Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1991 – 2014, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ mở thương mại ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương. Mời các bạn cùng tham khảo.
Giới thiệu
Lý do chọn đề tài
Năng lượng, tức là nguồn năng lượng tái tạo và nguồn năng lượng không tái tạo, đóng vai trò tác động đến việc kích thích quá trình sản xuất trong nền kinh tế Năng lượng tái tạo bao gồm ánh sáng mặt trời, gió, thủy triều, thực vật và địa nhiệt Năng lượng không tái tạo gồm than đá, dầu thô, khí gas và urani mà chủ yếu được tạo thành từ cacbon Khí gas tự nhiên đóng vai trò là cầu nối giữa nhiên liệu hóa thạch ngày nay và nhiên liệu tái tạo trong tương lai Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên phát ra ít hơn 50% sự ô nhiễm môi trường so với các nhiên liệu hóa thạch khác Khí gas tự nhiên đã trở thành nguồn tài nguyên chủ yếu của việc tạo ra điện do bởi sự thân thiện của khí gas với môi trường tự nhiên Trong tương lai, khí gas tự nhiên sẽ trở thành một loại nhiên liệu thiết yếu trong việc giúp kiểm soát, hạn chế sự nóng lên toàn cầu
Khí gas tự nhiên đáp ứng gần như một phần tư nhu cầu năng lượng thế giới, nhưng gần đây sự đổi mới trong việc khảo sát và sản xuất gas đã làm mở rộng rất nhiều việc cung cấp gas Trữ lượng khí gas tự nhiên thế giới tổng cộng vào khoảng
150 tỷ tỷ m³ Trữ lượng khí gas tự nhiên lớn nhất, tổng cộng 48 tỷ tỷ m³ đang nằm ở Nga Trữ lượng lớn thứ hai thế giới, 50 tỷ tỷ m³, nằm ở Trung Đông Các mỏ có trữ lượng khác nằm ở các nơi khác ở Châu Á, Châu Phi và Úc Trữ lượng khí gas tự nhiên ở Hoa Kỳ tổng cộng 5 tỷ tỷ m³ Theo xếp hạng trữ lượng khí gas tự nhiên theo từng bang từ cao xuống thấp, các mỏ khí gas tự nhiên lớn đã được phát hiện ở: Texas, Vịnh Mexico ngoài khơi Louisiana, ở Oklahoma, ở New Mexico, ở Wyoming và ở Vịnh Prudhoe của Bắc Slope ở bang Alaska Ở Canada, tổng trữ lượng khí gas tự nhiên là 1.7 tỷ tỷ m³ Phần lớn trữ lượng khí gas tự nhiên ở Canada nằm ở Alberta 1 Úc một trong hai cường quốc xuất khẩu khí gas tự nhiên lớn nhất thế giới, đang tích cực tăng sản lượng trong vòng 5 năm tới Khách hàng chủ yếu đến từ Châu Á Trung Quốc là một trong những khách hàng có tiềm năng lớn nhất, tuy nhiên lại từ chối các nguồn cung cấp khí gas tự nhiên từ Mỹ Năm 2014, họ đã ký
1 Nguồn từ [Ngày truy cập: 18 tháng 08 năm 2015] hợp đồng trị giá 400 tỷ USD với Nga để nhập khẩu nguồn khí gas tự nhiên trong ba thập kỷ tiếp theo
Nhờ trữ lượng đá phiến dầu và khí đốt dồi dào, năm 2014 Mỹ đã trở thành nhà sản xuất dầu mỏ và khí đốt lỏng lớn nhất toàn cầu Họ cũng đứng thứ nhất về sản lượng sản xuất khí đốt tự nhiên khô Ở Việt Nam, theo số liệu từ TCTK 2 , tháng 12/2014, sản lượng khí gas tự nhiên dạng khí đạt 930 triệu m 3 , tăng 2.2% so với tháng 12/2013, nâng lượng khí gas tự nhiên dạng khí năm 2014 lên 10190.9 triệu m 3 , tăng 4.8% so với năm 2013 Khí hóa lỏng (LPG) tháng 12 đạt 55 nghìn tấn, giảm 16.1% so với tháng 12/2013, tính chung năm 2014, sản lượng LPG là 650.1 nghìn tấn, giảm 9.3% so với năm 2013
Trung Quốc – nhà tiêu thụ lớn thứ hai trên thế giới về dầu mỏ và khí đốt Năm
2014, sản lượng khí gas tự nhiên tại thị trường nội địa tăng 10.7% từ mức tăng trưởng 9.1% năm 2013, do sản lượng khí đá phiến đầu tiên tại quốc gia này được bổ sung Tổng lượng khí gas sử dụng năm 2014 của Trung Quốc đạt 132.9 tỷ m 3 , với sản lượng khí thông thường đạt 128 tỉ m 3 , tăng 9.8% so với cùng kỳ năm 2013 Đối với Việt Nam, tổng nhu cầu sử dụng khí hóa lỏng trong nước tháng 12/2014 ước khoảng 115 nghìn tấn, ổn định so với tháng 11/2014 Trong đó, nguồn cung LPG từ sản xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ổn định ở mức 56 nghìn tấn (bằng 48.7% nhu cầu); nguồn nhập khẩu ước khoảng 59 nghìn tấn (bằng 51.3% nhu cầu) Tính chung năm 2014, tổng nhu cầu sử dụng LPG trong nước ước khoảng 1,340 nghìn tấn, tăng 3.07% so với năm 2013 Trong đó, nguồn cung LPG từ sản xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ước khoảng 612 nghìn tấn (bằng 45.67% nhu cầu); nguồn nhập khẩu khoảng 728 nghìn tấn (bằng 54.33% nhu cầu) 3
Khí gas tự nhiên sạch hơn than đá và dầu, bởi vì nó tạo ra sự phát thải khí
CO2 ra môi trường ít hơn 20% so với dầu và ít hơn 50% so với than đá, hiệu quả hơn và đáng tin cậy hơn so với năng lượng tái tạo, khí gas tự nhiên là câu trả lời dài hạn thiết yếu đối với năng lượng và sự biến đổi khí hậu của thế giới 4 Các nhà máy
2 Nguồn từ [Ngày truy cập: 18 tháng 08 năm 2015]
3 Nguồn từ [Ngày truy cập: 18 tháng 08 năm 2015]
4 Advocacy messages for the natural gas sector, International Gas Union; 2010
[Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015] điện khí đốt sẽ cần thời gian xây dựng ít hơn so với các cơ sở hạt nhân hoặc so với nhà máy than đốt Hơn nữa, thời gian thi công ngắn hơn sẽ làm giảm bớt quá trình ra quyết định đầu tư ở nhiều công ty 5 Đối với việc gia tăng tầm quan trọng của khí gas tự nhiên, nhiều đặc điểm của nguồn tài nguyên giá trị này đã không được điều tra nghiên cứu một cách đúng đắn trong lý thuyết kinh tế (Banks, 2003) Mối quan hệ nhân quả giữa khí gas tự nhiên và nền kinh tế là một trong những lĩnh vực nhận được rất ít sự quan tâm chú ý Những nỗ lực rất hạn chế đã được tạo nên trong lý thuyết ở khía cạnh này và không có sự đồng thuận rõ ràng giữa các nhà nghiên cứu đối với mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Thay vào đó, ý nghĩa của kiểm định nhân quả là đã tập trung vào toàn bộ sự tiêu thụ năng lượng hoặc sự tiêu thụ điện với những hàm ý chính sách rất quan trọng (Ozturk, 2010) Ví dụ, quan hệ nhân quả một chiều về tăng trưởng kinh tế đến sự tiêu thụ điện cho rằng nền kinh tế sẽ ít phụ thuộc vào năng lượng và sử dụng năng lượng bảo tồn là một lựa chọn chính sách quan trọng, vì những động thái như vậy sẽ không kìm hãm sự phát triển kinh tế Quan hệ nhân quả từ việc tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế ngụ ý rằng sự tiêu thụ năng lượng có một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế
Vì vậy, bất kỳ nỗ lực nào làm hạn chế sự tiêu thụ năng lượng có thể làm cản trở quá trình tăng trưởng kinh tế và việc nỗ lực khuyến khích sử dụng năng lượng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc không tồn tại quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một dấu hiệu cho thấy rằng bất kỳ sáng kiến nào trong lĩnh vực năng lượng sẽ không có tác động đến sản lượng đầu ra, phù hợp với mô hình tân cổ điển Ở nhiều khía cạnh, khí gas tự nhiên không chỉ khác với điện mà còn là hình thức khác của năng lượng Nó không phải là vấn đề gây tranh cãi như năng lượng hạt nhân mà nó thân thiện với môi trường hơn nhiều khi so sánh với than đá hoặc dầu; và có thể lưu trữ chứ không phải giống như điện là không lưu trữ được (Percebois, 2008) Vì vậy, bỏ qua các đặc tính khác nhau của các thành phần năng lượng không chỉ giấu đi các tác động khác nhau liên quan tới các hình thức của tiêu
5 Advocacy messages for the natural gas sector, International Gas Union; 2010
[Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015] thụ năng lượng, mà còn dẫn đến ứng dụng sai chính sách đối với mỗi thành phần năng lượng, đặc biệt đối với khí gas, đó là những đặc trưng khác biệt với các thành phần của năng lượng (Payne, 2010)
Hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ điện, rất ít các tác giả nghiên cứu về tiêu thụ khí gas tự nhiên Một số các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế đưa ra những kết quả trái ngược nhau Với mong muốn làm rõ thêm vấn đề này, trong bối cảnh kinh tế ở một số nước giai đoạn 1991 – 2014, tác giả chọn đề tài:
“TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG’’.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1991 – 2014, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ mở thương mại ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương
Một số nước Châu Á Thái Bình Dương trong mô hình bao gồm 14 nước: Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Philippines, Pakistan, New Zealand, Malaysia, Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Băng la đét, Australia và China Hong Kong SAR Đây là những nước có trữ lượng lớn về khí gas tự nhiên và là những nước phát triển và đang phát triển Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở những nước này sẽ là một đóng góp quan trọng cho các nhà làm chính sách
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, luận văn sẽ tiến hành giải đáp 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
Việc tiêu thụ khí gas tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực hay tiêu cực? Và ngược lại, tăng trưởng kinh tế có thúc đẩy ngành khí gas phát triển hay không?
Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại có tác động như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế?
Hàm ý chính sách rút ra được từ những kết quả nghiên cứu đó là gì?
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 1991 –
2014, dữ liệu được lấy cho 14 nước ở Châu Á Thái Bình Dương, tổng cộng bao gồm 336 quan sát
Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới biến đổi bởi sự toàn cầu hóa giao dịch thương mại quốc tế và tài chính, cuộc cách mạng thông tin, sự phát triển của một thị trường dầu mỏ xuyên lục địa, và một sự chuyển dịch của cân bằng quyền lực kinh tế và chính trị từ phương Tây sang phương Đông Châu Á Thái Bình Dương đã có mặt tại cốt lõi của những phát triển địa chấn Nó đã được cung cấp lên sự gia tăng đáng chú ý của những con hổ Châu Á, sự nổi trội của cả Trung Quốc và Ấn Độ thành những thế lực toàn cầu, và sự ra đời của một mạng lưới ngày càng phức tạp và năng động của mối quan hệ thương mại trải dài toàn khu vực Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của Châu Á trong 10 năm qua đã liên tục vượt quá mức trung bình của toàn cầu
Theo dự báo triển vọng kinh tế khu vực của IMF công bố ngày 7/5/2015, các nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương sẽ dẫn đầu tăng trưởng toàn cầu trong năm
2015, với mức 5.6%, nhờ sự phục hồi kinh tế ở Ấn Độ và Nhật Bản giúp bù đắp việc kinh tế Trung Quốc giảm sút Tỷ lệ lạm phát cũng được dự báo sẽ tiếp tục giảm và duy trì ở mức thấp, nguyên nhân chủ yếu do giá dầu trên thế giới thấp điều này đã dẫn đến việc cắt giảm lãi suất trong nhiều nền kinh tế của khu vực
Châu Á Thái Bình Dương sản xuất khoảng 30% GDP thế giới và chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng toàn cầu Trong 20 năm tới nhu cầu của khu vực về năng lượng sẽ tăng đáng kể, khoảng 50%, dầu 40% Trong các nền kinh tế kém phát triển của Châu Á Thái Bình Dương, các nhu cầu sẽ vẫn còn lớn hơn: nhu cầu dầu mỏ sẽ tăng gấp đôi và nhập khẩu dầu sẽ tăng gấp ba Nhu cầu năng lượng của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, ngược lại, dự kiến hầu như không tăng, và nhu cầu về dầu giảm, khoảng 20% 6
Chính vì những lý do trên, luận văn đã tiến hành nghiên cứu một số nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu: Tiêu thụ khí gas, đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương mại và hình thành vốn với tăng trưởng kinh tế để tìm hiểu sự tác động của các biến đến tăng trưởng kinh tế, cũng như mối quan hệ giữa chúng và tăng trưởng kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu mở rộng sự tồn tại của lý thuyết về việc tiêu dùng khí gas tự nhiên theo 3 cách khác nhau Luận văn tiến hành nghiên cứu trong khuôn khổ đa biến, bao gồm 3 biến bổ sung để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các biến trong mô hình
Việc bao gồm một chuỗi độc lập đơn nhất (trong trường hợp 2 biến) là tiền đề cho giả định rằng chuỗi dữ liệu khí gas tự nhiên là yếu tố chính duy nhất tác động đến tổng mức sản lượng đầu ra Trong trường hợp 3 biến (chẳng hạn trường hợp của Saboori và Sulaiman, 2013), hồi quy bổ sung sẽ được đưa vào phương trình Tuy nhiên, về ý nghĩa kinh tế thực tiễn, một số biến sẽ quyết định mức sản lượng đầu ra trong nước Kiểm định quan hệ nhân quả và kiểm định đồng liên kết sẽ cho ra kết quả đầu ra giả mạo và bị chệch trong trường hợp các biến thích hợp bị bỏ qua (Miller, 1991; Stern, 1993) Ngoài ra, việc không bao gồm các biến thích hợp trong mô hình có thể gây ra những kết luận sai lầm và không có mối quan hệ nhân quả giữa chúng (Lütkepohl, 1982)
Thứ hai, ngoài việc sử dụng biến hình thành vốn và thương mại quốc tế (Apergis, 2010; Farhani và cộng sự, 2014), tác giả sử dụng thêm biến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phương trình tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên (Solarin và Shahbazb, 2015) Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ làm tăng nhanh tỷ lệ tăng trưởng hiện tại bằng cách thúc đẩy việc làm và sản xuất, mà còn góp phần
6 Theo Puma Energy [Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015] tăng trưởng tiềm năng trong tương lai cho đất nước thông qua việc ứng dụng phương pháp sản xuất công nghệ cao Ở một số nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài nắm giữ giai đoạn trung tâm trong quá trình nâng cao ngành khí gas Đối với một số nước Châu Á Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và không ngạc nhiên là có nhiều động cơ để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nhiều lĩnh vực bao gồm cả ngành dầu khí và gas Đất nước sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài một phạm vi rộng về các cơ hội kinh doanh đầu tư và những ưu đãi hấp dẫn để giúp họ nhận được nhiều nhất từ nền kinh tế năng động của các nước Chính quyền sử dụng các biện pháp ưu đãi như miễn thuế xuất nhập khẩu với những điều kiện nhất định để khếch đại ngành dầu khí và gas Các nước đã thu hút nhiều công ty nước ngoài đến từ nhiều nước để thiết lập hoạt động của họ trong nhiều loại hình kinh doanh khác nhau bao gồm cả kinh doanh dầu khí và gas
Sau khi kiểm định các giả định, các khuyết tật của mô hình như tự tương quan, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, hiện tượng nội sinh, vấn đề tương quan chéo trong dữ liệu bảng,… luận văn đã lựa chọn được mô hình phù hợp nhất và khắc phục được các khuyết tật trên Mô hình CCEMG của Pesaran (2006) và AMG của Eberhardt và Teal (2010), Eberhardt và Teal (2011) là mô hình phù hợp và được nêu rõ trong phần 3 của luận văn
Thứ ba, luận văn sử dụng sự phân loại của phương pháp kinh tế lượng bao gồm các phương pháp đồng liên kết của Kao (1999) có thể phát hiện ra các mối quan hệ mà nếu không sử dụng sẽ có thể bị sai sót nếu sử dụng các phương pháp thông thường Thất bại trong việc kết hợp các thời kỳ gián đoạn hoặc trong kiểm định nghiệm đơn vị hoặc trong kiểm định đồng liên kết sẽ làm biến dạng, sai lệch kết quả (Lee và Chang, 2005) Vì vậy, việc bao gồm các biến liên quan khác trong khuôn khổ mô hình đa biến và việc sử dụng các công cụ kinh tế lượng có tính vững hơn sẽ cung cấp các kết quả tốt hơn và đáng tin cậy hơn để phân tích mối quan hệ giữa các biến tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên (Farhani và cộng sự,
Bố cục luận văn
Luận văn gồm 5 phần Phần 1 giới thiệu trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu Phần 2 trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trước đây Phần 3 giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng Phần 4 là mô hình nghiên cứu, giải thích các biến được sử dụng để phân tích về những kết quả thực nghiệm và kết quả nghiên cứu Phần 5 là kết luận của luận văn.
Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
Các nghiên cứu phần 1
Bắt đầu với lý thuyết phần 1, các bài nghiên cứu đã ứng dụng kỹ thuật đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả Lee và Chang (2005), người đã sử dụng kiểm định đồng liên kết của Johansen (1988), Hansen (1996), Gregory và Hansen (1996) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ
1954 – 2003 ở Đài Loan Bằng cách sử dụng các biến ngoại sinh yếu trong hệ phương trình đồng liên kết nhằm kiểm tra mối quan hệ nhân quả trong dài hạn, các kết quả kiểm định cho thấy rằng tồn tại quan hệ nhân quả từ tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP thực Kết quả thực nghiệm cho thấy đã tìm thấy bằng chứng rằng trong một thời gian dài tiêu thụ khí gas tự nhiên đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế, và vì vậy việc bảo tồn các nguồn năng lượng có thể gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan
Zamani (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tổng quan nền kinh tế của Iran trong thời kỳ từ 1967 – 2003 Zamani đã ứng dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM để suy luận về mối quan hệ nhân quả giữa các biến, bài nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng về mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng king tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên ở Iran trong ngắn hạn
Hu và Lin (2008) đã sử dụng kiểm định đồng liên kết của Hansen và Seo
(2002) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở Đài Loan Đối với Đài Loan, tăng trưởng về tiêu thụ năng lượng thì cao hơn tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu này cung cấp một lời giải thích ngắn gọn về mối quan hệ cân bằng giữa GDP và tiêu thụ năng lượng, bao gồm tiêu thụ khí gas tự nhiên Kết quả cho rằng tồn tại mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở trong nước trong dài hạn
Khan và Ahmad (2008) đã phát triển kiểm định Johansen (1988) và Johansen và Juselius (1990) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên theo đầu người, giá gas và GDP thực bình quân ở Pakistan với dữ liệu hằng năm trong giai đoạn từ 1972 – 2007 Kết quả cho thấy rằng thu nhập thực bình quân ở Pakistan có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn và giá cả trong nước có tác động tiêu cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên Tuy nhiên kết quả trong dài hạn thì thu nhập thực cũng có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên, trong khi giá cả trong nước lại không ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ khí gas trong dài hạn Ngoài ra, kết quả nghiên cứu mô hình trong ngắn hạn cho thấy rằng độ co giãn trung bình của giá cả và thu nhập thực tế của tiêu thụ khí gas tự nhiên (trong điều kiện tuyệt đối) đều lớn hơn so với mức tiêu thụ điện và than Hai tác giả cho rằng những nhà làm chính sách ở Đài Loan và những người đầu tư cá nhân sẽ được lợi ích từ bài nghiên cứu của họ vì nó cung cấp những thông tin rất hữu ích về thị trường nhu cầu tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng như nhu cầu tiêu thụ năng lượng nói chung
Isik (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời kỳ từ 1977 – 2008 Bằng cách sử dụng mô hình ARDL để nghiên cứu vai trò của sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn chúng có mối quan hệ tiêu cực Isik cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên vẫn còn ở mức rất thấp, trong khi chi phí cho nguồn năng lượng lại rất cao ở Thổ Nhĩ
Kỳ Điều này sẽ tác động đến nền kinh tế một cách tích cực trong ngắn hạn và tiêu cực trong dài hạn
Mặc dù có nhiều sự đóng góp của các bài nghiên cứu trước, nhưng các bài nghiên cứu này đều có chung nhược điểm chính là đã không sử dụng phương pháp tiếp cận Granger để xác định mối quan hệ nhân quả Granger, mà thay vào đó các tác giả đã sử dụng các kiểm định đồng liên kết để kiểm tra trực tiếp mối quan hệ nhân quả Sự tồn tại của kiểm định đồng liên kết không chỉ rõ mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa các biến.
Các nghiên cứu phần 2
Những bài nghiên cứu 2 biến đã ứng dụng chuỗi các kiểm định quan hệ nhân quả để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Một số các nghiên cứu thực nghiệm có thể nêu ra như sau:
Yu và Choi (1985) đã sử dụng kiểm định nhân quả của Sims (1972) tại Vương Quốc Anh, Mỹ và Ba Lan với kết quả theo chiều từ sản lượng đầu ra đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, trong khi không có quan hệ nhân quả giữa các biến trong trường hợp ở Mỹ và Ba Lan
Yang (2000) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng khí gas tự nhiên và GDP ở Đài Loan trong giai đoạn từ 1954 – 1997 Bài nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật của Granger, kết quả phát hiện quan hệ nhân quả theo chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP
Siddiqui (2004) đã ứng dụng kiểm định nhân quả Hsiao (1981) để điều tra mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn từ 1970 – 2003 Các kết quả cho thấy không có mối quan hệ nhân quả giữa các biến Ngoài ra kết quả của Siddiqui còn tìm thấy rằng mở rộng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được kỳ vọng là dẫn đến tăng trưởng cao hơn và sự thu hẹp mức tiêu thụ khí gas tự nhiên sẽ làm chậm trễ quá trình tăng trưởng ở Pakistan trong giai đoạn nghiên cứu
Adeniran (2009) đã sử dụng kiểm định nhân quả của Sims (1972) để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở Nigeria trong giai đoạn từ 1980 – 2006 Các kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở nước này
Payne (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong giai đoạn từ 1949 – 2006 ở Mỹ Kết quả nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ tích cực một chiều từ sản lượng đầu ra đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Nghĩa là tăng trưởng kinh tế càng cao thì nhu cầu tiêu thụ về khí gas tự nhiên ở Mỹ sẽ càng tăng cao
Trong bài nghiên cứu 2 biến khác, Zahid (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa GDP và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở 5 quốc gia – Bangladesh, Pakistan, Srilanka, Nêpal và Ấn Độ trong giai đoạn từ 1971 – 2003 bằng cách sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và phương pháp tiếp cận của Toda và Yamamoto (1995) Kết quả kiểm định đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP ở Bangladesh và thiếu mối quan hệ nhân quả cho trường hợp của các quốc gia còn lại là Pakistan, Srilanka, Nêpal và Ấn Độ
Theo kết quả nghiên cứu của Lim và Yoo (2012), các tác giả đã khảo sát mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn và dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc với dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ 1991 –
2008 Các kết quả cung cấp bằng chứng cho thấy tồn tại mối tương quan nhân quả Granger hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc
Das và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh trong giai đoạn từ 1980 –
2010 Các tác giả có thể thiết lập mối quan hệ dài hạn và quan hệ nhân quả một chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên bằng cách sử dụng kiểm định nhân quả Granger: Các hoạt động kinh tế ảnh hưởng đến GDP ở Bangladest sẽ có tác động ảnh hưởng đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, nhưng không có chiều ngược lại, nghĩa là mức độ tiêu thụ khí gas tự nhiên không là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh
Bildirici và Bakirtas (2014) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên (trong số các loại năng lượng khác nhau gồm than đá, dầu và khí gas tự nhiên) và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia bao gồm Braxin, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ 1980 – 2011 bằng cách sử dụng phương pháp kiểm định ARDL Kết quả kiểm định cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều trong dài hạn giữa hai biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Braxin, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ
Pirlogea và Cicea (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực bình quân đầu người ở hai quốc gia Rumani và
Tây Ban Nha trong giai đoạn từ 1990 – 2010 Các tác giả đã sử dụng kiểm định nhân quả của Granger (1969), kết quả tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế ở Tây Ban Nha, trong khi không có mối quan hệ nhân quả giữa các biến ở quốc gia Rumani.
Các nghiên cứu phần 3
So với các bài nghiên cứu đã ứng dụng các kiểm định đồng liên kết, các bài nghiên cứu trong khuôn khổ ứng dụng mối quan hệ nhân quả cũng đã cung cấp những kết quả, những hướng dẫn chính sách tốt hơn những bài nghiên cứu trước đó đã thực hiên Tuy nhiên, các bài nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả này đã thực hiện các ước lượng mô hình bằng cách thông qua phương pháp tiếp cận hai biến trong mô hình, điều này rất nhạy cảm với các vấn đề thiếu biến liên quan, có thể dẫn đến sai lệch kết quả bài nghiên cứu Do đó trong phần 3 của lý thuyết đã chọn khuôn khổ 3 biến để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế
Aqueel và Butt (2001) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sản lượng quốc gia và các thành phần của năng lượng bao gồm cả sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được sử dụng như là một biến kiểm soát ở quốc gia Pakistan, dữ liệu được lấy trong giai đoạn từ 1955 – 1956 đến 1995 – 1996 Các tác giả đã ứng dụng kiểm định đồng liên kết của Engle và Granger (1987) và ứng dụng kiểm định nhân quả Hsiao (1981), kết quả nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng là không tồn tại mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi tăng trưởng kinh tế ở nước này sẽ dẫn đến tăng trưởng trong sự tiêu thụ xăng dầu
Bài nghiên cứu của Lotfalipour và cộng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và sự phát thải khí cacbon ở Iran trong suốt thời kỳ 40 năm từ 1967 – 2007 bằng cách ứng dụng phương pháp kỹ thuật của Toda Yamamoto Sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là ba chỉ tiêu cho sự tiêu thụ năng lượng Các tác giả đã sử dụng biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong mô hình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP trong dài hạn Nghĩa là gia tăng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên các tác giả đã không tìm thấy sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự phát thải khí cacbon dẫn đến tăng trưởng kinh tế
Kum và cộng sự (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở các nước G7 – bao gồm các nước Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương Quốc Anh, Mỹ trong suốt giai đoạn từ 1970 –2008 Vấn đề kiểm soát vốn, nghiên cứu đã khám phá ra rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế ở nước Ý, trong khi đối với trường hợp ở Vương Quốc Anh thì kết quả ngược lại, tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ tăng trưởng kinh tế đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Hơn nữa các kết quả chỉ ra rằng ở các nước Pháp, Đức và Mỹ thì sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP là có mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều Tuy nhiên, không có mối quan hệ nhân quả nào giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP cho trường hợp ở Canada và Nhật Bản
Saboori và Sulaiman (2013) đã xem xét mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn từ 1980 – 2009 Các tác giả ứng dụng phương pháp ARDL và Johansen để kiểm định đồng liên kết, ứng dụng kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình VECM để kiểm tra mối quan hệ nhân quả Các kết quả cung cấp bằng chứng về mối quan hệ dài hạn hai chiều giữa sự phát thải khí CO2 và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Trong ngắn hạn, mối quan hệ một chiều tồn tại theo chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Điều này có nghĩa rằng nếu giảm sút trong việc tiêu thụ các nguồn năng lượng như gas, điện, dầu thì sẽ là một trong những cách hiệu quả nhằm kiểm soát sự phát thải khí CO2 ra ngoài mô trường, nhưng đồng thời sự giảm sút trong mức tiêu thụ các nguồn năng lượng trên cũng sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế Do đó yêu cầu đặt ra cho các cấp chính quyền ở Malaysia là phải có các chính sách năng lượng phù hợp liên quan đến sự tiêu thụ hiệu quả các nguồn năng lượng và sự tiêu thụ các nguồn năng lượng tái tạo ở Malaysia.
Các nghiên cứu phần 4
Cách tiếp cận bài nghiên cứu theo khuôn khổ 3 biến đã làm giảm các vấn đề thiếu biến liên quan, nhưng việc bao gồm một biến thêm vào mô hình (mà trong nhiều trường hợp là do hạn chế dữ liệu hoặc thiếu dữ liệu) thì ít giải quyết vấn đề thực sự Hầu hết các bài nghiên cứu gần đây đã có sự thay đổi trong việc sử dụng khuôn khổ đa biến
Chẳng hạn, theo bài nghiên cứu của Apergis và Payne (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế cho dữ liệu bảng gồm 67 quốc gia trong giai đoạn từ 1992 – 2005 trong khuôn khổ sử dụng mô hình đa biến Ứng dụng kiểm định đồng liên kết cho dữ liệu bảng không đồng nhất, bài nghiên cứu đã thêm biến lực lượng lao động và sự hình thành vốn vào mô hình, với ước lượng mô hình cho kết quả có tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình và kết quả của quan hệ nhân quả Granger cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn và dài hạn
Ighodaro (2010) nghiên cứu liên kết giữa việc sử dụng khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria từ 1970 – 2005 Việc thêm biến chi phí y tế và tiền tệ nghĩa rộng vào hệ thống, kết quả nghiên cứu đã cho thấy tồn tại sự liên kết trong dài hạn với dữ liệu chuỗi và mối quan hệ nhân quả một chiều từ việc sử dụng khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, Ighodaro cho rằng chính sách bảo tồn năng lượng liên quan đến sự tiêu dùng khí gas tự nhiên sẽ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế ở Nigeria
Shahbaz và cộng sự (2013) đã xem xét mối quan hệ nhân quả ở Pakistan trong giai đoạn từ 1972 – 2010 Các biến bao gồm vốn, lao động và xuất khẩu trong khuôn khổ mô hình đa biến Các tác giả ứng dụng phân tích phương sai để chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả dài hạn một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Pakistan Hơn nữa, các tác giả ủng hộ giả thuyết led growth về sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và khuyến nghị rằng các chính sách bảo tồn khí gas tự nhiên sẽ làm chậm trễ sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy Pakistan càng gia tăng và thúc đẩy sự tiêu dùng khí gas tự nhiên sẽ là một cách để dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn
Farhani và cộng sự (2014) đã nghiên cứu vai trò của sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, thêm vào các yếu tố sự hình thành vốn cố định và độ mở thương mại vào mô hình tăng trưởng kinh tế ở Tuynidi cho giai đoạn từ 1980 – 2012 Các tác giả ứng dụng kiểm định phương pháp của Toda và Yamamoto (1995), kết quả cho thấy có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và sản lượng thực Ngoài ra, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là nguyên nhân dẫn đến tăng GDP thực ở Tuynidi
Solarin và Shahbazb (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại ở Malaysia trong giai đoạn từ năm 1971
2012 Các tác giả ứng dụng kiểm định nghiệm đơn vị được sử dụng để nghiên cứu thuộc tính dừng của dữ liệu chuỗi Bài nghiên cứu của các tác giả này sẽ ứng dụng kết hợp kiểm định đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến trong mô hình trong dài hạn Để đạt được tính vững, phương pháp kiểm định ARDL cũng được dùng để kiểm định mối quan hệ trong dài hạn trong sự tồn tại của phá vỡ cấu trúc Các tác giả lưu ý về tính hiệu lực của tính đồng liên kết giữa các biến, vì đây là cơ sở quan trọng để ứng dụng mô hình VECM Granger Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn nghiên cứu Kết quả ủng hộ tồn tại giả thuyết phản hồi giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài ra, các kết quả của tác giả Solarin và Shahbazb (2015) còn chỉ rõ tồn tại mối quan hệ trong dài hạn hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn này Tóm lược các kết quả bài nghiên cứu của các tác giả như sau:
Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ hai chiều trong cả ngắn hạn và dài hạn Các quan hệ nhân quả hai chiều trong cũng được tìm thấy giữa sự hình thành vốn và tăng trưởng kinh tế và suy luận tương tự giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và sự hình thành vốn trong dài hạn Đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và do đó, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có quan hệ nhân quả Granger với đầu tư trực tiếp nước ngoài Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự hình thành vốn và đầu tư trực tiếp nước ngoài Độ mở thương mại có quan hệ nhân quả Granger với các yếu tố tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hình thành vốn
Trong ngắn hạn, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với tăng trưởng kinh tế Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự hình thành vốn và độ mở thương mại Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự hình thành vốn.
Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Mô hình và dữ liệu nghiên cứu
Luận văn tiến hành các ước lượng với một mô hình mà mô hình này sẽ bổ sung vào phiên bản của mô hình tân cổ điển của Ram và Zhang (2002) và Ramirez
(2000, 2006) Bằng cách làm này, luận văn thêm biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và chỉ số độ mở thương mại vào khuôn khổ mô hình đã có sẵn biến đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hình thành vốn như là những yếu tố quyết định cho kết quả mô hình (Solarin và Shahbazb, 2015)
Phương trình thực nghiệm được viết theo hình thức sau:
Với Y là GDP thực bình quân đầu người, G là sự tiêu thụ khí gas tự nhiên bình quân đầu người, K là sự hình thành vốn thực bình quân đầu người (đại diện cho tổng sự hình thành vốn cố định thực), F là đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người và O là độ mở thương mại thực bình quân đầu người (xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thực cộng với nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thực) Các biến được nêu cụ thể tại bảng 3.1
Tác giả tập trung vào giai đoạn 1991 – 2014 để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Đây là giai đoạn tiêu thụ khí gas tự nhiên nhiều và các nước đang chú trọng phát triển thị trường khí gas tự nhiên để thay thế cho năng lượng điện hoặc than đá Dữ liệu sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được lấy từ BP Global hàng năm, dữ liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài được lấy từ United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) Các biến còn lại: GDP thực bình quân đầu người, hình thành vốn và độ mở thương mại được lấy từ World bank
Các quốc gia trong mô hình sẽ được phân thành 2 nhóm: Nhóm quốc gia có thu nhập cao và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình Tiêu chí phân loại dựa vào GDP hàng năm của các quốc gia theo tiêu chí phân loại từ World bank 7
7 http://data.worldbank.org/about/country and lending groups
Phương trình (3.1) được viết lại như sau:
Yit = α0 + αG Git + αF Fit + αK Kit + αO Oit + àit (3.2)
Với à it là phần dư, i đại diện cho cỏc quốc gia, t là thời gian
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình
Biến Viêt tắt Định nghĩa Nguồn dữ liệu
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng hoặc sự tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước
Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là chênh lệch giữa tổng sản lượng khí gas tự nhiên được sản xuất và/hoặc nhập khẩu so với số lượng tiêu thụ và/hoặc xuất khẩu được dùng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, khu dân cư, dịch vụ, sản xuất điện,… được tính trong một năm của mỗi quốc gia
Foreign direct investment F Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment
FDI), WTO đưa ra định nghĩa như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
Sự hình thành vốn (Capital formation) là một thuật ngữ dùng để mô tả sự tích lũy vốn ròng trong một chu kỳ kế toán
Sự hình thành vốn đề cập đến việc bổ sung vốn ròng như máy móc thiết bị, nhà cửa, công trình và các hàng hóa trung gian khác Một quốc gia sử dụng vốn cổ phần trong việc kết hợp với lực lượng lao động để cung cấp những dịch vụ và sản xuất hàng hóa Một sự gia tăng trong vốn cổ phần này được gọi là sự hình thành vốn
Openness O Độ mở thương mại có nghĩa là sự mở cửa của một quốc gia đới với các quốc gia khác thể hiện trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
World bank hữu hình, được tính bằng tỷ trọng xuất nhập khẩu bình quân theo đầu người của một quốc gia.
Phương pháp nghiên cứu
Sau khi tiến hành thống kê mô tả các biến trong mô hình, trong luận văn này tác giả sẽ tiến hành kiểm định các vấn đề trong dữ liệu bảng và hồi quy mô hình theo các bước như sau:
Kiểm định tương quan chéo (Cross-section independence)
Kiểm định tương quan chéo có thể giải thích được các thuật ngữ của kinh tế lượng, ví dụ như các cá nhân trong bảng có liên quan đến phần sai số trong mô hình dữ liệu bảng, được cho bởi phương trình (3.3) Trong kinh tế lượng, kiểm định tương quan chéo có thể giải thích được rằng trong trường hợp với một cá nhân trong bảng bị ảnh hưởng bởi một cú sốc, các cá nhân khác trong bảng cũng sẽ bị tác động tương tự như vậy: it i i it it y x
Trong khuôn khổ luận văn này tác giả ứng dụng hai kiểm định ADF (1984) và kiểm định PP (1988) để kiểm tra tính dừng của dữ liệu Đây là điều cần thiết để đảm bảo kết quả không bị sai lệch trước khi hồi quy mô hình
Kiểm định nghiệm đơn vị Augment Dickey Fuller (1984):
Chúng ta hãy xem xét quá trình tự hồi quy:
Giả thuyết H0 và giả thuyết H1 của kiểm định t ADF:
Chúng ta có thể kiểm tra sự tồn tại của một đơn vị gốc bằng cách sử dụng t p t p p t p p t p t t t a a y a y a y a y a y y 0 1 1 2 2 2 2 1 1 kiểm định t Dickey Fuller:
Thống kê này không tuân theo phân phối thông thường của t student Các giá trị quan trọng được tính toán bởi Dickey và Fuller phụ thuộc vào hệ số chặn, xu hướng
Kiểm định nghiệm đơn vị Phillips Perron (1988):
Phillips và Perron (1988) (sau đây gọi là PP) đã đề xuất chuyển đổi tham số của thống kê t từ hồi quy gốc DF dưới dạng the unit root giả thuyết H0, thống kê được chuyển đổi (thống kê Z) có phân phối DF
Kiểm định hồi quy cho kiểm định PP là: t t t t D y y
Với t là I(0) có thể bị phương sai sai số thay đổi Kiểm định PP đúng cho bất kỳ chuỗi tương quan nào và phương sai sai số thay đổi trong sai số ut của kiểm định hồi quy bằng cách điều chỉnh trực tiếp thống kê t 0và ˆ
Với giả thuyết không của đơn vị gốc cho tất cả N quan sát, sử dụng thuộc tính phụ:
2 được phân phối bởi 2 N 2 , và
Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến
Một trong những giả định của mô hình hồi qui tuyến tính cổ điển là không có vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến giải thích X Nói rộng ra là, vấn đề đa cộng tuyến đề cập đến tình huống trong đó tồn tại một mối quan hệ tuyến tính hoàn hảo hoặc gần như hoàn hảo giữa các biến X Các hệ quả của đa cộng tuyến là: Nếu tồn tại cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến X, thì hệ số hồi qui của chúng là không xác định và các sai số chuẩn của chúng là vô hạn Nếu cộng tuyến cao nhưng không hoàn hảo thì việc ước lượng của các hệ số hồi qui là có thể thực hiện được nhưng sai số chuẩn của chúng có khuynh hướng rất lớn Kết quả là, các giá trị tổng thể của các hệ số không thể được ước lượng một cách chính xác Tuy nhiên, nếu mục tiêu là ước lượng tổ hợp tuyến tính của các hệ số này, các hàm ước lượng, thì việc này có thể thực hiện được ngay cả với sự hiện diện của đa cộng tuyến hoàn hảo
Kiểm định phương sai thay đổi
Một giả thiết quan trọng của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển là các yếu tố nhiễu ui có cùng phương sai, 2 Nếu giả thiết này không được thỏa mãn thì có phương sai thay đổi Phương sai thay đổi không làm mất đi tính chất không thiên lệch và nhất quán của các ước lượng OLS Nhưng các ước lượng này không còn có phương sai nhỏ nhất hay là các ước lượng hiệu quả Tức là chúng không còn là các ước lượng tuyến tính không thiên lệch tốt nhất (BLUE) Khi có phương sai thay đổi, các phương sai của các ước lượng OLS không được tính từ các công thức OLS thông thường Nhưng nếu ta vẫn sử dụng các công thức OLS thông thường, các kiểm định t và F dựa vào chúng có thể gây ra những kết luận sai lầm
Trong luận văn này tác giả ứng dụng kiểm định Greene (2000) để kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định tự tương quan phần dư-Wooldridge (2002) và Drukker (2003)
Nếu giả định của mô hình hồi qui tuyến tính cổ điển cho rằng các sai số hoặc các nhiễu u t được đưa vào mô hình hồi qui tổng thể là ngẫu nhiên hoặc không có tương quan bị vi phạm, thì vấn đề tự tương quan hoặc tương quan chuỗi xuất hiện
Tự tương quan có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, như là sự trì trệ hoặc chậm chạp của các chuỗi thời gian kinh tế, các thiên lệch của đặc trưng do không đưa các biến quan trọng vào mô hình hoặc do sử dụng dạng hàm không chính xác, hiện tượng Cobweb, nhào nặn dữ liệu, v.v
Mặc dù các hàm ước lượng vẫn không thiên lệch và nhất quán khi có tự tương quan, chúng không còn hiệu quả nữa Kết quả là, các kiểm định thông thường t và F về mức ý nghĩa không thể được áp dụng một cách hợp lệ Do đó, ta cần phải có một số các biện pháp khắc phục Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, tác giả ứng dụng phương pháp của Wooldridge (2002) và Drukker (2003)
Kiểm định đồng liên kết
Trong bài nghiên cứu của Kao (1999) mô tả 2 kiểm định với giả thuyết không là không có đồng liên kết cho dữ liệu bảng Một là kiểm định loại Dickey Fuller và hai là kiểm định loại Augmented Dickey Fuller Đối với loại kiểm định Dickey Fuller, Kao trình bày 2 phần cụ thể
Trong trường hợp 2 biến, Kao xem xét mô hình sau: it , it i it x e y i = 1,…, N, t = 1,…, T
Với y it y it 1 u it , x it x it 1 it
i là tác động cố định khác nhau trong các quan sát chéo, là hệ số chặn, yit và xit là các bước ngẫu nhiên độc lập cho tất cả quan sát i
Bây giờ giả thuyết H0 và giả thuyết H1 được viết lại như sau:
Với giả thuyết không là không có đồng liên kết, kiểm định ADF có dạng:
Chi tiết của kiểm định đồng liên kết Kao (1999) có thể được tìm thấy trong bài nghiên cứu gốc của ông
Kiểm định riêng lẻ kết hợp (Fisher/Johansen)
Kiểm định đồng liên kết Johansen: Johansen (1988) đề xuất 2 phương pháp khác nhau, một trong số đó là thống kê the likelihood ratio trace và một phương pháp khác là thống kê giá trị riêng lớn nhất, để kiểm tra sự tồn tại của các vector đồng liên kết trong dữ liệu chuỗi thời gian không dừng Thống kê trace và thống kê giá trị riêng lớn nhất sẽ được trình bày trong phương trình (3.6) và (3.7):
Sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansens (1988), Maddala và Wu (1999) xem xét đề xuất của Fisher (1932) để kết hợp các kiểm định riêng lẻ, để sử dụng giả thuyết thay thế cho hai kiểm định trước, để kiểm tra tính đồng liên kết trong dữ liệu bảng bằng cách kết hợp các kiểm định chéo riêng lẻ cho tính đồng liên kết
Nếu i là giá trị p value cho mỗi kiểm định đồng liên kết riêng lẻ cho dữ liệu chéo I, thì dưới giả thuyết không cho toàn bộ bảng,