Nghiên cứu nhằm khỏa sát thực trạng và đánh giá hoạt động hiệu quả của hỗ trợ phục hồi chứcnăng về y tế và phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho các bệnh nhân điều trịnội trú tại Bệnh việ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-NGUYỄN XUÂN HÀ
HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN
TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2021
Trang 3VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-NGUYỄN XUÂN HÀ
HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN
TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI - 2021
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thị Thư
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận vănnày hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ
Nguyễn Xuân Hà
Trang 6và kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học Viện Khoa học xã hội,Phòng Quản lý Đào tạo và các thầy cô giáo trong Khoa Công tác xã hội – Họcviện Khoa học xã hội đã chỉ dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuậnlợi cho em suốt quá trình gian học tập và thực hiện luận văn tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trungương, các cán bộ, nhân viên của các khoa, phòng tại Bệnh viện Châm cứuTrung ương đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành việcthu thập số liệu phục vụ cho luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
HỌC VIÊN
Nguyễn Xuân Hà
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN 201.1 Bệnh nhân và đặc điểm của bệnh nhân 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhânchâm cứu 41
Chương 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG 44
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng
đối với bệnh nhân 69
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ PHỤC
HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG 77
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân
77
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8Danh mục ảnh
Hình 1: Hình ảnh bệnh nhân xem tivi tại sảnh khoa Đột quỵ - Phục hồi chức năng 60
Hình 2: Chương trình “ Tủ sách Ước mơ” 61
Hình 3: Hoạt động vui chơi, giải trí của các bé khoa Nhi 62
Hình 4: Chương trình văn nghệ đêm Trung thu tại Bệnh viện 62
Danh mục bảng Bảng 2 1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu 45
Bảng 2 2: Đánh giá của khách thể về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng 47
Bảng 2 3: Mức độ nắm bắt thông tin của khách thể 49
Bảng 2 4: Đánh giá của khách thể về việc đảm bảo hoạt động chăm sóc y tế 51
Bảng 2 5: Đánh giá hoạt động chăm sóc y tế của bệnh viện 52
Bảng 2 6: Thực trạng các thiết bị hỗ trợ mà bệnh nhân nhận được 54
Bảng 2 7: Đánh giá về chất lượng các thiết bị hỗ trợ 55
Bảng 2 8: Đánh giá của khách thể về việc dễ dàng tiếp cận các thiết bị hỗ trợ 57 Bảng 2 9: Mức độ tham gia một số hoạt động vui chơi giải trí của bệnh nhân 59 Bảng 2 10: Đánh giá của khách thể về hoạt động vui chơi giải trí 63
Bảng 2 11:Đánh giá sự phù hợp của hoạt động vui chơi giải trí với bệnh nhân64 Bảng 2 12: Kết quả hoạt động vận động nguồn lực năm 2020 65
Bảng 2 13:Các hỗ trợ mà bệnh nhân được nhận 66
Bảng 2 14: Cảm xúc của bệnh nhân khi được nhận hỗ trợ 68
Bảng 2 15: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 69
Bảng 2 16: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 71
Bảng 2 17: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, của gia đình và toàn xã hội.Chính vì thế, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nộidung quan trọng nhất trong kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia Muốn đạtđược mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn diện, mỗi quốc gia cần chú trọng đến
cả 4 lĩnh vực mà Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra, bao gồm nâng cao sức khỏe,phòng bệnh, điều trị bệnh và phục hồi chức năng Ở Việt Nam, trước đây donhận thức còn hạn chế và điều kiện kinh tế khó khăn, người dân mới chỉ quantâm đến điều trị bệnh Ngày nay, khi đời sống người dân được nâng cao, côngtác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe được quan tâm nhiều và toàn diện hơn, đặcbiệt lĩnh vực phục hồi chức năng được chú trọng
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề phục hồi chứcnăng cho người khuyết tật cũng như các bệnh nhân cần phục hồi chức năng Từnăm 1999, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 963/1999/QĐ-BYT quy định chứcnăng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chứcnăng thuộc các Sở Y tế trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [7] [1] [5]
Ngày 31/12/2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư số
46/2013/TT-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ sở phục hồi chứcnăng [5] Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa XII
về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đưa ranhiệm vụ “Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng hoàn chỉnh
ở từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…”, “Xây dựng và thực hiệnchương trình phát triển y học cổ truyền, tăng cường kết hợp với y học hiện
đại trong phòng bệnh, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng…”, “Bảo đảmthuốc đủ về số lượng, tốt về chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng,
nước về công tác phục hồi chức năng cho bệnh nhân và người khuyết tật, các
cơ sở phục hồi chức năng ngày càng gia tăng về số lượng, nâng cao về chấtlượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các bệnh nhân Bệnh việnChâm cứu Trung ương là một trong những cơ sở có uy tín về phục hồi chứcnăng cho người khuyết tật cũng như những người cần phục hồi chức năng
Trang 10Bệnh viện Châm cứu Trung ương (tiền thân là Viện Châm cứu Trung ương) là bệnh viện chuyên khoa Hạng 1 chuyên về châm cứu, trực thuộc Bộ
BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế Chức năng và nhiệm vụ chính của bệnh viện làkhám, cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng cho bệnh nhân ở tuyến cao nhấtbằng phương pháp không dùng thuốc, như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt,dưỡng sinh,… dựa trên các nghiên cứu lý thuyết và kỹ thuật y học cổ truyền
nửa người, liệt tứ chi, tai biến mạch máu não hoặc chấn thương cột sống gây
ra ở người lớn; các bệnh tự kỷ, bại não, chậm nói, liệt do di chứng viêm não ởtrẻ em… Đây là những bệnh lý cần được điều trị, phục hồi chức năng nếukhông được điều trị sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân sau này
Hiện nay, có một số nghiên cứu về hoạt động phục hồi chức năng Tuynhiên, các nghiên cứu thường tập trung vào việc phục hồi chức năng đối vớibệnh nhân về mặt y học, hướng tới đối tượng là bệnh nhân hoặc người khuyếttật ngoài cộng đồng Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, nghiên cứu về hỗtrợ phục hồi chức năng cho các bệnh nhân còn là hướng nghiên cứu mới
Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hỗ trợ phục hồi chức năng đối
với bệnh nhân tại bệnh viện Châm cứu Trung ương” Nghiên cứu nhằm
khỏa sát thực trạng và đánh giá hoạt động hiệu quả của hỗ trợ phục hồi chứcnăng về y tế và phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho các bệnh nhân điều trịnội trú tại Bệnh viện, từ đó tìm ra giải pháp tăng cường và phát huy hiệu quảhoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với các bệnh nhân tại Bệnh viện nóichung và Bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Châm cứu Trung ương nóiriêng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ngành Công tác xã hội trên thế giới đã được biết đến từ rất lâu và đãtrải qua nhiểu thời kỳ Thời kỳ thứ nhất là phát triển từ trợ giúp từ thiện đến từthiện khoa học Giai đoạn tiền khoa học của CTXH bắt đầu từ xã hội cổ xưa ởnhững văn bản đề cập đến về sự quan tâm của nhà nước với công dân cầnđược trợ giúp từ năm 911 trong Hiệp ước giữa Nga ký kết với người Hy Lạp.Cho đến những năm 30 của thế kỷ XVI, ở Anh những đạo luật quy định vềhoạt động cứu tế những người nghèo, bệnh tật ra đời là dấu hiệu sự cần
2
Trang 11thiết về mặt chính sách, luật pháp liên quan đến trợ giúp những đối tượng yếuthế trong xã hội Cho đến những năm giữa và cuối của thế kỷ XVI, đã có nhiềucác tổ chức từ thiện được thành lập trợ giúp những nhóm người yếu thế nhưngười nghèo, trẻ em mồ côi, người khuyết tật tại nhiều nước như Anh, Mỹ Tuy nhiên cuối thời kỳ này đã xuất hiện những mô hình từ thiện khoa học Cáchoạt động giúp đỡ không chỉ đơn thuần là ban phát mà đã có những hoạt độngthăm hỏi, đánh giá nhu cầu cần giúp đỡ Thời kỳ thứ hai là thời kỳ hình thành,trở một khoa học độc lập, và đi vào hoạt động chuyên nghiệp từ cuối thế kỷXIX đến nay Do nhu cầu lúc này của xã hội cần phải có một nghề giúp đỡ, hỗtrợ những đối tượng yếu thế đảm bảo tính khoa học và chuyên nghiệp, CTXH
đã xây dựng cho mình những kho tàng kiến thức và lý luận, phát triển các hoạtđộng đào tạo, phát triển thử nghiệm các mô hình thực hành, thành lập các hiệphội nghề nghiệp
nằm ngoài quy luật hình thành và phát triển Công tác xã hội trên thế giới.Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định phê duyệt Đề
án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 (Quyết định số32/2010/QĐ-TTg), đánh dấu một mốc mới quan trọng của ngành CTXH tại
với nghề Công tác xã hội (Thông tư số 08/2010/TT-BNV) [3]
Cho đến nay, các lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội đã được thựchiện trong nhiều lĩnh vực Hoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong phục hồi chức năngcũng là một lĩnh vực được ngành công tác xã hội trong bệnh viện thực hiện
Xuất phát từ thực tế ở Việt Nam, hoạt động phục hồi chức năng chủ yếuđược xem xét dưới góc độ y học Từ thực tiễn, để phục hồi tốt cho bệnh nhânthì một thành tố quan trọng trong việc hỗ trợ đó là đội ngũ những người làmcông tác xã hội, một lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình tiếp đón, điềutrị, tư vấn và cùng giải quyết cả thể chất, vấn đề tinh thần với bệnh nhân, từ
đó giúp họ nâng cao hiệu quả của phục hồi chức năng
Để có một cái nhìn tổng quát hơn, luận văn tiến hành tổng quan các nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới theo hai hướng Đó là:
1 Hướng nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện;
2 Hướng nghiên cứu hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân
Trang 122.1 Hướng nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện
2.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Công tác xã hội trong bệnh viện có một lịch sử phát triển lâu đời trên thếgiới, từ cuối thế kỷ 19, từ những năm 1880 ở Anh (dẫn theo Gehlert, 2012) khi
có một nhóm tình nguyện viên làm việc tại một nhà thương điên của Anh đã cónhững cuộc thăm viếng thân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ bệnh nhân sau khi
Sau đó, công tác xã hội trong bệnh viện được hình thành ở Mỹ vào đầu thế kỷ
20, năm 1900 khi những người y tá đã đến thăm bệnh nhân sau khi xuất viện
và họ đã cho thấy được tầm quan trọng của việc hiểu rõ các vấn đề xã hội của
hội trong bệnh viện đến nay đã trải qua hơn một thế kỷ, công tác xã hội trongbệnh viện đã càng ngày càng chứng tỏ là một nghề không thể thiếu được trongbệnh viện ở các nước phát triển, ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, Chính vì vậy,các nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực này rất được quan tâm
Công tác xã hội lần đầu tiên được nghiên cứu triển khai trong các bệnhviện vào năm 1905 tại Boston, Mỹ [41] Đến nay, hầu hết các bệnh viện ở Mỹđều có phòng công tác xã hội và đã trở thành một trong những điều kiện bắt buộc
để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Nghiên cứutại Mỹ mở ra nhiều hướng mới cho mô hình công tác xã hội trong bệnh viện Tácgiả Kadushin, Berger, Gilbert (2009) đã đề cập đến vai trò giám sát của công tác
xã hội trong bệnh viện và tác giả cho rằng mô hình công tác xã hội trong bệnhviện cần có thêm hoạt động giám sát để mang lại hiệu suất cao hơn trong các cơ
sở y tế [39] Cũng tại Mỹ, tác giả Jennifer Zimmerman, Holly I Dabelko (2007)lại đưa ra mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân Tác giả chỉ ra rằng những môhình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ bậc mà ở đó các bác sỹđược coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay vào đó là việc kết hợp chămsóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo sự thân thiện hơn, cởi mởhơn và xóa bỏ ranh giới phân cấp giữa bác sỹ với bệnh nhân với mục đích tạotâm lý thoải mái cho bệnh nhân [44]
Nghiên cứu của Boyce và Stockton (1983) mô tả cách nhân viên côngtác xã hội chăm sóc sức khỏe bệnh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưới
4
Trang 13sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội, hiệu quả khám chữa bệnh của bệnhnhân được tăng lên, bệnh nhân dễ dàng, nhanh chóng tiếp cận được với cácdịch vụ y tế hơn thông qua việc nhân viên công tác xã hội sử dụng hệ thống
Một nghiên cứu khác của Cowles và Lefcowitz thực hiện vào năm 1992
về kỳ vọng của chính bác sỹ đối với những hoạt động liên quan đến chăm sócsức khỏe của bệnh nhân của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện Gần
vào một cuộc khảo sát bằng bảng hỏi qua thư Kết quả nghiên cứu cho thấy,các bác sỹ và y tá có mức độ hài lòng với các hoạt động trợ giúp bệnh nhâncủa nhân viên Công tác xã hội cao hơn sự hài lòng của chính nhân viên côngtác xã hội trong hoạt động trợ giúp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, gia đìnhbệnh nhân, các vấn đề thuộc về xã hội – môi trường, năng lực của nhân viêncông tác xã hội, sự công nhận về vai trò của nhân viên công tác xã hội củangười nhà bệnh nhân là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện công việc hỗtrợ bệnh nhân của nhân viên công tác xã hội Trong nghiên cứu này, vai tròcủa nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện được mô tả với việc họ thựchiện hai hoạt động là tăng cường hỗ trợ, trợ giúp của môi trường xã hội và cácnguồn lực cho bệnh nhân (vận động nguồn lực), và hoạt động giúp bệnh nhânthụ hưởng sự hỗ trợ đó Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ các bác sỹ, y tákhông hiểu hoặc không chấp nhận vai trò quan trọng của nhân viên công tác
cứu này, năm 1995, hai tác giả cho biết, dịch vụ tư vấn là công việc được nhânviên công tác xã hội ưu tiên thực hiện hơn khi khách hàng là người nhà củabệnh nhân, thay vì bệnh nhân, và khi mục tiêu là giúp thay đổi các vấn đề xãhội - môi trường hơn là để hỗ trợ hoặc chăm sóc bệnh nhân Ngoài ra, các bác
sỹ và y tá, có khả năng nhận thức các vấn đề về môi trường của bệnh nhân,hơn là những vấn đề về cảm xúc hoặc hành vi - như một lĩnh vực đặc biệt củacông tác xã hội Trái ngược với kết quả nghiên cứu trước đó, các bác sỹ và y
tá không muốn loại trừ công việc các nhân viên xã hội trong bệnh viện là tưvấn cho bệnh nhân và giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội mà họ chỉ không coi
Trang 14Trong nghiên cứu của Egan và Kadushin (1995) thì lĩnh vực của côngtác xã hội trong chăm sóc sức khỏe chưa rõ ràng, cũng như không độc quyền.Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xem xét vai trò của nhân viên xã hộitrong bệnh viện, đặc biệt là ở các bệnh viện nông thôn, đã bị ảnh hưởng nhưthế nào bởi các chính sách kinh tế và chính sách pháp luật Bài báo này thảoluận về kết quả của một nghiên cứu về nhận thức của y tá bệnh viện nôngthôn và nhân viên xã hội về lĩnh vực của nhân viên xã hội y tế Các phân tích
về nghề được xác định là có đủ điều kiện tốt nhất để thực hiện 15 nhiệm vụdịch vụ xã hội của bệnh viện rõ ràng và hợp tác Nghiên cứu chỉ ra rằng, đểhoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong bệnh viện đạt hiệu quả cao cần phải nângcao vai trò và kỹ năng của nhân viên xã hội y tế thông qua việc sử dụng các
khác của hai tác giả này về hoạt động công tác xã hội ở các bệnh viện nôngthôn được thực hiện trong hai năm sau đó Bởi đa số các bệnh viện nông thônđều gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính nên hoạt động công tác xã hộicũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các bệnh viện thành thị Nghiên cứu nàychỉ ra nhân viên công tác xã hội đóng vai trò to lớn, là đội ngũ không thể thiếu
để hợp tác hiệu quả và cung cấp dịch vụ xã hội tốt nhất, nhất là đối với các
Tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền và Trần Thị Trân Châu đã cho biết côngtác xã hội trong bệnh viện lần đầu xuất hiện tại ở Anh vào cuối thế kỷ 19, năm
1895 và sau đó xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1905 Lúc đầu, nhânviên xã hội trong bệnh viện chỉ có vai trò là “nhân viên phát chẩn”, sau đó làphòng dịch vụ xã hội với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho bệnhnhân (vào năm 1905 – 1913) Sau này, nhân viên xã hội trong bệnh viện đãđược chuyên nghiệp hóa và được gọi là nhân viên xã hội y tế Nhân viên xãhội y tế có 6 hoạt động chủ yếu: Quản lý trường hợp về mảng y tế - xã hội,ghi chép dữ liệu giảng dạy về sức khoẻ, theo dõi bệnh nhân, điều chỉnh mứcphí và mở rộng dịch vụ y tế bằng cách chuyển bệnh nhân đến các nhà dưỡngbệnh, cơ quan phúc lợi xã hội hay các cơ sở y tế khác Tác giả cho rằng xemlại lịch sử phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện cho thấy có sựtương đồng với quá trình hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong
6
Trang 15bệnh viện ở Việt Nam về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong
2.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 của
2011-Bộ trưởng 2011-Bộ Y tế Đề án với mục tiêu phát triển công tác xã hội trở thànhmột nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác
xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên côngtác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệthống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng
Công tác xã hội trong ngành y tế cũng đã được hình thành ngay sau đó khi
mà Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 về việc phêduyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” Và gần đây nhất là Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày 15/9/2016 của Thủtướng Chính phủ về việc quyết định lấy ngày 25 tháng 03 hàng năm là “NgàyCông tác xã hội Việt Nam”, như vậy chúng ta có thể thấy, công tác xã hội trongbệnh viện ngày càng phát triển thực sự có vai trò quan trọng trong việc nâng caochất lượng khám chữa bệnh, góp phần giải quyết những nhu cầu bức thiết trongchăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như làm gia tăng sựhài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ y tế
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh về Mô hình công tác xã hội trongbệnh viện từ thực tiễn tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Nội tiếtTrung ương làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc điều trịbệnh Theo đó, nhân viên CTXH trong bệnh viện có thể tham gia nhiều khâutrong khám chữa bệnh, từ khâu đón tiếp bệnh nhân đến khâu chuẩn bị cho
Nghiên cứu về thực trạng các hoạt động công tác xã hội đang diễn ra ởcác bệnh viện, tác giả Lê Minh Hiển và Nguyễn Thị Thùy Dương với bài viết:
"Kết quả các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Chợ Rẫy" đã cho thấy
Tổ Y xã hội được thành lập ở Bệnh viện Chợ Rẫy cách đây trên 15 năm (năm2004) và có nhiều đóng góp cho việc hỗ trợ bệnh nhân nghèo và hoạt độngcủa Tổ Y xã hội chủ yếu mang tính chất từ thiện Đơn vị Y xã hội chỉ mới
Trang 16được kiện toàn lại tổ chức và thành lập phòng Công tác xã hội từ 8/2015 [13].
Tương tự như Bệnh viện Chợ Rẫy, tác giả Đoàn Thị Thùy Loan với bài viết:
"Thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa tỉnhKhánh Hòa" và tác giả Huỳnh Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Kim Long vớibài viết: "Thực trạng và giải pháp phát triển nghề công tác xã hội Bệnh việnLao và Bệnh phổi tỉnh Bến Tre" đã cho thấy thực trạng hoạt động CTXHtrong các bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
Nghiên cứu về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về công tác
xã hội trong bệnh viện và ứng dụng kết quả đó thì phải kể đến nghiên cứu củahai tác giả Nguyễn Thị Kim Ngọc và Phạm Ngọc Thanh với bài viết: "Dự áncuộc sống sau khi xuất viện - Một nghiên cứu về công tác xã hội bệnh viện".Đây là nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của trường Đại học Oxford ởBệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích hỗ trợ bệnhnhân/thân nhân nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương và nhân viên y tế quaviệc điều phối, tư vấn và sự kết nối với các dịch vụ y tế, các nhà nghiên cứu
để cải thiện các nghiên cứu y sinh và kết quả chăm sóc sức khỏe Kết quả dự
án “Cuộc sống sau khi xuất viện” cung cấp cho các nhà nghiên cứu, nhân viêncông tác xã hội cái nhìn thực tế về những khó khăn của bệnh nhân sau khixuất viện và trở về nhà Khó khăn đó có thể đến với bệnh nhân, người thân, từchăm sóc bệnh nhân lúc nhập viện, điều trị bệnh, sau khi xuất viện hay việctiếp cận các thông tin, dịch vụ cần thiết của bệnh nhân Từ những khó khăn
mà bệnh nhân phải đối diện trên thực tế, nhân viên công tác xã hội bệnh việnbiết được rõ mình sẽ lên kế hoạch hỗ trợ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, đểviệc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân được cải thiện tốt hơn và mang tính toàndiện Dự án này cũng cung cấp thông tin hoạt động cho đơn vị đào tạo có địnhhướng đào tạo công tác xã hội bệnh viện có thể bồi dưỡng, hướng dẫn, đào tạochuyên sâu cho các cử nhân công tác xã hội định hình công việc trong tươnglai [17]
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các bệnh viện ở tỉnh Bến Trecủa các tác giả Huỳnh Văn Chẩn và Nguyễn Thị Hồng với mục đích tìm hiểunhu cầu phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện Kết quả nghiên cứu
8
Trang 17cho thấy các bệnh viện đều có nhu cầu rất cao trong việc tuyển dụng nhân
Các nghiên cứu của Cao Liên Hương, Nguyễn Thị Thanh Tùng, PhạmThị Tâm, Tạ Thị Thanh Thủy, Phan Thành Phúc Phạm Thị Oanh, Đỗ Thị ThuPhương dành cho các nhóm bệnh nhân khác nhau trong bệnh viện (bệnh nhânnghiện chất, bệnh nhân là người cao tuổi bị Alzheimer, bệnh nhân nhiễm HIV)nhằm chỉ ra những đặc điểm tâm lý xã hội của các nhóm bệnh nhân và nhữngyêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà nhân viên xã hội cần phải có khi làm việc
Tập bài giảng “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần” củaCục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thuộcchương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề cho cán bộ tuyến cơ sở theo Đề án 32.Tập tài liệu nêu khá rõ những nội dung chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộngđồng và vai trò của công tác xã hội Những kết quả của tập bài giảng nàynhằm hỗ trợ viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội tuyến cơ sở(thôn, ấp, bản) hiểu sâu và hình dung cụ thể hướng thực hành những hoạtđộng trợ giúp bệnh nhân tâm thần trong trung tâm và cộng đồng; Trang bị vànâng cao nhận thức, kỹ năng, thái độ cho họ về công tác chăm sóc sức khỏe
Đối với công trình nghiên cứu của Lương Thị Đào với đề tài: Công tác
xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn tại bệnh viện Nhi Trung ương,kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù là một mô hình thí điểm đầu tiên về côngtác xã hội trong bệnh viện của Bộ Y tế tuy vẫn chưa thực sự phát huy đượchiệu quả tốt nhất và còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhưngPhòng Công tác xã hội của Bệnh viện Nhi Trung ương đã làm tốt vai trò của
Đỗ Hạnh Nga (2016), trong báo cáo đề dẫn “Hệ thống khung pháp lý
-cơ sở cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lýluận và thực tiễn thực hành đã trình bày hệ thống khung pháp lý với các vănbản được cấp quản lý ban hành để tạo tiền đề cho sự phát triển nghề công tác
xã hội trong y tế Trong đó, ba văn bản quan trọng nhất là Đề án phát triểnnghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2020 ( gọi là Đề án 32 ),
Đề án Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020
Trang 18và Thông tư số 43 của Bộ Y tế Đề án 32 là định hướng xây dựng nguồn nhânlực công tác xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở của Đề án 32, Đề án Phát triểnnghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020 đã ra đời vớinhững mục tiêu và hoạt động phát triển nghề công tác xã hội trong y tế Cùngvới đó là Thông tư số 03 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chứcthực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện Trên cơ sở của các vănbản pháp lý này, nghề công tác xã hội đã và đang được triển khai nhanh chóng
[1].[16]
Vũ Thị Thu Phương, (2016) với đề tài “Công tác xã hội trong bệnh viện
từ thực tiễn Trung tâm Hemophilia, Viện Huyết học Truyền máu Trung ương”
đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng về công tác xã hội trong bệnh viện, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả để thực hiện hoạt động công tác
xã hội trong bệnh viện nói chung và tại Trung tâm Hemophilia Đề tài đã tổng hợp những chính sách trợ giúp của Nhà nước, Bộ Y tế và các ban ngành liên quan trong công tác xã hội đối với các bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Hemophilia Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cộng đồng có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, tích cực trong công tác tuyên truyền, tổ chức giúp đỡ bệnh nhân
Dương Thị Thùy (2019), nghiên cứu “Hoạt động công tác xã hội trong
hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”
Đề tài đã đánh giá được hiệu quả của hoạt động công tác xã hội đối với ngườichấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức hiện nay cũngnhư vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ ngườichấn thương cột sống liệt tủy Đề tài luận văn cũng đề xuất hoạt động công tác
xã hội chuyên nghiệp hơn với vai trò nhân viên công tác xã hội nhằm giúpngười chấn thương cột sống liệt tủy vượt qua những khó khăn, mặc cảm Pháthuy được các nguồn lực từ đó giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống, hòa
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy được vai trò của hoạt động côngtác xã hội trong giải quyết các vấn nảy sinh, trợ giúp các đối tượng yếu thế,tăng cường và phục hồi các chức năng xã hội Đối với đối tượng là bệnh nhâncủa Bệnh viện Châm cứu Trung ương, đề tài luận văn sẽ phân tích, đánh giá,làm nổi bật thực trạng những hoạt động công tác xã hội hỗ trợ phục hồi chức
10
Trang 19năng đối với các bệnh nhân, từ đó các giải pháp tăng cường hoạt động côngtác xã hội theo hướng chuyên nghiệp hơn và gia tăng vai trò của nhân viêncông tác xã hội trong bệnh viện nhằm giúp người bệnh tại bệnh viện vượt quađược những khó khăn trong quá trình điều trị bệnh tại bệnh viện.
2.2 Hướng nghiên cứu hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân
2.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Laima và cộng sự (2003) giới thiệu một khái niệmmới về vai trò nhân viên xã hội trong nhóm phục hồi chức năng ở Lithuania
và trình bày cách tiếp cận phương pháp luận để điều tra về vấn đề này Mụctiêu của nghiên cứu này là thiết lập một phương pháp tiêu chuẩn hóa để đánhgiá vai trò của nhân viên xã hội, ý nghĩa của người khuyết tật trong môitrường phục hồi chức năng tại nhà và đánh giá các vai trò hữu ích nhất củanhân viên xã hội theo nhu cầu của người khuyết tật Phương pháp nghiên cứucủa nghiên cứu này được thiết kế dựa trên việc xem xét các tài liệu nướcngoài của Lithuaniana và các tài liệu khác Năm mươi người khuyết tật (25nam, 25 nữ), những người được nhận các dịch vụ phục hồi chức năng tại nhà,
đã được quan sát và thẩm vấn theo phương pháp này Kết quả của nghiên cứucho thấy rằng các vai trò quan trọng nhất của nhân viên xã hội trong việc phụchồi chức năng tại nhà là của một người môi giới, một người dẫn dắt và mộtgiáo viên Nghiên cứu phát hiện ra rằng cần có các nhân viên xã hội có trình
độ theo chương trình trong nhóm phục hồi chức năng để phát triển các kỹnăng bổ sung tương ứng với các vai trò của một giáo viên, một người banhành và một nhà môi giới, với việc áp dụng phương pháp này để phục hồi
Năm 1959, Shover và Oscar Kurren đã thực hiện nghiên cứu về công tác
xã hội trong phục hồi chức năng Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò và tầmquan trọng của nhân viên xã hội trong phục hồi chức năng liên quan đến việcmang lại sự đặc biệt năng lực và kỹ năng hướng tới (1) phát triển hiểu rõ hơn vềbệnh nhân, gia đình bệnh nhân và các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến sựthành công hoặc thất bại của việc phục hồi chức năng; (2) giải thích kiến thứcmới này một cách rõ ràng và hiệu quả cho các thành viên khác của nhóm bác sỹ,
y tá,… phục hồi chức năng để thống nhất giữa mục đích và hành động; và (3)đánh giá cộng đồng và tổng nguồn lực của cộng đồng và
Trang 20chọn dịch vụ thích hợp để đảm bảo và bảo vệ những lợi ích mà bệnh nhân đạt
Gần đây, Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Ottawa (Canada)
đã thực hiện nghiên cứu khẳng định mục đích của công tác xã hội trong phụchồi thể chất là nhân viên công tác xã hội tạo điều kiện cho quá trình phục hồichức năng để hỗ trợ bệnh nhân tối đa hóa tính độc lập và tự chủ trong các lĩnhvực hoạt động khác nhau của họ Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra nhữnghoạt động mà nhân viên công tác xã hội có thể thực hiện nhằm hỗ trợ bệnhnhân phục hồi chức năng là làm việc với bệnh nhân, với gia đình của họ, vớinhóm bác sỹ, y tá… phục hồi chức năng và với cộng đồng Thông qua đánhgiá và can thiệp trong các lĩnh vực hoạt động tâm lý - xã hội nhân viên côngtác xã hội giúp bệnh nhân và gia đình chuyển từ tình trạng không chắc chắn,
Nghiên cứu của Vilka và Pelse (2009) đã chỉ ra những thách thức và khókhăn của công tác xã hội trong phục hồi chức năng của các bệnh viện ở Latvia.Theo đó, tác giả chỉ ra khó khăn mà nhân viên công tác xã hội gặp phải trongviệc phục hồi chức năng của bệnh nhân chủ yếu là thiếu các dịch vụ xã hội thíchhợp Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu khó khăn trên [43]
Tài liệu “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Cẩm nang hướngdẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” của Tổ chức Y tế Thế giới đãđưa ra những hướng dẫn chung nhất về phục hồi chức năng đối với bệnh nhân
bị khuyết tật Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra những dịch vụ chăm sóc sứckhỏe trong cộng đồng, các chính sách y tế trong phục hồi chức năng của bệnh
2.2.2 Các nghiên cứu ở trong nước
với sự ra đời của các trường đào tạo chuyên về công tác xã hội đầu tiên tạimiền Bắc Một số tác giả đã biên soạn các giáo trình về Công tác xã hội vàCông tác xã hội trong bệnh viện nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứucủa nhiều tổ chức cá nhân trong lĩnh vực y tế
Phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Việt Nam đã có nhiều đề tài, tàiliệu nghiên cứu nhưng phần lớn mới tập trung ở vấn đề phục hồi chức năngmang tính chuyên sâu ở lĩnh vực, góc độ nào đó
12
Trang 21Bộ Tài liệu “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” là sản phẩmchương trình hợp tác “Tăng cường năng lực Phục hồi chức năng dựa vào cộngđồng” giữa Bộ Y tế Việt Nam và Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam Bộ tài liệu nàygồm các tài liệu hướng dẫn cách phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối vớibệnh nhân dành cho nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội Bộ tài liệu nàycung cấp thông tin, kiến thức cơ bản nhất về phương pháp phục hồi chức năngdựa vào cộng đồng trong việc phục hồi chức năng cho bệnh nhân [4].
Tạ Thị Thanh Thủy và cộng sự đã tìm hiểu các hoạt động công tác xãhội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi hiện nay nhằmnâng cao nhận thức của cộng đồng trong chăm sóc, giảm thiểu và phục hồichức năng cho người cao tuổi Nghiên cứu chỉ ra yêu cầu đối với người làmcông tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi
là phải nắm vững các tiến trình chăm sóc, từ dự phòng đến can thiệp, phục hồichức năng,… Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhân viên công tác xã hội phải lànhững người công tác xã hội chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản chuyên
Nghiên cứu của Trần Văn Lý và cộng sự năm 2012 về công tác xã hộiphục hồi chức năng cho trẻ bại não đã phân tích về khái niệm, đặc điểm, thựctrạng trẻ khuyết tật bại não ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, ngiên cứu cũng
Đề tài “Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động (Trường hợptại làng Hữu Nghị Việt Nam)” của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang phân tích
và chỉ ra thực trạng đời sống cũng như khó khăn trong việc tiếp cận các dịch
vụ công tác xã hội của trẻ em khuyết tật vận động với mục đích kết nối, điều
Tác giả Đặng Thị Ngọc Vân với đề tài “Hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” nghiên cứu thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc trẻ em khuyết tật vận động tại huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, trên cơ
sở đó đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng
Trang 22Như vậy, có thể thấy, hoạt động hỗ trợ phục hồi bệnh nhân của nhân viêncông tác xã hội chủ yếu được diễn ra trong môi trường bệnh viện Hoạt động hỗtrợ này ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của nhân viên công tác xã hội, đó làgiúp cho bệnh nhân mau chóng phục hồi không những chỉ về thể chất mà còn vềmặt tinh thần Bên cạnh đó, thông qua hoạt động công tác xã hội tại một số bệnhviện, nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo, có hoàn cảnh khó khăn đã được “ hồisinh” nhờ sự giúp đỡ kịp thời cả về tinh thần và vật chất từ cộng đồng Hoạtđộng công tác xã hội của một số bệnh viện đã tiếp thêm động lực cho nhiều bệnhnhân, giúp họ yên tâm điều trị bệnh Những cán bộ, nhân viên làm công tác xãhội thực hiện các công việc như: tiếp đón, hướng dẫn, giúp đỡ bệnh nhân từ khâulàm thủ tục khám, chữa bệnh, giúp bệnh nhân nặng đi lại, vệ sinh cá nhân, lắngnghe tâm tư của bệnh nhân cũng khiến bệnh nhân tăng thêm sự hài lòng, có thêmniềm tin về việc phục hồi sức khỏe của bản thân Hoạt động này đã giảm bớtgánh nặng đối với nhân viên y tế, giúp họ có thêm thời gian để tập trung vào cáchoạt động chuyên môn, nghiên cứu để nâng cao tay nghề, chăm sóc và điều trịbệnh nhân hiệu quả hơn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn hoạt động hỗ trợphục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, đềtài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động hỗ trợphục hồi chức năng cho bệnh nhân, đề tài đề xuất các giải pháp để tăng cườnghiệu quả của hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại các bệnhviện nói chung và tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về phục hồi chức năng và các hoạt động hỗ trợ phụchồi chức năng trong bệnh viện
Khảo sát thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng của bệnh nhân điều trịnội trú tại bệnh viện Châm cứu Trung ương
14
Trang 23Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ phục hồichức năng cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương.
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân điều trị nội trú tạiBệnh viện Châm cứu Trung ương
4.2 Khách thể nghiên cứu
Nhằm đánh giá một cách khách quan về hoạt động hỗ trợ bệnh nhânphục hồi chức năng tại bệnh viện, nghiên cứu tiến hành trên 2 nhóm đối tượng:
Nhóm thứ nhất là các bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Bệnh việnChâm cứu Trung ương Đối với nhóm đối tượng là những bệnh nhân nhi (trẻ
từ 0 đến 6 tuổi) hoặc những người bệnh mắc bệnh nặng không thể tham giaphỏng vấn, khảo sát, đề tài lựa chọn người nhà chăm sóc để phỏng vấn.Những người này luôn ở bên chăm sóc bệnh nhân nên sẽ hiểu rất rõ thực trạnghoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho các bệnh nhân tại Bệnh viện
Nhóm thứ hai là các cán bộ y tế đang điều trị, phục hồi chức năng chocác bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu hoạt độngcông tác xã hội trong việc hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Bệnhviện Châm cứu Trung ương
sát bằng phiếu là 120 người bệnh, người nhà của bệnh nhân (đối với nhữngbệnh nhân nhi dưới 6 tuổi hoặc những bệnh nhân bị bệnh nặng không thể trảlời câu hỏi) đang điều trị nội trú tại bệnh viện; phỏng vấn sâu 20 bệnh nhân,người nhà bệnh nhân và 20 cán bộ y tế tại bệnh viện Nghiên cứu trên bệnhnhân là một nhóm đối tượng rất khó tiếp cận bởi họ đang trong tình trạngbệnh tật, thời gian đau yếu và sử dụng các biện pháp phục hồi khác nhau, tâm
Trang 24lý của người có bệnh cũng có những khó khan trong tiếp xúc, còn các y bác sĩ
và nhân viên công tác xã hội thì luôn phải tiếp xúc với bệnh nhân Do đó đề tàitiến chọn mẫu theo cách chọn mẫu tiện lợi để thuận lợi cho việc lấy số liệu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe là vấn đề đa dạng và phức tạp liên quan đến nhiều
cá nhân, nhiều yếu tố, thành phần xã hội, liên quan đến điều kiện kinh tế - vănhóa xã hội khác nhau Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả đã vận dụng quanđiểm của Triết học Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho đề tài.Phương pháp duy vật biện chứng coi một sự vật, hiện tượng trong trạng tháiluôn phát triển và xem xét nó trong các mối quan hệ với các sự vật, hiện tượngkhác Nghiên cứu về tình hình chăm sóc sức khỏe bệnh nhân tại Bệnh việnChâm cứu Trung ương, cần đặt trong mối tương quan giữa các bệnh viện,trong mối quan hệ con người, điều kiện xã hội của bệnh nhân Cùng với đó cácyếu tố sức khỏe, tâm lý, điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa của bệnh
nhân được quan tâm nghiên cứu để đưa ra được những giải pháp, những môhình cụ thể, phù hợp với từng đặc trưng riêng của từng bệnh viện Chính vìthế, đề tài sử dụng các cách tiếp cận sau:
Tiếp cận chức năng: Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng ở bệnh nhân
cần dựa trên các chức năng cơ bản của bệnh viện và của hoạt động chăm sóccủa bộ phận công tác xã hội trong phạm vi bệnh viện Đó là: Hoạt động hỗ trợphục hồi, tổ chức hỗ trợ, vận dụng các giải pháp hỗ trợ trong hoạt động hỗ trợ.Chức năng của bệnh viện và mối tương quan giữa các thành tố Các chức năngnày cần phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình hỗ trợ bệnh nhân phụchồi trong suốt thời gian điều trị tại bệnh viện
Tiếp cận tích hợp: Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh
nhân là hoạt động tương tác, tìm kiếm và trợ giúp để bệnh nhân nâng cao khảnăng phục hồi, để hỗ trợ được bệnh nhân trong quá trình điều trị, nhân viên y
tế, nhân viên công tác xã hội cần tổng hợp các giải pháp, kiến thức, kỹ năng,
16
Trang 25nguồn lực, phương thức hỗ trợ thuộc tổ chức, đơn vị để giải quyết có hiệu quả
các vấn đề trong điều trị và trong cuộc sống
5.2 Quy trình nghiên cứu
Để nghiên cứu diễn ra thuận lợi, tác giả đã xây dựng quy trình nghiên cứu.Quy trình nghiên cứu của luận văn sẽ được tóm lược trong sơ đồ dưới đây:
Tổng hợp các lý thuyết
Xây dựng tổng quan lý thuyết hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trương ương
Đề xuất các giải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trương ương
Sơ đồ 1: Quy trình nghiên cứu luận văn
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Các tài liệu hiện có tại cơ sở nghiên cứu, chính sách, đề án phát triển
hoạt động phục hồi chức năng trong ngành Y tế, các tài liệu có liên quan đến
phục hồi chức năng trong bệnh viện Phân tích các báo cáo, tạp chí, các thông
tin đã thu thập từ các nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét,
đánh giá Sử dụng phương pháp này giúp tác giả xây dựng cơ sở lý luận cho
đề tài nghiên cứu, qua đó tác giả xác định được một số khái niệm chính của đề
tài như: Phục hồi chức năng, Phục hồi chức năng trong bệnh viện Những nội
Trang 26thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứuTrung ương thông qua các báo cáo tổng hợp của phòng ban trong Bệnh việnChâm cứu Trung ương.
17
Trang 275.3.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tiếp cận người bệnh là vấn đề khó bởi họ đang trong tình trạng bệnh tật,đau yếu, tâm lý của người có bệnh và người nhà cũng không được thoải mái, engại, các y bác sĩ và nhân viên công tác xã hội thì luôn phải tiếp xúc với bệnhnhân Do đó, để thuận lợi cho việc lấy số liệu để tài chọn mẫu theo cách chọnmẫu thuận tiện, đề tài tiến hành khảo sát 120 bệnh nhân, người nhà bệnh nhânnhằm thu thập các thông tin, số liệu về hoàn cảnh gia đình; tình trạng bệnh củabệnh nhân thông qua người nhà bệnh nhân và bác sĩ, cán bộ y tế, những vấn đềkhó khăn mà người bệnh đang gặp phải
5.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 40 người trong đó gồm 20 bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân; 20 bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên công tác xã hội tạibệnh viện nhằm làm rõ và cụ thể hơn những khó khăn về tình trạng bệnh, điềukiện kinh tế, các yếu tố tâm lý và nhu cầu, mong muốn của bệnh nhân trongquá trình điều trị tại bệnh viện Đồng thời, qua việc phỏng vấn sâu, tác giả cóminh chứng để hiểu sâu sắc hơn thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chứcnăng đối với bệnh nhân và lý giải nguyên nhân của những thực trạng ấy
5.3.4 Phương pháp quan sát
Tác giả luận văn đã trực tiếp đến các khoa, phòng trong bệnh viện quansát về tình trạng bệnh tật, quá trình chăm sóc và điều trị bệnh hàng ngày củabệnh nhân Đồng thời trực tiếp tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phục hồichức năng đối bệnh nhân, cụ thể là các hoạt động của phòng Công tác xã hộinhư các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin cho bệnh nhân và ngườinhà bệnh nhân về các dịch vụ khám chữa bênh khi đến bệnh viện; hỗ trợ bệnhnhân về các thủ tục hành chính để khám, chữa bệnh; tham gia các hoạt độngvăn nghệ, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho bệnh nhân; phối hợp cáchoạt động phát cơm, cháo miễn phí với các câu lạc bộ thiện nguyện; vận độngnguồn lực, kết nối các tổ chức thiện nguyện với các bệnh nhân có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn…với mục đích nắm được các hoạt động hỗ trợ và các dịch
vụ chăm sóc y tế, phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại bệnh viện
Trang 286 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6 1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn tổng quan tài liệu và xây dựng được khung lý thuyết nghiêncứu về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân điều trị tại bệnhviện Trong đó làm sáng tỏ khái niệm, phạm trù lý thuyết, phương pháp hỗ trợbệnh nhân phục hồi chức năng trong bệnh viện cũng như việc ứng dụng lýthuyết, phương pháp công tác xã hội vào đánh giá hoạt động công tác xã hộitrong bệnh viện Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ phục hồi chứcnăng cho bệnh nhân Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần cụ thể hóa nhữnghoạt động phục hồi chức năng, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một sốgiải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồichức năng đối cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ phục hồichức năng của bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trungương
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cung cấp cơ sở khoa học về các giảipháp hỗ trợ phục hồi chức năng giúp các nhà quản lý và cộng đồng có cáinhìn toàn diện, sâu sắc, tích cực trong công tác tuyên truyền, tổ chức giúp đỡbệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện Châm cứu Trung ương về vật chất, tinhthần và tâm lý nói riêng và các bệnh viện có chức năng phục hồi chức năngnói chung Bên cạnh đó giúp người dân và các ngành khác hiểu biết thêm vềcác hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại bệnh viện Châm cứu Trung ương
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương
19
Trang 29Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN
1.1 Bệnh nhân và đặc điểm của bệnh nhân
1.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm bệnh nhân
Theo Luật Khám, chữa bệnh Việt Nam (2009), người bệnh ( ở một số
[21] Trong phạm vi đề tài chúng tôi dung cả hai khái niệm bệnh nhân vàngười bệnh
Bệnh nhân là những người gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất hoặctinh thần và cần được điều trị bởi bác sỹ, y tá, nhà tâm lý học, nha sỹ hoặc nhàcung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác
Khái niệm bệnh nhân nội trú
Khoản 1 Điều 58 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã chỉ rõ cáctrường hợp phải điều trị nội trú như sau:
bệnh, chữa bệnh
- Có giấy chuyển đến cơ quan, cơ sở khám bệnh từ cơ sở khám chữa bệnh
khác
Trong đó, các trường hợp phải chuyển cơ sở khám chữa bệnh được liệt
kê tại khoản 5 Điều này bao gồm:
bệnh, chữa bệnh;
định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Nếu bệnh nhân thuộc một trong các trường hợp điều trị nội trú, cơ sởKCB phải có trách nhiệm nhận bệnh nhân vào cơ sở mình và hướng dẫn họđến khoa sẽ điều trị nội trú
Như vậy, có thể hiểu, bệnh nhân điều trị nội trú là bệnh nhân phải tiếnhành nhập viện để thực hiện điều trị khi có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩhoặc có giấy chuyển tuyến từ cơ sở KCB khác
Khái niệm châm cứu và bệnh nhân châm cứu
Trang 30Châm cứu là một cách chữa bệnh có từ lâu đời, thường được thực hiệnbởi các thầy thuốc Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Châu Á, sử dụngnhững cây kim rất nhỏ để châm vào những huyệt đạo trên cơ thể Châm cứuthường được dùng để giảm đau nhưng cũng có thể dùng để chữa bệnh Châmcứu về bản chất là hiện tượng giải phóng các nguồn năng lượng của cơ thểbằng cách kích thích vào các huyệt đạo nằm trên 14 đường kinh mạch của cơthể Các nhà khoa học cho rằng, các đầu kim làm cơ thể giải phóng hooc-mônendorphin - một loại hooc-môn được coi như thuốc giảm đau tự nhiên và cóthể làm tăng lưu lượng máu, thay đổi hoạt động của não bộ, do vậy thường cótác dụng giảm đau.
Các cây kim dùng để châm cứu thường rất mảnh nên mọi người thườngkhông cảm thấy đau hoặc đau rất ít Họ thường cảm thấy tràn đầy năng lượng
và thoải mái sau khi được châm cứu Bởi vì châm cứu thường ít có tác dụngkhông mong muốn nên được coi là phương pháp tiềm năng để thay thế chothuốc giảm đau hoặc điều trị steroid Châm cứu cũng được coi như một giảipháp hỗ trợ cho những điều trị khác
Bệnh nhân châm cứu là những bệnh nhân sử dụng các dịch vụ chăm sóc
tác
động của bệnh tới cơ thể tại bệnh viện Châm cứu Trung ương
1.1.2 Phân loại bệnh nhân châm cứu
Dựa trên cơ sở các nhóm bệnh mà luận văn chia bệnh nhân châm cứu thành những nhóm bệnh sau:
Nhóm thần kinh: Là những bệnh nhân mắc các chứng bệnh về thần
stress; bại liệt; đột quỵ, liệt dây thần kinh số VII ngoại biên (liệt mặt); đauthần kinh liên sườn; hỗ trợ cai nghiện rượu, bia, ma túy và các chất hướngthần; mất ngủ; rối loạn lo âu; trầm cảm, rối loạn vận động (nói khó, nói lắp,chậm nói,…); rối loạn nuốt; rối loạn cơ tròn (đại tiểu tiện khó hoặc không tựchủ); điều trị tự kỷ ở trẻ em; chậm nói ở trẻ em, bại não trẻ em, di chứng viêmnão;…
Nhóm cơ xương khớp: Là các bệnh nhân mắc các chứng bệnh về xương,
khớp như: đau vai gáy; viêm quanh khớp vai; tê mỏi tay, chân; đau lưng; đau dothoái hóa cột sống; đau do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ - cột song thắt lưng…
21
Trang 31Nhóm vận động: Là các bệnh nhân mắc các chứng bệnh như: liệt nửa
người; liệt tứ chi; chấn thương cột sống; …
Trang 321.1.3 Ảnh hưởng nhóm bệnh đến đời sống của bệnh
nhân Nhóm các bệnh về thần kinh
Đau đầu, mất ngủ: Trước đây, mất ngủ ở những người cao tuổi hay do
một số bệnh lý gây ra Nhưng ngày nay, dưới tác động của nhịp sống côngnghiệp, lối sống hiện đại, đau đầu và mất ngủ đã trở thành căn bệnh chung củarất nhiều người và thường song hành cùng nhau Khi mất ngủ kéo dài, nãotăng tiêu thụ oxy và năng lượng, càng thúc đẩy cơ thể sản sinh vô số gốc tự
do Y học hiện đại đã chứng minh, gốc tự do chính là “thủ phạm” gây ra nhiềuchứng bệnh nguy hiểm ảnh hưởng trên toàn bộ cơ thể như thoái hóa thần kinh,thoái hóa võng mạc, đục thủy tinh thể, suy giảm hệ miễn dịch, tiểu đường, caohuyết áp, các bệnh lý tim mạch, đột quỵ…
Hội chứng tiền đình: là tình trạng quá trình truyền dẫn và tiếp nhận thông tin của tiền đình bị rối loạn hoặc tắc nghẽn do dây thần kinh số 8 hoặc động mạch
nuôi dưỡng não bị tổn thương hay các tổn thương khác ở khu vực tai trong vànão Điều này khiến cho tiền đình mất khả năng giữ thăng bằng, cơ thể loạngchoạng, hoa mắt, chóng mặt, quay cuồng, ù tai, buồn nôn Những triệu chứngnày lặp đi lặp lại nhiều lần, xuất hiện đột ngột khiến bệnh nhân rất khó chịu, ảnhhưởng lớn tới cuộc sống và khả năng lao động của bệnh nhân
Thiểu năng tuần hoàn máu não: Là tình trạng giảm tuần hoàn máu lên
não, dẫn đến giảm cung cấp oxy và dưỡng chất, ảnh hưởng tới cầu trúc vàchức năng của một phần hoặc nhiều phần trên não Thiếu máu não tác độngtrực tiếp đến hệ thần kinh trung ương gây các triệu chứng khó chịu đau đầu,chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng tư duy, giảm trí nhớ và gây racác biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu não
Trẻ bại liệt: là một bệnh nhiễm virus cấp tính lây truyền theo đường
tiêu hóa do virus Polio gây nên, thường từ phân – miệng, có thể lây lan thànhdịch Bệnh được nhận biết qua biểu hiện của hội chứng liệt mềm cấp Từ sốt,buồn nôn, táo bón,… bệnh có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, mất nước, viêmphổi, teo cơ, tê liệt, cơ thể trở nên mệt mỏi và kiệt sức, khó thở,… liệt cơ hôhấp dẫn đến tử vong
Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên: là tình trạng bệnh nhân bị mất vận
động một phần hoặc hoàn toàn các cơ của cơ của nửa mặt Liệt dây thần kinh
số VII gây cho bệnh nhân bị mất vị giác, khó nói chuyện bình thường hoặc
23
Trang 33khó ăn uống, nhân trung bị lệch sang bên bị liệt, mắt nhắm không kín hay mởlớn ngay cả khi ngủ,…
Đau thần kinh liên sườn: xuất phát từ đoạn tủy ngực (lưng), đốt sống
D1 – D2 Sau tách khỏi rễ chung, dây thần kinh liên sườn cùng với mạch máutạo thành bó mạch (động mạch và tĩnh mạch) nằm ngay bờ dưới của mỗixương sườn Đau thần kinh liên sườn chia làm 3 loại: đau thần kinh liên sườnnguyên phát, đau thần kinh liên sườn tiên phát và đau thần kinh liên sườn thứphát Đau dây thần kinh liên sườn gây nên những biến chứng nguy hiểm, ảnhhưởng tới sinh hoạt và năng suất công việc như: Các cơn đau dai dẳng, tái đitái lại nhiều lần, đau rát, khó chịu, mất ngủ, suy giảm tinh thần, trí tuệ, trầmcảm, giảm sức đề kháng
Đau thần kinh tọa: là đau dây thần kinh hông to Đây là một trong số
các bệnh có liên quan đến hệ thống thần kinh Bệnh được biểu hiện với nhữngcơn đau nhức âm ỉ tại khu vực thắt lưng Dần dần, các cơn đau lan rộng xuốngcác chi dưới và gây cản trở tới quá trình đi lại và vận động của con người Khi
bị đau dây thần kinh tọa, bệnh nhân sẽ rất khó khăn trong việc đi lại Ngoài ra,các chi dưới còn mất đi cảm giác và rất dễ bị tê liệt
Tính tự kỷ ở trẻ em: Tự kỷ là tên gọi một hội chứng khi trẻ bị khiếm
khuyết trong giao tiếp, trong tương tác với mọi người, khó khăn trong việckiểm soát ngôn ngữ, hành vi, cảm xúc, dẫn đến giảm khả năng hòa nhập vào
xã hội Tự kỷ khiến trẻ rất khó hoặc không thể hòa nhập được vào xã hội vàcộng đồng xung quanh mình, giảm khả năng giao tiếp, rất ngại khi phải tiếpxúc với người khác, trẻ trở nên thụ động, thu mình lại, dễ trở thành gánh nặngcho gia đình và xã hội
Bại não: Bại não là thuật ngữ chỉ một nhóm tình trạng bệnh lý gây nên
bởi tình trạng tổn thương não bộ không tiến triển theo thời gian, gây nên bởicác nguyên nhân trước sinh, trong và sau sinh cho đến dưới 5 tuổi Bại nãogây ra tình trạng đa khuyết tật về vận động, tinh thần, giác quan và hành vi
để lại hậu quả nặng nề cho chính bản thân trẻ, gia đình mà còn ảnh hưởng tới
sự phát triển kinh tế, xã hội
Nhóm các bệnh cơ xương khớp
Đau vai gáy: là hội chứng rối loạn cơ xương ở vùng cổ - vai - gáy gây
nên các cơn cơ cứng, đau ở vùng cổ vai gáy khiến bệnh nhân hạn chế trongvận động xoay cổ hay quay đầu Những cơn đau vai gáy kéo theo các vấn đề
Trang 34khác như ù tai, chóng mặt, tê các dây thần kinh qua cổ gáy… gây ảnh hưởngđến cuộc sống, làm việc hằng ngày.
Viêm quanh khớp vai: là thuật ngữ dùng chung cho bệnh lý của các cấu
trúc phần mềm cạnh khớp vai: gân, túi thanh dịch, bao khớp; không bao gồmcác bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp và mạng hoạt dịch như viêmkhớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp… Tổn thương hay gặp nhất là gân
cơ trên gai và bó dài gân nhị đầu cánh tay Viêm khớp quanh vai nếu khôngđược chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng đau dai dẳng, hạnchế vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân Theo thời gian,viêm quanh khớp vai có thể gây tàn phế hoặc liệt bàn tay rất nguy hiểm
Tê mỏi tay, chân: là triệu chứng rất hay gặp và thường xuất hiện vào
thời điểm cuối ngày , ban đêm hay buổi sáng sau khi thức đậy Chân tay têmỏi khiến cho người mắc bệnh luôn cảm thấy rất mệt mỏi, khó chịu, gây hạnchế vận động
Đau lưng: Người bị đau lưng thường gặp khó khăn trong hầu hết các
chuyển động, bị giới hạn thực hiện những công việc tay chân Những cơn đauthắt lưng vào ban đêm thường gây khó ngủ, về lâu dài sẽ dẫn đến mất tậptrung, trí nhớ kém Ngoài ra, theo một số nghiên cứu cho thấy, những người bịđau lưng mạn tính thường có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn gấp 4 lần
so với người bình thường Họ thường cảm thấy chán nản, vô vọng, mất ngủhoặc ngủ quá nhiều, cân nặng không ổn định, mất niềm vui hứng thú trongcuộc sống
Đau do thoái hóa cột sống: Thoái hóa đốt sống là tình trạng viêm nhiễm
tại đốt sống, đặc trưng với sự biến đổi hình thái của đĩa đệm, thân đốt và mỏn gaisau Lúc này vùng xương cột sống mất dần cấu trúc và chức năng bình thường,gây ra đau nhức cho bệnh nhân Bệnh thoái hóa cột sống thường xảy ra
quan trọng Thoái hóa đốt sống không ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạngbệnh nhân nhưng lại tác động xấu đến chất lượng cuộc sống của họ, gây biếnchứng nguy hiểm như: Rối loạn cảm giác tứ chi, gây đau tim đột ngột, rốiloạn tiền đình, rối loạn thần kinh thực vật khu cổ, bại liệt một hay hai tay.Trong trường hợp bị thoái hóa cột sống nặng hơn bệnh nhân có thể đại tiểu
cơ, bại liệt, mất khả năng vận động tự chủ
25
Trang 35Thoát vị đĩa đệm:là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi
vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinhsống và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.Thoát vị đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốtsống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm mất nước,thoát vị đĩa đệm đa tầng, sau bên Thoát vị đĩa đệm là một dạng bệnh lý cộtsống có thể gây ra nhiều biến chứng khôn lường nếu không điều trị kịp thời.Nhẹ thì tê bì tay chân, đau nhức, ê buốt tay chân, ảnh hưởng tới sinh hoạt vàlàm việc nặng hơn có thể dẫn đến teo cơ, tê liệt tay chân, bại liệt và tàn phếvĩnh viễn
Nhóm các bệnh vận động
Liệt nửa người: là tình trạng suy yếu ảnh hưởng đến một bên cơ thể.
Tình trạng này có thể là liệt nửa người bên phải hoặc liệt nửa người bên trái,phụ thuộc vào bên bị ảnh hưởng Nhìn chung, vùng não tổn thương khi độtquỵ sẽ quyết định phần nào của cơ thể bị liệt Tổn thương não trái sẽ gây raliệt nửa người phải và ngược lại Người mắc tình trạng này vẫn có thể cử độngđược bên liệt nhưng sẽ yếu hơn hoặc không thể cử động trong một số trườnghợp Liệt nửa người gây mất cân bằng, khó nói, khó đi, khó nuốt, mất cảmgiác ở một nửa cơ thể, yếu cơ, khó vận động,… gây ảnh hưởng rất lớn đếncuộc sống
Liệt tứ chi: là bệnh do tổn thương tủy sống gây ra Khi tủy sống bị tổn
thương, sẽ mất khả năng cảm giác và vận động Liệt tứ chi bao gồm liệt cánhtay, bàn tay, thân, chân và các cơ quan vùng chậu Liệt tứ chi gây mất kiểmsoát các hoạt động của ruột và bàng quang; khó tiêu; khó thở; tê và giảm cảmgiác; yếu cơ, đặc biệt là ở cánh tay và chân; không có khả năng cử động vàcảm giác ở khu vực bị tổn thương,… ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt vàvận động
Chấn thương cột sống: Chấn thương cột sống là kết quả của chấn
thương trực tiếp vào dây thần kinh hoặc một thiệt hại gián tiếp đến xương, mômềm và các mạch máu quanh tủy sống.Hậu quả của chấn thương tủy sống làmất chức năng, chẳng hạn như di chuyển hoặc cảm xúc Chấn thương cộtsống là một loại chấn thương vật lý cực kì nghiêm trọng có thể có tác độnglâu dài trên hầu hết các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày
Trang 371.1.4 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của bệnh nhân châm cứu
* Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân
Khi bị bệnh, tâm lý bệnh nhân cũng bị thay đổi Điều dễ dàng nhận thấyrằng một khi bị bệnh thì bản thân bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân.Tuy nhiên sự ảnh hưởng này được diễn ra trên các cấp độ khác nhau
Ở cấp độ cơ thể: Một khi có bộ phận hay cơ quan nào đó bị bệnh thì hoạt
động chung của hệ thống đó cũng bị thay đổi Đến lượt mình, hệ thần kinh cũngphải có sự điều chỉnh trong hoạt động của nó do ảnh hưởng của hệ thống bịbệnh Sự điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh chính là cơ sở dẫn đến sự thayđổi tâm lý của bệnh nhân Ví dụ: trong trạng thái mệt mỏi, hệ thần kinh trở nênnhạy cảm hơn đối với các kích thích từ bên ngoài Tiếng người nói bình thườngnhư mọi khi đã làm cho bệnh nhân cảm thấy to hơn, khó chịu hơn
Ở cấp độ tâm lý: Khi bị bệnh, tâm lý của bệnh nhân có các thay đổi
nhất định Trạng thái tâm lý thường gặp nhất là trạng thái lo âu Tùy theo mức
độ của bệnh và đặc biệt là các đặc điểm nhân cách của cá nhân, phản ứng lo
âu của bệnh nhân biểu hiện rất khác nhau, từ thờ ơ coi thường bệnh tật chođến phản ứng thái quá Có những trường hợp thậm chí còn rơi vào trạng tháibệnh lý mặc dù có thể bệnh cơ thể không nặng Bên cạnh đó, các hiện tượngtâm lý của con người lại có liên quan mật thiết với nhau Trong trạng thái lo
âu hoặc cảm xúc không ổn định, khả năng tư duy, trí nhớ và trí tuệ nói chungcũng đều bị ảnh hưởng
Ở cấp độ xã hội: Mỗi bệnh nhân không chỉ đơn thuần là một cơ thể bị
bệnh Trên bình diện xã hội, họ là chủ thể của các mối quan hệ và các hoạtđộng cá nhân, xã hội Họ là thành viên của gia đình (với một số cương vị nhấtđịnh như cương vị người chồng và người cha), là thành viên của một nhóm xãhội nào đó (trong cơ sở lao động hoặc trong các tổ chức chính quyền, đoànthể ) Một khi bị bệnh, các cương vị của họ ít nhiều cũng bị chi phối, bị ảnhhưởng Thêm vào đó còn có thể là các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế: tăng chiphí cho các hoạt động khám, chữa bệnh, giảm thu nhập do nghỉ việc Tất cảnhững điều đó đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý bệnh nhân
Tâm lý bệnh nhân ảnh hưởng trở lại bệnh tật đến mức nào là tùy thuộcvào đời sống tâm lý vốn có của bệnh nhân Mỗi bệnh nhân có những thái độkhác nhau đối với bệnh tật Có người cho bệnh tật là điều bất hạnh không thểtránh được, đành cam chịu, mặc cho bệnh tật hoành hành Có người kiên
Trang 38quyết đấu tranh, khắc phục bệnh tật Có người không sợ bệnh tật, không quantâm tới bệnh tật Có người sợ hãi, lo lắng vì bệnh tật Đôi khi chúng ta gặpnhững người thích thú với bệnh tật, dùng bệnh tật để tô vẽ cho thế giới quancủa mình Bên cạnh những người giả vờ mắc bệnh, lại có người giả vờ nhưkhông bị bệnh tật Thái độ đối với bệnh tật nói riêng và đời sống tâm lý củabệnh nhân nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động sinh lực bảnthân trong phòng và chữa bệnh cũng như trong khắc phục hậu quả bệnh tậtcủa bệnh nhân.
Những diễn biến bệnh tật và biến đổi tâm lý của bệnh nhân tác động lẫnnhau theo vòng tròn khép kín: bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân vàngược lại, tâm lý cũng ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của bệnh
Phản ứng của bệnh nhân điều trị nội trú
Với người trưởng thành, hầu như ai cũng đã có một vài lần nằm viện.Đối với một số người, việc nằm viên diễn ra thường xuyên Tuy nhiên phầnlớn ít khi phải nằm viện Đối với họ, lần nhập viện đầu tiên chính là sự báohiệu cho những thay đổi lớn
Có rất nhiều thay đổi về mặt xã hội đối với mỗi cá nhân khi phải nhậpviện Trước hết họ “có” thêm một vai trò mới, vai trò hầu như không mấy aimong muốn: bệnh nhân Nằm viện kéo theo một loạt các hậu quả: tự do bịhạn chế, không còn được ăn, uống, đọc sách, thức đêm tùy ý Mặc dù biết làcần thiết song nhiều người vẫn cảm thấy ngần ngại khi phải cởi bỏ quần áongoài của mình để mặc bộ quần áo bệnh nhân Nhiều người, đặc biệt là phụ
nữ, cảm thấy không dễ chịu chút nào khi có tay người lạ đặt lên cơ thể mình.Mặt khác việc thích nghi với chế độ, các qui định trong bệnh viện với nhiềungười không thể diễn ra một cách nhanh chóng
Các dạng phản ứng của bệnh nhân với bệnh
Khi bị bệnh, đặc biệt là khi phải vào điều trị nội trú, cá nhân đều có cácphản ứng đối với bệnh cũng như đối với quá trình điều trị Có thể phân chia ra
4 dạng phản ứng chính: 1/ Trầm cảm - lo âu; 2/ Ám ảnh – nghi bệnh; 3/ Phảnứng phân li; 4/ Phản ứng phủ định bệnh
* Nhu cầu của bệnh nhân châm cứu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát
29
Trang 39triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh
lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau
Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Tuy nhiên, theo Maslow,
về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơbản và nhu cẩu bậc cao Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý củacon người như mong muốn đầy đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi,…Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu conngười không được đáp đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên
họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hằng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như đòi hỏi sự côngbằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,
Theo Maslow, nhu cầu con người chia thành năm bậc từ thấp đến cao:
Nhu cầu cơ bản/sinh lý: còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu
sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí
để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, đầy là những nhucầu cơ bản nhất và mạnh nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ caohơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc,giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản chưa đạt được
Nhu cầu an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản,
các nhu cầu an toàn sẽ bắt đầu được kích hoạt, thể hiện trong cả thể chất lẫntinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình tránhkhỏi các nguy hiểm đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ, bệnhtật,…Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khócđòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về
Nhu cầu về xã hội: Còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một
bộ phận, một nhóm hoặc nhu cầu thuộc về tình cảm, tình thương Nhu cầu nàythể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lậpgia đình., tham gia cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnc, tham gia cáccâu lạc bộ, làm việc nhóm, Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu phíatrên, nhưng ông nhấn mạnh nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng,
nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh
Nhu cầu về được tôn trọng/ tự trọng: thể hiện ở hai cấp độ: Nhu cầu
được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và
Trang 40nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tựtrọng, sự tự tin vào khả năng bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này
có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thànhcảm thấy tự do hơn Chúng ta thường thấy trong công việc cũng như cuộcsống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động củamình, họ làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này xếp sau nhu cầu
xã hội phía trên
Nhu cầu được thể hiện mình: là nhu cầu của một cá nhân mong muốn
được là chính mình , được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói mộtcách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năngcủa mình để tự khẳng định mình, để làm việc , đạt thành quả trong xã hội
Các bệnh nhân khi điều trị phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứuTrung ương cũng cần được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như ăn uống, ngủnghỉ, vui chơi giải trí; nhu cầu an toàn: được điều trị, phục hồi chức năng,được chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe, ; nhu cầu xã hội: giao lưu, kết bạn vớinhững người xung quanh…
1.2 Hoạt động phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu
1.2.1 Khái niệm và mục đích phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu
1.2.1.1 Khái niệm phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phục hồi chức năng là một quátrình nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và duy trì những cảmgiác, tình trạng thân thể, trí tuệ tâm lý và các chức năng xã hội của họ mộtcách tối ưu Phục hồi chức năng cung cấp cho người khuyết tật công cụ cầnthiết để đạt được sự độc lập và tự quyết
Phục hồi chức năng cũng được hiểu là dùng các biện pháp y học, xãhội, hướng nghiệp, giáo dục nhằm hạn chế ảnh hưởng của khuyết tật, giảmchức năng do khuyết tật tạo điều kiện cho bệnh nhân, người khuyết tật phụchồi tối đa về thể chất, tâm lý và xã hội, qua đó hội nhập, tái hội nhập xã hội,
có cơ hội bình đẳng tham gia vào các hoạt động trong cộng đồng” Hay nóicách khác, là “Sự khôi phục đầy đủ nhất những cái bị mất đi do bệnh tật, tổnhại hoặc khuyết tật bẩm sinh” Sự phục hồi của cá nhân liên quan rất nhiềuđến sinh thái môi trường và các mối quan hệ trong xã hội
31