1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố hà nội hiện nay

203 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 817,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nội dung: Đề tài luận án tập trung nghiên cứu chất lượng và lýluận thực tiễn, yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ởthành phố Hà Nội Phạm vi khách thể nghiên c

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Nguyên Hùng

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 101.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 191.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và

những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết 30

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG

CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN Ở

4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay 1084.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt

cấp huyện ở Thành Phố Hà Nội hiện nay 121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

Trang 3

STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ là những vấn đề hết sức hệ trọng.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[73, tr.309], “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[73, tr.280] Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coitrọng đến cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ Ban Chấp hành Trung ương đãban hành nghiều nghị quyết về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bày Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán

bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,ngang tầm nhiệm vụ”, trong đó quan điểm “Cán bộ là nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xâydựng Đảng và hệ thống chính trị” [6, tr.17] đã khẳng định vị trí, vai trò, tầmquan trọng đặc biệt của cán bộ cũng như chất lượng đội ngũ cán bộ

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là một bộ phận cán bộ của Đảng,Nhà nước, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, vậnđộng nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựngCNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phốtrực thuộc tỉnh Chất lượng của đội ngũ này có vai trò rất quan trọng, quyếtđịnh kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đồng thời trựctiếp quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự vững mạnh của hệthống chính trị các quận, huyện Do đó, nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấphuyện là yêu cầu khách quan, là vấn đề quy luật trong sự vận động phát triển

đi lên của các địa phương cấp huyện trong mọi thời kỳ

Thành phố Hà Nội là Thủ đô, là trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa,khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Nhận thức rõ vị trí

Trang 5

chiến lược của thành phố và vai trò quan trọng của ĐNCBCC cấp huyện, nhữngnăm vừa qua các cấp uỷ, chính quyền thành phố Hà Nội đã có nhiều chủtrương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấphuyện vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương Nhờ đó,ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội đã trưởng thành về nhiều mặt, có sốlượng khá đầy đủ, cơ cấu khá hợp lý, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụchính trị, ứng phó với tình huống khó khăn, phức tạp phát sinh và nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại của Thủ đôtrong giai đoạn mới Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ đổi mới, xây dựng,chỉnh đốn Đảng, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các quận, huyện ở thành phố

Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, thì chất lượng ĐNCBCC cấp huyện vẫn cònnhững mặt hạn chế, bất cập Chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượngĐNCBCC ở một số quận, huyện chưa đồng bộ, nội dung, hình thức, biện pháptiến hành còn giản đơn, các chính sách bảo đảm có mặt chưa thống nhất, sốlượng một số bộ phận vẫn thiếu so với biên chế, cơ cấu còn bất cập ở một số cơquan, đơn vị, phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác một sốCBCC cấp huyện còn hạn chế, chưa ngang tầm nhiệm vụ

Sự nghiệp CNH, HĐH, hội nhập quốc tế của đất nước tiến hành trongbối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến nhanh chóng,phức tạp khó lường, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh thực hiện âm mưu,thủ đoạn “diễn biến hoà bình” Cùng với đó là các nguy cơ, thách thức về: suythoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham ô,tham những đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố đe dọa đến vai tròlãnh đạo của Đảng Với mục tiêu và tầm nhìn, Hà Nội sẽ nỗ lực cạnh tranh với

các thành phố trong khu vực và thế giới, “đến năm 2025 sẽ là thành phố thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao trong nước và khu vực; năm 2030 trở thành thành phố xanh - thông minh - hiện đại phát triển năng động, hiệu quả

và năm 2045 phấn đấu là thành phố có chất lượng cuộc sống cao, kết nối toàn

Trang 6

cầu, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, bền vững” [108, tr.38] Để

đạt được mục tiêu trên đòi hỏi ĐNCBCC cấp huyện có tư tưởng chính trị vữngvàng; phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, gương mẫu; tư duy, khát vọngđổi mới; năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ; có cơ cấu, số lượng hợp lý, bảođảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ Do đó, nâng cao chấtlượng ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội luôn là vấn đề thiết thực, cótính thời sự cấp thiết, có giá trị cả lý luận và thực tiễn Với những lý do trên,

nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt

cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, xác định yêu cầu, đềxuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và xácđịnh những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết

Luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệmnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng độingũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thànhphố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Phạm vi nội dung: Đề tài luận án tập trung nghiên cứu chất lượng và lý

luận thực tiễn, yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ởthành phố Hà Nội

Phạm vi khách thể nghiên cứu: Luận án tiến hành nghiên cứu, điều tra

khảo sát đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (Bí thư, phó Bí thư, Chủ tịch,phó chủ tịch UBND, Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch Mặt trận Tổquốc, các Trưởng ban Đảng, Trưởng phòng) công tác tại các quận, huyện, thị

xã ở thành phố Hà Nội

Phạm vi thời gian nghiên cứu: Các tư liệu, số liệu điều tra khảo sát phục

vụ đề tài luận án chủ yếu từ năm 2015 đến nay Các giải pháp có giá trị ứngdụng đến năm 2025

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩaMác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về xâydựng, chỉnh đống Đảng, về cán bộ và công tác cán bộ

Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn chất lượng ĐNCB, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chấtlượng ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội; Nghị quyết, chỉ thị, chươngtrình, nhận định đánh giá của Thành ủy thành phố Hà Nội về ĐNCBCC cấphuyện ở thành phố Hà Nội; Báo cáo tổng kết của một số quận, huyện ủy, HĐND,UBND, về cán bộ và công tác cán bộ, về ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố HàNội; Các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành vàchuyên ngành; trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử;phân tích và tổng hợp; tổng kết thực tiễn; nghiên cứu lý luận; thống kê, so

Trang 8

sánh; điều tra, khảo sát và phương pháp chuyên gia.

5 Những đóng góp mới của luận án

Đưa ra quan niệm và làm sâu sắc hơn lý luận về nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội;

Tổng kết một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấphuyện ở thành phố Hà Nội

Đề xuất một số nội dung, biện pháp có tính khả thi trong những giảipháp góp phần nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố

Hà Nội hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận, thựctiễn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; cung cấp thêmnhững luận cứ khoa học phục vụ cấp ủy, các cấp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học,giảng dạy, học tập những vấn đề có liên quan đến đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp huyện và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thànhphố Hà Nội hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm phần mở đầu; 4 chương (9 tiết); kết luận; danh mục cáccông trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu về đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đãnhận được sự quan tâm nghiên cứu các nhà khoa học, học giả ở các nước trênthế giới Có thể kể những công trình tiêu biểu như sau:

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đội ngũ cán bộ

lực lượng vũ trang Liên Xô trước đây Tác phẩm đã khẳng định nguồn gốc

sức mạnh của các lực lượng vũ trang Xô viết là ở chỗ Đảng Cộng sản Liên

Xô là người tổ chức, lãnh đạo và giáo dục quân đội Muốn một quân độimạnh phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ vững mạnh và để có một độingũ cán bộ vững mạnh thì phải tiến hành xây dựng và bồi dưỡng nguồn cán

bộ Khi đề cập đến việc xây dựng lực lượng vũ trang trong thời bình, tác giả

đã phân tích các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnLiên Xô về phương hướng, nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chocác lực lượng vũ trang: đặt ra cho các trường đại học quân sự nhiệm vụ đàotạo đội ngũ sĩ quan có trình độ phù hợp với trình độ phát triển của khoa học

kỹ thuật quân sự trên cơ sở chú ý đến kinh nghiệm chiến đấu, đặc biệt quantâm rèn luyện phẩm chất chính trị tinh thần Để nâng cao trình độ, phẩmchất, năng lực toàn diện cho đội ngũ sĩ quan quân đội, tác giả cho rằng việctuyển chọn, đào tạo ban đầu có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Những kinh

Trang 10

nghiệm của Đảng cộng sản Liên xô trước đây có thể nghiên cứu, vận dụngvào công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt nói chung, cán bộchủ chốt trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.

Tăng Ngọc Thành và Chu La Canh do Phạm Ngọc Hạnh, Trần Văn Bình

và Phạm Văn Lan dịch và giới thiệu (1997), “Thúc đẩy cải cách, tiến lên phía trước” [107] Đây là sự nghiên cứu công phu của các tác giả Trung Quốc Cuốn

sách đã tổng kết những kinh nghiệm và thành tựu trong công cuộc cải cách mởcửa của Trung Quốc, những thách thức mà Trung Quốc đang phải đối mặt Mộttrong những vấn đề nghiên cứu được tác giả cuốn sách nêu lên là để vượt quathách thức đưa công cuộc cải cách mở cửa tiếp tục tiến lên cần phải quan tâmxây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, năng động, sáng tạo Kinh nghiệm cốt tử

là công tác cán bộ phải phục tùng Đảng Đảng phải xây dựng đội ngũ cán bộcho cả hệ thống chính trị bao gồm cả người trong Đảng và người ngoài Đảng.Trung Quốc kiên trì phương châm “bốn hóa” trong xây dựng đội ngũ cán bộ.Bốn hóa bao gồm: Cách mạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa Theo

đó Trung Quốc đã xây dựng và hoàn thiện “Chiến lược nhân tài”, trọng tâm củachiến lược hướng vào việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hiền tài kế tục sự nghiệpcách mạng Trung Quốc coi trọng cải cách việc dạy và học ở các trường đảng,Học viện Hành chính, coi trọng đưa người ra nước ngoài đào tạo, đa dạng hóacác loại hình đào tạo, tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cán bộ

Thaveeporn Vassavakul (1997), Sectoral Politics and Strategies for State and Party Building from the VII to the VIII Congresses of the Vietnamse Communist Party (1991-1996), in “Doi Moi: Ten Years after the 1986 Party Congress” (Lĩnh vực chính trị và chiến lược xây dựng Đảng và Nhà nước từ

Đại hội VII đến Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam 1991-1996, trong

“Đổi mới: Mười năm sau Đại hội VI”) [148] Công trình đã trình bày tiến trìnhđổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu từ Đại hội VI với những quyếtđịnh trọng đại bắt đầu từ đổi mới tư duy, kế đến đổi mới các lĩnh vực khác

Trang 11

Các đợt tiến hành xây dựng, chỉnh đốn đảng đã đưa lại nhiều kết quả quantrọng để cấu trúc lại bộ máy các cấp chính quyền, mở rộng sự tham gia củacác cán bộ trẻ trong bộ máy lãnh đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảngđối với tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Chu Phúc Khởi (2004), Xuất phát từ đại cục, hướng tới lâu dài, cố gắng xây dựng một đội ngũ cán bộ dự bị tố chất cao [59] Tác giả đã làm rõ những

vấn đề: Ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị và đề xuấtcác giải pháp Những giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị có giá trịtham khảo đối với luận án, gồm: Xuất phát từ đòi hỏi thực tế của việc xây dựngban lãnh đạo, phải xây dựng quy hoạch thiết thực, khả thi về xây dựng đội ngũcán bộ dự bị; tăng cường xây dựng chế độ hoá, quy phạm hoá chặt chẽ về tiêuchuẩn, quy trình và yêu cầu đối với các khâu trong công tác cán bộ dự bị; thựchiện quản lý sự biến động, đảm bảo số lượng và chất lượng cán bộ dự bị; kiêntrì dự trữ kết hợp với sử dụng, kịp thời tuyển chọn cán bộ dự bị với điều kiện đãchín muồi một cách có kế hoạch

Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quang Diệu (2008) chủ biên, (Nguyễn Như Diệm

dịch), “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [40], các tác giả đã phân tích rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xây

dựng đội ngũ cán bộ Trung quốc trong thời kỳ mới, trong đó tri thức được đềcao, đi đôi với đòi hỏi “tài đức song toàn” Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệmthực tiễn của cách mạng Trung quốc, tác giả khẳng định để xây dựng chủnghĩa xã hội thì Đảng phải tìm cho ra và đào tạo được đội ngũ cán bộ có tài,đức, hết lòng với sự nghiệp cách mạng Sau khi trở lại vị trí quyền lực, ĐặngTiểu Bình đã có những đóng góp quan trọng để phát triển nhân tài, trẻ hoá độingũ cán bộ các cấp Ông đã đề ra hàng loạt biện pháp cải cách mang tính độtphá để xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, chuyên cần đáp ứng đòihòi thời kỳ cải cách mở cửa Theo quan điểm của ông xây dựng đội ngũ cán

bộ tài, đức là “then chốt” của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu

Trang 12

sắc Trung Quốc Vận dụng tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận Đặng TiểuBình, Trung Quốc đang đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ theo phương châm

“bốn hoá” trong đó trẻ hoá, tri thức hoá, chuyên môn hoá cán bộ được đặcbiệt coi trọng “ Chỉ dựa vào con đường kiên trì xã hội chủ nghĩa, không cóchân tài thực lực học vẫn không thực hiện được chương trình hiện đại hoá Bất

kỳ cương vị nào cũng phải có năng lực chuyên môn nhất định

Vương Tề Ngạn (2009), Thúc đẩy xây dựng chính trị dân chủ cơ sở nông thôn, thực hiện quản lý của chính quyền cơ sở và tự trị của quần chúng thúc đẩy lẫn nhau một cách tích cực [77] Hội thảo Lý luận lần thứ Tư giữa

Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc về nông nghiệp,nông dân, nông thôn, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của TrungQuốc Tác giả cho rằng, xây dựng chính trị dân chủ cơ sở nông thôn TrungQuốc là một hành động sáng tạo vĩ đại của đông đảo nhân dân dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc Để đạt được mục tiêu đó tác giả đề xuấtcác giải pháp như: khơi thông quan hệ xã, thôn, thực hiện quản lý của chínhquyền và tự trị của dân làng thúc đẩy lẫn nhau một cách tích cực; cải tiếnphương thức quản lý hành chính cơ sở, xây dựng chính quyền kiểu phục vụ,một mặt cần xác định rõ chức năng, vị trí của hương, trấn, thúc đẩy chuyểnbiến chức năng chính quyền hương, trấn, mặt khác cần thay đổi tư duy quản lý

và dịch vụ hiệu quả cao hơn, nâng cao thiết thực hiệu quả quản lý và dịch vụcủa chính quyền hương, trấn; phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chứcĐảng, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, nắm bắt phương hướng phát triển của

tự trị quần chúng cơ sở; kiên trì “ bốn dân chủ” là bầu cử dân chủ, quyết sáchdân chủ, quản lý dân chủ, giám sát dân chủ, không ngừng nâng cao trình độ tựtrị của quần chúng cơ sở nông thôn

Triệu Lý Văn (2012), "Lý luận thực tiễn công tác giáo dục cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc" [129] Trong cuốn sách tác giả cho

rằng, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ làm

Trang 13

công tác đảng phải đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, đào tạo cán bộ Trong lĩnh vực này, cuốn sách có nhiều điểm mà Luận án có thể tham khảo để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về giáo dục, đào tạo cán bộ làm công tác đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng.

1.1.2 Nhóm công trình liên quan đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đội ngũ cán bộ chủ chốt

Xinh Khăm Phôm Ma Xay (2003), “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay”, Luận án Tiến sĩ

Xây dựng Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [143], đãtrình bày quan niệm, đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế; phântích những vấn đề cơ bản về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, nhântài; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế Lào trong tình hình mới

Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc [20] Các tác giả đánh giá cán bộ là lực

lượng chủ đạo trong việc xây dựng trật tự xã hội, duy trì sự ổn định và pháttriển của xã hội Để phát triển thuận lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộimang đặc sắc Trung Quốc, đẩy mạnh công cuộc cải cách, mở cửa, vấn đề xâydựng đội ngũ cán bộ có tố chất cao, có tri thức, nắm vững nghiệp vụ, hoànthành tốt trọng trách được giao, trung thành với chủ nghĩa Mác, kiên trì conđường xã hội chủ nghĩa, biết lãnh đạo, quản lý đất nước, xã hội, đặc biệt là quản

lý nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc được Đảng và Nhànước Trung Quốc rất quan tâm Nội dung quyển sách là chỉ dẫn giúp nghiêncứu sinh đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủchốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội mà đề đề luận án nghiên cứu

Lưu Chấn Hoa (2010), Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng [41] Cuốn sách đã trình bày những nội dung chủ yếu về việc tăng cường

Trang 14

năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khi ra đời năm 1921, khiĐảng Cộng sản Trung Quốc giành được vị trí, vai trò cầm quyền, thành lập nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, đặc biệt là sau khi cải cách, mở cửanăm 1978 đến nay Tác giả đã đánh giá việc Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn kếthừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin; thường xuyên tổng kết thực tiễn, từ đókhông ngừng nâng cao nhận thức về đảng cầm quyền, đưa cách mạng TrungQuốc giành được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp cải cách, mở cửa Đặc biệt, tácgiả đã đưa ra 3 yếu tố nhằm xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản

Trung Quốc, trong đó, yếu tố thứ ba, “Xét về chủ thể cầm quyền, bao gồm các tổ chức của Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên Nâng cao năng lực điều hành, lãnh đạo chính là cần nâng cao năng lực cầm quyền của tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến địa phương, nâng cao năng lực cầm quyền của toàn thể cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo” [41, tr.13] Với những đánh giá của tác

giả nêu ra trong quyển sách sẽ là những gợi ý cần thiết để nghiên cứu sinh xácđịnh những yếu tố lý luận về năng lực, chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện ởthành phố Hà Nội mà đề tài luận án nghiên cứu, luận giải

Phorn Na Ra (2013), Xây dựng phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay [93] Luận

án đã làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn xây dựng phẩmchất, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của Quân độiHoàng gia Campuchia Luận án đã đánh giá, phân tích thực trạng, nguyên nhân,rút ra ba bài học kinh nghiệm xây dựng phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộcấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội Hoàng gia Campuchia những năm qua;đồng thời, luận án để xuất 5 giải pháp tăng cường xây dựng phẩm chất, nănglực của đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội Hoàng giaCampuchia hiện nay Theo cách tiếp cận của công trình này, “Phẩm chất, nănglực của đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội Hoàng giaCampuchia là tổng thể các thuộc tính: bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức

Trang 15

và lối sống trong sạch, lành mạnh, năng lực tư duy lý luận và trình độ tổ chứcthực tiễn tốt, phong cách, tác phong công tác chính, khoa học, dân chủ; đượcđào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong hoạt động,chỉ huy, công tác tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị - quân

sự tầm chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao” [93,

tr.42-43] Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng, giúp nghiên cứu sinh giải quyết tốtnhững mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra

Khăm Phăn Vông Pha Chăn (2013), Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay [19] Theo

tác giả, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hay bất cứ một quốc gia đang pháttriển nào, cơ hội vươn lên và nguy cơ tụt hậu đều phụ thuộc chủ yếu vào yếu

tố con người Trước hết là phụ thuộc vào năng lực trí tuệ, khả năng tư duy,phán đoán và quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của quốcgia và các cấp, các ngành Tuy nhiên hiện nay, hệ thống chính trị ở Cộng hoàDân chủ Nhân dân Lào vẫn tồn tại tình trạng hẫng hụt về số lượng cán bộ, thiếuchuẩn hoá về chất lượng, chưa được đào tạo cơ bản, năng lực, trình độ nhất là

về trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn cần thiết đáp ứngcho yêu cầu lãnh đạo, quản lý Do đó, trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn của việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo hệ thống chính trị ở nướcCộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, luận án xác định quan điểm, phương hướng

và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo đội ngũ cán bộnày trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của công trình này đã cungcấp thêm nhiều kiến thức lý luận và thực tiễn bổ ích giúp nghiên cứu sinh hoànthành nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra

Khăm Xúc Phôm Sa Vẳn (2013), Mối quan hệ khách quan và chủ quan trong nâng cao năng lực hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội nhân dân Lào hiện nay [130] Tác giả

cho rằng, nâng cao năng lực hoạt động công tác đảng, công tác chính trị

Trang 16

của đội ngũ cán bộ chính trị: Là những hoạt động có mục đích, có tổ chức,

kế hoạch của chủ thể lãnh đạo, giáo dục, tự giáo dục; là quá trình không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện năng lực nhận thức và năng lực thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị cho các chủ thể giải quyết mối quan

hệ khách quan và chủ quan để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, các tình huống khác nhau trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị theo cương vị, chức trách được phân công.

Hồ Thành Quốc (2016), Đạo làm quan [90] Trong cuốn sách, tác giả

nghiên cứu về tu dưỡng đạo đức cán bộ theo quan điểm của Đảng Cộng sảnTrung Quốc gồm các nội dung: nâng cao phẩm chất nhân cách, tăng cường tudưỡng đạo đức; tăng cường phẩm chất ý chí, nâng cao năng lực cầm quyền;kiên quyết phòng chống thoái hóa, biến chất, xây dựng vững chắc mặt trận tưtưởng; xây dựng đạo đức tác phong trong Đảng; sáng tạo môi trường hài hòa.Khi bàn về tu dưỡng đạo đức cán bộ, tác giả cho rằng: việc tăng cường xâydựng đạo đức làm quan của đội ngũ cán bộ hiện nay phải dốc sức thực hiệnđược “mười điều thận trọng”: “Thận trọng ngay từ đầu, thận trọng từ việc nhỏ,thận trọng khi ăn nói, thận trọng với thị hiếu, thận trọng với ham muốn, thậntrọng với quyền lực, thận trọng khi bình yên, thận trọng khi chỉ có một mình,thận trọng với bạn bè và thận trọng với giây phút cuối cùng” [90, tr.118]

Janice Tay & Ronald Kow (2016), Lý Quang Diệu bàn về quản lý

[102] Tác giả khái quát với 5 nhóm vấn đề (chiến lược, nhóm, giao tiếp,hoạch định và những nguyên tắc điều hành) Khẳng định Singapore nổi tiếng

về tính hiệu quả trong quản lý, của cả các cơ quan chính phủ lẫn các doanhnghiệp Quyển sách là các phát biểu thể hiện quan điểm của Lý Quang Diệu

về quản lý, tựu trung gồm hai lĩnh vực chính: chính sách và con người.Quyển sách đã đề cấp đến rất nhiều chiến lược, chính sách quản lý là nỗi ámảnh về sự tồn tại của đất nước Singapore nhỏ bé Chính vì ý thức được nhữngkhó khăn về nguồn lực của mình mà Singapore phải xuất sắc hơn những

Trang 17

người khác để có thể tồn tại Đây là những nội dung góp phần giúp nghiêncứu sinh xác định những giải pháp của đề tài luận án.

Trịnh Xuân Thắng (2016), Một số kinh nghiệm về đào tạo công chức

ở Nhật Bản [112] Tác giả khẳng định đội ngũ công chức của Nhật Bản luôn

được đánh giá cao về sự chuyên nghiệp, mẫn cán và kỷ luật là do chính phủrất quan tâm đến công tác đào tạo Việc tham khảo kinh nghiệm của NhậtBản về đào tạo công chức là rất có ý nghĩa trong thực hiện mục tiêu xâydựng nền hành chính Việt Nam hiệu quả, chuyên nghiệp, trong sạch Tácgiả Trịnh Xuân Thắng đã phân tích, làm rõ 5 bài học kinh nghiệm trong xâydựng đội ngũ công chức của Nhật Bản Trong đó, bài học thứ 5 mà tác giảTrịnh Xuân Thắng nêu ra trong kinh nghiệm của Nhật Bản trong xây dựngđội ngũ công chức của họ là phương pháp đào tạo hướng tới phát huy nănglực sáng tạo của công chức Từ những luận giải khoa học của bài báo,nghiên cứu sinh có các tiếp cận đúng đắn trong việc xây dựng, hoàn thiệncác giải pháp của luận án; đặc biệt là giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, nângcao cất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Tập Cận Bình về quản lý đất nước Trung Quốc (tập 1 - 2018) [16] là

tập hợp các bài viết, các bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình Quyển sách chia làm 18 nội dungvới 631 trang, là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ, tập trung phản ánh mạchphát triển và nội dung chủ yếu của tư tưởng Tập Cận Bình về CNXH đặc sắcTrung Quốc thời đại mới, ghi lại một cách sinh động thực tiễn Đảng Cộngsản Trung Quốc do đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân lãnh đạo, hạt nhânđoàn kết dẫn dắt toàn đảng và nhân dân xây dựng và phát triển đất nước Nộidung thứ 18 - Nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng, trong bài phát biểu tạiHội nghị công tác tổ chức toàn quốc, đồng chí Tập Cận Bình đã xác định

việc cần kíp là: ra sức lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ tốt mà Đảng và nhân dân cần [16, tr.552] Đây là những kiến thức lý luận và thực tiễn quan trọng giúp

Trang 18

nghiên cứu sinh đánh giá các vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp

mà đề tài luận án nghiên cứu

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án

Đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có vaitrò rất quan trọng là những người trực tiếp phát hiện góp phần xây dựngđường lối, chính sách và là những người lãnh đạo tổ chức thực hiện, biếnđường lối, chính sách thành hiện thực ở cơ sở Từ vai trò quan trọng trên việcnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp quận, huyện đã được cáctác giả tập trung nghiên cứu, những công trình nghiên cứu tiêu biểu trongnước đối với công tác cán bộ như sau:

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1993), Cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới ở nước ta - Những vấn đề lý luận và phương pháp luận [38] Quyển sách là tập hợp các bài nghiên

cứu, bài tham luận của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước vàcác nhà nghiên cứu, nhà khoa học nước ta Trong đó, bài nghiên cứu của tác giảTrần Xuân Sầm và Nguyễn Đình Hương luận giải về lý luận và thực tiễn về cơcấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt hiện nay Các tác giả đã nêu 5 điềucần phải có về phẩm chất và năng lực của một cán bộ trong HTCT là: 1) Ngườilãnh đạo phải là người làm việc có hiệu quả nhất; 2) Người lãnh đạo là ngườidân chủ nhất; 3) Người lãnh đạo là người gương mẫu nhất, cả trong sinh hoạt vàlối sống; 4) Người lãnh đạo phải là người trung thực nhất; 5) Người lãnh đạophải là người dám quyết đoán nhất, dám chịu trách nhiệm trước công việc [38,tr.73] Đây là những tài liệu vô cùng quý giá cho nghiên cứu sinh tham khảo đểphục vụ cho nghiên cứu đề tài luận án

Trang 19

Lô Quốc Toản (2006), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trong giai đoạn hiện nay [120] Tác giả đã

luận giải sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn công tác phát triển nguồn cán bộngười dân tộc thiểu số nói chung, cán bộ cơ sở là người dân tộc thiểu số nóiriêng ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Tây Bắc Trên cơ sở đánh giáthực trạng, tác giả làm rõ những thành tựu đã đạt được qua 25 năm thực hiệncông cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đào luyện nên đội ngũcán bộ dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc có đức, có tài, đảm đương đượcnhững nhiệm vụ lớn lao mà cách mạng đặt ra.Tuy nhiên, tác giả đã phân tíchsâu những hạn chế khuyết điểm, chỉ ra những nguyên nhân thuộc về kháchquan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu Các giải phápphát triển nguồn mới chỉ tập trung giải quyết đủ về số lượng, hệ thống đào tạochưa đồng bộ, chưa khơi dậy được tính tự giác, tích cực chủ động của đồngbào các dân tộc Trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra, tác giả cuốn sách đềcập toàn diện 8 giải pháp nhằm tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số, cán

bộ cơ sở người dân tộc thiểu số ngày càng vững chắc, có hiệu quả Theo tácgiả, để nâng cao chất lượng phát triển nguồn cán bộ người dân tộc thiểu sốcác tỉnh miền núi cần xây dựng hệ thống trường lớp đồng bộ, tạo sự liênthông giữa các cấp học, bậc học, tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, nhất

là đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số tại chỗ, nâng cao chất lượngnguồn tuyển sinh, nhất là hệ cử tuyển tại các trường đại học hiện nay, quản

lý tốt quy hoạch, bảo đảm quy hoạch đồng bộ các cấp, các ngành, thực hiệnphân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, tiếp tục thực hiệnchính sách ưu tiên trong phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số như chínhsách cử tuyển, chính sách thu hút đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số

Vũ Văn Hiền (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [37],

tác giả đã làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay cả về mặt

Trang 20

ưu điểm và những hạn chế, khuyết điểm những thành công cũng như nhữngkhuyết điểm hạn chế trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý Nhấnmạnh nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm tác giả chỉ rõ “Trong quátrình thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ còn nhiều thiếu sótkhuyết điểm Nhiều vấn đề về tổ chức cán bộ đề ra trong Nghị quyết là đúngđắn, xác đáng, cụ thể nhưng cho đến nay vẫn chưa được thực hiện hoặc thựchiện chưa tốt Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ chưa bám sát các nội dungcủa các nghị quyết, chỉ đạo chưa tập trung, toàn diện, chưa thường xuyên kiểmtra đôn đốc, chưa lấy chất lượng thực hiện các nghị quyết để đánh giá công tácxây dựng Đảng và hệ thống chính trị cấp mình và cấp dưới” Sau khi phân tíchcác nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém của đội ngũ cán bộ và công tácxây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp gồm 3

nhóm: Một là, đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác cán bộ, nâng cao

trình độ cho cơ quan và người làm công tác cán bộ, đổi mới mạnh mẽ các khâucủa công tác cán bộ, hoàn chỉnh nội dung, phương pháp đánh giá cán bộ, trong

đó dặc biệt nhấn mạnh tính công tâm trong đánh giá cán bộ; Hai là, tạo lập môi

truờng và điều kiện thuận lợi để tài năng lãnh đạo quản lý nảy nở và phát triển.Thực hiện giải pháp này phải coi trọng phát huy dân chủ trong đời sống xã hội,nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý, khắcphục những hạn chế của giáo dục hiện nay, phát huy cao độ vai trò của tổ chức

và cá nhân trong tự tu dưỡng, rèn luyện, kết hợp đúng đắn các thế hệ cán bộ;

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ

Cầm Thị Lai và Phạm Thị Thúy Vân (2011), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay [68].

Tác giả đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng chiến lược của TâyBắc, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở Tây Bắc trong pháttriển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở,địa phương Các tác giả cũng chỉ ra rằng hiện nay trình độ năng lực của đội ngũ

Trang 21

cán bộ, công chức ở Tây Bắc còn nhiều bất cập nhất là về trình độ chuyên môn

và lý luận chính trị còn chưa đáp ứng yêu cầu sự phát triển tình hình nhiệm vụ,đặc biệt nguồn quy hoạch cán bộ ở một số nơi còn khó khăn, hụt hẫng Nhữngvấn đề đó đang là những trở ngại trong quá trình phát triển của Tây Bắc nóichung và từng cơ sở nói riêng Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằmnâng cao trình độ năng lực chuyên môn, lý luận chính trị, rèn luyện đạo đức chođội ngũ cán bộ, công chức các xã ở Tây Bắc đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụtrong tình hình mới Một trong những vấn đề mới mà tác giả bài báo nêu lên làthường xuyên chăm lo bồi dưỡng, làm chuyển biến thật sự về nhận thức cho độingũ cán bộ, công chức cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc

Trần Hậu Thành, Nguyễn Học Từ (2011), Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước đáp ứng yêu cầu mới của Cách mạng [106] Tác giả đã nêu rõ, trong các hoạt động lãnh đạo của mình, Đảng ta luôn luôn đề

cao công tác cán bộ, coi đó là khâu then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạocủa Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức quầnchúng và vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân Vì vậy, tại Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã đề ra mục tiêu chung của việc xây dựng độingũ cán bộ hiện nay là: “ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lốisống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranhchống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiếnthức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷluật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhândân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ,

có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý xây dựng đội ngũcán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứngđầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị xây dựng đội ngũ cán

Trang 22

bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, con

em những gia đình có công với cách mạng ”

Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá [122] Tác giả chỉ ra vấn đề

cán bộ là then chốt của khâu then chốt, là nhân tố quyết định thành bại củacách mạng, đưa ra cơ sở lý luận, thực tiễn của việc đổi mới đồng bộ công táccán bộ hiện nay chính là xuất phát từ đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, từ yêu cầu của chiến lược cán bộ của Đảng thời kỳ mới

Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp đồng bộ bao gồm: xây dựng tiêu chuẩn,tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, bố trí, sử dụng, thực hiệnchế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết vềcông tác cán bộ, tác giả đã đưa ra những vấn đề mới trong xây dựng đội ngũcán bộ hiện nay như: đổi mới quy trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thiếtthực, hiệu quả; nâng cao chất lượng nguồn quy hoạch phải đáp ứng yêu cầu trẻhoá cán bộ; đưa ra được nhiều hình thức, phương pháp cụ thể phát huy vai tròcủa nhân dân trong giám sát, đánh giá, kiểm tra cán bộ

Đoàn Minh Huấn (2012), Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc” [44] Cuốn sách đã làm rõ cơ sở lý luận về tạo nguồn, vai trò

của tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Bắc Sau khi đánh giáthực trạng, rút ra những nguyên nhân cả về khách quan, cả về chủ quan, các tácgiả khẳng định tạo nguồn cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Bắc phảiđược coi trọng và đi trước một bước trong xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở Phảitạo nguồn một cách tích cực, chủ động, gắn chặt với đặc thù của Tây Bắc về điềukiện kinh tế - xã hội là bảo đảm cho xây dựng đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị

cơ sở vững mạnh Trên cơ sở đó,các tác giả kiến nghị những giải pháp để tạonguồn cán bộ cơ sở góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị cơ

sở Tây Bắc vững mạnh Theo các tác giả, để tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị

cơ sở các tỉnh Tây Bắc cần tập trung làm chuyển biến thực sự nhận thức của các

Trang 23

chủ thể, các tổ chức có liên quan, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nguồn tại chỗ

và nguồn chi viện từ nơi khác, giữa nguồn cán bộ dân tộc thiểu số với nguồn cán

bộ dân tộc đa số, phải coi trọng phát triển, đào tạo từ rất sớm, ngay từ khi họcphổ thông trung học, khắc phục tình trạng già hoá, hoặc thiếu hụt nghiêm trọngnguồn cán bộ hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc

Nguyễn Thị Mai Anh (2015), Yêu cầu và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ hội nhập quốc tế [1] Bài viết khẳng định vị trí, vai trò về chiến

lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong

đó nhấn mạnh: “cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắnliền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ” Từ việc thấy vai trò củacông tác cán bộ, bài báo đã đưa ra ba yêu cầu Thứ nhất, đội ngũ cán bộ phải

có trình độ, năng lực Thứ hai, cán bộ phải có văn hóa làm việc khoa học, hiệuquả, vì dân Thứ ba, người cán bộ phải có bản lĩnh vững vàngvà 4 giải pháp là:Một là, tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộphù hợp với tình hình mới Hai là, tạo môi trường học tập cho đội ngũ cán

bộ Ba là, làm tốt công tác luân chuyển, tạo điều kiện cho cán bộ trưởng thànhtrong thực tiễn Bốn là, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng

Trương Quốc Việt (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước [135] Bài báo đã nêu lên

những vấn đề sau: Một trong 5 mục tiêu quan trọng của Chương trình tổngthể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 là: “Xây dựng đội ngũcán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứngyêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” Đề án đẩy mạnhcải cách chế độ công vụ, công chức cũng xác định mục tiêu: xây dựng mộtnền công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”.Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước chuẩn bị kết thúc giaiđoạn 1 trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những thời cơ và thách thứcmới, đòi hỏi phải có các giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn nữa để thực hiện

Trang 24

thành công mục tiêu của Chương trình, đặc biệt là những giải pháp về độingũ cán bộ, công chức, viên chức, đây là chìa khóa để giải quyết các vấn đề

do thực tiễn cuộc sống đặt ra

Ngô Ngọc Thắng (2016), Xây dựng tầm nhìn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta, [110] Bài báo đã nêu ra những vấn đề nước ta đang trong

quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trongbối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, thay đổi khó lường, đòi hỏiđội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp không chỉ có “tâm”, quyết tâm đổimới đưa đất nước phát triển, mà còn phải có “tầm”, nhìn xa trông rộng đểnhận thức rõ cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu, tìm ra con đường,

mô hình, phương thức tối ưu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, đạtđược các mục tiêu phát triển đã đề ra

Ban Tổ chức Trung ương (2018), Về cán bộ và công tác cán bộ [11].

Cuốn sách lược trích một số bài nói, bài viết quan trọng của các đồng chíTổng Bí thư: Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê KhảPhiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng về cán bộ và CTCB qua các thời

kỳ Nội dung quyển sách phản ánh toàn diện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng vềvấn đề cán bộ và CTCB qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổimới Các tác giả đã kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vàđúc kết sâu sắc lý luận và thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời

kỳ, từ đó thể hiện tư tưởng và các quan điểm về vấn đề cán bộ và CTCB Đây

là tài liệu quan trọng được nghiên cứu sinh kế thừa khi luận giải khái niệm,phân tích vai trò của cán bộ, ĐNCB nói chung và ĐNCBCC cấp huyện ởthành phố Hà Nội nói riêng

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến đội ngũ cán

bộ chủ chốt và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt

Phạm Công Khâm (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long [53] Luận án đề cập rất sâu sắc vị trí

Trang 25

vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đồng bằng sông CửuLong, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân ưu, khuyết điểm, rút ra kinhnghiệm, đề xuất mục tiêu và hệ thống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủchốt cấp xã ở Đồng bằng sông Cửu Long Những kinh nghiệm mà tác giả chỉ

ra đáng chú ý là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đồng bằng sôngCửu Long phải sát với tình hình đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộicủa vùng, gắn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã với xây dựng cấp uỷ,chính quyền và các đoàn thể vững mạnh Giải pháp được tác giả luận án đặcbiệt nhấn mạnh là nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốtcấp xã Theo tác giả cần đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, đa dạnghóa các loại hình đào tạo, vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp tạomôi trường thuận lợi cho cán bộ chủ chốt cấp xã phấn đấu rèn luyện đáp ứngyêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH ở Đồng bằng sông Cửu Long

Cao Khoa Bảng (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố - Qua kinh nghiệm của Hà Nội

[12] Tác giả đã đề cập khá toàn diện việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạochủ chốt cấp tỉnh, thành phố Trên cơ sở đánh giá ưu, khuyết điểm, nguyênnhân, tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhđạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố của cả nước; phải tiếnhành đồng bộ, chặt chẽ gắn với công tác xây dựng Đảng, thực hiện nghiêm túcnguyên tắc tập trung dân chủ, gắn chặt xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủchốt với tình hình nhiệm vụ cụ thể của từng địa phương, đơn vị, từ đó tác giả

đề xuất những giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài trongxây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý của Hà Nội đáp ứng với yêu cầuphát triển của Thủ đô và đất nước

Mai Đức Ngọc (2008), Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị- xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay

[81] Tác giả đã chứng minh cán bộ cấp xã có vai trò rất quan trọng việc giữ

Trang 26

vững ổn định chính trị ở nông thôn nước ta Tác giả đã đi sâu luận giải tínhcấp thiết phải giữ vững ổn định chính trị ở nông thôn và vai trò cán bộ chủchốt trong giữ vững ổn định chính trị ở nông thôn Tác giả cho rằng “Ổnđịnh chính trị xã hội ở nông thôn là tiền đề để phát triển xã hội Không có

sự ổn định chính trị, xã hội không thể phát triển” Sau khi phân tích vai tròcủa cấp xã trong giữ vững ổn định chính trị nông thôn tác giả khẳng địnhcán bộ xã là chủ thể trực tiếp quyết định thực hiện có hiệu quả chức năngcủa hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm cho đường lối chính sách của Đảng

và Nhà nước được thực hiện một cách sinh động, sáng tạo ở nông thôn.Hoạt động của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã góp phần trực tiếp phát triểnkinh tế-xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàndân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Trên cơ sở đó tác giả

đã kiến nghị một số giải pháp để nâng cao vai trò đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp xã trong giữ vững ổn định chính trị ở nông thôn hiện nay như:Tạonguồn cán bộ cơ sở, tăng cường giáo dục rèn luyện, phát huy vai trò củanhân dân trong xây dựng đội ngũ cán bộ, hoàn thiện chế độ, chính sách, cảithiện môi trường làm việc

Đinh Ngọc Giang (2010), Chuẩn hoá Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã các tỉnh Đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [32] Tác giả đã trình bày tổng

quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, những vấn đề lý luận và thựctiễn về chuẩn hoá đội ngũ chủ tịch uỷ ban nhân dân xã vùng Đồng bằng sôngHồng Tác giả đã phân tích vị trí, vai trò của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã cáctỉnh đồng bằng sông Hồng với việc phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh của vùng Tác giả đã phân tích làm rõthực trạng đội ngũ chủ tịch uỷ ban nhân dân xã các tỉnh đồng bằng sông Hồng

về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản

lý nhà nước, trình độ tin học, ngoại ngữ, chỉ rõ những hạn chế yếu kém của độingũ chủ tịch uỷ ban nhân dân xã khu vực đồng bằng sông Hồng và yêu cầu cấp

Trang 27

thiết cần chuẩn hoá đội ngũ chủ tịch uỷ ban nhân dân xã đồng bằng sông Hồngtrong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Tác giả luận án đã đưa ra 3nhóm giải pháp nhằm đạt mục tiêu chuẩn hoá đội ngũ chủ tịch uỷ ban nhân dân

xã các tỉnh đồng bằng sông Hồng bao gồm: nâng cao chất lượng nguồn quyhoạch, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, của các tầng lớp nhândân địa phương, của các cơ quan làm công tác cán bộ

Cao Duy Hạ (2010), Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện [34] Bài báo đã khẳng định, đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp huyện gồm:

bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân và hội đồng nhândân, trưởng các ban, ngành trong bộ máy Đảng và chính quyền, đoàn thể củahuyện Ở giai đoạn hiện nay bí thư, chủ tịch huyện cũng như đội ngũ cán bộchủ chốt ở cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và tập hợp quầnchúng thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng Vì vậy, đòi hỏi họ phải

có đủ đức, tài Và tác giả đã đưa 5 yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện: Một là, trung thành với chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam; Hai là, phải có trình độ chuyên môn từ cao đẳng, đại học và trình

độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; Ba là, có năng lực lãnh đạo và quản

lý, nhạy cảm về chính trị, hiểu biết về kinh tế, văn hoá, xã hội; Bốn là, có nghệthuật lãnh đạo Năm là, bí thư, chủ tịch huyện phải am hiểu về khoa học sảnxuất kinh doanh của một số lĩnh vực như: nông nghiệp, thủ công nghiệp, dịchvụ trên địa bàn mình lãnh đạo, quản lý

Hà Nam Hưng (2014), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện ở Lạng Sơn hiện nay” [50] Bài báo đã khẳng định, nhận

thức đúng vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấphuyện, thời gian qua, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy cấp huyệnbám sát nhiệm vụ chính trị, quy định, quy chế và các giải pháp, xây dựng độingũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện; đảm bảo nguyên tắc Đảng thống

Trang 28

nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huytrách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ Để xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện có chất lượng tốt, đòi hỏiBan Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn, cũng như ban tổ chức các cấp trong tỉnhphải quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thammưu về tổ chức, cán bộ Tỉnh ủy, các huyện, thành ủy phải xây dựng một hệthống chính sách tốt tạo động lực thúc đẩy năng lực sáng tạo, lòng nhiệt tìnhcủa cán bộ và thu hút được người tài, thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ cán bộlãnh đạo chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn.

Nguyễn Thị Tâm (2016), Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại thành phố Đà Nẵng [103] Bài báo đã nêu lên vấn đề cán bộ

cấp ủy, chính quyền cấp cơ sở là những người thường xuyên tiếp xúc với nhândân, được nhân dân hiểu nhất Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở thạo việc,miệng nói, tay làm, có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn là yêu cầu cấp bách cảtrước mắt và lâu dài Thời gian gần đây, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở đã đạt được những kết quả quan trọng, đội ngũ CBCC cấp

cơ sở được chú trọng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, các chế độ chính sách ngàycàng hoàn thiện, tăng về mặt số lượng, trình độ và kiến thức các mặt được nânglên Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở vẫn là khâu yếukém; nội dung chương trình đào tạo còn bất cập; quy hoạch còn bị động, chắpvá; chế độ, chính sách chưa thật sự thoả đáng

Lê Minh Sơn (2018), Giải pháp đổi mới công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng [98] Theo tác

giả, cán bộ và CTCB luôn giữ vị trí, vai trò cơ bản, đặc biệt quan trọng, lànhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh củaĐảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng.Đảng ta đã xây dựng được một hệ thống quy chế, quy trình CTCB Tuy nhiên,

Trang 29

để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, trong thời gian trước mắt cũngnhư lâu dài, cấp ủy và cán bộ lãnh đạo các cấp tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụđổi mới CTCB với những giải pháp cụ thể: Đổi mới phương thức lãnh đạo vàhoàn thiện công tác đánh giá cán bộ của Đảng về CTCB; Nâng cao chất lượngcông tác quy hoạch cán bộ; Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ;Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Đổi mới công tác tuyển chọn,

bố trí, sử dụng cán bộ; Đổi mới, hoàn thiện chính sách cán bộ và thực hiệnnghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình Những kết quả nghiên cứu củacông trình này được nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trình thực hiện cácmục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án đã đề ra

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố

Do mục đích, đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu và phương pháptiếp cận khác nhau, mỗi công trình khoa học, bài báo có đối tượng, nội dung,phạm vi nghiên cứu độc lập đã thể hiện tính đa dạng, phong phú trong cáchtiếp cận khác nhau Các công trình luận giải sâu sắc các vấn đề sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đội ngũ

cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ ở mỗi nước; kết quả nghiên cứu của nhữngcông trình đó, tuy cách tiếp cận khác nhau, song đều có những điểm chung làlàm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản cầm quyền về cán bộ và côngtác cán bộ, khẳng định vị trí, vai trò rất quan trọng của đội ngũ cán bộ Trongxây dựng đội ngũ cán bộ đều quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ qua công tác: tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đánh giá cánbộ các công trình trên là những nội dung quan trọng để tác giả có thể thamkhảo, kế thừa và vận dụng vào nghiên cứu luận án nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

Trang 30

Thứ hai, các công trình, đề tài khoa học đã hệ thống hóa các quan

điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh vềcán bộ và công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ cấp chiến dịch,chiến lược nước ta trong giai đoạn đổi mới, việc xác định vai trò của cán bộ

đã chỉ ra được tính tất yếu cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhất làĐNCBCC; khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức cũng như đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các cấp từ trung ương đến địaphương từ đó nhận định những thành tựu đạt được trong nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ chủ chốt, mặt khác chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân trongnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thời gian qua

Thứ ba, các công trình đã phân tích đánh giá và đưa ra những giải pháp

mang tính định hướng việc quản lý, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ởnước ta hiện nay Trên cơ sở khoa học các tác giả đã nhận định, phân tích sựphát triển các yêu cầu cũng như sự tác động đến công tác nâng cao chất lượngĐNCBCC trong những năm qua; các tác giả cũng từng bước hình thành bộ tiêuchí đánh giá cán bộ về kiến thức, kỹ năng và thái độ công việc cũng như cácyếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ như: Cơ chế tuyểndụng, bổ nhiệm, công tác đào tạo, bồi dưỡng, chế độ đãi ngộ, chính sách tiềnlương, điều kiện và môi trường làm việc, văn hóa địa phương …

Thứ tư, các công trình trên đã khái quát, phân tích những nhân tố tác

động, đưa ra yêu cầu và hệ thống những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượngĐNCBCC; đặc biệt chú trọng phương hướng, các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng

bố trí, sử dụng nhằm củng cố và phát huy tốt vai trò của đội ngũ này trong thựctiễn Đây là những nội dung, biện pháp có cơ sở khoa học, có giá trị lý luận vàthực tiễn sâu sắc nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài:Nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp quận, huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

Do mục đích, đối tượng phạm vi nghiên cứu khác nhau nên các công trìnhnghiên cứu trên chỉ tập trung đề cập đến những vấn đề của đội ngũ cán bộ,

Trang 31

ĐNCBCC nói chung nhưng chưa đi sâu nghiên cứu trực tiếp, cụ thể là nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Một là, khái quát cấp huyện, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,

cũng như yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong củaĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội Khái quát và đưa ra những quanniệm về quan niệm, đặc điểm, vai trò ĐNCBCC, yêu cầu, phẩm chất, nănglực ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Hai là, Xây dựng quan niệm và những yếu tố quy định chất lượng

ĐNCBCC cấp quận, huyện; lý luận, thực tiễn; luận giải nội dung, hình thức,những vấn đề có tính nguyên tắc nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp quận,huyện ở thành phố Hà Nội Đưa ra những tiêu chí đánh giá chất lượngĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội; phân tích những vấn đề có tínhnguyên tắc nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Ba là, điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập tư liệu, số liệu đánh giá

chính xác, đầy đủ, cụ thể thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm vàhạn chế trong nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố HàNội; rút ra những kinh nghiệm nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ởthành phố Hà Nội thời gian qua

Bốn là, khái quát trình bày những yếu tố tác động đến nâng cao chất

lượng ĐNCBCC cấp huyện ở thành phố Hà Nội; xác định yêu cầu nâng cao

chất lượng ĐNCBCC cấp huyện; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp

đồng bộ, toàn diện, khả thi nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ởthành phố Hà Nội hiện nay

Trang 32

Kết luận chương 1 Những công trình nghiên cứu trên đây mà nghiên cứu sinh đã tìm hiểu, thực hiện khái lược những kết quả chủ yếu, tổng hợp, so sánh đã giúp cho nghiên cứu sinh làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới hiện nay Thông qua nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau của các học giả, nghiên cứu sinh cũng đã có được cái nhìn tổng thể về vấn đề chất lượng đội ngũ cán bộ và CBCC, hoạt động nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện ở nhiều phương diện khác nhau Đồng thời, làm rõ được những vấn đề liên quan đến chất lượng đội ngũ cán

bộ, CBCC và nguyên nhân và những hạn chế của nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện nói riêng

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào

đi sâu nghiên cứu làm rõ vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp huyện ở Thành phố Hà Nội một cách đầy đủ, hệ thống Do vậy, đề tài mànghiên cứu sinh đang triển khai là một công trình khoa học độc lập, khôngtrùng lặp với các công trình đã được công bố Việc nghiên cứu sinh tiếp tục đi

sâu nghiên cứu vấn đề: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thành phố Hà Nội hiện nay” là sản phẩm nghiên cứu độc lập, vừa

có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đãcông bố và vừa chứa đựng những giá trị khoa học mới

Trang 33

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Cấp huyện ở thành phố Hà Nội và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thành phố Hà Nội

2.1.1 Cấp huyện ở thành phố Hà Nội

* Khái quát về thành phố Hà Nội

Về tự nhiên: Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp

với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam vàHoà Bình; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phíatây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ Hà Nội có vị trí và địa thế thuận lợi củamột trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thôngquan trọng của Việt Nam Với diện tích 3,359 km2 Hà Nội là một trong 17thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới [35] Chiếm khoảng 1% diện tích Hà Nộinhưng quy mô dân số Hà Nội tính đến năm 2020 là trên 8 triệu người (chưatính đến lực lượng lao động tự do đăng ký tạm trú trên địa bàn thành phố)chiếm 8% dân số cả nước

Về tổ chức hành chính của thành phố Hà Nội: Thành phố Hà Nội là thủ

đô của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong 5 thành phốtrực thuộc Trung ương ở nước ta hiện nay Trên địa bàn thành phố có nhiều trụ

sở của các cơ quan, Ban, ngành ở Trung ương, cùng nhiều đại sứ quán, lãnh sứquán của các nước, các văn phòng đại diện của nhiều tổ chức quốc tếCùng vớithành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai thành phố lớn nhất, phát

Trang 34

triển kinh tế năng động nhất; là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,đối ngoại của cả nước Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 12 quận

và 17 huyện và 01 thị xã, với 584 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 177

phường, 386 xã và 21 thị trấn [PL4]

Về kinh tế: Thủ đô Hà Nội hiện nay chỉ chiếm 8% về dân số và 1% diện

tích của cả nước nhưng đóng góp khoảng 13,1% GRDP cả nước, 13,7% giá trịsản xuất công nghiệp, gần 19% thu ngân sách quốc gia, thu hút 20,89% vốn đầu

tư xã hội của cả nước Giai đoạn 2015-2020, kinh tế Thủ đô vượt qua khó khăn,duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân9,7%/năm Trong đó, ngành dịch vụ tăng trưởng là 9,7%/năm, ngành côngnghiệp - xây dựng tăng trưởng cao nhất tới 10,7%/năm và ngành nông nghiệp là3%/năm [108, tr.6] Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọngngành nông nghiệp Cuối năm 2019, tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp - xâydựng, nông nghiệp lần lượt là 52%-41,4%-6,6%, cuối năm 2016, các chỉ tiêunày lần lượt là 52,3%-41,9%-5,8% [108, tr.6] Dịch vụ là ngành có giá trị tăngthêm lớn, chiếm tỷ trọng cao trong GDP, đóng góp lớn vào mức tăng chung củakinh tế Thủ đô.Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng trưởng bình quângiai đoạn 2016-2019 đạt 25,9%/năm Chín tháng đầu năm 2019 chỉ tiêu nàytăng 23,4% so cùng kỳ Tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2015 - 2020 đạt21,342 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân là 16,9%/năm [108, tr.14] Sảnxuất công nghiệp ổn định và tăng trưởng khá cao Tốc độ tăng trưởng bình quângiá trị sản xuất công nghiệp đạt 15,2%/năm Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thờitiết, thiên tai, dịch bệnh, nhất là tác động của đại dịch Covid - 19 nhưng sảnxuất công nghiêp của Thủ đô Hà Nội vẫn tiếp tục phát triển Tính đến tháng 9năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội tăng 6,8%/ [108, tr 5]

Thu ngân sách trên địa bàn luôn đạt và vượt kế hoạch giao, bảo đảm nhucầu chi thường xuyên và tăng dần chi đầu tư phát triển Tốc độ tăng thu ngân

Trang 35

sách nhà nước trên địa bàn bình quân đạt 24,4%/năm Đây là nơi thu hút mộtnguồn lực lao động rất lớn, chủ yếu là lao động các tỉnh phía Bắc và một bộphận lao động của các tỉnh miền Trung, đặt ra những yêu cầu rất cao về lãnhđạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh Từ thực tế tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh đòi hỏithành phố Hà Nội phải nâng cao chất lượng ĐNCBCC các cấp đáp ứng nhiệm

vụ xây dựng thành phố phát triển VMTD, giữ vững và phát huy danh hiệu

“thành phố sáng tạo”; trong đó có ĐNCBCC cấp huyện Chính vì vậy, việcnâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp huyện trở thành yêu cầu khách quan của

sự phát triển thành phố trong giai đoạn hiện nay

Về văn hóa, xã hội, y tế: Hiện tại, ngành Giáo dục và Đào tạo Thủ đô có

2.502 cơ sở giáo dục, 43.848 nhóm lớp, 1.420.466 học sinh; (tăng 199 cơ sởgiáo dục, 5.051 nhóm lớp và 77.627 học sinh so với đầu năm học 2018-2019.Cùng với Quy mô giáo dục và số lượng học sinh tăng thêm, trong ba năm qua,chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học, ngành học tiếp tục được giữ vững.Đến nay đội ngũ giáo viên Hà Nội đã có 100 % giáo viên ở các bậc học, cấphọc đạt chuẩn Tăng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn: Mầm non: 37,1%; Tiểu học:92%; trung học cơ sở: 62%; trung học phổ thông: 15,9%; giáo dục thườngxuyên: 1,5%; trung cấp chuyên nghiệp: 26,2% [128, tr.18] Thành phố Hà Nội

đã xây mới 5.523 phòng của 3 cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sởtập trung ở 18 huyện, thị xã thuộc địa bàn Hà Nội mở rộng (vùng ngoại thành,vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc) Hệ thống các trường trung cấp, caođẳng, đại học và trên đại học được xây dựng, phát triển

Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếphạng quốc gia trên 900 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắngmới được sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, côngtrình kiến trúc, danh thắng nổi tiếng Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn ởViệt Nam Du khách có dịp khám phá nhiều công trình kiến trúc văn hóa -

Trang 36

nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, trong suốt quá trình dựng nước vàgiữ nước Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyến rũ; những làng nghề thủcông tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống - sản phẩm văn hóakết tinh nhiều giá trị tinh thần sẽ là những sản phẩm du lịch hấp dẫn

An sinh và phúc lợi xã hội được đảm bảo tốt hơn Thành phố đã hỗ trợ22.500 hộ thoát nghèo, đạt 100% kế hoạch Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2019 cònkhoảng 2,5% Hoàn thành kế hoạch hỗ trợ xây dựng thay thế và sửa chữa gần3.300 nhà hư hỏng cho các hộ nghèo, cấp trên 346.000 thẻ bảo hiểm y tế chongười nghèo và đối tượng xã hội, tạo khoảng 135.800 việc làm mới Xét duyệt1.700 dự án vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm với số tiền 204 tỷ đồng,giải quyết việc làm cho khoảng 1.700 lao động [108, tr.13] Nhìn chung, đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân Thủ đô, nhất là ở khu vực nông thôn,vùng sâu, vùng xa trung tâm, người có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chínhsách tiếp tục được cải thiện và nâng cao Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh đượcthực hiện và đạt kết quả tích cực Tính chất phong phú, đa dạng của tình hìnhvăn hóa - xã hội đặt ra những yêu cầu rất cao trong công tác quản lý xã hội Vìvậy phải nâng cao chất lượng ĐNCBCC các cấp nói chung, cấp huyện nóiriêng đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô

và loại III Thành phố trực thuộc tỉnh, quận thuộc Thủ đô Hà Nội và quậnthuộc Thành phố Hồ Chí Minh là các đơn vị hành chính cấp huyện loại I

Trang 37

Quận thuộc Thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có dân số

và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khókhăn, đạt tỷ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chínhcấp huyện thuộc đô thị loại đặc biệt

Hiện nay, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm đểthành lập 2 quận (Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm), thành phố Hà Nội có 30đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: 12 quận: Ba Đình, Bắc Từ Liêm, CầuGiấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, LongBiên, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Tây Hồ; 17 huyện: Ba Vì, Chương Mỹ,Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phúc Thọ,Phú Xuyên, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, ThườngTín, Ứng Hòa và Thị xã Sơn Tây với 584 đơn vị hành chính cấp xã, gồm

386 xã, 177 phường, 21 thị trấn [35, tr 58]

Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội:

Hệ thống chính trị cấp huyện ở TP HN gồm: Đảng bộ, chính quyền, mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Tổ chức đảng:

Đảng bộ cấp huyện là tổ chức Đảng cấp trên cơ sở Đại hội đại biểuĐảng bộ huyện là tổ chức lãnh đạo cao nhất của cấp huyện, có nhiệm vụ lãnhđạo toàn diện các mặt công tác ở địa phương cấp huyện Cấp ủy cấp huyện là

cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của đảng bộ cấp huyện; có chức nănglãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình, các chủ trương, nghịquyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của cấp trên và chính sách, phápluật của Nhà nước; đề xuất, kiến nghị với cấp ủy cấp tỉnh những vấn đề có liênquan đến sự lãnh đạo của cấp ủy cấp tỉnh đối với địa phương

Chính quyền địa phương cấp huyện là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Hội đồng nhân dân cấp huyện:

Trang 38

Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do

cử tri ở quận, huyện bầu ra.Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dâncấp huyện được thực hiện theo nguyên tắc sau: Huyện miền núi, vùng cao, hảiđảo có từ bốn mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên bốnmươi nghìn dân thì cứ thêm năm nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưngtổng số không quá bốn mươi đại biểu; Huyện không thuộc trường hợp quyđịnh trên có từ tám mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; cótrên tám mươi nghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêm một đạibiểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi đại biểu; Số lượng đại biểu Hội đồngnhân dân cấp huyện có từ ba mươi đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc trở lên

do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hộiđồng nhân dân cấp thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng tổng số khôngquá bốn mươi lăm đại biểu

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch Hội đồngnhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởngban của Hội đồng nhân dân quận, huyện Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấphuyện có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; PhóChủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạtđộng chuyên trách Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập Ban pháp chế,Ban kinh tế - xã hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thànhlập Ban dân tộc Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tiêu chuẩn, điềukiện thành lập Ban dân tộc

Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm có Trưởng ban, một PhóTrưởng ban và các Ủy viên Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồngnhân dân cấp huyện do Hội đồng nhân dân quận, huyện quyết định Trưởngban của Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể là đại biểu Hội đồng nhân dânhoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện

là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách Các đại biểu Hội

Trang 39

đồng nhân dân cấp huyện được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợpthành Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân Số lượng Tổ đại biểu Hội đồng nhândân, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân do Thườngtrực Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định.

Ủy ban nhân dân cấp huyện:

Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủyviên Ủy ban nhân dân cấp huyện loại I có không quá ba Phó Chủ tịch; cấphuyện loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch Ủy viên Ủy bannhân dân cấp huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viênphụ trách công an Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyệngồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng

Chức năng của HĐND cấp huyện:

Chức năng của HĐND cấp huyện ở thành phố Hà Nội theo luật tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015 và luật Thủ đô năm 2012 như sau: Hội đồngnhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hộiđồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huytiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cảnước Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động củaThường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểmsát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhândân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương

Chức năng của UBND cấp huyện:

Trang 40

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành củaHội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu tráchnhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Uỷban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấpnhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn

Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, gópphần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhànước từ trung ương tới cơ sở

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện ở thành phố Hà Nội

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện ở thànhphố Hà Nội theo luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và luậtThủ đô năm 2012 như sau: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp vàpháp luật trên địa bàn cấp huyện ở thành phố Hà Nội Quyết định nhữngvấn đề của cấp huyện trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quyđịnh của Luật Chính quyền địa phương này và quy định khác của pháp luật

có liên quan.Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhànước thành phố Hà Nội ủy quyền Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt độngcủa chính quyền địa phương cấp phường, xã Chịu trách nhiệm trước chínhquyền địa phương thành phố Hà Nội về kết quả thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn của chính quyền địa phương ở cấp mình Quyết định và tổ chứcthực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huyđộng các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn

Vị trí, vai trò của chính quyền cấp huyện:

Ngày đăng: 18/06/2021, 07:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w