối với bài toán này HS có thể dùng phương pháp thông
thường và giải như sau:
Gọi x, y, z, t lần lượt là số mol của các oxit CuO, Fe2O3, FeO, Al2O3
Theo bài ra: n CaCO3 = 10015 = 0,15 mol
Trang 30Theo bài ra khối lượng chất rắn thu được là 2,5 gam bao gồm: Cu, Fe
PTPƯ : MxOy + yCO2 t o xM + yCO2
- HS cũng có thể giải như sau: nO(oxit) = nCO = n CO2 = 0,15 mol
Trang 31Ví dụ 5: Cho 24,4 gam hỗn hợp Na2CO3 và K2CO3 tác dụng vừa đủ với
dd thu được m gam muối clorua Giá trị của m là:
A 13,3 gam B.11,7 gam C 14,9 gam D 26,6 gam
Phân tích: Với bài toán này HS có thể giải theo phương pháp thông
thường như sau:
Gọi a, b lần lượt là số mol của Na2CO3 và K2CO3 trong hỗn hợp
Ta có: n BaCl2 = n BaCO3 = 39197,4 = 0,2 mol
Trang 32Hoặc cân bằng sai PTPƯ và tính khối lượng muối là:
mmuối = m NaCl+ mKCl= 0,1.58,5 + 0,1.74,5= 13, 3 gam
Như vậy đáp án A, B, C là đáp án nhiễu
2.1.5 Hệ thống các bài tập có thể giải bằng phương pháp bảo toàn khối lượng
Bài tập 1:Trung hoà 5,48 gam hỗn hợp gồm axit axetic, phenol và axit
benzoic, cần dùng 600 ml dung dịch NaOH 0,1 M Cô cạn dd sau phản ứng,thu được hỗn hợp chất rắn có khối lượng là:
A 8,64 gam B 6,84 gam C 4,90gam D 6,80 gam
Bài tập 2: Cho luồng khí CO (dư) đi qua 9,1 gam hỗn hợp gồm CuO và
Khối lượng CuO có trong hỗn hợp ban đầu là:
A 0,8 gam B 8,3 gam C 2,0 gam D 4,0 gam
Bài tập 3: Hoà tan 10,14 gam hợp kim Cu, Mg, Al bằng một lượng vừa
đủ dd HCl thu được 7,84 lít khí A (đktc) và 1,54 gam chất rắn B và dd C Côcạn dd C thu được m gam muối Giá trị của m là:
A 33,45 gam B 33,25 gam C 32,99 gam D 35,58 gam
Bài tập 4: Hoà tan 28,4 gam hỗn hợp 2 muối cacbonat của hai kim loại
thuộc nhóm IA bằng dd HCl thu được 6,72 lít khí (đktc) và dd A Tổng khốilượng hai muối clorua trong dd thu được là:
Trang 33A 3,17 gam B 31,7 gam C 1,37 gam D 7,13 gam
Bài tập 5: Cho 5,9 gam amin đơn chức X tác dụng vừa đủ với dd HCl,
sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được dd Y Làm bay hơi dd Y được9,55 gam muối khan Số công thức cấu tạo ứng với công thức phân tử của Xlà:
A 5 B 4 C 2 D 3
Bài tập 6: Đung nóng dd chứa 10 gam NaOH vào 20 gam chất béo
trung tính, sau khi phản ứng kết thúc, lấy 1/10 dd thu được đem trung hoàbằng dd HCl 0,2 M thấy tốn hết 95 ml dd axit Khối lượng xà phòng thu đượclà:
A 21,86 gam B 30 gam C 26,18 gam D 28,16 gam
Bài tập 7: Trộn 5,4 gam Al với 6,0 gam Fe2O3 rồi nung nóng để thựchiện phản ứng nhiệt nhôm Sau phản ứng ta thu được m gam hỗn hợp chấtrắn Giá trị của m là:
A 2,24 gam B 9,40 gam C 10,20 gam D 11,40 gam
Bài tập 8: Cho 2,84 gam hỗn hợp hai ancol no, đơn chức, đồng đẳng kế
(đktc) CTPT của hai ancol và giá trị của V là:
A CH3OH, C2H5OH và 0,896 lít B C2H5OH, C3H7OH và 1,12 lítC.CH3OH, C2H5OH và 0,448 lít D CH3OH, C2H5OH và 1,12 lít
Bài tập 9: Cho 11,5 gam hỗn hợp gồm ACO3, B2CO3, R2CO3 tan hết
là:
A 16,2 gam B 12,6 gam C 13,2 gam D 12,3 gam
Bài tập 10: Hỗn hợp A gồm KClO3, Ca(ClO3)2, Ca(ClO2)2, CaCl2 vàKCl nặng 83,68 gam Nhiệt phân hoàn toàn A thu được chất rắn B gồm
Trang 34K2CO3 0,5 M (vừa đủ) thu được kết tủa C và dd D Lượng KCl trong dd D
A 47,83% B 56,72% C 54,67% D 58,55%
2.2 Phương pháp bảo toàn nguyên tố
2.2.1 Nội dung phương pháp
Dựa vào định luật bảo toàn nguyên tố: “Trong các phản ứng hoá họccác nguyên tố luôn được bảo toàn” Điều này có nghĩa là tổng số mol nguyên
tử của một nguyên tố bất kỳ trước và sau phản ứng luôn luôn bằng nhau Nhưvậy PP BTNT là một hệ quả của PP BTKL
2.2.2 Dấu hiệu nhận biết
- Bài toán nhiều phản ứng qua nhiều giai đoạn
- Bài toán cho một số liệu
- Bài toán chỉ liên quan đến sự biển đổi của một nguyên tố
- Bài toán đốt cháy hợp chất hữu cơ
- Bài toán hỗn hợp nhiều chất tham gia hoặc từ một chất tham gia tạođược nhiều sản phẩm
2.2.3 Những điểm đặc biệt cần lưu ý
- Xác định đầy đủ các chất tham gia và sản phẩm, tất cả những hợp chất
có liên quan đến nguyên tố đang áp dụng PP BTNT
- Chỉ áp dụng cho bài toán thông thường, không áp dụng cho bài toánhạt nhân
- Có thể kết hợp PP BTKL để giải
2.2.4 Các ví dụ minh hoạ.
Ví dụ 1: Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm: C2H4, C3H6, C4H8,
C5H10 thì thu được 54,296 gam CO2 và a gam H2O Giá trị của a và m là:
A 22,212 và 17,276 B 22,212 và 16,042
C 17,276 và 22,212 D 17,276 và 16,042
Trang 35Phân tích: Nhận thấy rằng toàn bộ C và H trong hỗn hợp X đều chuyển
phương pháp nhanh nhất, tốt nhất để tìm đáp số của bài toán Cụ thể như sau:
Hỗn hợp X: C2H4, C3H6, C4H8, C5H10 thuộc dãy đồng đẳng của anken
Như vậy đáp án C là đáp án nhiễu
Ví dụ 2: Hỗn hợp rắn A gồm 0,1 mol Fe2O3 và 0,1 mol Fe3O4 Hoà tanhoàn toàn A bằng dd HCl dư, thu được dd B Cho NaOH vào dd B, thu đượckết tủa C Lọc lấy kết tủa C, rửa sạch rồi đem nung trong không khí đến khốilượng không đổi, thu được m gam chất rắn D Giá trị của m là:
A 39,2 gam B 40 gam C 35,5 gam D 24 gam
Phân tích: Với bài tập này, HS có thể sử dụng phương pháp đại số
hoặc PP BTNT để giải Với đa số HS, các em sẽ chọn phương pháp phổ biến
là phương pháp đại số và thực hiện cách giải như sau:
Trang 362Fe(OH)3 t o
Fe2O3 + 3H2O (7)0,4+0,1 0,25 (mol)
Như vậy đáp án A là đáp án nhiễu
Ta thấy rằng việc giải bằng phương pháp đại số như trên sẽ gây mất rấtnhiều thời gian Tuy nhiên nếu HS biết cách phân tích bài toán: trong quátrình phản ứng thì toàn bộ Fe sẽ chuyển hoá hết theo sơ đồ sau:
Trang 37Ví dụ 3: Đốt cháy hoàn toàn 1,88 gam chất hữu cơ A (chứa C, H, O)
định CTPT của A, biết tỉ khối của A so với không khí nhỏ hơn 7
A C8H12O5 B C4H8O2 C C8H12O3 D C6H12O6
Phân tích: Đối với những bài toán xác định CTPT của hợp chất hữu cơ
thì việc áp dụng PP BTNT là cách tốt nhất, tối ưu nhất để tìm ra đáp số củabài toán Cụ thể đối với bài toán này PP BTNT được áp dụng như sau:
Theo bài ra: n O2= 122,904,4 = 0,085 mol
nH(A) = n H(H2O)= 3a.2= 0,12 mol
nO(A) = n O(CO2) + n O(H2O) - n O(O2)= 4a.2 + 3a – 0,85.2 = 0,05 mol
A 3,36 gam B 2,08 gam C 1,28 gam D 4,512 gam
Phân tích: Đối với bài toán này HS có thể sử dụng phương pháp đại số
và giải như sau:
Số mol của HCl: nHCl = 0,16 0,1 = 0,16 mol
Trang 38Gọi x, y, z lần lượt là số mol của FeO, Fe2O3, Fe3O4 trong 4,64 gam hỗn hợp
Trang 39Fe3O4 + 4CO 3Fe + 4CO2
z 3z
mFe = 56 (x +2y +3z) (3)
Đến đây thì rất nhiều HS gặp bế tắc trong việc tìm khối lượng Fe,
vì để tìm được khối lượng Fe thì các em phải ghép ẩn và giải như sau:
Trang 40- Đổi sai đơn vị thể tích của HCl nên tính nHCl = 0,016.1 = 0,016mol
- Khi tính khối lượng của oxi trong oxit thì lại lấy số mol nhân vớikhối lượng phân tử khối của phân tử oxi và được kết quả:
Đáp án B và D là đáp án nhiễu
Nhận xét: Đối với bài toán này thì sử dụng PP BTNT là phương
pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để tìm ra kết quả
Ví dụ 5: Cho hỗn hợp khí X gồm HCHO và H2 đi qua ống sứ đựngbột Ni nung nóng Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hỗn hợp