1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận án tiến sĩ chính sách của trung quốc đối với biển đông từ sau đại hội 18 đảng cộng sản trung quốc những vấn đề đặt ra đối với việt nam

201 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 274,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Cơ sở lý luận (27)
    • 1.1.1. Nền tảng lý thuyết về quan hệ quốc tế của thế giới và các tư tưởng của Trung Quốc (27)
      • 1.1.1.1. Chủ nghĩa hiện thực (27)
      • 1.1.1.2. Chủ nghĩa tự do (30)
      • 1.1.1.3. Chủ nghĩa kiến tạo (31)
      • 1.1.1.4. Tư tưởng kinh điển và văn hóa chiến lược của Trung Quốc (32)
    • 1.1.2. Cách tiếp cận và khung phân tích chính sách (36)
  • 1.2. Cơ sở thực tiễn (39)
    • 1.2.1. Những nhân tố bên trong (39)
      • 1.2.1.1. Sự mở rộng phạm vi lợi ích cùng đà gia tăng sức mạnh tổng thể (39)
      • 1.2.1.2. Thể diện và uy thế nước lớn (43)
      • 1.2.1.3. Sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc (44)
      • 1.2.1.4. Các chủ thể tác động đến chính sách của Trung Quốc về vấn đề Biển Đôngsau Đại hội 18 (46)
    • 1.2.2. Những nhân tố bên ngoài (53)
      • 1.2.2.1. Mỹ và các cường quốc khác ở khu vực (53)
      • 1.2.2.2. Phản ứng của các bên tranh chấp liên quan (60)
      • 1.2.2.3. Phản ứng của cộng đồng quốc tế (62)
  • CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC (27)
    • 2.1. Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông giai đoạn trước Đại hội 18 (65)
      • 2.1.2.2. Mục tiêu và yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông (73)
      • 2.1.2.3. Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông 63 2.2. Những điều chỉnh quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 đến nay (75)
      • 2.2.1. Những điều chỉnh ở tầm chiến lược (79)
      • 2.2.2. Những điều chỉnh ở tầm chiến thuật (83)
        • 2.2.2.1. Về phương châm triển khai (83)
        • 2.2.2.2. Về chính trị - ngoại giao (85)
        • 2.2.2.3. Về hành động trên thực địa (87)
        • 2.2.2.4. Về pháp lý, thông tin tuyên truyền và tâm lý chiến (91)
      • 2.2.3. Nguyên nhân điều chỉnh chính sách (95)
    • 2.3. Kết quả triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ (98)
      • 2.3.1. Những thuận lợi đạt được (98)
        • 2.3.1.1. Trên thực địa (98)
        • 2.3.1.2. Vềthúc đẩy hợp tác với các bên tranh chấp (100)
        • 2.3.1.3. Về chính trị - ngoại giao (101)
      • 2.3.2. Những tồn tại, hạn chế (103)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM (65)
    • 3.1. Dự báo chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông đến năm 2030 (115)
      • 3.1.1. Những nội hàm chính sách dự kiến tiếp tục được kế thừa (116)
      • 3.1.2. Khả năng tiếp tục điều chỉnh chính sách (119)
    • 3.3. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (128)
      • 3.3.1. Tác động không thuận (128)
      • 3.3.2. Tác động thuận (133)
      • 3.3.3. Những lựa chọn chính sách khó khăn của Việt Nam (136)
    • 3.4. Một số gợi ý chính sách (145)
      • 3.4.1. Gợi ý cách tiếp cận mới đối với vấn đề Biển Đông (146)
      • 3.4.2. Gợi ý về phương châm và cách thức triển khai chính sách (149)
      • 3.4.3. Một số biện pháp cụ thể (152)
        • 3.4.3.1. Về chính trị - ngoại giao (152)
        • 3.4.3.2. Về pháp lý (153)
        • 3.4.3.3. Hoạt động hợp tác trên thực địa (154)
        • 3.4.3.4. Về quân sự (155)
        • 3.4.3.5. Về thông tin, truyền thông đối nội và đối ngoại (155)
  • KẾT LUẬN (158)
  • PHỤ LỤC (193)

Nội dung

Về những nhân tố tác động lên chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18, giới học giả có một số cách luận giải khác nhau nhưng nhìn chung tập trung vào hai hướng là c

Cơ sở lý luận

Nền tảng lý thuyết về quan hệ quốc tế của thế giới và các tư tưởng của Trung Quốc

Có nhiều lý thuyết quan hệ quốc tế có thể được vận dụng để lý giải hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông Nhìn chung, có ba trường phái lý thuyết thường được các học giả quốc tế vận dụng là chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo Trong cả ba trường phái này, không trường phái nào đủ khả năng lý giải một cách hoàn toàn lô-gic, thuyết phục hành vi của Trung Quốc, nhưng có thể nói chủ nghĩa hiện thực là trường phái được sử dụng nhiều nhất và cũng cung cấp nhiều luận cứ quan trọng nhất Bên cạnh các lý thuyết phổ biến đó, với đặc thù lịch sử của Trung Quốc, một số tư tưởng kinh điển của Trung Quốc cũng có thể được sử dụng như một công cụ bổ sung cho khung phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông.

Trong các lý thuyết quan hệ quốc tế, chủ nghĩa hiện thực, nhất là thuyết hiện thực tấn công (offensive realism) được sử dụng nhiều nhất để lý giải cho hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông những năm vừa qua Các lý thuyết này cho rằng do tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế, một cường quốc trỗi dậy sẽ tìm cách bành trướng lãnh thổ và mở rộng ảnh hưởng, và chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng không nằm ngoài quy luật đó Đúng như Robert Gilpin đã phân tích, “khi quyền lực tương đối tăng lên, một quốc gia đang trỗi dậy sẽ cố gắng thay đổi các luật lệ của hệ thống hiện hành”[89; tr 201] Thật vậy, lịch sử cho thấy các cường quốc trỗi dậy như Anh, Mỹ, Liên Xô trước đây hay Trung Quốc ngày nay đều hành xử theo đúng quy luật đó.

Nhìn từ góc độ chủ nghĩa hiện thực, khía cạnh xung đột, tranh giành quyền lực và trò chơi “kẻ được người mất” (zero-sum game) là những thành tố quan trọng nhất để phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông Cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông liên quan mật thiết với cuộc tranh giành ngôi bá chủ khu vực và bá chủ thế giới giữa Trung Quốc và Mỹ trong thế kỷ XXI Graham Allison, một học giả hiện thực chủ nghĩa cho rằng Trung Quốc và

Mỹ sẽ không tránh khỏi xung đột, bởi thực tiễn khoảng 12 trong 16 lần chuyển giao quyền lực giữa cường quốc trỗi dậy và cường quốc tại vị trên thế giới trong

500 năm qua đã kết thúc bằng chiến tranh, xung đột, chỉ có 4 lần chuyển giao quyền lực hòa bình[43] John Mearsheimer, học giả nổi tiếng thuộc trường phái hiện thực tấn công, đã khẳng định: “một Trung Quốc giàu mạnh sẽ không hài lòng với nguyên trạng mà sẽ tìm cách giành cho được bá quyền khu vực”[172; tr.1-6] Trong trao đổi với Nhóm Khủng hoảng quốc tế (ICG), một số quan chức chính quyền và học giả giấu tên trong nội bộ Trung Quốc cũng thừa nhận rằng Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn ở Biển Đông là bởi “giờ đây chúng tôi có tiền, có công nghệ và có khả năng làm như vậy”[124] Mức độ quyết đoán trong cách hành xử của quốc gia này ở Biển Đông khiến nhiều cựu quan chức và học giả Mỹ như Robert Blackwill và Ashley Tellis cho rằng Trung Quốc đang cố gắng soán vai trò cường quốc chi phối Châu Á. [51]

Từ cách nhìn của chủ nghĩa hiện thực, nhiều học giả chia sẻ nhận định rằng Biển Đông là một trong những tâm điểm trong cuộc tranh giành quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương Phân tích về lợi ích và chính sách của các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ ở Biển Đông, nhiều học giả cho rằng chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là một phần của cuộc tranh giành quyền lực giữa các cường quốc[56; tr.139-156]. Tương tự, Bill Hayton cho rằng việc Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành ao nhà về bản chất cũng không khác gì ý đồ của Mỹ khi áp dụng “Học thuyết

Monroe” đối với biển Ca-ri-bê trong thế kỷ XIX.[104]

Nhiều học giả Việt Nam cũng có cách lý giải tương tự Đỗ Thanh Hải vàNguyễn Thùy Linh lập luận rằng tính quyết đoán trong chính sách của TrungQuốc đối với Biển Đông tăng lên theo đà gia tăng sức mạnh của cường quốc này

[20; tr.32] Theo các tác giả trên, sự quyết đoán của Trung Quốc trong chính sách đối với Biển Đông đã gia tăng đáng kể từ năm 2007 và ngày càng thể hiện rõ hơn từ sau Đại hội 18 (2012) và Trung Quốc dần từ bỏ phương châm “giấu mình chờ thời” để chuyển sang giai đoạn tự tin, quyết đoán hơn về đối ngoại. Trong đó, bên cạnh yếu tố tranh chấp chủ quyền, tài nguyên thì cạnh tranh chiến lược nước lớn giữa Trung Quốc với các cường quốc khác, nhất là Mỹ là một trong những động cơ quan trọng nhất để lý giải cho cách hành xử ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cũng gần tương tự như chủ nghĩa hiện thực tấn công, từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực phòng thủ, nhiều học giả lý giải sự gia tăng tính quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông là nhằm đối phó với các đe dọa an ninh, nhất là từ phía

Mỹ Các học giả thuộc trường phái này thường lập luận rằng hành động hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông chủ yếu là nhằm phản ứng lại các bước đi của các bên khác Chẳng hạn, Lyle Goldstein cho rằng việc Mỹ tăng cường can dự vào vấn đề Biển Đông kéo theo phản ứng quyết liệt hơn của Trung Quốc, và hậu quả là môi trường chiến lược ở khu vực sẽ bất ổn hơn.[92; tr.343]

Tương tự, Leszek Buszynski chỉ ra các nguyên nhân chính khiến Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông: Một là góp phần ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập và ngăn chặn Mỹ triển khai lực lượng hải quân hỗ trợ Đài Loan trong trường hợp có xung đột; Hai là bảo vệ và kiểm soát các tuyến hải lộ huyết mạch mà có đến 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua; Ba là triển khai khả năng tấn công hạt nhân lần hai trên biển tại Tây Thái Bình Dương.[56; tr.145]

Nhìn chung, chủ nghĩa hiện thực là lý thuyết có nhiều yếu tố logic nhất để lý giải hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông Tuy nhiên, trường phái này không lý giải được một cách thỏa đáng nguyên nhân vì sao những lần Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Biển Đông như các năm 1974, 1988 hay 1995 đều diễn ra khi sức mạnh tổng thể của Trung Quốc cũng như hải quân Trung Quốc đều yếu hơn giai đoạn hiện nay rất nhiều Liệu Trung Quốc càng mạnh lên thì xu hướng sử dụng vũ lực để thúc đẩy các yêu sách ở Biển Đông ngày càng tăng? Rõ ràng sự phụ thuộc lẫn nhau và những lợi ích chung của hợp tác giữa Trung Quốc và các nước khác ở Biển Đông vẫn là các nhân tố quan trọng trong việc kiềm chế hành vi của Trung Quốc Vì vậy, vẫn cần các lý thuyết khác ngoài chủ nghĩa hiện thực để phân tích lối hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, nhất là từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Từ góc nhìn của chủ nghĩa tự do, các thành tố như mối quan hệ giữa chính trị trong nước với chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của các quốc gia, lợi ích chung từ hợp tác và vai trò của các thể chế quốc tế có giá trị quan trọng trong việc phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông.

Trong khi các học giả theo trường phái hiện thực chủ nghĩa nhấn mạnh sự gia tăng tính quyết đoán trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông thì các nhà tự do chủ nghĩa có xu hướng cho rằng Trung Quốc vẫn tương đối kiềm chế Chẳng hạn, Taylor M Fravel lập luận rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với các nước khu vực sẽ khiến Trung Quốc thấy lợi ích đạt được từ bành trướng lãnh thổ, trong đó có Biển Đông, là không bù đắp được các tổn hại đi kèm[85; tr.505-532] Fravel cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ tăng cường năng lực biển của mình, nhất là khả năng chống tiếp cận, chứ không đánh chiếm các đảo hiện do các nước khác kiểm soát. Jason Blazevic lập luận rằng cả Trung Quốc và Việt Nam sẽ cùng có lợi khi thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông, và minh chứng cụ thể cho quan điểm này là trước đây hai nước đã thành công trong việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ[53] Học giả Trung Quốc Zhou Fangyin một mặt thừa nhận rằng cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông đã cứng rắn và quyết đoán hơn từ năm 2012, mặt khác cho rằng cùng với thời gian sẽ dần ôn hòa và mang tính kiềm chế hơn[261; tr.869-890]. Fangyin dự đoán trong tương lai những cuộc đối đầu giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ở Biển Đông có thể sẽ ít đi, và các bên sẽ áp dụng cách tiếp cận ôn hòa hơn để xử lý các tranh chấp ở Biển Đông Trong một lĩnh vực cụ thể là hợp tác nghề cá, học giả Hongzhou Zhang cho rằng sau phán quyết Biển Đông của TòaTrọng tài Thường trực, Trung Quốc đã thúc đẩy hơn khía cạnh hợp tác qua các cuộc đàm phán với Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam về việc chia sẻ nguồn tài nguyên cá và dầu khí tại các vùng biển tranh chấp.[257; tr.67-76]

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, những diễn biến thực tế ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến thời điểm hiện nay (năm 2020) cho thấy cách tiếp cận theo chủ nghĩa tự do trong phân tích chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông đang gặp nhiều thách thức Điều đáng chú ý là thời gian vừa qua, ngay cả một số nhà tự do chủ nghĩa như Adam Liff và John Ikenberry cũng gần như đi đến chấp nhận quan điểm rằng xung đột chắc chắn sẽ xảy ra giữa Trung Quốc và Mỹ với tư cách là cường quốc đang lên và cường quốc tại vị, và một trong những nơi đầu tiên nổ ra xung đột có thể là Biển Đông.[152; tr.52-91]

Cách tiếp cận và khung phân tích chính sách

Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là một bộ phận trong tổng thể chính sách đối ngoại của Trung Quốc.Vì vậy, cách tiếp cận và khung phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng là một trong những nền tảng quan trọng nhất để phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông.Nhìn chung, như Baris Kesgin đã chỉ ra, phương pháp phân tích chính sách đối ngoại của một quốc gia thường dựa vào 3 cấp độ phân tích: cấp độ hệ thống quốc tế, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân lãnh đạo[146; tr.336-345] Áp dụng vào trường hợp Trung Quốc, Nien-chung Chang Liao lý giải rõ hơn về ba cấp độ phân tích sự quyết đoán của Trung Quốc và đi đến kết luận rằng chính sách đối ngoại quyết đoán hơn của Trung Quốc kể từ năm 2009 chủ yếu là do nhận thức của giới tinh hoa và sự lựa chọn của lãnh đạo Trung Quốc.[61; tr.817-833]

Thứ nhất, ở cấp độ hệ thống, sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt nguồn từ những thay đổi sâu sắc trong phân bổ quyền lực quốc tế, đặc biệt là trong so sánh lực lượng Trung - Mỹ từ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 Việc Trung Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới năm 2010 và nhận định của Trung Quốc rằng Mỹ đang suy yếu tương đối khiến Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn trong việc bắt đầu thách thức hệ thống trật tự quốc tế do Mỹ chi phối, trước tiên là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Cuốn sách “Trung Hoa mộng” của đại tá quân đội Trung Quốc Lưu Minh Phúc xuất bản năm 2010 là minh chứng rõ nhất cho hình ảnh một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ tìm cách soán ngôi một nước Mỹ đang có dấu hiệu đi xuống[266] Hành động chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” lên Liên hợp quốc năm 2009 cho thấy rõ Trung Quốc không còn chấp nhận một trật tự khu vực với sự chi phối của Mỹ.

Thứ hai, ở cấp độ quốc gia, các yếu tố trong nước như đặc thù thể chế chính trị - xã hội, cơ cấu nhà nước, mức độ quyền lực của các chủ thể trong bộ máy hoạch định chính sách, các xu thế đang nổi lên trong xã hội Trung Quốc… cũng tác động mạnh lên chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối với Biển Đông nói riêng Đặc biệt, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc lý giải vì sao Chính phủ theo đuổi cách tiếp cận ngày càng cứng rắn hơn trong chính sách về biên giới lãnh thổ, biển đảo Aaron Friedberg, Giáo sư khoa Chính trị và các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Princeton nhận định rằng “thế kỷ ô nhục” càng kích động chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, tâm lý tổn thương trước việc bị các cường quốc phương Tây xâu xé suốt hơn 100 năm khiến người Trung Quốc càng quyết tâm tìm kiếm quyền lực[87; tr.21] Học giả Li Mingjiang nhận xét rằng cuộc tranh luận trong nội bộ giới tinh hoa Trung Quốc về chiều hướng chính sách đối ngoại cũng diễn biến theo hướng có lợi hơn cho phe chủ trương theo đuổi chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong vấn đề Biển Đông.[155]

Thứ ba, ở cấp độ cá nhân, sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc trong chính sách đối với Biển Đông phản ánh những thay đổi trong nhận thức và lựa chọn quyết sách của những lãnh đạo cầm quyền, đặc biệt là Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình Không phải ngẫu nhiên mà khi Tập Cận Bình lên cầm quyền tại Đại hội 18, ông đã đề ra khẩu hiệu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” Đúng như học giả Oriana Skylar Mastro đã nhận xét: “bản thân Tập Cận Bình đã tuyên bố các chính sách cứng rắn hơn liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ, và sự quyết đoán của Trung Quốc tăng lên đáng kể dưới thời Tập Cận Bình”.[170]

Nếu mô hình hóa các tình huống mà các nhà hoạch định chính sách gặp phải nói chung cũng như các kịch bản lựa chọn chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông nói riêng thì có thể khái quát hóa một cách tương đối qua bảng sau:

Bảng A: Các tình huống nhà hoạch định chính sách gặp phải.[38; tr.39]

NƯỚC MẠNH Tình huống tốt nhất Tình huống thường gặp nhất

NƯỚC YẾU Tình huống tốt Tình huống xấu nhất

Bảng B: Một số kịch bản Trung - Mỹ ở Biển Đông.

TRUNG QUỐC MẠNH Trung Quốc và Mỹ giằng Trung Quốc độc chiếm co quyết liệt ở Biển Đông Biển Đông

TRUNG QUỐC YẾU Trung Quốc ở thế dưới Trung Quốc và Mỹ so với Mỹ ở Biển Đông không cọ xát nhiều ở

Bảng A và Bảng B cho thấy một số kịch bản lựa chọn chính sách đối ngoại của Trung Quốc nói chung và trong vấn đề Biển Đông nói riêng, nhất là trong tương quan với Mỹ - nhân tố mà Trung Quốc phải tính đến nhiều nhất.

Khung phân tích chính sách nói trên có thể là một khuôn khổ hữu ích để phân tích, đánh giá, phán đoán và dự báo các động thái chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một cơ sở tham chiếu không nên bị tuyệt đối hóa Thực tiễn quan hệ quốc tế cũng như thực tiễn cuộc sống luôn không ngừng biến động và chịu ảnh hưởng của nhiều biến số, ẩn số mà không một khuôn khổ lý thuyết nào, dù khoa học và hợp lý đến đâu, có thể giải thích triệt để Vì vậy, bên cạnh cơ sở lý luận và khung lý thuyết phân tích chính sách thì việc tìm hiểu cơ sở thực tiễn của chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là hết sức quan trọng.

Cơ sở thực tiễn

Những nhân tố bên trong

1.2.1.1 Sự mở rộng phạm vi lợi ích cùng đà gia tăng sức mạnh tổng thể

Theo quy luật, khi sức mạnh tổng thể của một cường quốc gia tăng thì phạm vi lợi ích cũng được mở rộng Khi Trung Quốc còn yếu và đối mặt với nhiều nguy cơ bên và bên ngoài trong giai đoạn từ 1949 đến trước khi phát động công cuộc cải cách mở cửa năm 1978, Trung Quốc chưa bộc lộ nhiều tham vọng và cũng không có khả năng theo đuổi các lợi ích vượt ra ngoài lãnh thổ của mình Tuy nhiên,sau hơn 40 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc từ chỗ chỉ chiếm khoảng 2% GDP thế giới ở thời điểm năm 1978 nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với quy mô GDP chiếm tới 16-17% GDP toàn cầu Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc khiến cách nhìn nhận lợi ích của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông cũng thay đổi, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc thúc đẩy những lợi ích đó.

Về kinh tế, Trung Quốc trỗi dậy nhanh hơn nhiều so với các dự báo của phương Tây Ở thời điểm bắt đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, nhưng năm 2010 Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, năm 2013 trở thành cường quốc thương mại lớn nhất thế giới và vượt Mỹ về quy mô GDP tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm

2014 Đây là lần đầu tiên trong 140 năm qua, Mỹ bị một nước khác vượt qua về quy mô kinh tế (tính theongang giá sức mua - PPP).

Trong khi đó, ảnh hưởng của Mỹ về kinh tế - thương mại trên thế giới và ở khu vực Đông Nam Á ngày càng giảm so với Trung Quốc.Năm 1993, Trung Quốc chỉ chiếm 2% thương mại hàng hóa với ASEAN, còn Mỹ chiếm 18%; nhưng đến năm 2013, tỷ lệ này đảo ngược thành 14% của Trung Quốc và 8,2% của Mỹ Năm 2013 cũng đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc vượt Mỹ với tư cách cường quốc ngoại thương lớn nhất thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.870 tỷ USD (của Mỹ là 3.820 tỷ USD) Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước khu vực, kể cả các nước đồng minh thân cận của

Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc…

Về quân sự, từ vị thế một nước với quân đội lạc hậu yếu kém như đã lộ rõ trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 với Việt Nam, sau nhiều thập kỷ liên tục hiện đại hóa quân đội, Trung Quốc đến thời điểm từ Đại hội 18 (năm 2012) tới nay đã trở thành cường quốc quân sự số 1 ở Châu Á Chi tiêu quốc phòng củaTrung Quốc bằng 48% của toàn khu vực, tương đương tổng chi tiêu của 24 nước Đông Á và Đông Nam Á cộng lại (ngân sách công bố là 147 tỷ USD năm 2016,nhưng thực chi khoảng 215 tỷ USD) Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), con số thực chi cho ngân sách quân sự củaTrung Quốc trong giai đoạn từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, cụ thể là từ 2012 - 2019 tăng từ 168 tỷ USD lên 261 tỷ USD, cao hơn nhiều so với con số công bố chính thức của Chính phủ Trung Quốc Tại kỳ họp Lưỡng Hội đầu năm 2021, Trung Quốc công bố ngân sách quốc phòng cho năm 2021 là 209 tỷ USD, song các nhà nghiên cứu đánh giá con số thực chi lớn hơn nhiều so với con số công bố Trong khi đó, mặc dù ngân sách quốc phòng của Mỹ lớn gấp khoảng 3 lần Trung Quốc (năm 2012 là 670 tỷ USD, đến năm 2021 là khoảng

740 tỷ USD) song lực lượng của Mỹ bị căng mỏng trên phạm vi toàn cầu còn Trung Quốc có điều kiện tập trung hầu hết lực lượng ở khu vực Đông Á, trong đó có Biển Đông Nhìn chung, ở phạm vi toàn cầu, Trung Quốc chưa đủ khả năng thách thức sức mạnh của Mỹ, song ở tầm khu vực và nhất là tại các vùng biển gần như Biển Đông thì Trung Quốc hoàn toàn có đủ khả năng thách thức vai trò và hiện diện quân sự của Mỹ.

Tàu Tàu ngầm ngầm chạy chạy Tàu bằng bằng ngầm thông

Tàu năng năng Tàu Tàu khu thường Tàu khu sân lượng lượng hạt tuần trục cỡ chạy trục bay hạt nhân dương nhỏ nhân trang bị bằng động cơ trang bị tên lửa diesel tên lửa hành đạn đạo trình

So sánh sức mạnh hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc năm 2020.

Nguồn: CSIS. chiến lớn nhỏ còn hải quân Mỹ có 296 tàu Thêm vào đó, sức mạnh của hải quân Mỹ bị căng mỏng ra nhiều khu vực và điểm nóng trên toàn cầu, song Trung Quốc có lợi thế có thể tập trung gần như toàn bộ lực lượng hải quân ở khu vực Đông Á, nhất là các vùng biển gần như Biển Đông Sự thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng Trung - Mỹ như phân tích ở trên khiến Trung Quốc có cả quyết tâm và năng lực kiểm soát Biển Đông để phục vụ các ý đồ chiến lược Do đó, giai đoạn từ sau Đại hội 18 là khoảng thời gian Trung Quốc có rất nhiều điều kiện thuận lợi cả chủ quan và khách quan để thực hiện chính sách quyết đoán hơn trong vấn đề Biển Đông Đó cũng là lý do ở thời điểm năm 2010, Trung Quốc vẫn giữ thái độ mập mờ, không phủ nhận và cũng không khẳng định khi báo chí phương Tây đưa thông tin Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, nhưng đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng 18, cụ thể là trong năm 2017 thì Trung Quốc đã chính thức khẳng định một cách không cần úp mở rằng Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của mình.

1.2.1.2 Thể diện và uy thế nước lớn

Vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc không chỉ đơn thuần là lợi ích địa - chiến lược hay địa - kinh tế Từ góc nhìn của giới hoạch định chính sách đối ngoại Trung Quốc, vấn đề Biển Đông còn là vấn đề lịch sử và chính trị.[199] Việc Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông cũng xuất phát từ một đặc tính thâm căn cố đế trong tư duy chiến lược của Trung Quốc: Đó là Trung Quốc tự coi mình là “cường quốc trung tâm”, là cái rốn của vũ trụ, còn các nước nhỏ yếu xung quanh chỉ đơn giản là các vệ tinh hay “chư hầu” có nghĩa vụ chấp nhận một trật tự lấy Trung Quốc làm trung tâm “Thế kỷ ô nhục” kéo dài từ 1839 đến 1949 khi bị các cường quốc phương Tây xâu xé càng khiến Trung Quốc ngày nay quyết tâm

“rửa hận” Đối với Trung Quốc, thể diện nước lớn rất quan trọng Sâu thẳm trong tư duy của các chiến lược gia Trung Quốc, nếu không “bình định” được khu vực “sân sau” là Đông Nam Á và khống chế được Biển Đông thì Trung Quốc không thể vươn lên trở thành siêu cường lãnh đạo thế giới Edward Luttwak đã nhận xét về tâm lý

“tự kỷ nước lớn”, theo đó Trung Quốc tự cảm thấy nhục nhã khi bị các nước nhỏ yếu hơn thể hiện quan điểm trái chiều - điều mà các cường quốc phương Tây khác xem như thực tế rất bình thường trong quan hệ quốc tế.[163]

Cách nhìn nhận của người Trung Quốc về Biển Đông chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tuyên truyền, giáo dục về lòng yêu nước xuyên suốt mà Đảng Cộng sản đã thực hiện, theo đó Đảng là lực lượng duy nhất đã giành lại được chủ quyền, lãnh thổ từ các thế lực đế quốc phương Tây xâu xé Trung Quốc trong giai đoạn “thế kỷ ô nhục”, lấy lại danh dự cho dân tộc Trung Hoa[58; tr.141-173] Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng cần phải khôi phục lại những “lãnh thổ đã mất”, trong đó có Biển Đông.

1.2.1.3 Sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc

Vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với người dân Trung Quốc dựa trên hai nền tảng quan trọng: Một là, Đảng Cộng sản Trung Quốc là lực lượng lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập, chủ quyền từ các thế lực ngoại bang (như phát xít Nhật và các cường quốc phương Tây từng xâu xé Trung Quốc trong “thế kỷ ô nhục”); Hai là, Đảng Cộng sản Trung Quốc chứng tỏ được khả năng bảo đảm phát triển, mang lại ấm no cho người dân Trung Quốc.

Ngày nay, trong hai yếu tố nói trên, đối với đại đa số người Trung Quốc vốn thuộc thế hệ trẻ không còn nhớ nhiều đến giai đoạn đấu tranh giành độc lập, chỉ còn năng lực của Đảng trong bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội là thực sự có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, việc tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giảm dần trong những năm qua do đối mặt với nhiều vấn đề nội tại trong khi tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng, niềm tin của người dân đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng phần nào bị ảnh hưởng Đối mặt với thực trạng đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhu cầu kích thích tinh thần dân tộc chủ nghĩa, nhất là trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ để cố kết dân tộc, vực dậy niềm tin của người dân vào Đảng, qua đó khẳng định vai trò là lực lượng chính trị duy nhất xứng đáng cầm quyền ở Trung Quốc Trong trao đổi tại Học viện Ngoại giao ngày 02/11/2018, nguyên thẩm phán Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio, khi được nghiên cứu sinh hỏi về cách hành xử khác nhau của Trung Quốc và Ấn Độ trong việc dùng biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp biển với các nước láng giềng nhỏ hơn, đã cho rằng khác vớiTrung Quốc, Ấn Độ không phải hy sinh tính chính danh (legitimacy) của chế độ nếu thỏa hiệp, còn Trung Quốc thì gắn tính chính danh của chế độ vào luận điệu đã tuyên truyền lâu nay về Biển Đông nên khó thỏa hiệp hơn Ông Antonio Carpio cũng cho rằng người Trung Quốc tin rằng họ đã sở hữu Biển Đông từ 2000 năm qua và nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực thì người dân Trung Quốc sẽ phẫn nộ (nguyên văn: “get mad”) Như vậy, có thể thấy chủ nghĩa dân tộc tác động rất lớn lên chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông Như Timothy Heath đã nhận xét, lối hành xử quyết đoán trên Biển Đông có thể bắt nguồn từ nhu cầu kích động chủ nghĩa dân tộc trong nước bằng cách cho thấy Đảng Cộng sản Trung Quốc có đủ quyết tâm và khả năng bảo vệ chủ quyền đất nước.[109]

Với mục tiêu đó, chính quyền Trung Quốc coi vấn đề Biển Đông không chỉ từ góc độ lợi ích địa - chiến lược và địa - kinh tế mà còn là công cụ để góp phần hợp pháp hóa vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nói cách khác, kích động chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông cũng góp phần bảo vệ an ninh chế độ, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc gặp khó khăn kinh tế - xã hội hoặc chính trị - xã hội Dĩ nhiên, chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn là con dao hai lưỡi nhưng quan sát cách hành xử của Trung Quốc đến nay, có thể thấy Trung Quốc tương đối chủ động và vẫn kiểm soát được con bài này Như Andrew Chubb nhận xét, tiếng nói của công luận chỉ có ảnh hưởng ở mức độ hạn chế lên chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông.[65]

Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến Trung Quốc rất khó nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông là bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gắn chặt tính chính danh của mình với khả năng bảo vệ các “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền lãnh thổ - bất kể các lợi ích này là hợp pháp hay không hợp pháp Khi xảy ra vụ Scarborough giữa Philippines và Trung Quốc tháng 4/2012, một cuộc thăm dò ý kiến của Thời báo Hoàn Cầu - phụ bản của Nhân dân nhật báo - cho thấy có tới 90% người được hỏi ý kiến ủng hộ biện pháp quân sự để đáp lại cái họ cho là

“các hành động khiêu khích” của các nước tranh chấp ở Biển Đông với TrungQuốc Sau khi Tòa Trọng tài Thường trực ra phán quyết cuối cùng ngày

CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Ngày đăng: 18/06/2021, 07:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan Anh (2012), Yêu sách dựa trên chủ quyền lịch sử hay yêu sách theo kiểu tự hành xử?, Nghiên cứu Biển Đông, http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2957-yeu-sach-du-tren- quyen-lich-su-hay-yeu-sach-theo-kieu-tu-hanh-xu, ngày truy cập 20/10/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu sách dựa trên chủ quyền lịch sử hay yêu sách theo kiểu tự hành xử
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Năm: 2012
2. Nguyễn Thị Lan Anh (2018), “Tứ Sa - Chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 1 (112) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ Sa - Chiến thuật pháp lý mới của TrungQuốc ở Biển Đông”, "Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Năm: 2018
3. Hoàng Thế Anh (2013), Xã hội Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2013
4. Đinh Tuấn Anh (2013), Chính sách Biển Đông của Trung Quốc: Trung ương tập quyền hay cát cứ phân tranh?, Nghiên cứu Biển Đông,http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/3427-chinh-sach-bien- dong-cua- trung-quoc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách Biển Đông của Trung Quốc: Trung ương tập quyền hay cát cứ phân tranh
Tác giả: Đinh Tuấn Anh
Năm: 2013
5. Anh Nguyễn, “Cấp bách tăng trữ lượng dầu khí để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”, Tạp chí Tài chính, 27/2/2020, truy cập tạihttp://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/cap-bach-tang-tru-luong- dau-khi-de- dam-bao-an-ninh-nang-luong-quoc-gia-319380.html ngày 10/7/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp bách tăng trữ lượng dầu khí để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”, "Tạp chí Tài chính
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia HN
Năm: 2021
7. Đỗ Minh Cao (2011), “Những nhân tố tiêu cực trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 7(119) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố tiêu cực trong quan hệ Việt Nam -Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đỗ Minh Cao
Năm: 2011
8. Vũ Thùy Dương (2013), Quan hệ “hai bờ, bốn bên” trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, NXB Từ điển BáchKhoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ “hai bờ, bốn bên” trong quá trình trỗi dậycủa Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Tác giả: Vũ Thùy Dương
Nhà XB: NXB Từ điển BáchKhoa
Năm: 2013
9. Vũ Hải Đăng (2016), “Xây dựng một mạng lưới song phương các khu bảo tồn biển giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông?”, trong cuốn sách Tìm kiếm giải pháp hòa bình và công lý ở Biển Đông, Học viện Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một mạng lưới song phương các khu bảotồn biển giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cáđơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông?”, trong cuốn sách "Tìm kiếm giải pháphòa bình và công lý ở Biển Đông
Tác giả: Vũ Hải Đăng
Năm: 2016
10. Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh (2011), Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, nghiencuubiendong, http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/1430-nhin-nhan-lai-chinh-sach-cua-trung-quoc-doi-voi-bien-dong-tu-2007-den-nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay
Tác giả: Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh
Năm: 2011
11. Nguyễn Hải Hoành (2018), Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển, Nghiên cứu quốc tế, truy cập ngày 10/3/2018 tạihttp://nghiencuuquocte.org/2015/03/17/trung-quoc-chien-luoc-cuong- quoc-bien/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Năm: 2018
12. Dương Danh Huy (2012), Đường chữ U của Trung Quốc ở Biển Đông: Phân tích 4 cách diễn giải, Nghiên cứu Biển Đông,http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2980-duong-chu-u-cua- trung-quoc- o-bien-dong-phan-tich-bon-cach-dien-giai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường chữ U của Trung Quốc ở Biển Đông: Phân tích 4 cách diễn giải
Tác giả: Dương Danh Huy
Năm: 2012
13. Nguyễn Thái Yên Hương (2015), Thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc: Những điều chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, NXB. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thái Yên Hương (2015), "Thế hệ lãnh đạo thứ năm của TrungQuốc: Những điều chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động đối với khu vực Châu Á -Thái Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Thái Yên Hương
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2015
15. Nguyễn Đình Liêm (2011), “Vấn đề Biển Đông trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 9 (121), 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Biển Đông trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Đình Liêm
Năm: 2011
16. Phan Doãn Nam (1997), “Bàn về quan hệ Trung - Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quan hệ Trung - Mỹ”, "Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Phan Doãn Nam
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w