Chính vì vậy, tiếng Việt Nam Bộ ngày nay có những đặc trưng về ngữ âm và từ vựng rất khác biệt với các phương ngữ Bắc, Trung.. Sơ lược về lịch sử hình thành các phương ngữ tiếng Việt 1 N
Trang 1Tiếng Việt Nam Bộ:Lịch Sử Hình Thành
Và Các Đặc Trưng Ngữ Âm, Từ Vựng
Tính đến nay, tiếng Việt Nam Bộ, một bộ phận của tiếng Việt thống nhất, đã có 4 thế kỷ hình thành, phát triển Các yếu tố làm hình thành tiếng Việt Nam Bộ cũng là những yếu
tố làm hình thành tập hợp cư dân ở nơi đây: di dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng và Nam Trung Bộ, người Chăm, người Khmer, người Hoa Người Pháp, người Mỹ, mặc dù
đã rút đi sau khi kết thúc chiến tranh, nhưng cũng đã để lại nơi đây những dấu ấn sâu đậm
về ngôn ngữ và văn hoá Các nhóm cư dân ấy đã cung cấp cho nhau vốn liếng ngôn ngữ sẵn có của mình, đồng thời cùng nhau sáng tạo, phát triển vốn liếng ngôn ngữ sẵn có để
nó có thể phản ánh không gian văn hoá mới và các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội gắn liền với không gian văn hoá mới Chính vì vậy, tiếng Việt Nam Bộ ngày nay có những đặc trưng về ngữ âm và từ vựng rất khác biệt với các phương ngữ Bắc, Trung Hiện nay,
sự khác biệt đó vẫn đang tiếp tục gia tăng Đó là vì ở nước ta, từ trước đến nay, các luồng
di dân chỉ diễn ramột chiều từ Bắc vào Nam Và từ thời kỳ Đổi mới, hàng vạn người phương Tây, phương Đông đã quay trở lại Việt Nam mà nơi thu hút nhất chính là Nam
Bộ Do đó, khác với tiếng Việt ở miền Bắc, miền Trung, tiếng Việt ở Nam Bộ có điều kiện để phát triển, biến đổi nhanh hơn
Bài viết này nguyên là một phần của chuyên đề ngôn ngữ học biên soạn cho lớp diễn viên lồng tiếng (tháng 7 - tháng 8/2009) của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đào tạo Truyền thông Trí Việt, thành phố Hồ Chí Minh Nay chúng tôi hoàn chỉnh và công bố ở đây để cung cấp thông tin tư liệu cho tất cả những bạn đọc quan tâm
ooOoo
1 CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & SỰ KHÁC BIỆT
VỀ NGỮ ÂM, TỪ VỰNG
1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành các phương ngữ tiếng Việt
(1) Ngôn ngữ là một khái niệm trừu tượng chỉ phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người Vì con người bao gồm các cộng đồng người cụ thể, nên ngôn ngữ cũng được biểu hiện thông qua ngôn ngữ của các cộng đồng người cụ thể Nếu cộng đồng người đó là một tộc người, chúng ta có ngôn ngữ tộc người Và trong phạm vi một tộc người, ngôn ngữ lại được biểu hiện thông qua các phương ngữ địa lý (geographical dialects) và các phương ngữ xã hội (social dialects) Các phương ngữ địa lý lại có thể bao gồm một số thổ ngữ (local dialects, patois) có địa bàn phân bố hẹp hơn.Viết lại lịch sử hình thành, nhận diện sự khác biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và về vai trò của các phương ngữ địa lý,
là nhiệm vụ của phương ngữ học địa lý (geographical dialectology)
Tiếng Việt là một ngôn ngữ tộc người, một ngôn ngữ quốc gia có tính thống nhất cao Tuy nhiên, sự gián đoạn về thời gian và không gian trong lịch sử phát triển của tiếng Việt cũng đã gây ra nhiều điểm khác biệt trong tiếng nói của các vùng miền, làm hình thành các phương ngữ và thổ ngữ Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt, có thể chia tiếng Việt thành 3 phương ngữ chính:
- Phương ngữ Bắc: phân bố ở Bắc Bộ
- Phương ngữ Trung: phân bố ở Bắc Trung Bộ (Thanh - Nghệ - Tĩnh) và Trung Trung Bộ
Trang 2(Bình - Trị - Thiên)
- Phương ngữ Nam: phân bố ở Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận) và Nam Bộ Giữa 3 phương ngữ chính có hai vùng chuyển tiếp: tiếng Việt Thanh Hoá thuộc phương ngữ Trung nhưng có những yếu tố chuyển tiếp từ phương ngữ Bắc; tiếng Việt Quảng Nam thuộc phương ngữ Nam nhưng có những yếu tố chuyển tiếp từ phương ngữ Trung (2) Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt trước hết do nguyên nhân lịch sử Trong suốt thời Bắc thuộc và giai đoạn đầu của thời tự chủ, vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ
là nơi cư dân Việt-Mường tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ, văn hoá của người Tày, người Hán Vì vậy trong tiếng Việt-Mường vùng này đã diễn ra những biến đổi sâu sắc
về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, theo hướng cởi bỏ các đặc trưng Mon-Khmer, khoác lên những đặc trưng của các ngôn ngữ Tày-Thái và ngôn ngữ Hán: rơi rụng âm tiết phụ, rơi rụng phụ tố, biến đổi phụ âm cuối, hình thành thanh điệu Những biến đổi này diễn ra ở trung du và đồng bằng nhanh hơn ở miền núi, ở Bắc Bộ nhanh hơn ở Bắc Trung Bộ Kết quả là vào cuối thời Bắc thuộc, tiếng Việt và tiếng Mường đã chia tách thành hai ngôn ngữ, tiếng Việt ở Bắc Bộ và tiếng Việt ở Bắc Trung Bộ cũng chia tách thành hai phương ngữ Đến khoảng thế kỷ XII, tiếng Việt ở Bắc Bộ đã hình thành đến 6 thanh điệu; trong khi tiếng Việt ở Bắc và Trung Trung Bộ từ Thanh Hoá đến Bắc Quảng Trị chỉ có 5 thanh điệu, thậm chí một số thổ ngữ cổ ở vùng này chỉ có 4 thanh điệu Tương tự, từ vựng gốc Tày và gốc Hán rất phát triển trong tiếng Việt Bắc Bộ; trong khi từ vựng gốc Mon-Khmer lại được bảo lưu rất nhiều trong tiếng Việt ở Bắc và Trung Trung Bộ
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khi lãnh thổ Đại Việt dần dần mở rộng đến Bình Định (1471) và Bình Thuận (1697), thì di dân người Việt đến định cư trên vùng đồng bằng Nam Trung Bộ hầu hết đều có nguồn gốc từ Bắc và Trung Trung Bộ Từ đó, phương ngữ tiếng Việt ở Nam Trung Bộ đã hình thành trên cơ sở kế thừa các đặc điểm của phương ngữ Trung và tiếp biến các đặc điểm của tiếng Chăm
Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, khi lãnh thổ Đại Việt tiếp tục mở rộng đến hết vùng đất Nam Bộ ngày nay, thì di dân người Việt đến định cư trên vùng đồng bằng Nam Bộ hầu hết đều có nguồn gốc từ vùng "Ngũ Quảng", tức Quảng Bình - Quảng Trị - Quảng Đức - Quảng Nam - Quảng Ngãi, mà đông đảo nhất là bộ phận người Việt cư ngụ ở Nam Trung Bộ, liền kề với Nam Bộ Từ đó, phương ngữ tiếng Việt ở Nam Trung Bộ đã mở rộng địa bàn đến Nam Bộ, tiếp biến thêm một số đặc điểm của tiếng Hoa, tiếng Khmer để trở thành phương ngữ Nam Phương ngữ Nam gồm hai bộ phận: Nam Trung Bộ và Nam
Bộ, có đôi chút khác biệt với nhau Tuy nhiên, về cơ bản hai bộ phận đó khá tương đồng, nên đa số các nhà nghiên cứu không tách chúng thành hai phương ngữ
Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt còn do nguyên nhân địa lý Do hình thể đất nước trải dài từ Bắc xuống Nam, bị ngăn cách bởi các dãy núi ngang ở miền Trung như Tam Điệp, Hoành Sơn, Bạch Mã là những rào cản tự nhiên mà thời xưa rất khó vượt qua, nên cho đến trước thế kỷ XX, giao lưu giữa các đồng bằng Trung Bộ với các vùng miền khác rất khó khăn Trong suốt nhiều thế kỷ, quan hệ giao lưu phổ biến ở các đồng bằng Trung Bộ chỉ là giao lưu nội vùng giữa tiếng Việt, văn hoá Việt với ngôn ngữ, văn hoá của các tộc người thiểu số cộng cư Kế đó là quan hệ giao lưu với nước ngoài, thông qua một số ít cảng thị như Hội An, Đà Nẵng Sau nữa là quan hệ giao lưu giữa đồng bằng Nam Trung Bộ với đồng bằng Nam Bộ thông qua đường biển, tận dụng hai mùa gió Nồm
và gió Bấc Chính vì vậy, dải đất Trung Bộ là nơi hình thành nhiều phương ngữ và thổ ngữ nhất nước ta Tuy nhiên, nhờ duy trì được quan hệ giao lưu tương đối thường xuyên nên tiếng Việt của đồng bằng Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ không khác nhau
Trang 3nhiều
Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt còn do nguyên nhân kinh tế Văn hoá Việt nguyên là một nền văn hoá gốc nông nghiệp với những đặc trưng chính yếu là định cư thành làng xóm, canh tác lúa nước ở đồng bằng, tự cung tự cấp, v.v Do đó, sự giao lưu giữa các nhóm dân cư phần nhiều chỉ giới hạn trong những nhu cầu trao đổi một số sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp mà các làng xóm, làng nghề trong vùng sản xuất
ra Vì vậy, sự phân hoá về ngôn ngữ diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với những tộc người lấy du mục hoặc thương nghiệp làm hoạt động kinh tế chính yếu Do hoạt động du mục
và do hoạt động giao thương, ở những tộc người đó xu hướng thống nhất ngôn ngữ mạnh hơn xu hướng phân ly
Tóm lại, sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt có bốn nguyên nhân chính: nguyên nhân lịch sử, nguyên nhân địa lý, nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân tiếp xúc ngôn ngữ - văn hoá Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như nguyên nhân xã hội (sự kiêng kỵ,
sự kỵ huý), nguyên nhân ngôn ngữ (sự biến âm, biến nghĩa)
1.2 Sơ lược về sự khác biệt ngữ âm, từ vựng giữa các phương ngữ tiếng Việt
(1) Một khi vẫn còn là phương ngữ thì các phương ngữ vẫn có những đặc trưng chung về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, hợp thành bộ mã giao tiếp chung, thống nhất Nhờ đó, các cộng đồng phương ngữ mới có thể giao tiếp với nhau và nhận ra mình cùng thuộc về một cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng xã hội lớn hơn Các phương ngữ tiếng Việt cũng vậy: rất thống nhất với nhau về ngữ pháp, và cùng sở hữu chung một số phương tiện ngữ âm và
từ vựng Nhưng bên cạnh đó, mỗi phương ngữ lại sử dụng một số phương tiện từ vựng, ngữ âm riêng, phân biệt với các cộng đồng phương ngữ khác Mặt khác, tác dụng, ảnh hưởng của từng phương ngữ đối với ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ quốc gia cũng có khác nhau
(2) Về ngữ âm, chỉ phương ngữ Bắc mới có đủ 6 thanh; còn từ Thanh Hoá cho đến hết Nam Bộ, chỉ có 5 thanh, vì 2 thanh HỎI - NGÃ không chia tách Ngoài ra, ở Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, có ít nhất 5 thổ ngữ chỉ sử dụng 4 thanh Trong phương ngữ Bắc, các cặp phụ âm đầu R - D/GI, S - X, TR - CH không chia tách; nhưng từ Nghệ An cho đến hết Nam Bộ, các cặp phụ âm này chia tách tương đối rõ Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, và cả vùng Quảng Nam, đều phân biệt hai phụ âm V - D/GI; nhưng từ Quảng Ngãi cho đến hết Nam Bộ, phụ âm V được phát âm như phụ âm D/GI; v.v [1]
(3) Về từ vựng, phương ngữ Bắc tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Tày và gốc Hán hơn các phương ngữ Trung, Nam Phương ngữ Trung bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm hơn phương ngữ Bắc Phương ngữ Nam đặc biệt là tiếng Việt Nam Bộ thì ngoài hai đặc điểm bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm, còn có thêm đặc điểm là tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Hoa và gốc Khmer V.v
2 TIẾNG VIỆT NAM BỘ: ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM, TỪ VỰNG
2.1 Các đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt Nam Bộ
(1) Chỉ có 5 thanh điệu, trong đó thanh gọi là thanh HỎI thật ra tương đương với 2 thanh HỎI - NGÃ trong phương ngữ Bắc Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở hai thanh HỎI - NGÃ hơn so với người Việt Bắc Bộ
(2) Các cặp phụ âm đầu R - D/GI, S - X, TR - CH được chia tách tương đối rõ Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ ít viết sai chính tả ở các phụ âm này hơn so với người Việt Bắc Bộ Tuy nhiên, mức độ chia tách không đều Ở một số nơi có tiếp biến với tiếng
Trang 4Hoa (Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang ), phụ âm ngoặt lưỡi R biến thành phụ âm G hoặc J, phụ âm ngoặt lưỡi S biến thành phụ âm X, phụ âm ngoặt lưỡi TR biến thành phụ âm CH: "Bắt con cá GƠ bỏ GỔ, nĩ nhảy GƠỘC GƠỘC!"; "Cả bĩ JAO JẦY mà CHẢ cĩ năm CHĂM đồng bạc, làm XAO mà bán!"
(3) Khơng cĩ 3 phụ âm xát V, D/GI, CH, thay vào đĩ là 2 phụ âm tắc J, CH Phụ âm J tương ứng với V, D/GI, cịn phụ âm CH tắc tương ứng với CH xát trong phương ngữ Bắc Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các phụ âm
V, D/GI hơn so với người Việt Bắc Bộ
(4) Khơng cĩ âm đệm U/O, vì âm đệm bị rơi rụng: buýt => BÍT; chuyên => CHIÊNG; duyên=> DIÊNG; đồn => ĐOỊNG/ĐÀNG; gố => JÁ; khuya => PHIA; luyện => LIỆNG; nỗn => NÕNG;nhuyễn => NHIỄNG; phuy => PHI; roảng => ROỎNG; sốt
=> SOĨC; tồn => TOỊNG/TÀNG;truyền => TRIỀNG; thống => THOĨNG; xoa => XO Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các tiếng cĩ
âm đệm hơn so với người Việt Bắc Bộ
(5) Hình thành phụ âm xát mơi-mạc hữu thanh W từ sự hồ nhập của âm đệm vào 4 phụ
âm đầu K, NG, H, ? (phụ âm tắc thanh hầu khơng được thể hiện trên chữ viết): qua => WA; ngoại => WẠI; hỗn => WÃNG; ồ => WÀ Đặc điểm này cũng khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các tiếng cĩ âm đệm hơn so với người Việt Bắc
Bộ
(6) Số lượng và cách phân bố các cặp nguyên âm đối lập dài - ngắn khác hẳn phương ngữ Bắc Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở phần vần hơn so với người Việt Bắc Bộ
- Cĩ những cặp nguyên âm đối lập dài - ngắn tương tự phương ngữ Bắc, nhưng khác về quy tắc kết hợp với phụ âm cuối: I DÀI (y, im, ip) - I NGẮN (in, inh, it, ich); Ơ DÀI (ơ,
ơn, ên, ênh) - Ơ NGẮN (ân, âng, ât, âc); A DÀI (a, an, ang) - A NGẮN (ăn, ăng, anh)
- Cĩ các nguyên âm Ê DÀI (ê, êp, êm), E DÀI (e, en, eng), nhưng khơng cĩ các nguyên
âm Ê NGẮN (ênh, êch), E NGẮN (anh, ach) để đối lập với Ê DÀI (ê, ên, êt), E DÀI (e,
en, et) như trong phương ngữ Bắc
- Cĩ những nguyên âm ngắn khơng cĩ trong phương ngữ Bắc, đi đơi với các nguyên âm dài tương ứng: Ư DÀI (ư) - Ư NGẮN (ưn, ưng, ưc); U DÀI (u) - U NGẮN (un, ung, uc);
Ơ DÀI (ơ, ơn,ơơng) - Ơ NGẮN (ơng, ơc); O DÀI (o, on, oong) - O NGẮN (ong, oc); (7) Số lượng phần vần ít hơn phương ngữ Bắc, do sự đồng nhất của các vần: ên = ênh; êt
=êch; iêt = iêc; im = iêm; in = inh; ip = iêp; it = ich; iu = iêu; oc = ơc; oi = ơi; om = ơm = ơm; ong =ơng; op = ơp = ơp; ưn = ưng; ươi = ưi; ươt = ươc; ươu = ưu = u; ưt = ưc; v.v Đặc điểm này làm gia tăng hiện tượng đồng âm dị nghĩa, đồng âm dị tự, và khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở phần vần hơn so với người Việt Bắc Bộ (8) Bảo lưu nhiều hình thức ngữ âm đặc thù, thường là hình thức ngữ âm cổ:
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ
bệnh - bịnh
cục - cuộc
chân - chưn
chính - chánh
chuột nhắt - chuột lắt
doanh - dinh
đĩa - dĩa
Trang 5giầu - trầu
giun - trùn
hạt - hột
hoà - huề
hoãn - huỡn
hồng - hường
kênh - kinh
ngẩng - ngửng
nhất - nhứt
nhọ - lọ
quyền - quờn
tầng - từng
thật - thiệt
thư - thơ
trượt - trợt
vào - vô
v.v
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ
cảnh - kiểng
cưỡi - cỡi
chấy - chí
chu - châu
dĩa - nĩa
đắt - mắt
giật - giựt
gio - tro
gửi - gởi
hoa - huê
hoàn - huờn
hoàng - huỳnh
hôn - hun
kính, gương - kiếng
ngửi - hửi
nhật - nhựt
nhòm - dòm
rết - rít
tôi - tui
thối - thúi
thư ký - thơ ký
vàng anh - hoàng oanh
vẹt - két
v.v
2.2 Các đặc trưng từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ
(1) Sự phong phú đến mức cực đại về các từ ngữ biểu thị đồng bằng sông nước: Do điều kiện địa lý đặc thù nên cách thức hoạt động sản xuất của cư dân Nam Bộ mang đặc trưng
Trang 6đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác Mạng lưới kinh rạch chằng chịt chính là nguồn cung cấp nước ngọt và phù sa cho đồng ruộng, rửa phèn ở vùng trũng, là tiền đề phát triển các nghề đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, buôn bán trên sông, vận tải đường sông, v.v Cho nên, đặc trưng thứ nhất về từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ gắn liền với đặc trưng văn hoá nơi đây chính là
sự phong phú đến mức cực đại về các từ ngữ chỉ các loại hình và hoạt động sông nước: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào, bàu,đầm, láng, lung, bưng, biền, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, vàm, cửa, đảo, hòn, cù lao, cồn, bãi,mũi, mũi tàu ; nước lên, nước lớn, nước nhửng, nước đứng, nước ương, nước giựt, nước ròng,nước xiết, nước xuống, nước rặc, nước nhảy, nước chụp, nước rông, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước rút, nước cạn, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi Tương tự
là sự phong phú về tên gọi các giống lúa, các loại gạo, các loại trái cây là sản phẩm gieo trồng trên hai vùng châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long rộng lớn phì nhiêu (Nam
Bộ sản xuất đến 50% lúa và 70% trái cây cả nước)
(2) Sự bảo lưu từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến từ ngữ gốc Chăm, Hoa, Khmer, Pháp, Mỹ : Phát triển trên một vùng văn hoá đa tộc người, giao lưu tiếp biến văn hoá diễn ra sôi động, từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ có đặc trưng thứ hai gắn liền với đặc trưng văn hoá của vùng, đó là sự bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer, sự tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm, gốc Hoa, gốc Khmer, gốc Pháp, gốc Mỹ Hệ quả là làm hình thành trong tiếng Việt Nam Bộ một bộ phận từ vựng đặc thù, khác với phương ngữ Bắc:
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ
anh/chị cả - anh/chị hai
báo - beo
béo - mập
bí ngô - bí đao
bơi, lội - lội
cà chua - cà tô-mát
ca-vát - cà-vạt, cà-la-oách
cắt tóc - hớt tóc
cốc vại - ly cối
chăn - mền
chén - chung
chiếu bóng - chớp bóng
chuột chù - chuột xạ
chụp ảnh - chụp hình
dầu nhờn - nhớt
dứa - thơm
đánh rắm - địt
đậu hủ - tàu hủ
điêu - xạo
đỗ - đậu
đũa cả - đũa bếp
gáy - ót
giống - giống, in
hoa - bông
Trang 7hòm - rương
hổ - cọp
kem - cà-rem
lại sức - lợi nghỉnh
lọ - chai
lúa, thóc - lúa
màn - mùng
mặc, vận - bận
muỗm, quéo - xoài
na - mảng cầu
nón, mũ - nón
ngan - vịt xiêm
ngòi, lạch - rạch, xẻo, tắt
nhà cao tầng - nhà lầu, cao ốc
nhẫn - cà rá, khâu
nhìn - ngó
ốm, đau - đau
phó cối - thợ cối
phóng viên - ký giả
quan tài, áo quan - hòm
rặt - toàn
táo - bôm
té - tạt
thái - xắt
thi trượt - thi rớt
thợ nề, thợ xây - thợ hồ
thuyền - ghe, xuồng
trông - ngóng
vở - tập
vữa - hồ
xà-phòng - xà-bông
xem - coi
yểng - nhồng
? - lai rai
v.v
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ ảnh - hình
bát - chén
bí đỏ - bí rợ
bít tất - vớ
bút - viết, bút
cá quả, cá tràu - cá lóc
căng-gu-ru - chuột túi
cốc - tách
cừu - trừu
chân - chưn, cẳng, giò
Trang 8chèo - chèo, bơi
chum - lu, khạp
chuột rút - vọp bẻ
dầu hoả - dầu hôi
dưa bở - dưa gang
đánh điện - đánh dây thép đào lộn hột - điều
đi ngoài, đi đồng - đi cầu định - tính
đồng hồ điện - công-tơ điện được - được, đặng
gầy - ốm
hắc lào - lác
hoa đại - bông sứ
hòm thư - hộp thư
hố xí, nhà xí - cầu tiêu khăn tay - khăn mu-soa làm - làm, mần
lợn - heo
mác - mạc
máy ảnh - máy chụp hình
mì chính - bột ngọt
mướp đắng - hủ qua, khổ qua nói - nói, rằng
ngã - té
ngày kia - ngày mốt
ngô - bắp
nhặt - lượm
nhật báo - nhựt trình
ô - dù
phó cạo - thợ hớt tóc
phó nhòm - thợ chụp hình quả - trái
quần bò - quần jeans
sắn - khoai mì
tắc-te - chuột
tem - cò
thi đỗ - thi đậu
thìa - muỗng
thuê - mướn
thương, yêu - thương
trống rỗng - tồng phộc vung - nắp
vừng - mè
xe quệt - cộ
xiếc - xiệc
Trang 9? - bữa kia
? - nhậu
v.v
Đối với các từ ngữ chỉ các phương tiện đi lại mới du nhập từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế
kỷ XX thì sự khác biệt giữa tiếng Việt Nam Bộ với phương ngữ Bắc hầu như là tuyệt đối, cho thấy hai vùng đã tiếp nhận các sản phẩm này của phương Tây một cách hoàn toàn độc lập với nhau:
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ
bàn đạp - pê-đan
chắn bùn - vè
chuông - chuông
đà - trớn
đèo hàng - ba-ga
đĩa - dĩa
đùi - giò gà
đường ray - đường rầy
khung - sườn
lốp - vỏ
máy bay - tàu bay
nổ máy - đề-pa
ổ bi, vòng bi - bạc đạn
phà - bắc
phanh, hãm - thắng
rẽ - quẹo
săm - ruột
tàu bò - xe tăng
tàu hoả - hoả xa, xe lửa
tàu vũ trụ - phi thuyền
thanh truyền động - cây dên
van - vòi
xe bọc thép - xe thiết giáp
xe ca, ô tô ca, xe khách - xe đò
xe chữa cháy - xe cứu hoả
xe lăn đường, xe lu - xe hủ lô
xe quân sự - quân xa
xích - sên
? - côn
? - phuộc
Phương ngữ Bắc - Tiếng Việt Nam Bộ
bi - đạn
chắn xích - cạc-te
dừng xe - ngừng xe
đèn - đèn
Trang 10đi nhờ - quá giang
đỗ xe - đậu xe
đường băng - phi đạo
đường, phố - đường, lộ
líp - líp
lùi xe - de xe
nan hoa, đũa - căm
ô-tô - xe hơi
ống xả - ống pô
phanh - thắng
quảng trường - công trường
rơ-moóc - rờ-moọc
sân bay - phi trường, phi cảng
tàu chở máy bay, tàu sân bay - hàng không mẫu hạm
tàu ngầm - tàu lặn
tay lái - ghi-đông
trục - cốt
vành - niềng
xe ca, ô tô ca - xe hàng
xe con, ô tô con - xe du lịch
xe đạp - xe máy
xe máy - xe hai bánh gắn máy, xe gắn máy
xe vận tải - xe cam-nhông
? - chén
? - đùm
v.v
(3) Sự thay thế và lược bỏ đại từ ẤY: Trong tiếng Việt, ẤY là một đại từ đi liền sau danh
từ để biểu thị một không gian, thời gian, sự vật hoặc con người khiếm diện khi hội thoại diễn ra: "bên ấy", "hôm ấy", "cái ấy", "ông ấy" Khi xuất hiện trên văn bản viết, đại từ
ẤY thường được ghi là"ấy", hoặc đôi khi là "í" Nhưng trong thực tế hội thoại, tất cả các phương ngữ Bắc, Trung, Nam đều nhược hoá đại từ này Trong các phương ngữ Bắc, Trung, ẤY thường bị nhược hoá thành âm tiết Í, phát âm không có trọng âm: bên í, hôm
í, cái í, ông í
Trong phương ngữ Nam bao gồm Nam Bộ, ẤY càng bị nhược hoá mạnh hơn, hoà nhập hẳn vào danh từ đứng trước dưới dạng THANH ĐIỆU HỎI: bển, đẳng, trỏng, ngoải, trển, hổm, nẳm, ổng,bả, chả, mẻ, ảnh, chỉ, ẻm, cẩu, mở, dỉ, dưởng, vả, thẳng, cỏn, thẩy, cổ Bằng cách đó, trong phương ngữ Nam và tiếng Việt Nam Bộ đã hình thành một nhóm đại
từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi, không có trong các phương ngữ Bắc, Trung Trong trường hợp danh từ đứng trước mang các thanh hỏi, ngã, sắc như khoảng,
dưới,tháng, bữa, cái, bác, chú, thím, cháu khiến cho đại từ ẤY không thể hoà nhập được, phương ngữ Nam và tiếng Việt Nam Bộ sẽ chọn một trong ba cách:
- Thay thế ẤY bằng một đại từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi: "Bà đã gặp bác Năm rồi, vậy ổng nói sao?"; "Bữa nay sắp hết tiền, bữa hổm anh chưa lãnh lương à?"
- Thay thế ẤY bằng đại từ ĐÓ: "Bánh trái thì ở dưới đó chứ ở đâu, không lo kiếm mà cứ hỏi hoài?"; "Cu Tí không được nhõng nhẽo chú Tuấn nữa Chú đó hổng phải là ba đâu