1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của mặt trận tổ quốc việt nam trong bảo đảm quyền con người từ thực tiễn huyện hóc môn, thành phố hồ chí minh

68 312 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 742,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phủ, các nhà tài trợ, các cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác trong xã hội nhằm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và Chiến lược cải cách tư pháp; 3/ Tăng cư

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM THỊ TÍNH

HÀ NỘI, 2021

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính là những quyền làm người cao cả nhất theo Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước quốc tế về quyền con người (QCN), song những quyền đó chỉ được thực thi trong một quốc gia độc lập, tự do Vì những giá trị cao quý đó, suốt chiều dài lịch sử, nhân loại tiến bộ, trong đó có nhân dân Việt Nam đã không quản hy sinh xương máu, gian khổ đấu tranh để giành lấy/giành lại Bảo đảm QCN là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, tự do và đặc biệt là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới Điều này được thể hiện rõ qua việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện

hệ thống chính sách, pháp luật và thực thi các giải pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, để mọi người dân có cuộc sống ngày càng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần; xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Nhà nước

ta luôn rất tích cực trong việc nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nhằm từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm QCN

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong bảo đảm QCN, thực tế vẫn còn nhiều điều cần quan tâm Đó là, ở một số nơi vấn đề QCN chưa nhận được sự quan tâm từ những người làm công tác quản lý cho đến người dân Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về QCN đến với người dân chưa được triển khai một cách đồng bộ dẫn đến sự hiểu biết về QCN của người dân, thậm chí của cả những người thực thi QCN

ở nhiều nơi còn hạn chế Tình trạng vi phạm QCN vẫn còn diễn ra khá phổ biến

Để các QCN đi vào cuộc sống, ngoài các thể chế và thiết chế do Nhà nước lập ra còn phải có khâu tổ chức thực hiện quyền Trong các thiết chế bảo đảm QCN không thể thiếu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) Với vai trò là

cơ quan đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, những năm qua MTTQVN đã đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, MTTQVN cũng còn nhiều hạn chế trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo đảm và bảo vệ QCN Điều này được xác định do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan Để làm rõ những thuận lợi, khó khăn và những bất cập trong thực thi vai trò

Trang 5

bảo đảm QCN của MTTQVN, học viên đã chọn chủ đề: “Vai trò của Mặt trận tổ

quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người từ thực tiễn Huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực tế, đã có rất nhiều nghiên cứu tiếp cận vấn đề QCN dưới nhiều góc độ khác nhau; nó được đặt trong các mối quan hệ khác nhau để nhìn nhận và đánh giá Chẳng hạn, Đề tài thuộc chương trình cấp Nhà nước đã được thực hiện cho đến nay

có thể kể đến: Đề tài KX07.16 “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền

công dân trong công cuộc đổi mới đất nước” do GS Hoàng Văn Hảo làm chủ

nhiệm (Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX07 “Con người - mục

tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” giai đoạn 1990 - 1995 do

GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm) đã đi vào phân tích những điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện QCN và quyền công dân ở nước ta trong giai đoạn đổi

mới đất nước; Đề tài khoa học cấp Nhà nước Quyền con người trong thời kỳ đổi

mới: Thành tựu, vấn đề và phương hướng giải quyết do TS Cao Đức Thái làm Chủ

nhiệm, (2001-2005); Đề tài KX02.18/16.20: Nghiên cứu tổng kết lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin về vấn đề con người, quyền con người và đề xuất, bổ sung, phát

triển vào thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới trực thuộc Chương trình KX

02/16-20 “Nghiên cứu Tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin - cấu

phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới” do TS Phạm Thị Tính làm chủ nhiệm (2018 - 2020)

Một số dự án hợp tác nghiên cứu về QCN giữa Bộ Ngoại giao và Chương

trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), có thể kể đến như: “Thực thi các hiệp

ước về QCN ở Việt Nam” (2008-2011) với 3 mục tiêu: 1/Nâng cao nhận thức,

2/Tăng cường năng lực và 3/Xây dựng quan hệ đối tác Dự án: “Tăng cường tiếp

cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” (2009-2014) với mục tiêu: 1/Hỗ trợ thực

hiện các Nghị quyết 48-NQ/TW và 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành các Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Chiến lược cải cách pháp luật) và Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 (Chiến lược cải cách tư pháp); 2/ Điều phối quan hệ đối tác giữa Chính

Trang 6

phủ, các nhà tài trợ, các cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác trong xã hội nhằm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và Chiến lược cải cách tư pháp; 3/ Tăng cường năng lực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp thông qua việc xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển ngành Tư pháp đến năm 2020 trong mối quan hệ tương tác với những yêu cầu mới về vị trí vai trò của ngành tư pháp trong thời kỳ hội nhập; 4/ Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền trong đó có xây dựng Bộ Chỉ số tư pháp cấp tỉnh; nghiên cứu, đề xuất xây dựng chiến lược về Trao quyền pháp lý cho người nghèo; tăng cường việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về nhân quyền và nội luật hoá các cam kết quốc tế này vào pháp luật trong nước; 5/ Tăng cường cải cách tư pháp thông qua hỗ trợ nghiên cứu các nội dung và các sáng kiến mang tính liên ngành

Chương trình cấp Bộ nghiên cứu về bảo đảm thực thi QCN có thể kể đến: Một

số vấn đề cơ bản về quyền con người và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 vì mục tiêu phát triển con người do PGS.TS Mai Quỳnh Nam

(Viện nghiên cứu Con người) làm chủ nhiệm, trong đó có đề tài nhánh « Một số vấn

đề cơ bản về quyền Dân sự - Chính trị và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 do TS Trương Văn Dũng làm chủ nhiệm; Một số vấn đề cơ bản về quyền Kinh tế và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011-

2020 do Ths Nguyễn Đình Tuấn làm chủ nhiệm; Một số vấn đề cơ bản về quyền Văn hóa, Xã hội và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 do

TS Vũ Thị Minh Chi làm chủ nhiệm

Các đề tài độc lập cấp Bộ, có thể kể đến: Sự đóng góp của chủ nghĩa Mác vào

vấn đề quyền con người của Hoàng Việt, (Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 4/1993); Mác – Ăngghen bàn về quyền con người của Vũ Hoàng Công (Tạp chí Nghiên cứu

lý luận, số 11/2001); Quyền con người nhìn từ góc độ triết học của Hoàng Công (Tạp chí Triết học 2010); Chủ nghĩa Mác và các quyền con người của Maria Hirszowicz (Tạp chí Thông tin KHXH, số 11/1999); Những đóng góp có ý nghĩa

thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN (2009) của Cao Đức Thái; Quyền con người và an ninh con người của Tường Duy Kiên (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

1/2010);… đã đưa thêm những thông tin, những luận chứng quan trọng, cung cấp

Trang 7

cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề QCN và thực thi QCN ở Việt Nam thời gian qua

Liên quan đến vấn đề QCN cũng có nhiều sách dịch và các công trình nghiên

cứu được công bố như: “QCN, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới”, Học viện Chính trị quốc gia HCM (1993); “QCN trong thế giới hiện đại: Nghiên cứu và

thông tin”, Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo (1995); “QCN, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”, Trần Ngọc Đường (2004); “QCN, quyền công dân”, KX-07 (1993); “QCN, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Nguyễn Bá Diễn (1993); “QCN ở Trung Quốc và Việt Nam”, Trung tâm

nghiên cứu QCN - Hội nghiên cứu QCN Trung Quốc (2003); “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về nhân quyền”, Phạm Ngọc Anh (2005); “Con người và PTCN”, Hồ Sĩ Qúy

(2007); Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009); “Giáo dục QCN những vấn đề lý luận và thực tiễn”,

Võ Khánh Vinh (2010)

- Một số luận văn và luận án về bảo đảm quyền con người hiện có: Nguyễn

Văn Mạnh (1995): Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con

người trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học

viên chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Tường Duy Kiên (2004): Đảm bảo quyền con

người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viên

chính trị quốc gia Hồ Chí Minh… Ngoài ra, vấn đề QCN còn được đề cập trong nhiều tạp chí và các hội thảo khoa học cấp quốc tế, quốc gia (Bộ Ngoại giao, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam); cấp Viện (Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Nghiên cứu Con người, Viện Nghiên cứu Quyền Con người…), Trường Đại học (Đại học Quốc gia, Đại học Luật,…) được tổ chức trên toàn quốc

Về vai trò của MTTQ Việt Nam trong bảo đảm QCN có thể kể đến một số

chuyên khảo, công trình nghiên cứu, như:

Tác giả Huỳnh Đảm với bài viết: Nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam [18] Tác giải đã đánh giá : Nhà nước quản lý xã hội, do đó phải

kiểm tra, giám sát thi hành và chấp hành pháp luật đối với mọi đối tượng trong xã hội Do đó, giám sát cần phối hợp chặt chẽ giữa giám sát của Đảng, giám sát của

Trang 8

Nhà nước và giám sát của Mặt trận Sau khi phân tích những quy định của Hiếp pháp và pháp luật liên quan về giám sát của MTTQ, tác giả nêu rõ những thành tựu của Mặt trận trong quá trình thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, tuy nhiên kết quả giám sát còn khiêm tốn và còn nhiều bấp cập

Luật sư Trần Ngọc Nhẫn với hai bài viết: Một số đề xuất về giám sát và phản

biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân” [49, tr.21-24] và Giám sát và phản biện xã hội là cơ chế quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN [47, tr.35-38] chỉ rõ giới hạn giữa phạm vi giám sát và phạm vi phản biện

Theo đó, phạm vi giám sát rất rộng, gồm hoạt động của cấp ủy đảng các cấp, các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên, nhưng chỉ trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không giám sát quá trình dự thảo các chủ trương, chính sách, pháp luật đó Còn phản biện xã hội chỉ thực hiện trong quá trình dự thảo chủ trương, chính sách, pháp luật; không phản biện xã hội khi chủ trương, chính sách, pháp luật đã được ban hành

Tác giả Nguyễn Thị Lan với bài: Mặt trận phối hợp thực hiện quyền làm chủ

của nhân dân [36, tr.50-52] và bài Đẩy mạnh hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc [35, tr.46-50] đã chỉ rõ những bất cập của pháp luật hiện hành

liên quan đến chức năng giám sát và phản biện của MTTQ, từ đó dẫn đến hoạt động giám sát và phản biện chung chung, chưa đạt hiệu quả cao, đồng thời đề xuất ban hành các luật quan trọng bảo đảm quyền giám sát của MTTQ như sửa đổi Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện hành, nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật về giám sát của nhân dân

Bùi Thị Nguyệt Thu (2015),”Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam thực

tiễn và một số kiến nghị”, tạp chí Dân Chủ và Pháp luật Tác giả đã nhấn mạnh một

số kết quả trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của MTTQ Việt Nam và chỉ

ra một số tồn tại, hạn chế dẫn đến hiệu quả, hiệu lực giám sát của MTTQ Việt Nam còn thấp Trên cơ sở đó tác giả chỉ ra nguyên nhân và một số kiến nghị để công tác giám sát của MTTQ Việt Nam đi vào thực chất và hiệu quả

Trang 9

Trần Thị Hồng Loan (2017), “Nâng cao vai trò giám sát và phản biện của

MTTQ tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Học viện KHXH,

Hà Nội Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam; thực trạng hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ tại Thành phố Hồ Chí Minh và nêu quan điểm, giải pháp tăng cường hoạt động giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Vũ Thị Như Hoa (2013), Nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam ở

nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận án

đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về PBXHvà vai trò của MTTQ Việt Nam trong PBXH, khẳng định PBXH là xu thế tất yếu của sự phát triển, là nhu cầu của cuộc sống và đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng PBXH; đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Có thể nói, các công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo, các hội thảo khoa học các cấp, tọa đàm, các bài báo về vấn đề QCN, bảo đảm QCN thời gian qua

đã luận giải từ nhiều góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn; từ ở phương diện

tư tưởng chính trị nền tảng cho đến những nghiên cưú mang tính chuyên sâu về QCN đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, phát triển lý luận nền tảng và thực tiễn bảo đảm QCN ở Việt Nam Cho đến nay, vấn đề QCN không còn

là vấn đề “mới mẻ” hay “nhạy cảm”, cụm từ QCN đã hòa vào xã hội, trong tất cả các thành tố của xã hội, đặc biệt là từ khi Hiến pháp 2013 đi vào cuộc sống Bên cạnh đó, để có được vị trí như hiện nay, QCN phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử, với sự đóng góp công sức của rất nhiều các cơ quan, tổ chức trong đó không thể thiếu vai trò của MTTQ Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của MTTQVN trong bảo đảm QCN ở Việt Nam chưa nhiều, chưa giải quyết được các khó khăn và bất cập đặt ra trong bối cảnh mới Với cách tiếp cận dựa trên quyền con người và cách tiếp cận xã hội học, luật học (tổng hợp, phân tích) luận văn sẽ làm sáng tỏ hơn một số khó khăn, bất cập trong thực hiện vai tṛ đảm bảo QCN của MTTQ Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp ở huyện Hóc Môn TP.HCM Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy vai

Trang 10

trò của MTTQVN trong việc bảo đảm QCN ở huyện Hóc Môn nói riêng và của Việt Nam nói chung

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ thực tiễn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh; từ đó, chỉ ra những thành tựu, bất cập và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai

trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm QCN trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu khái quát cơ sở lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người

- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người của MTTQVN qua nghiên cứu trường hợp huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Hóc Môn trong bảo đảm quyền con người

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

hợp pháp của công dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người: Coi việc hỗ trợ thực hiện,

Trang 11

thụ hưởng các quyền con người là mục tiêu chính trong các chính sách và chương trình phát triển; Lấy các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về QCN làm định hướng trong việc thiết lập và thực hiện các chính sách, chương trình phát triển; Làm rõ những chủ thể quyền, chủ thể có trách nhiệm và các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của họ, từ đó hỗ trợ tăng cường năng lực trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, người viết cũng tham khảo ý kiến các cán

bộ, đồng nghiệp trưởng thành từ hoạt động thực tiễn, có những ý kiến đánh giá sát thực về phát huy vai trò của tổ chức Mặt trận tổ quốc trong bảo đảm quyền con người, nhất là về những giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn vận dụng lý thuyết về thực thi pháp luật để nhìn nhận, đánh giá việc thực hiện các giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc trong việc bảo đảm quyền con người; từ đó chỉ ra những bất cập của quá trình thực thi và giải pháp tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần phát huy vai trò của của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Hóc Môn trong bảo đảm quyền con người

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

1.1 Một số vấn đề lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

1.1.1 Một số khái niệm công cụ

- Khái niệm Mặt trận, Mặt trận Tổ quốc:

Theo cách hiểu chung nhất: Mặt trận là một tập hợp các lực lượng, các tổ chức, các cá nhân cùng theo đuổi một mục tiêu, một định hướng, một lý tưởng

Mặt trận cũng được hiểu theo nghĩa là một liên minh chính trị rộng rãi Tại Điều 9 của Hiến pháp năm 2013 đã hiến định "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp

xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [18; tr.11]

Tại Điều 1.1 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [22; tr.5]

Với ý nghĩa MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị rộng rãi như trên thì MTTQ cũng là tổ chức tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lập ra và lãnh đạo

Chức năng của liên minh chính trị là hoạt động tham chính, tham gia vào công việc của chính quyền Nhà nước, tham gia tổ chức thi hành đường lối, chính sách và xây dựng cuộc sống, chăm lo lợi ích của các cộng đồng dân cư Tùy theo hoàn cảnh và nhiệm vụ cụ thể, chức năng cụ thể của Mặt trận có thể thay đổi

Một trong những mục tiêu cơ bản của HTCT trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là xây dựng nền dân chủ XHCN, nền dân chủ với quảng đại quần chúng, vì lợi ích của nhân dân Nền dân chủ có sự thống nhất về cơ bản

Trang 13

giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại MTTQ đóng vai trò là một liên minh chính trị, là khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện trên mấy vấn đề: MTTQ là nơi hiệp thương bầu cử các cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và ở địa phương MTTQ thật sự thực hiện được chức năng tư vấn và giám sát, phản biện xã hội đối với Nhà nước và với Đảng Cộng sản

MTTQ Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong công tác vận động quần chúng của Đảng, giữ vai trò to lớn trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Có thành tích đó là nhờ: Hồ Chí Minh và Đảng ta có ý thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân Bởi vì Bác

Hồ và Đảng ta luôn nhìn thấy ở mỗi người Việt Nam một người yêu nước và MTTQ là sự tập hợp và nhân lên gấp bội nhiệt tình yêu nước ấy

Các thành viên của MTTQ Việt Nam hiện nay gồm có:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập 3/2/1930); có hơn 2,3 triệu đảng viên [24, tr.51] là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất hệ thống chính trị Việt Nam, vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo MTTQ

+ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (thành lập 28/7/1929), là tổ chức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam, giai cấp tiêu biểu cho lực lượng sản xuất tiến

bộ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

+ Hội Nông dân Việt Nam (Công hội đỏ, thành lập 14/10/1930), là tổ chức chính trị - xã hội với 7,685 triệu hội viên, chiếm trên 42% nông dân từ 18 tuổi trở lên [24, tr.50]

+ Hội Cựu chiến binh Việt Nam (thành lập 06/12/1989), có 80 vạn hội viên đại biểu cho khoảng 4,5 triệu cựu chiến binh (chiếm khoảng 15% dân số, trong đó

có trên 13% tham gia cấp ủy địa phương, 14% tham gia công tác trong các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, 48% đang lao động trong nông nghiệp, sinh hoạt trong hơn 9.530 tổ chức hội cơ sở [24, tr.50]

+ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (thành lập tháng 20/10/1930), có trên 10 triệu hội viên, sinh hoạt trong hơn 19.930 tổ chức hội cơ sở; đại diện cho 52% lao

Trang 14

động xã hội [24, tr.51], là tổ chức chính trị, xã hội của một nửa thế giới, có nhiệm

vụ thực hiện quyền làm chủ của các chị, các mẹ trong các phong trào "Ba đảm đang", "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" và trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ

+ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (thành lập 26/3/1931), với 2,05 triệu đoàn viên (trong tổng số 20,5 triệu thanh niên), là tổ chức đại biểu cho trên 30% dân số, gần 50% lao động xã hội [24, tr.50], là tổ chức chính trị của thế hệ trẻ, thế hệ tràn đầy nhựa sống sẽ tiếp nối sự nghiệp cha ông, thế hệ đã từng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai"

MTTQVN là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo MTTQVN có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới'' ''Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị -

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài (Điều 1, Chương1, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)' ''Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động'

- Khái niệm Quyền con người

Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện Xuất phát từ tính

đa diện này nên nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm dưới những cách tiếp cận riêng

Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về QCN phụ thuộc vào sự nhìn

Trang 15

nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường được trích dẫn nhiều bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc

sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người

Bên cạnh định nghĩa của OHCHR kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, QCN là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị

xã hội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người [39, tr.20]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu, các cơ quan khác nhau cũng đưa ra những khái niệm riêng Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, QCN thường được hiểu là những nhu cầu tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Như vậy, có thể nói, mặc dù có nhiều quan điểm, cách đánh giá, tiếp cận khác nhau song quyền con người luôn được luật pháp các nước tiến bộ thừa nhận và bảo đảm thực hiện Những chuẩn mực này được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Đó là những quyền của con người, được có một cách tự nhiên gắn

bó mật thiết với con người (động vật cao cấp có tư duy, làm cho con người khác với con vật), nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm cho các QCN được thực hiện và nghĩa

vụ bảo vệ khi các QCN bị xâm phạm

- Khái niệm bảo đảm quyền con người

Để bảo đảm và bảo vệ QCN, cộng đồng thế giới đã thông qua nhiều điều ước quốc tế về QCN Trong đó, Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 được coi là Bộ luật quốc tế về QCN Việt Nam là

Trang 16

thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về QCN chủ chốt, trong đó có Bộ luật Nhân quyền quốc tế Và, Chính phủ Việt Nam có nghĩa vụ và trách nhiệm Tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các QCN của công dân trước các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và việc nội luật hóa nội dung các Điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam Các QCN, quyền công dân (QCD) ở Việt Nam được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống các Bộ luật, luật và văn bản dưới luật, và được xác lập các thiết chế bảo đảm và bảo vệ Trường hợp các quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia nhưng chưa được nội luật hóa vào pháp luật quốc gia thì Việt Nam có quyền sử dụng trực tiếp nội dung Công ước quốc tế vì mục tiêu bảo đảm và bảo vệ QCN, QCD của người dân Việt Nam

Để bảo đảm quyền con người, Nhà nước có nghĩa vụ:

- Thứ nhất: Tôn trọng quyền con người: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp, vào việc hưởng thụ các quyền con người đã được ghi nhận trong pháp luật Đây được coi là một nghĩa

vụ thụ động (negative obligation) bởi lẽ không đòi hỏi các nhà nước phải chủ động đưa ra những sáng kiến, biện pháp hay chương trình nhằm hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ các quyền

Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect): Nghĩa vụ này đòi hỏi các

nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền của các bên thứ ba Đây được coi

là một nghĩa vụ chủ động (positive obligation) bởi để ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền của các bên thứ ba, các nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng các cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm

Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện (obligation to fulfil [4]): Nghĩa vụ này đòi hỏi các

nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người Đây cũng được coi là nghĩa vụ chủ động, bởi nó yêu cầu các nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người

Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi cụ thể như: Không còn đồng nhất “quyền con người” với “quyền công dân” như ở Điều 50 Hiến pháp năm 1992,

mà sử dụng khá hợp lý hai thuật ngữ này cho từng lĩnh vực cụ thể khi Hiến pháp

Trang 17

quy định các quyền/tự do của cá nhân có quốc tịch Việt Nam - công dân và cá nhân không có quốc tịch Việt Nam - quyền con người Như vậy nhà nước ta đã ghi nhận

cả ba nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ và thực hiện QCN Đồng thời, hiến pháp 2013 cũng bổ sung một nguyên tắc hiến định, đó là QCN, QCD chỉ

có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các cơ quan nhà, công chức nhà nước tùy tiện giải thích và hạn chế các quyền hiến định, bởi nó nêu rõ những lý do có thể được sử dụng để hạn chế QCN, QCD cùng với việc giới hạn chủ thể duy nhất là Quốc hội mới có thể quyết định việc này (bằng luật), chứ không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào (bằng pháp luật)

Như vậy, có thể hiểu, bảo đảm QCN là việc các chủ thể trách nhiệm (nhà

nước, các cơ quan, ban ngành của nhà nước, công chức nhà nước, ) được Nhà nước giao nhiệm vụ trong bảo đảm QCN thông qua các thể chế và thiết chế Đó

là tổ chức thực hiện, đưa các QCN vào thực tiễn cuộc sống dựa trên các thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm quyền, các chủ thể trách nhiệm có nghĩa vụ bảo đảm, bảo vệ các QCN, QCD trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối

xử, QCN của tất cả mọi người

1.1.2 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

1.1.2.1 MTTQ với vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân

Hiến pháp và Luật Mặt trận Tổ quốc 2015 đã quy định: MTTQ giám sát cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội thực hiện nghiêm chỉnh bầu cử, MTTQ kiểm tra xem nơi nào làm không đúng quy trình hiệp thương, không làm đúng quy định của luật pháp về bầu cử, MTTQ có thể kiến nghị với cơ quan chỉ đạo uốn nắn lại Như vậy trách nhiệm của MTTQ là hết sức to lớn MTTQ, với tư cách là tổ chức đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân có đủ tư cách tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước, như: tham gia xây dựng Hiến pháp, Luật dân sự, Luật lao động, Luật hình sự và tham gia xây dựng nhiều pháp lệnh, văn bản pháp quy thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến lợi ích của các thành viên trong MTTQ

Trang 18

Một số hoạt động của MTTQ đã được luật hóa và được tiến hành có nề nếp như tham gia tố tụng, tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hội thẩm nhân dân, tham gia xây dựng pháp luật Đến nay, hầu hết ủy ban MTTQ các huyện, quận ở Thành phố HCM đã xây dựng đươc quy chế phối hợp công tác giữa MTTQ với HĐND và UBND cùng cấp

Ủy ban MTTQ và các tổ chức thành viên các cấp đã phối hợp với chính quyền cải tiến nội dung và quy trình tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và phối hợp với chính quyền triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, nhằm thực hiện dân chủ trực tiếp của dân theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Thông qua phương tiện thông tin đại chúng của MTTQ như báo Đại đoàn kết, báo của các

tổ chức thành viên và các phương tiện khác, MTTQ nêu những gương tốt, việc tốt, thẳng thắn tố cáo những việc làm vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ đồng thời thông qua UBMTTQ các cấp để kiến nghị với Nhà nước xử lý nghiêm những hành

vi vi phạm đó, góp phần đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, bảo vệ quyền làm chủ của dân, nhất là ở cơ sở

MTTQ là công cụ hiệu quả trong việc tham gia công tác hòa giải ở địa bàn dân cư; góp phần cùng Đảng và chính quyền giải quyết, triệt phá các ngòi nổ có thể dẫn tới các "điểm nóng" chính trị hiện nay, tổng hợp, nghiên cứu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước

Quyền làm chủ của nhân dân qua kênh MTTQ được Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định tại Điều 2 "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp

và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới" [22; tr.5-6]

MTTQ là tổ chức tập hợp, phối hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, thể hiện

Trang 19

ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân

MTTQ Việt Nam là thành viên chiến lược của hệ thống chính trị

Sự quy định MTTQ là thành viên trong HTCT là do yêu cầu khách quan của

sự nghiệp cách mạng, là xuất phát từ bản chất của thể chế chính trị dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân

Để phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan quyền lực Nhà nước do dân cử cũng cần xác định lại cho đúng vị trí, vai trò của tổ chức MTTQ Nhân dân thực hiện quyền làm chủ không chỉ thông qua tổ chức Nhà nước mà còn thông qua tổ chức xã hội Hướng phát triển của nền dân chủ XHCN và ngày càng phát huy vai tṛ của các tổ chức xă hội th́ MTTQ có vai tṛ quan trọng Đó là một nét khá độc đáo trong quá trình cách mạng Việt Nam Một trong những nguyên nhân thành công của Đảng ta là "lấy dân làm gốc" và khéo vận dụng các hình thức tổ chức thích hợp của MTTQ để đoàn kết và động viên các tầng lớp nhân dân rộng rãi Có thể nói một cách hình ảnh, MTTQ là một của ba chân kiềng trong cơ chế Đảng, Chính quyền và MTTQ MTTQ phát huy được vai trò của mình càng làm vững thêm các thế kiềng

ba chân của cách mạng

Qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp UBMTTQ các cấp

đã tổ chức hội nghị hiệp thương, giới thiệu đầy đủ các ứng cử viên; tổ chức đại biểu dân cử tiếp xúc với cử tri, qua đó tạo được sự phấn khởi, nâng thêm tầm hiểu biết và niềm tin trong dân

Thực tế, MTTQ các cấp là cơ quan thường trực, trực tiếp chủ trì chỉ đạo, phối hợp với chính quyền các cấp tổ chức các hoạt động để bầu cử (tập huấn, phổ biến nội quy, quy chế, yêu cầu ) để thực hiện việc bầu ra cơ uan quyền lực của nhà nước, bảo đảm thể hiện nguyện vọng, ý chí của nhân dân, bảo đảm đúng quy định của pháp luật

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, theo quy định của pháp luật về bầu cử, MTTQ Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp với cơ quan Nhà nước hữu quan tổ chức hội nghị cử tri ở nơi

cư trú, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử; tham gia tuyên truyền,

Trang 20

vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân

MTTQ Việt Nam có quyền và trách nhiệm tham gia tố tụng, tham gia Hội đồng tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu người đủ tiêu chuẩn để bầu, cử làm hội thẩm tòa án nhân dân theo quy định của pháp luât

1.1.2.2 Là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 ghi nhận ý vai trò lịch sử và ý nghĩa chính trị to lớn của MTTQ Như vậy, chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ngày càng được thể hiện rõ nét trong các văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước Thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, MTTQVN đã phát huy ngày càng rõ nét hơn vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, thực hiện quyền làm chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Mặt trận đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức thành viên tăng cường tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng từ trung ương đến cơ sở, khu dân cư, đến từng nhóm đối tượng, hộ dân, hội viên, đoàn viên, tạo sự đồng thuận, thống nhất và ổn định xã hội Ủy ban Trung ương MTTQVN đã ban hành và triển khai thực hiện Đề án “Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền của MTTQVN”, trọng tâm là hoàn thiện về cơ chế, phương thức, củng cố phương tiện, lực lượng làm công tác thông tin, truyền thông từ trung ương đến cơ sở Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên, nhóm nòng cốt nắm tình hình,

dư luận trong nhân dân được củng cố và hoạt động hiệu quả hơn Hệ thống báo chí của Mặt trận và các đoàn thể ở Trung ương, bản tin công tác Mặt trận ở các địa phương được nâng cao về chất lượng và phát hành đến khu dân cư Thông qua hệ thống truyền thông và lực lượng đông đảo báo cáo viên, tuyên truyền viên của Mặt trận và các tổ chức thành viên, kết hợp với các cơ quan truyền thông của Đảng và

Trang 21

Nhà nước đã kịp thời cung cấp thông tin, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội, chương trình công tác của Mặt trận đến với các tầng lớp nhân dân

- MTTQ đã thực hiện tốt vai trò chủ trì trong việc phát động và tổ chức thực hiện các cuộc vận động đến đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo và nguồn lực trong xã hội góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu,

nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước

1.1.2.3 Là tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội

Hoạt động của MTTQVN góp phần tạo sự đồng thuận ngày càng cao trong

xã hội; thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân ý thức về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình, đồng thuận và tích cực thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước

1.1.2.4 Vai trò giám sát, phản biện xã hội

Hoạt động giám sát của MTTQVN, các tổ chức chính trị - xã hội là một trong những hình thức của cơ chế kiểm soát QLNN Đó là hoạt động theo dõi, quan sát, xem xét của MTTQ và Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN), Hội Cựu chiến binh (CCB) nhằm tác động, định hướng các đối tượng bị giám sát thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Khác với cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước, hậu quả pháp lý trong cơ chế pháp lý kiểm soát quyền từ bên ngoài không có tính cưỡng chế nhà nước mà kết quả kiểm soát được thể hiện dưới dạng kiến nghị hoặc thông qua dư luận xã hội, gửi “thông điệp” đến CQNN, người có thẩm quyền để xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức, các CQNN có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ

Giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội là một bộ phận của cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN, hướng đến mục tiêu bảo đảm QLNN được sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả, ngăn ngừa và hạn chế tình trạnh lạm quyền, tham nhũng QLNN Cơ chế kiểm soát QLNN phải bảo đảm tính độc lập tương đối của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, phải bảo đảm sự kết hợp giữa

Trang 22

các hình thức giám sát của Nhà nước (giám sát Quốc hội, HĐND), hoạt động kiểm tra, thanh tra của Nhà nước với các hình thức giám sát của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội Do vậy, mô hình giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phải bảo đảm các thiết chế giám sát không bị phụ thuộc vào đối tượng chịu sự giám sát Pháp luật phải bảo đảm MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội không bị

lệ thuộc vào chính đối tượng bị giám sát, phản biện về ngân sách, biên chế Ngoài

ra, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phải thể hiện được hết vai trò giám sát của mình một cách chủ động và độc lập với các chủ thể giám sát khác Các CQNN, cán bộ, công chức, viên chức và người có thẩm quyền phải có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giám sát; trao đổi những vấn đề liên quan theo đề nghị của chủ thể giám sát; góp ý vào dự thảo báo cáo giám sát khi được chủ thể giám sát đề nghị CQNN, người có thẩm quyền phải tổ chức thực hiện và trả lời kiến nghị giám sát bằng văn bản cho chủ thể giám sát của Nhân dân theo quy định

Hoạt động giám sát của MTTQVN được thực hiện bằng các hình thức sau: MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp và tham gia các hoạt động giám sát với Quốc hội và HĐND các cấp; thường xuyên “cử đại diện tham gia các đoàn giám sát do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, HĐND, các ban của HĐND tiến hành đã giúp Ủy ban MTTQ phát hiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý những vi phạm pháp luật trong hoạt

không khí cởi mở và tạo ra sự đồng thuận giữa chủ thể và các đối tượng giám sát trong việc tìm kiếm giải pháp để giải quyết những kiến nghị về giám sát

Để thực hiện tốt chức năng quan trọng này, cần sự đổi mới căn bản về nhận thức và phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể các cấp Chính phủ

và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành quy chế phối hợp trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chính quyền và của cán bộ, công chức nhưng trên thực tế chủ trương này chưa đi vào cuộc sống, chưa đủ những điều kiện cần thiết để MTTQ các cấp triển khai thực hiện Một số địa phương đề ra chủ trương và ban hành các quyết định không được sự đồng thuận cao của nhân dân, trước hết là do không tạo điều kiện để nhân dân tham gia ý kiến trực tiếp hoặc thông qua người đại

Trang 23

diện của nhân dân là MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội

Giám sát và phản biện xã hội không phải là “bới lông tìm vết” để phản kháng, bác bỏ mà bản chất của hoạt động này mang tính xây dựng, làm cho các quyết định của cơ quan Đảng, chính quyền được hoàn thiện hơn, đúng đắn hơn, phù hợp với ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân và có tính khả thi cao; giúp cho đảng viên, cán bộ thấy được những khiếm khuyết, góp phần đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên

Để MTTQVN làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan Nhà nước các cấp, trước hết là người đứng đầu, cần đổi mới nhận thức, coi giám sát và phản biện xã hội là một khâu trong quy trình xây dựng đề

án, dự án trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định Mặt khác, Nhà nước ta

là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý và điều hành đất nước theo Hiến pháp

và pháp luật, vì vậy trên cơ sở thực hiện quy chế của Bộ Chính trị, từng bước rút kinh nghiệm, tiến tới cần có Luật về giám sát và phản biện xã hội Hằng năm, MTTQ lựa chọn những vấn đề có quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, những vấn đề mà các thành viên của MTTQ và dư luận xã hội quan tâm…, để xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát và phản biện xã hội

Đối tượng giám sát của MTTQ là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ

sở và đảng viên, cán bộ, công chức Để hoạt động giám sát bảo đảm thật sự dân chủ, công khai, khách quan, xây dựng cần củng cố và phát huy vai trò của ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố có đại diện của các cụm dân cư, tổ dân phố, đây là những người trực tiếp sống với dân, gần dân, lắng nghe được nhiều ý kiến nguyện vọng của dân Để khắc phục tình trạng hình thức trong thực hiện Quy định 76-QĐ/TW ngày 15/6/2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII), hằng năm Cấp ủy nơi đảng viên, cán

bộ, công chức cư trú, căn cứ vào kết quả giám sát, gửi nhận xét đến cấp ủy nơi công tác hoặc gửi đến cơ quan quản lý cán bộ, đảng viên

Trách nhiệm của MTTQVN: xây dựng kế hoạch phản biện xã hội; yêu cầu cơ quan, tổ chức gửi dự thảo văn bản và thông tin cần thiết Tổ chức phản biện, gửi văn bản kiến nghị đến cơ quan, tổ chức dự thảo văn bản Yêu cầu cơ quan soạn thảo trả lời bằng văn bản đối với kiến nghị của mình; trường hợp cơ quan dự thảo văn bản

Trang 24

không tiếp thu thì yêu cầu có giải trình; tổ chức đối thoại khi cần thiết

Đối với cơ quan, tổ chức được phản biện phải có trách nhiệm gửi dự thảo văn bản cần phản biện đến MTTQ Việt Nam trong thời hạn ít nhất là ba mươi ngày trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định; cung cấp thông tin cần thiết Cử người có trách nhiệm tham dự hội nghị phản biện hoặc tham gia đối thoại khi MTTQ Việt Nam có yêu cầu Trả lời bằng văn bản về việc tiếp thu ý kiến phản biện đến MTTQ Việt Nam; báo cáo ý kiến phản biện của MTTQ Việt Nam với cơ quan,

Do phản biện xã hội là một nhiệm vụ mới, khó và nhạy cảm, hoạt động này nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và qui định của Nhà nước Vì vậy, MTTQ Việt Nam cần kiến nghị đề xuất với Đảng có nghị quyết hoặc chỉ thị chuyên

đề và Nhà nước cần thể chế hóa bằng văn bản pháp luật về phản biện xã hội, để qui định rõ về đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức, cơ chế cụ thể và điều kiện đảm

bảo thì MTTQ Việt Nam mới thực hiện tốt được vai trò phản biện xã hội

1.1.2.5 Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng cộng sản Việt Nam

Trong quan hệ bình đẳng, Đảng tham gia MTTQ có nghĩa vụ như mọi thành viên khác Đảng lãnh đạo MTTQ, Đảng phải ở trong MTTQ Sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ là vấn đề có tính nguyên tắc, bảo đảm cho MTTQ không ngừng được củng cố và mở rộng

Trang 25

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam Mặt trận Dân tộc thống nhất góp phần quan trọng vào việc thành lập Nhà

nước kiểu mới ở Việt Nam

Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân đứng lên giành chính quyền, giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là tổ chức tiền thân của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Mặt trận tham gia xây dựng, củng cố chính quyền vững mạnh

UBMTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp giúp đỡ đại biểu HĐND cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với HĐND

Tổ chức Nhà nước, tổ chức MTTQ đều là đại diện cho các tầng lớp nhân dân rộng rãi, thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Nhà nước quản

lý xã hội theo pháp luật, MTTQ là chỗ dựa của chính quyền, động viên nhân dân tham gia xây dựng chính quyền và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hoạt động của Nhà nước mang tính quyền lực từ trên xuống Hoạt động của MTTQ mang tính chất vận động quần chúng từ cơ sở Nhà

nước là quyền lực, MTTQ là lòng dân

1.2 Các phương thức đảm bảo quyền con người của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1 Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri

MTTQVN tham gia tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước và sau mỗi kỳ họp Qua các cuộc tiếp xúc đó, MTTQ tập hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước để báo cáo tại các kỳ họp của Quốc hội và HĐND các cấp, thực hiện và bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của nhân dân Điều 9 Hiến pháp

2013 và Điều 3 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều ghi nhận hoạt động tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với

Trang 26

Đảng, Nhà nước là chức năng của MTTQ Trên thực tế, MTTQ bên cạnh việc phối hợp thực hiện hoạt động tiếp xúc cử tri truyền thống 4 lần một năm đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Uỷ ban MTTQVN và MTTQVN các cấp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Hiến pháp, pháp luật quy định

Để bảo đảm quyền tham gia, quyền tiếp cận thông tin của người dân, MTTQ

có trách nhiệm chủ động phối hợp với chính quyền chuẩn bị cho hội nghị tiếp xúc

cử tri, như: thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng; xác định

rõ nội dung hội nghị tiếp xúc (tiếp xúc trước và sau kỳ họp, tiếp xúc chuyên đề, tiếp xúc theo đối tượng, địa bàn…), lập danh sách, gửi giấy mời đến cử tri; chuẩn bị cơ

sở vật chất, địa điểm, hội trường, trang thiết bị, phục vụ hội nghị; đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn ; nắm bắt tình hình nhân dân và dự báo, định hướng để cử tri phát biểu trọng tâm, giúp đại biểu chủ động và có sự chuẩn bị trong giải đáp, trả lời tại các cuộc hội nghị

Để tăng cường trách nhiệm của Cấp ủy, chính quyền địa phương về giải quyết kịp thời các bức xúc trong nhân dân, giảm thiểu khiếu nại, tố cáo, bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương Tại các hội nghị TXCT, MTTQ Việt Nam cần mời đại diện lãnh đạo địa phương đến dự để họ trực tiếp lắng nghe, giải đáp, trả lời, giải quyết những thắc mắc của cử tri thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của mình, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải đáp ý kiến, kiến nghị của cử tri

Sau hội nghị TXCT, MTTQ Việt Nam phải phối hợp tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri để phân loại, báo cáo Với trách nhiệm chủ trì tổ chức hội nghị TXCT, MTTQ các cấp cần chủ động phân công cán bộ tham dự và ghi chép, tập hợp, tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị, đảm bảo không bỏ sót kiến nghị của cử tri Tại các cuộc TXCT của đại biểu HĐND, các ý kiến, kiến nghị của cử tri đề nghị các cơ quan có chức năng của địa phương giải quyết, trả lời, theo quy định của pháp luật Đối với những kiến nghị chậm trễ giải quyết, trả lời Uỷ ban MTTQ Việt Nam phối hợp với HĐND tiếp tục đề nghị chính quyền giải quyết hoặc phối hợp với

cơ quan hữu quan giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho cử tri và nhân dân

1.2.2 Thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội

Trang 27

Giám sát thực hiện quyền khiếu nại tố cáo là một trong những hoạt động quan trọng của MTTQ và các thành viên Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền quan trọng để bảo đảm quyền lực nhân dân, bảo đảm sự công khai minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Theo quy định của pháp luật MTTQ đóng vai trò quan trọng trong giám sát thi hành pháp luật về khiếu nại tham gia công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên nhân dân Luật Khiếu nại năm 2010 quy định tại Khoản 1 Điều 66: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại theo quy định của Luật này; động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về khiếu nại; tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại; khi nhận được khiếu nại thì nghiên cứu, hướng dẫn người khiếu nại đến

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại" Uỷ ban Trung ương MTTQ

còn hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tố cáo theo Điều 20 của Luật Tố cáo năm

2018: "Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội căn cứ

vào nguyên tắc xác định thẩm quyền quy định tại Điều 12 của Luật này hướng dẫn

về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong tổ chức mình; hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của tổ chức, đơn vị do mình quản lý"

Hoạt động giám sát của MTTQVN là việc theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Thông qua hoạt động này, MTTQVN phát hiện những sai phạm, kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung những chính sách, pháp luật còn chưa bao quát được đầy đủ những vấn đề phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước để bảo đảm QCN, QCD; phát hiện nhưng tấm gương điển hình, những hoạt động hiệu quả cần nhân rộng trong phạm vi cả nước để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Phản biện xã hội của MTTQVN là việc nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm, ý kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước Thông qua phản biện xã hội của

Trang 28

MTTQVN một cách khách quan, khoa học, gắn với ý kiến của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, MTTQ thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo đảm QCN, QCD Sau nhiều kiến nghị và đề xuất, cho đến nay, vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm

2013 tại Khoản 1, Điều 9: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội"

1.2.3 Thông qua hoạt động xây dựng và tuyền truyền pháp luật về quyền con người

- Hoạt động xây dựng pháp: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền tham gia xây dựng pháp luật Ủy ban trung ương MTTQVN có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội về xây dựng luật, pháp lệnh; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án luật, pháp lệnh; tham gia góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, dự án luật, pháp lệnh và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản pháp luật trái Hiến pháp và pháp luật”

Bên cạnh đó, Ủy ban Trung ương MTTQVN và một số tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, góp ý Hiến pháp, luật, pháp lệnh Tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến nhân dân, góp ý vào các dự thảo luật…trong đó có những văn bản pháp luật quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân như: Các văn bản luật liên quan đến

tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; Các luật liên quan đến QCN trong lĩnh vực dân sự, hình sự: Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành khác

Bên cạnh những kết quả đạt được, sự tham gia của MTTQ và các thành viên vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật còn hạn chế, thể hiện ở sự thụ động của việc góp ý, chỉ khi được cơ quan nhà nước yêu cầu và tiến hành trong thời gian

Trang 29

ngắn Bên cạnh đó, tính quyền lực của sự góp ý chưa cao, hiệu quả thấp vì chưa có quy định về việc bắt buộc trả lời các góp ý từ phía Mặt trận với các cơ quan chủ trì soạn thảo

- Công tác tuyên truyền pháp luật: MTTQ thực hiện việc tuyên truyền pháp

luật ghép với các hoạt động, như: Hội nghị đối thoại nhân dân, Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ngày Vì người nghèo,….đặc biệt là các dịp báo cáo kết quả các kỳ họp Hồi đồng nhân dân Thông qua các hội nghị này, các nội dung tại kỳ họp được truyền tải, các vản bản luật mới được nghiên cứu tham gia, dự thảo

1.3 Các yếu tố bảo đảm cho vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người

1.3.1 Bảo đảm bằng chính trị

Mục tiêu bảo đảm QCN của MTTQ là góp phần hạn chế sự vi phạm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân từ phía Nhà nước (các cơ quan công quyền), từ cán bộ công chức nhà nước làm cho bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Một nền chính trị ổn định sẽ góp phần bảo đảm tốt hơn các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ có mục tiêu chính trị vì con người, quan tâm tới việc xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách, pháp luật, lấy con người làm trung tâm, hướng tới tạo mọi khả năng để QCN được thực thi Sự ổn định chính trị của đất nước, sự hài hòa về lợi ích giữa các lực lượng xã hội, sự dân chủ trong Đảng, trong Nhà nước sẽ tạo điều kiện để MTTQ có thể hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ, bảo đảm các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Bảo đảm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là trách nhiệm trước hết và chủ yếu của nhà nước Do đó, việc thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp và về quản lý chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người trong hoạt động của nhà nước và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, đặc biệt trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, (bảo đảm) thực hiện và thúc đẩy quyền con người trong thực tế

1.3.2 Bảo đảm bằng pháp luật

Trang 30

Hệ thống pháp luật được xem là nền tảng pháp lý thuận lợi cho việc bảo đảm các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trước hết phải là hệ thống pháp luật ghi nhận tối đa các QCN, quyền công dân trong tương quan với các hoàn cảnh của quốc gia Chỉ khi các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể chế hóa thông qua pháp luật thì các đảm bảo mới trở thành những giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội và nhờ vậy, MTTQ mới có thể phát huy vai trò của mình trong việc bảo đảm các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Một hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ đảm bảo hạn chế được tình trạng vi phạm các QCN Một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật về QCN một mặt

do nhận thức của nhân dân còn thấp, hoặc chế tài pháp luật chưa đủ mạnh

Điều này cho thấy tầm quan trọng của pháp luật – một trong những điều kiện tiên quyết để MTTQ thực hiện hiệu quả hoạt động bảo đảm các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Đây là yếu tố quan trọng số một để đảm bảo các QCN của MTTQ được thực hiện trong thực tế Pháp luật không chỉ đảm bảo thực hiện các QCN mà còn là phương tiện thúc đẩy và mang lại giá trị hiện thực cho các đảm bảo khác như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Chỉ khi được thể chế hóa thông qua pháp luật thì các đảm bảo này mới trở thành những giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội

Điều kiện pháp lý cho công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, cơ bản tùy thuộc vào việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa với 5 đặc điểm: 1/ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp và tư pháp; 2/ Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; 3/ Sự bình đẳng của mọi người trong thụ hưởng và phát triển quyền, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội; 4/ Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 5/ Bảo vệ công

lý, quyền con người và quyền công dân

Các hoạt động như: tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri; giới thiệu đại biểu dân cử, tham gia triển khai quy chế dân chủ cơ sở, giám sát, phản biện xã hội của MTTQ

Trang 31

được xây dựng sát với thực tế và đồng bộ với các chương trình của địa phương

1.3.3 Bảo đảm bằng kinh tế - xã hội

Điều này biểu hiện qua các chỉ số như thu nhập, mức độ tăng trưởng, mức độ lạm phát, mức độ kết hợp kinh tế với chế độ an sinh xã hội… Các yêu cầu này nếu đạt được ở trình độ cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bảo đảm các QCN, thực hành dân chủ phát triển, ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát triển của dân chủ, của QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Về mặt xã hội, trình độ dân trí, mức độ am hiểu các vấn đề chính trị - pháp lý của công dân là cơ sở quan trọng để MTTQ bảo vệ các QCN thành công Trình độ nhận thức và hiểu biết về QCN, năng lực vận dụng công cụ pháp luật bảo vệ QCN, năng lực kết hợp thực hiện quyền với việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống hàng ngày,… là các điều kiện tiên quyết để MTTQ đảm bảo các QCN một cách hiệu quả Bởi có hiểu được quyền của mình, thì người dân mới có khả năng sử dụng quyền của mình để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chống lại những hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền Sự thiếu vắng hoặc hạn chế trong hiểu biết và năng lực vận dụng quyền dân chủ sẽ là rào cản làm vô hiệu hóa ở các mức độ khác nhau đối với hoạt động giám sát của MTTQ Nói cách khác, dân trí càng cao thì khả năng thực hiện các QCN càng lớn, xã hội càng cởi mở thì người dân càng có điều kiện để phát huy QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điều này cũng liên quan đến việc thừa nhận và đề cao tính trách nhiệm của xã hội đối với việc đảm bảo các điều kiện để MTTQ bảo đảm, bảo vệ các QCN, quyên và nghĩa vụ cơ bản của công dân một cách hiệu quả

1.3.4 Bảo đảm bằng nguồn lực

Quá trình bảo đảm, bảo vệ QCN nếu mới chỉ được quy định trong hệ thống pháp luật là chưa đủ mà nó phải được thực thi trong cuộc sống Để pháp luật nói chung và các QCN nói riêng đi vào cuộc sống đòi hỏi phải có nguồn nhân lực và kinh phí để tổ chức thực hiện Nếu không có các điều kiện về nguồn nhân lực cũng như cơ sở hạ tầng, kinh phí cần thiết cho hoạt động này thì khó có thể bảo đảm hiệu quả của việc hiện thực hóa các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân MTTQ là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, tiếng nói của MTTQ là tiếng nói đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nên kinh phí để phục vụ cho hoạt động bảo đảm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng có thể

Trang 32

tiếp nhận từ các nguồn khác, từ các cá nhân, tổ chức thuộc MTTQ, đây là nguồn kinh phí rất lớn, góp phần không nhỏ cho việc hỗ trợ hoạt động bảo đảm QCN của MTTQ đạt hiệu quả

Có thể thấy, thể chế pháp lý là cơ sở để MTTQ thực hiện chức năng bảo đảm các QCN, nhưng nếu thiếu đội ngũ công chức thực thi và các điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo cho hoạt động triển khai các QCN thì hoạt động bảo đảm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân của MTTQ sẽ rơi vào trạng thái hình thức

Bên cạnh đó, vấn đề nguồn nhân lực phục vụ quá trình triển khai và thực hiện hoạt động bảo đảm, bảo vệ QCN cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm Con người là yếu tố quyết định sự thành bại của tổ chức, do vậy, để đảm bảo các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đạt hiệu quả, đòi hỏi cán bộ MTTQ phải là những người có tâm, nhiệt tình, có trách nhiệm, uy tín với cộng đồng, có năng lực và dám chịu trách nhiệm

Nguồn lực để bảo đảm hoạt động của MTTQ phải là nguồn nhận lực và vật lực:

- Nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng lên một tầm cao hơn, đáp ứng tốt hơn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhất là đội ngũ công tác trong hệ thống cơ quan MTTQ, phải giỏi chuyên môn, thì mới có khả năng giám sát, đánh giá hoạt động của cơ quan khác Đó là lý luận và thực tiễn

Quá trình tổ chức PBXH phải đảm bảo tính Đảng, tính nhân dân, tính trung thực, tính khoa học, khách quan và thiết thực Muốn có những ý kiến phản biện đúng, chính xác phải có hệ thống thông tin tốt, nhanh nhạy nhưng đồng thời cũng phải có hệ thống phân tích thông tin trên cơ sở khoa học để xác nhận thông tin chính xác, đúng đắn của đa số Đòi hỏi cấp bách của Mặt trận hiện nay là phải có hệ thống tiếp nhận và xử lý thông tin, trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến của mình Mặt trận cũng cần phải dựa vào báo chí để phản ánh kịp thời, mang tính công khai

những vấn đề giám sát, phản biện

- Vật lực (tài chính): Bảo đảm về tài chính gồm: chế độ đãi ngộ, cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để đội ngũ cán bộ yên tâm công tác, cống hiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm

Trang 33

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, tác giả đã trình bày các khái niệm, cơ sở lý luận về vai trò của MTTQ Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống.Vai trò của MTTQ không phải tự MTTQ đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận MTTQ Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới

Bảo đảm các QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, lấy con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển Cùng với sự phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam, các chính sách thúc đẩy và bảo đảm quyền con người càng được quan tâm một cách toàn diện với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị

Trang 34

Chương 2

THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA MẶT TRẬN

TỔ QUỐC VIỆT NAM QUA NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

HUYỆN HÓC MÔN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Huyện Hóc Môn

- Vị trí địa lý

Hóc Môn là huyện của thành phố Hồ Chí Minh Huyện Hóc Môn bao gồm

có 01 thị trấn và 11 xã với 87 ấp-khu phố: Diện tích tự nhiên: 10.943,4 ha Toàn huyện có 85.826 hộ dân với 421.578 nhân khẩu (tính đến 30/6/2020); ngoài ra có khoảng 52.000 nhân khẩu lưu trú không thường xuyên

- Về phát triển kinh tế - xã hội

Năm 2020, kinh tế - xã hội huyện Hóc Môn tiếp tục ổn định Cụ thể, ngành thương mại - dịch vụ phát triển khá, doanh thu dịch vụ ước đạt trên 118.998 tỷ đồng, đạt 99,58% so kế hoạch năm và tăng 21,06% so cùng kỳ năm 2019 [40] Song song với phát triển kinh tế, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, đến nay bình quân các xã đạt 18,6 tiêu chí, huyện đạt 9/9 tiêu chí; công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, giáo dục, văn hóa xã hội được quan tâm thực hiện kịp thời, đúng định hướng; tình hình an ninh chính trị được giữ vững, ổn định…Trên địa bàn huyện có 10.451 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 5.596 doanh nghiệp so với đầu nhiệm kỳ; trong đó có 71% doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ; 29% doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp [29, tr.24 ]

Nghị quyết Đại hội đảng bộ huyện đề ra giai đoạn 2020-2025: về phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng ổn định, quân bình đạt 15,71%/năm; cơ bản chuyển đổi đúng hướng “Thương mại - dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp"; thu nhập bình quân đầu người đạt 63,732 triệu đồng/người/năm Giá trị sản xuất ngành công nghiệp- dịch vụ tăng trưởng bình quân đạt 19,83%/năm, chiếm tỷ

Ngày đăng: 18/06/2021, 06:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w