1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư từ thực tiễn quận bình tân, thành phố hồ chí minh

83 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 885,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó,“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội; “Bảo vệ các nhóm dễ b

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÂM TRẦN KIM HIỀN

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NHẬP CƯ

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÂM TRẦN KIM HIỀN

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NHẬP CƯ

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước và

xã hội quan tâm Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 90, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734-TTg ngày 06/9/1997 thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo

và đối tượng chính sách, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống TGPL của Nhà nước [30] Đặc biệt, ngày 29/6/2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa

XI đã thông qua Luật TGPL số 69/2006/QH11 [19] Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, tạo dấu mốc cho việc phát triển toàn diện, bền vững công tác TGPL tại Việt Nam Kể từ đó đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL ngày càng hoàn thiện; mạng lưới tổ chức thực hiện TGPL và đội ngũ người thực hiện TGPL ngày càng được củng cố, nâng cao cả về số lượng và chất lượng

Hơn một thập kỷ trôi qua, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, nhiều chính sách cải cách được thông qua, trong đó có việc tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hoạt động TGPL đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu, sửa đổi [6] Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật TGPL số 11/2017/QH14 với tỉ lệ 100% đại biểu Quốc Hội có mặt tán thành, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển bền vững công tác TGPL theo một tầm cao mới, vừa phù hợp với thực tiễn yêu cầu phát triển của đất nước, vừa hội nhập với xu hướng phát triển của khu vực và quốc tế Có thể thấy rằng, về cơ bản, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh về TGPL của Việt Nam đã nội luật hóa các cam kết có liên quan trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như: Công ước quốc tế về kinh tế,

xã hội và văn hóa (CESCR); Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (CCPR); Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Công ước quốc tế về loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD); Công ước về quyền trẻ em (CRC); Công ước về quyền của phụ nữ nhập

cư (CRPD) [39]

Trang 5

Phụ nữ chiếm trên 1/2 dân số song lại thường là đối tượng yếu thế, ít được tiếp cận với pháp luật, là nạn nhân của các nạn bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ, nghèo đói và phụ thuộc đặc biệt là phụ nữ nhập cư Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa quy định phụ nữ nói chung là người được TGPL miễn phí (trừ phụ nữ nghèo, phụ nữ thuộc diện người được TGPL), nhưng trong khuôn khổ một số dự án quốc

tế, ngoài việc thực hiện TGPL cho người được TGPL theo quy định của pháp luật, các tổ chức thực hiện TGPL đã thực hiện TGPL cho phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh là quận đô thị hóa được thành lập theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ có

vị trí quan trọng trong cửa ngõ phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh Xác định được tầm quan trọng của công tác TGPL đối với nhóm phụ nữ nhập cư nói chung

và đối với phụ nữ nhập cư trên địa bàn quận nói riêng Trong giai đoạn vừa qua, công tác này đã đạt được những kết quả như nghiên cứu, xây dựng các chuyên đề về TGPL cho phụ nữ như: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ; Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; kỹ năng TGPL cho phụ nữ bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ Tổ chức các lớp tập huấn cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng TGPL cho phụ nữ cho đội ngũ người thực hiện TGPL và tổ chức nói chuyện pháp luật chuyên đề về những lĩnh vực pháp luật mà chị em phụ nữ quan tâm Thông qua các lớp học này, chị em phụ nữ không chỉ được trang bị các kiến thức pháp luật, hiểu thêm về quyền và nghĩa vụ của công dân mà còn có thể chia xẻ, giải quyết những vướng mắc pháp luật [35]

Bên cạnh những kết quả đạt được và những thuận lợi, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nói chung trên địa bàn quận còn một số khó khăn như: công tác phối hợp để tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động giữa Trung tâm TGPL nhà nước và Hội Liên hiệp Phụ nữ chưa được thường xuyên

và còn một số địa phương chưa thật sự quan tâm phối hợp, nên việc tổ chức TGPL lưu động còn gặp nhiều khó khăn (một số buổi TGPL lưu động không được tổ chức

Trang 6

như đã dự kiến, số người tham dự ít hoặc không có vướng mắc pháp luật đặt ra đối với đoàn TGPL lưu động) Nhìn chung hoàn cảnh kinh tế của đa số phụ nữ nhập cư còn khó khăn, nên chỉ tập trung làm kinh tế gia đình, chưa có thời gian quan tâm tìm hiểu pháp luật, chỉ khi nào có vướng mắc thì mới liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền, Trung tâm hoặc Chi nhánh để yêu cầu được TGPL; không có kinh phí để tổ chức tập huấn các kỹ năng thực hiện TGPL cho phụ nữ; chưa có nhiều mô hình trợ giúp pháp lý mới để thu hút đông đảo phụ nữ tham gia mà chỉ tập trung vào việc tư vấn pháp luật tại trụ sở và trợ giúp pháp lý lưu động Xuất phát từ những lý do

trên, tôi quyết định chọn đề tài “Trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư từ thực

tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh”, làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, TGPL là một trong số các chủ đề ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm Do đó, có khá nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Tác giả Lữ Thùy Liên (2017), Nhận thức và tiếp cận kênh TGPL của cư dân

tái định cư thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế TGPL đối với người

nghèo tái định cư là việc làm cần thiết Bài viết sử dụng một số dữ liệu liên quan đến việc nhận thức và việc tiếp cận TGPL của người nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để chỉ ra việc nhận thức và tiếp cận của hai đối tượng này với vấn đề đặt ra là khá hạn chế, thể hiện ở việc rất ít người biết đến các kênh TGPL cũng như tiếp cận,

sử dụng dịch vụ của chúng, từ đó đề cập đến một số nguyên nhân để những cá nhân/tổ chức liên quan có sự thấu hiểu và điều chỉnh nếu nhận thấy cần thiết [13]

Tác giả Lê Thị Thu Hà (2018), Xã hội hóa hoạt động TGPL, Luận văn thạc

sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu những vấn đề lý luận

và pháp luật về xã hội hóa hoạt động TGPL Phân tích, đánh giá nhằm làm rõ thực trạng xã hội hóa hoạt động TGPL ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển, phân tích kỹ các vấn đề còn hạn chế, khó khăn, bất cập và nguyên nhân về xã hội hóa hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay [9]

Tác giả Nguyễn Văn Hà (2017), Hoàn thiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam

hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Phân

Trang 7

tích làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về TGPL và pháp luật về TGPL; xác định và phân tích sự cần thiết, mục đích, yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật TGPL ở Việt Nam hiện nay Đánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay để thấy được những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay, từ đó đánh giá chung về hiệu quả của pháp luật

về TGPL Trên cơ sở phân tích từ thực trạng, thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL, luận văn đã nêu ra các quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay [10]

Tác giả Hoàng Thị Hồng Nhạn (2019), Quản lý hoạt động TGPL ở thành

phố Hà Nội hiện nay, Luận văn Quản lý xã hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận quản lý hoạt động TGPL và thực trạng quản lý hoạt động TGPL ở Thành phố Hà Nội, từ đó nêu lên những vấn đề còn hạn chế và đề xuất mục tiêu, yêu cầu, giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động TGPL trong thời gian tới [18]

Tác giả Đặng Lâm Bích (2015), TGPL cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Bắc

Giang, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã

đề cập một cách khá toàn diện về cơ sở lý luận về TGPL, TGPL cho người nghèo, mô

tả thực trạng hoạt động TGPL cho người nghèo ở Bắc Giang đồng thời đánh giá một cách có hệ thống về hoạt động này Trên cơ sở đó đề xuất và luận giải về một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả trong việc TGPL cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Với những kết quả mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt TGPL nói chung và TGPL cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng [1]

Vũ Hồng Tuyến (2004), “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL ở

Việt Nam”; Nguyễn Huỳnh Huyện (2006), “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam”; Nguyễn Văn Tùng (2007),

“Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay”;

Tạ Thị Minh Lý (2008), “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam trong điều

kiện đổi mới”; Trần Quốc Huy (2008), “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh Thanh Hóa”; Nguyễn Thị Thanh Thủy

Trang 8

(2008), “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở

tỉnh Quảng Ninh”; Nguyễn Thị Hồng Kiên (2012), “Hoàn thiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đói tượng chính sách ở Việt Nam hiện nay”; Kim Hồng Thanh

(2013), “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đói tượng chính sách

trong tố tụng dân sự ở Vĩnh Phúc”

Bên cạnh đó,“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương”

Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Khoa Luật, Đại học

Quốc Gia Hà Nội; “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự” của

Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân hợp tác cùng Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội;

Luận án tiến sĩ “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi

mới” của Tạ Thị Minh Lý; Luận án tiến sĩ luật học “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Tùng; Đề tài

cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều

kiện hiện nay”; “Legal aid and human rights” của Don Fleming; “Guide on Article

6 – Rights to fair trial (Criminal climb)” của European Court of Human Rights, Council of Europe…

Những công trình trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin khá lớn về hoạt động TGPL Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích một cách toàn diện

về hoạt động TGPL đối với phụ nữ nhập cư Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “TGPL đối với phụ nữ nhập cư từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết Luận văn có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn, góp phần làm rõ mối quan

hệ giữa hoạt động TGPL cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn TGPL đối với phụ nữ nhập cư, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả TGPL đối với phụ nữ nhập cư từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích trên, tôi đặt ra mục tiêu cho nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về TGPL đối với phụ

nữ nhập cư;

- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn TGPL đối với phụ nữ nhập cư từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả TGPL đối với phụ nữ nhập

cư từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy định pháp luật và thực tiễn về TGPL đối với phụ nữ nhập cư

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật và với khả năng cho

phép, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện việc TGPL đối với phụ nữ nhập cư theo hướng bảo đảm quyền con người

Về không gian: Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề về Nhà nước và pháp luật

về TGPL đối với nhóm yếu thế

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: như dùng các phương pháp phân tích những tài liệu sẵn có như các văn bản pháp quy, báo cáo thống kê, sách chuyên khảo, luận án, luận văn, bài viết khoa học ; phương pháp thu thập và xử lý thông tin đã thu thập được (Chủ yếu được sử dụng trong Chương 2); phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu; phương pháp so sánh, đánh giá; phương pháp quan sát để nghiên cứu tổng thể các

nội dung trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Về mặt lý luận

Trang 10

Kết quả nghiên cứu của luận văn đã khái quát, phân tích, làm sáng tỏ được các vấn đề cơ bản liên quan đến pháp luật về TGPL đối với việc bảo đảm tiếp cận

và thúc đẩy quyền con người của nhóm phụ nữ nhập cư với đối tượng nghiên cứu điển hình là phụ nữ nhập cư Làm rõ thực trạng pháp lý và thực tiễn TGPL đối với việc bảo đảm tiếp cận và thúc đẩy quyền con người của phụ nữ nhập cư

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo ở các cơ sở đào tạo về luật, công tác xã hội ở Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật về TGPL Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu cho các cơ quan có thẩm quyền của quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo, gợi ý những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp ý đối với phụ nữ nhập cư trên địa bàn quận

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về TGPL đối với phụ nữ nhập cư;

Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng thực hiện TGPL đối với phụ

nữ nhập cư trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh;

Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả TGPL đối với phụ

nữ nhập cư trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NHẬP CƯ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư

1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư

* Nhập cư

Về nhập cư và người nhập cư, cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2004, nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở đến, vào một vùng hay một quốc gia mới Người nhập cư là người di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú [38] Theo quan niệm của tác giả Gary L Peters, nhập cư là hiện tượng dân số tăng cơ học nhờ dân di chuyển đến khu vực mới, một đơn vị hành chính mới; dân cư mới đến được gọi là dân nhập cư [39]

Trong khi đó, theo một nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thành (2005), được thực hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có lượng nhập cư cao nhất cả nước thì, dân nhập cư ở Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là những người từ các tỉnh khác về sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và chưa có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh Còn những người từ các tỉnh về Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã được giải quyết hộ khẩu thường trú vì đủ tiêu chuẩn quy định không nằm trong phạm vi này Như vậy, ở đây lại căn cứ vào việc nhập hộ khẩu để tính là người nhập cư hay không phải là người nhập cư [29]

Liên Hiệp Quốc thì quan niệm: “Người nhập cư dài hạn là những người ở lại nước tiếp nhận trong thời gian hơn một năm, mặc dù họ không liên tục sinh sống tại nước đó trong vòng hơn một năm” [26] Mặc dù vẫn còn những ý kiến khác nhau nhưng có thể thấy một số điểm chung trong nội hàm khái niệm này, đó là: (i) Sự di chuyển của một người hay một nhóm người đến một đơn vị hành chính mới với mục đích thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc với mục đích khác; (ii) Sự chuyển đến này có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc; (iii) Việc cư trú tại nơi tiếp nhận có thể dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về người nhập cư có thể áp dụng một cách phổ biến trong phạm vi quốc

Trang 12

gia cũng như trên toàn cầu Nội dung của khái niệm này thường được các quốc gia, các nhà nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích nghiên cứu của mình

Từ những phân tích trên cho thấy, nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở đến

một địa phương khác của một người hoặc một nhóm người để sinh sống lâu dài hoặc tạm thời Người nhập cư là người từ một địa phương, một nước hay vùng lãnh thổ này di chuyển đến một địa phương, một nước hay vùng lãnh thổ khác để sinh sống, làm việc Nội hàm của khái niệm này có đề cập đến mối quan hệ giữa người nhập cư và nơi nhập cư

Phân loại người nhập cư

Có nhiều cách phân loại người nhập cư theo các góc độ khác nhau, tùy vào mục đích nghiên cứu Do vậy việc phân loại người nhập cư chỉ có tính chất tương đối và không tách bạch với nhau

- Theo độ dài thời gian cư trú

Người nhập cư lâu dài: Là những người chuyển đến sinh sống vĩnh viễn hoặc lâu dài tại nơi mới (thường là trên 12 tháng) Những người này thường không quay trở về sống tại nơi gốc, họ chỉ quay về để thăm viếng những không có ý định quay trở lại sống ở nơi gốc

Người nhập cư tạm thời: Là những người chuyển đến sinh sống và làm việc tại nơi mới trong thời gian ngắn và có khả năng quay trở về

Người nhập cư mùa vụ: Là một hình thức đặc biệt của người nhập cư tạm thời, loại hình này bao gồm những người lao động nhập cư vào nơi mới để làm việc thời vụ hoặc tìm việc làm vào những lúc nông nhàn, kể cả những người đicông tác, khám chữa bệnh, du lịch, học tập , họ không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư

- Theo tính chất tổ chức, quản lý người nhập cư

Người nhập cư có tổ chức: Là những người nhập cư được luật pháp của nước gốc và nước nhập cư cho phép, được chính quyền địa phương nơi nhập cư đón nhận Theo đó, người nhập cư được nhận sự giúp đỡ từ Nhà nước và địa phương nơi nhập cư

Trang 13

Người nhập cư tự do: Là những người nhập cư đến nơi mới do bản thân hoặc gia đình họ quyết định, không nằm trong chương trình di cư của Nhà nước, không được hưởng sự hỗ trợ của Nhà nước

- Theo địa bàn nhập cư

Người nhập cư trong nước: Là những người di chuyển đến địa phương khác sinh sống, làm việc, học tập trong cùng lãnh thổ một quốc gia

Người nhập cư quốc tế: Là những người từ quốc gia này nhập cư vào quốc gia khác để sinh sống, làm việc, học tập hoặc vì các mục đích khác

Trên cơ sở cách hiểu về nhập cư, người nhập cư và phân loại người nhập cư đồng thời căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của luận án, tôi xác định người nhập cư trong nghiên cứu của mình là những người lao động từ các tỉnh, thành khác di chuyển tự do đến thành phố Đà Nẵng sinh sống, làm việc lâu dài hoặc tạm thời gồm

có đăng kí hay không đăng kí hộ khẩu thường trú và người nhập cư mùa vụ với mục đích tìm việc làm trong thời kỳ nông nhàn hoặc làm những công việc có tính thời vụ tại thành phố

Đặc điểm của người nhập cư

Các nghiên cứu về di cư cho thấy, không phải ai cũng chấp nhận và có khả năng di chuyển khỏi “nơi chôn nhau cắt rốn” của mình; những người chấp nhận di chuyển, có khả năng di chuyển và đã di chuyển đến nơi mới thường có một số đặc điểm cơ bản:

(1) Đặc điểm về nhân khẩu học

Đặc điểm nhân khẩu học phản ánh những đặc trưng về mặt dân số của người nhập cư như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân Chúng là những yếutố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định của người nhập cư như di chuyển hay không, di chuyển đến đâu… Các nghiên cứu về di dân đều có chung một nhận xét đó là người nhập cư vào đô thị thường là những người trong độ tuổi lao động và ngày càng có

xu hướng trẻ hóa Tuổi của người nhập cư năm 2015 phần lớn tập trung ở nhóm trẻ (15-39) chiếm tỷ trọng 84% so với tổng số người nhập cư Điều này có nghĩa là xu hướng chung trong di dân từ nông thôn ra thành thị là nam giới di chuyển nhiều hơn

nữ giới, người trẻ tuổi di chuyển nhiều hơn người lớn tuổi [13]

Trang 14

Theo Báo cáo Thực trạng việc làm, đời sống của lao động nhập cư từnông thôn ra thành thị và khu công nghiệp của Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, xu hướng nữ hóa nhập cư hiệnnay khá phổ biến, tỷ lệ lao động nữ nhập cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp chiếm 55% Điều này đặt ra thách thức cho việc giải quyết các vấn đề bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), chống buôn bán phụ nữvà các nguy cơ thường gặp khác đối với họ Như vậy, giới tính của người nhập cư tùy thuộc vào khoảng cách di chuyển, mục đích di chuyển, nhu cầu lao động của nơi đến và thường thì tỉ lệnam/nữ trong dân nhập cư có sự chênh lệch.Tình trạng hôn nhân cũng có mối quan hệ với tính chọn lọc của nhập cư Một mặt, mọi người sau khi kết hôn thường gắn bó với gia đình và con cái, dođó không thực sự sẵn sàng để di chuyển đến nơi mới Mặt khác, nhu cầu hỗ trợkinh tế cho gia đình lại là động cơ của việc di chuyển [3]

(2) Đặc điểm về văn hóa - xã hội

Phần lớn người nhập cư đều có quê quán từ nông thôn, có những tính cách như chịu khó; tiết kiệm; tính cộng đồng, làng xã; thường lựa chọn không gian sống yên tĩnh, không thích sự ồn ào… những phẩm chất này rất cần thiết cho quátrình phát triển nhưng cũng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động như thiếu kỹ năng làm việc tổ chức, tác phong công nghiệp, tự do, thiếukỷ luật… ảnh hưởng đến việc xây dựng lối sống văn hóa văn minh đô thị Khi vào sinh sống ở đô thị được một thời gian, người nhập cư tự do đã phần nào làm quen với lối sống (theo nghĩa hẹp) ở đô thị, họ có những phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào trình độ học vấn, độ tuổi [30].Tuy nhiên, vấn đề hòa nhập, mức độ thích nghi với các loại hình văn hóa kiểu đô thị ở những người nhập cư là rất chậm, rất ít Bộ phận người nhập cư lâu dài vào đô thị thường có xu hướng thay đổi nhu cầu về mặt không gian sống, một bộ phận người nhập cư chuyển từ lối sống nặng về tình cảm xóm giềng sang cuộc sống khép kín hơn giữa các thành phần dân cư khác nhau tại các đô thị Nhìn chung, có thể nói rằng trong quá trình hội nhập, một bộ phận người nhập cư (đặc biệt là giới trẻ, có trình độ học vấn cao hơn) có thể chấp nhận được lối sống đô thị đồng nghĩa là họ đã phần nào loại bỏ một số giá trị, chuẩn mực truyền thống để đón nhận chuẩn mực, giá trị mới Điều này ở khía cạnh nào đó cũng mang

Trang 15

các giá trị tích cực, bên cạnh những lợi ích kinh tế, khi người nhập cưquay trở về quê họ đã góp phần làm thay đổi ý thức, lối sống của người dân nôngthôn, thiết lập các thang bậc giá trị mới

(3) Đặc điểm về học vấn, chuyên môn

Trình độ học vấn, chuyên môn tùy thuộc vào nơi xuất cư, nhu cầu lao động nơi nhập cư và vào khoảng cách di chuyển Trong đó đáng chú ý là lực lượng dân nhập cư có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề cao thường nhậpư nhiều hơn Tức là ở đây có sự tương quan thuận giữa học vấn và nhập cư.Nếu mọi điều kiện khác đều như nhau thì những người học vấn cao thường hay ra đi hơn so với những người học vấn thấp hơn bởi vì họ không thỏa mãn với công việc đang làm, họ muốn tìm công việc thích hợp hơn và có thu nhập cao hơn Theo đó, người nhập cư dài hạn thường có học vấn cao hơn so với người nhập cư tạm thời

Tuy nhiên, vẫn có những nghiên cứu cho thấy, ngày nay, những người nhập cư thường là những người có trình độ học vấn thấp và có sự khác nhau giữanam và nữ

Báo cáo “Thực trạng việc làm, đời sống của lao động nhập cư từ nông thôn ra thành thị và khu công nghiệp” của Dự án Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chỉ ra thực tế là 66,1% lao động nhập cư không có chuyên môn kỹ thuật Tỷ lệ tốt nghiệp đại học là 6,5% Điều này tiềm ẩn những rủi ro cho người lao động nhập cư khi công việc của họ thường mang tính chất độc hại, nguy hiểm và thiếu ổn định Số liệu thu thập được từ nghiên cứu này cho thấy 9,7% lao động

di cư có trình độ tiểu học; hơn nửa (53,2%) đã học hết trung học cơ sở; 24,5% đạt trình

độ trung học phổ thông; trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 12,7% [11]

(4) Đặc điểm về việc làm, thu nhập, điều kiện sống

Những người nhập cư tạm thời và mùa vụ thường là những người không có việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định Việc làm chủ yếu của họ trước khi nhập cư là làm nông, ở nhà nội trợ… vì phần lớn họ có trình độ học vấn thấp, trình

độ tay nghề thấp do đó khi nhập cư ra thành phố thì họ làm rất nhiều nghề hoặc việc làm nặng nhọc, độc hại, với trình độ lao động phổ thông và giản đơn (làm thuê trong các công trường xây dựng, các cơ sở sản xuất/tái chế nhựa, may mặc, da giày,

Trang 16

bảo vệ,…), bán hàng rong, giúp việc gia đình… Vì không có hộ khẩu thường trú, thiếu vốn và trình độ chuyên môn cho nên mặc dù có sức khỏe và ở độ tuổi sung mãn nhất nhưng người nhập cư vẫn khó có cơ hội xin được việc làm trong khu vực kinh tế chính thức Phần lớn họ làm việc trong các cơ sở kinh tế thuộc khu vực phi chính thức, thu nhập thấp và không ổn định, có thể bị mất việc bất cứ lúc nào

Thu nhập thấp, lao động nặng nhọc và không ổn định, mặt khác có thể bị mất việc làm bất cứ lúc nào, là hiện tượng khá phổ biến, theo số liệu điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn tại 4 tỉnh Nam Định, Lạng Sơn, Bình Thuận, An Giang trong năm 2019 cho thấy, có 21,7% lao động nhập cư đã bị mất việc làm phải trở về quê [37] Đặc điểm này tạo ra sức ép về giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập cho người nhập cư đối với chính quyền đô thị Về điều kiện sống, phần lớn lao động nhập cư cho biết được hưởng lợi từ di cư, hài lòng với công việc và thu nhập ở nơi nhập cư đến Tuy nhiên, tình trạng ít có điều kiện để cải thiện thêm trong công việc và thu nhập nên đa số phải sống trong những khu nhà trọ rẻ tiền, với điều kiện ở tạm bợ và tồi tệ (thiếu điện, thiếu nước sạch, điều kiện vệ sinh kém…) nhằm tiết kiệm chi tiêu để có tiền giúp đỡ gia đình khiến cho lao động nhập cư cũng đối mặt với một loạt khó khăn, thách thức, trong đó,

“nóng” nhất vẫn là vấn đề chỗ ở Về vấn đề tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế, có thể nói rằng trong điều kiện cơ chế thị trường thì người nào có tiền cũng có thể tiếp cận các dịch vụ đô thị Tuy nhiên, đối với người nhập cư, họ đã chịu một chi phí cao hơn cao hơn so với dân địa phương cho các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục,

y tế, điện nước,… do họ không có hộ khẩu thường trú Nhìn chung, thu nhập và các điều kiện sống của người nhập cư vẫn còn nhiều điều Nhà nước và chính quyền đô thị cần lưu tâm nhằm hướng đến một xã hội phát triển thật sự vì con người

* Trợ giúp pháp lý

Tại nước Anh, cái nôi của TGPL quan niệm: “TGPL là sự trợ giúp trong việc

sử dụng bất kỳ biện pháp nào mà một người có thể sử dụng, gồm cả các biện pháp đối với thủ tục tố tụng liên quan đến áp dụng pháp luật” [40] Pháp luật Singapore lại quy định: “TGPL là việc đại diện cho khách hàng của Tòa án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả các dịch vụ TGPL” [40]

Trang 17

Dự thảo Luật mẫu về TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) chủ trì soạn thảo quy định: “TGPL là việc thực hiện tư vấn pháp luật, hỗ trợ và đại diện pháp lý do nhà nước trả tiền theo những điều kiện và trình tự, thủ tục quy định trong luật này cho người bị tạm giữ, bị bắt hoặc bị kết án tù; người bị tình nghi, người bị buộc tội hoặc vi phạm luật hình sự; nạn nhân và nhân chứng trong quá trình tư pháp hình sự ” [11]

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học, thuật ngữ

“TGPL” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý”: "trợ giúp” được hiểu là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khókhăn, đang cần đến” Thuật ngữ "pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát: pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ [38]

Như vậy, TGPL là việc nhà nước giúp đỡ, hỗ trợ về mặt pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách nhằm mục đích giúp họ có kiến thức pháp luật để tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định và bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp cho họ

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ TGPL được chính thức sử dụng trong Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách (Quyết định số 734/QĐ-TTg)

và sau này là Luật TGPL ngày 29/6/2006 (Luật TGPL năm 2006) Luật TGPL năm

2006 đã đưa ra quy định về TGPL như sau: TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và

vi phạm pháp luật [19]

Luật TGPL được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng

6 năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (Luật TGPL năm 2017) quy định ngắn gọn hơn về khái niệm TGPL: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho

Trang 18

người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật” [25]

Với những lý giải và cách tiếp cận như trên, TGPL mang những thuộctính cơ bản sau:

Một là, khả năng được thụ hưởng một dịch vụ pháp lý từ người khác mà

không phải mất chi phí của dịch vụ mà mình được thụ hưởng

Hai là, các chủ thể thực hiện việc cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí cho

người thuộc diện được TGPL nhằm mục đích giúp họ có kiến thức pháp luật để tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định, nhưng cũng có thể

là cách thức sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ

Ba là, TGPL nhằm giúp đỡ về mặt pháp lý cho người nghèo và đối tượng

chính sách Bởi những đối tượng trên được xếp trong dạng là những đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội, cần nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là giúp đỡ trong việc tiếp cận và sử dụng pháp luật

Bốn là, TGPL thể hiện trách nhiệm của nhà nước cũng như xã hội đối với

các thành viên của cộng đồng

Năm là, TGPL mang bản chất nhân đạo xã hội sâu sắc Thuộc tính này của

TGPL thể hiện ở việc giúp đỡ người nghèo và đối tượng chính sách thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng; đồng thời, còn cho phép các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL giúp đỡ người nghèo và đối tượng chính sách để hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật

Từ những cách tiếp cận khoa học và pháp lý trên đây, khái niệm TGPL được

hiểu như sau: TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được

TGPL dưới các hình thức: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác do trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, tư vấn viên pháp luật thực hiện nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

Trang 19

* TGPL đối với phụ nữ nhập cư

Về mặt Pháp luật ở Việt Nam theo Luật TGPL năm 2017 chưa có một điều, khoản riêng quy định dành cho Phụ nữ nhập cư Tuy nhiên, phụ nữ nhận cư sẽ là chủ thể được Nhà nước TGPL miễn phí khi (chỉ có quy định chung chung không phân biệt nam-nữ: người thuộc hộ nghèo, người nhiễm bệnh HIV, người bị bạo lực gia đình và là nạn nhân của hành vi buôn bán người nhưng phải đáp ứng điều kiện cần là khó khăn về mặt tài chính) Việc TGPL đến với phụ nữ nhập cư Việt Nam là hành động thiết thựcvà cần thiết, người phụ nữ nhập cư sẽ có cơ hội được tiếp xúc với các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng nhiều hơn Nâng cao trình độ văn hóa về sự hiểu biết pháp luật, đáp ứng nhu cầu mà Đảng

và Nhà nước đang phấn đấu xây dựng xã hội phát triển, văn minh

Căn cứ vào các quan điểm trên, trong phạm vi luận vănTGPL đối với phụ nữ

nhập cư được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người có công với

cách mạng; người thuộc diện hộ nghèo; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là phụ nữ nhập cư trong vụ việc TGPL theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật đối với phụ nữ nhập cư

1.1.2 Đặc điểm của trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư

1.1.2.1 Trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính xã hội

Đặc điểm này được thể hiện rõ trong việc, Nhà nước đã có những quy định

về hoạt động trợ giúp pháp lý nói chung và đối với phụ nữ nhập cư nói riêng Ngoài

ra, những đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ nhập cư đã tạo ra một nhóm người, nếu nhóm người này thuộc các trường hợp như nghèo, khuyết tật sẽ được trợ giúp pháp lý miễn phí Tuy nhiên, việc cần thiết để tiến hành trợ giúp pháp lý là thường xuyên khi phụ nữ nhập cư có nhu cầu trợ giúp pháp lý

Không chỉ phát kiến, xây dựng hành lang pháp lý, cung cấp tài chính, nguồn nhân lực mà nhà nước còn quản lý, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm trong

lý xã hội đồng nghĩa phải có cơ chế đảm bảo pháp luật được thực thi Thêm nữa,

Trang 20

các chính sách, pháp luật trực tiếp tác động đến đời sống xã hội và các quyền con người mà trong luật nhân quyền quốc tế nhà nước là bên có nghĩa vụ chính trong việc đảm bảo, thực thi và thúc đẩy các quyền con người, do đó, thực hiện TGPL đối với phụ nữ nhập cư là một trong các trách nhiệm của nhà nước.Tính xã hội được biểu hiện ở mục tiêu cốt lõi của TGPL đối với phụ nữ nhập cư là đảm bảo công bằng xã hội, tiếp cận công lý và bảo đảm pháp chế Ngoài ra, ngày càng nhiều sự tham gia của các thành phần khác (yếu tố ngoài nhà nước) như luật sư, giảng viên luật, luật gia, sinh viên luật, mạng lưới xã hội dân sự… với các vai trò khác nhau, đã tạo ra tính xã hội rộng rãi cho hoạt động này

1.1.2.2 Trợ giúp pháp lý là một hoạt động hỗ trợ xã hội, mang tính chất nhân đạo

TGPL đối với phụ nữ nhập cư thể hiện trách nhiệm xã hội của nhà nước và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực pháp lý nhằm giúp các đối tượng yếu thể dễ dàng hơn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp lý khi cần trợ giúp Người được TGPL chỉ phải bỏ ra mức chi phí thấp so với các dịch vụ pháp lý thông thường, thậm chí là hoàn toàn miễn phí để được giúp đỡ về mặt pháp lý Điều quannhất là những người này thường có hoàn cảnh đặc biệt, gặp khó khăn trong việc tiếp cận pháp luật hoặc vượt qua các rào cản để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Vì vậy, việc TGPL cho họ không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần đảm bảo công bằng xã hội, bảo đảm pháp chế được thực thi

1.1.2.3 Trợ giúp pháp lý hỗ trợ hoạt động xét xử, bảo đảm thực thi các quyền con người

Tham gia tố tụng (bao gồm đại diện và bào chữa) đặc biệt là tố tụng hình sự

là phương thức TGPL đầu tiên và chủ yếu của hệ thống TGPL Đến nay, không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia mà việc TGPL cho bị can, bị cáo đã được quy định trong các văn kiện quốc tế Người thực hiện TGPL với vai trò là luật sư,

có vị trí độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng sẽ hỗ trợ hoạt động xét xử diễn ra công bằng, khách quan thông qua việc chứng minh tội phạm cũng như phát hiện, ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong các giai đoạn tố tụng, bảo đảm mọi người ở bất kỳ tình huống nào cũng được bảo đảm các quyền con người của mình Đối với phụ nữ nhập cư, với điều kiện và hoàn cảnh sống còn hạn chế, công việc chính là kinh doanh để tăng thu nhập cho gia đình, họ thường

Trang 21

yếu thế trong các mâu thuẫn và tranh chấp, nên nếu được trợ giúp pháp lý họ dễ dàng hơn trong việc nắm bắt các thông tin liên quan đến vụ việc khu tham gia vào quá trình xét xử.

1.1.2.4 Đối tượng đượcTrợ giúp pháp lý là người gặp nhiều khó khăn trong việc vượt các rào cản để tiếp cận, thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình

Đặc điểm này xuất phát từ mục đích của TGPL là nhằm giúp đỡ, tương trợ cho những người gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua các rào cản đểbảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, góp phần đảm bảo công bằng xã hội Các đối tượng trên do sức khỏe, giới tính, xu hướng tình dục, nguồn gốc, dân tộc và các yếu tố khác mà có vị thế chính trị, xã hội, kinh tế hay pháp lý thấp hơn các nhóm khác, vì vậy, không có khả năng hoặc bị hạn chế về khả năng tiếp cận, thực hiện và bảo vệ các quyền con người của mình, dẫn đến có nguy cơ cao bị phớt lờ, bị bỏ quên hoặc

bị vi phạm các quyền con người đó Chính bởi thế, họ cần có sự trợ giúp về pháp lý, kinh tế, giáo dục, y tế nhằm khắc phục hoặc hạn chế phần nào đặc tính bị dễ tổn thương để hòa nhập cộng đồng và phát triển đời sống cá nhân

1.1.2.5 Người thực hiện Trợ giúp pháp lý phải là người có chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng về pháp luật

Bởi pháp luật là một lĩnh vực đặc thù, điều chỉnh các quan hệ xã hội và người được TGPL thường là những người có kém hiểu biết, thậm chí không hiểu biết về pháp luật, do đó, người thực hiện TGPL hoặc phải được đào tạo chính quy, bài bản về pháp luật hoặc phải có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực liên quan đến pháp luật Điều này nhằm bảo đảm chất lượng của vụ việc được TGPL như khi

sử dụng các dịch vụ pháp lý khác và hiệu quả của hệ thống TGPL

1.1.2.6 Trợ giúp pháp lý có mối quan hệ tương hỗ với các thiết chế pháp luật khác

Cùng với các phương thức tư vấn pháp luật, đại diện tố tụng, đại diện ngoài

tố tụng, tham gia đại diện trong các quan hệ hành chính, khiếu nại, tố cáo…TGPL là một trong những kênh thúc đẩy pháp luật đi vào đời sống, có mối quan hệ qua lại với các thiết chế pháp luật khác, điều này được thể hiện dưới các phương diện sau:

- TGPL là một hoạt động bổ trợ tư pháp, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử của tòa án: Người thực hiện TGPL được tham gia đại diện tố tụng trong các vụ án

Trang 22

hình sự và dân sự dưới hình thức đại diện hoặc bào chữa trong tất cả các giai đoạn

tố tụng, có vị trí độc lập so với các cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, họ có thể phát hiện, ngăn chặn kịp thời các sai phạm trong hoạt động tố tụng, góp phần bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, đúng đắn

- TGPL hỗ trợ cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật: Đây làmột trong những kênh thông tin chính thống tới người dân về nội dung văn bản quy phạm pháp luật Thông qua tư vấn và giải thích pháp luật, người được TGPL sẽ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong một lĩnh vực pháp luật cụ thể.Ngoài ra, TGPL cũng góp phần nâng cao kiến thức pháp luật của người dân, giảm thiểu xung đột trong các mối quan hệ pháp luật Ngược lại, thông qua các thiết chế pháp luật khác, cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ biết đến hoạt động TGPL và tích cực tham gia, đóng góp phát triển hệ thống này

1.1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư

TGPL có nhiều vai trò quan trọng góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và bảo đảm công bằng xã hội, cụ thể:

1.1.3.1 Trợ giúp pháp lý góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được triển khai trên thực tế

Quá trình thực hiện pháp luật về TGPL chính là hiện thực hoá các quy định pháp luật về TGPL trên thực tế Pháp luật về TGPL đối với phụ nữ nhập cư là sự cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, nên quá trình thực hiện pháp luật về TGPL đối với phụ nữ nhập cư cho người dân cũng là quá trình triển khai các chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước đi vào thực tế cuộc sống Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân

Đồng thời; tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ

Trang 23

thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống[9]

Như vậy, TGPL dành cho phụ nữ nhập cư là một trong những hoạt động quan trọng để triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước, góp phầnthực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng thuộc diện được TGPL; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội

1.1.3.2 Trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ nhập

cư và bảo đảm công bằng xã hội

Phụ nữ nhập cư hiện nay thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và được xếp vào nhóm yếu thế trong xã hội Bởi lẽ, với điều kiện về thu nhập và các điều kiện sống mặt bằng thấp, cơ hội được tiếp cận pháp luật và những dịch vụ pháp lý còn rất hạn chế; điều kiện kinh tế của một bộ phận phụ nữ nhập cư là hộ nghèo và cận nghèo ít hoặc không có điều kiện tiếp cận với pháp luật Thông qua hoạt động TGPL nhằm thực hiện chính sách nhân đạo, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là đặc biệt quan tâm đến những người có hoàn cảnh khó khăn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ nhập cư, giúp họ có cơ hội bình đẳng với mọi người trong việc tiếp cận với pháp luật và được thụ hưởng các dịch vụ pháp lý, bảo đảm công bằng xã hội Có thể khẳng định TGPL là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các chương trình quốc gia xóa đói, giảm nghèo, góp phần thực hiện thành công các chủ trương chính sách xóa đói giảm nghèo của của Đảng và Nhà nước ta

Thực tế trong những năm qua, hoạt động TGPL chophụ nữ nhập cư đã góp phần quan trọng trong công tác xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, hướng dẫn cho người dân được tiếp cận, sử dụng các dịch vụ pháp lý miễn phí, kịp thời bảo vệ

họ khỏi bị thiệt hại bởi những hành vi trái pháp luật gây ra TGPL cho phụ nữ nhập

cư không những giúp cho các đối tượng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà còn tạo điều kiện để công lý và công bằng xã hội được thực thi, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình thông qua tổ chức TGPL

1.1.3.3 Trợ giúp pháp lý góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân

Trang 24

Hoạt động TGPL cho phụ nữ nhập cư, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân là một phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước Thực hiện tốt công tác TGPL phụ nữ nhập cư

sẽ không chỉ bảo đảm sự công bằng trong xã hội, mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội, cộng đồng, qua đó, ngăn ngừa có hiệu quả tội phạm và vi phạm pháp luật

Thông qua các đợt TGPL lưu động, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, cấp phát tài liệu tìm hiểu pháp luật với các nội dung pháp luật có liên quan mật thiết đến đời sống nhân dân, sẽ tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của người dân Thông qua sinh hoạt câu lạc bộ TGPL, những vướng mắc về pháp luật, tranh chấp phát sinh tại cơ sở được các thành viên trong câu lạc bộ TGPL đưa ra thảo luận, tìm cách tháo gỡ theo đúng quy định pháp luật, đồng thời, vận động nhân dân chấp hành nghiêm những quy định của pháp luật Thông qua việc thực hiện các vụ việc TGPL cụ thể, người dân không chỉ được tư vấn, hướng dẫn, giải thích những quy định của pháp luật liên quan đến nội dung của vụ việc mà còn được hướng dẫn, giải thích các quy định của pháp luật với phạm vi rộng hơn giúp cho họ có nhận thức một cách tổng thể về vụ việc và có định hướng đúng cho hành vi của mình Trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết một vụ án, người thực hiện TGPL giúp đỡ người được TGPL tìm hiểu kiến thức pháp luật liên quan đến giải quyết vụ án; động viên và khích lệ họ tuân thủ pháp luật, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội Hoạt động TGPL có vai trò củng cố, bảo vệ và phát triển các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Đối với các địa phương ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua hoạt động TGPL, góp phần hạn chế những hủ tục lạc hậu, thay thế vào đó các quan

hệ pháp luật lành mạnh, góp phần xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.1.3.4 Trợ giúp pháp lý góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta Các dân

Trang 25

tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, với sự tác động của những mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, hoạt động TGPL là một trong những biện pháp pháp lý hữu hiệu

để đảm bảo thực hiện các chính sách an sinh xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, nhằm quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, tạo cho họ cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ

cơ bản, các phúc lợi xã hội

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu

- nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề hợp lý

1.2 Tổ chức, hình thức, phương thức, nội dung và mô hình trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư

1.2.1 Tổ chức, ngườitrợ giúp pháp lý

1.2.1.1 Tổ chức trợ giúp pháp lý

Tổ chức TGPL là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, chuyên môn, nhiệm vụ trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện, quản lý hoạt động TGPL Với tiêu chí này có thể phân loại TGPL cho phụ nữ nhập cư gồm:

- TGPL nhà nước: Là các cơ quan, tổ chức thuộc chính phủ vàhoạt động do ngân sách nhà nước chi trả Theo lịch sử TGPL, nhà nước có vai trò quyết định trong việc hình thành cũng như phát triển hoạt động này Ở một số quốc gia, các Trung tâm TGPL nhà nước không chỉ thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý mà còn

Trang 26

chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hệ thống Một số quốc gia khác, chức năng quản

lý thuộc về một Hội đồng TGPL độc lập (ví dụ Ireland) Tính công khai, minh bạch, hiệu quả thực tiễn trong TGPL ngày càng được đòi hỏi cao để hoạt động này mang lại lợi ích thực chất cho đối tượng hưởng lợi và xã hội thay vì thực hiện dàn trải và kém hiệu quả Mâu thuẫn lợi ích có thể phát sinh khi Trung tâm TGPL nhà nước thực hiện TGPL trong các vụ việc về hình sự và hành chính, do đó, để loại trừ những mâu thuẫn này, đảm bảo tính khách quan, một số nước lựa chọn xây dựng

mô hình Trung tâm TGPL quốc gia độc lập và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội (tương tự như Tòa án) hoặc Trung tâm TGPL nhà nước chỉ tham gia vào các vụ việc dân sự còn hình sự và hành chính sẽ được thực hiện bởi luật sư/văn phòng luật sư tư nhân đăng ký tham gia mạng lưới TGPL hoặc được nhà nước thuê

- TGPL phi nhà nước: Là các cơ quan, tổ chức không thuộc chínhphủ và hoạt động không do ngân sách nhà nước chi trả, ví dụ: văn phòng luật sư, tổ chức dân sự

có chức năng tư vấn pháp luật… Ngày nay, sự tham gia của các yếu tố phi nhà nước ngày càng được khuyến khích nhằm đa dạng hóa hoạt động cũng như giúp nhiều đối tượng được hưởng lợi từ TGPL Với tính chất năng động, TGPL phi nhà nước đã đóng góp nhiều thành quả cho hoạt động này, song, vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo đảm chất lượng và tăng số lượng vụ việc được TGPL trong khi văn phòng luật

sư hay các tổ chức dân sự có chức năng tư vấn pháp luật đều rất bận rộn với các nhiệm vụ khác? Quy trách nhiệm xã hội với các tổ chức này là một trong những giải pháp đã được triển khai, tuy nhiên, quan trọng hơn, nhà nước cần khuyến khích bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để chính các tổ chức này hiểu rõ trách nhiệm của mình cũng như lợi ích khi tham gia mạng lưới TGPL (chẳng hạn như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ một phần tài chính cơ bản trong vụ việc được TGPL, tập huấn kỹ năng, kiến thức…) [28]

1.2.1.2 Người thực hiện trợ giúp pháp lý

Người thực hiện TGPL là cá nhân tự nguyện hoặc có trách nhiệm thực hiện TGPL Theo đó, người thực hiện TGPL có thể có trình độ khác nhau, tuy nhiên, họ phải là những người am hiểu, có kinh nghiệm hoặc làm trong lĩnh vực liên quan đến pháp lý Người đó có thể là luật sư hoặc không phải là luật sư

Trang 27

- Người thực hiện TGPL là luật sư: Hiểu theo nghĩa đơn giản, luậtsư là người được đào tạo bài bản về pháp luật, có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) Luật sư có thể thực hiện TGPL với tư cách cá nhân hoặc nhiệm vụ được phân công bởi cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên bằng sự tự nguyện hoặc được thuê, trả công theo vụ việc hoặc hàng tháng Một số nước có luật sư công chuyên thực hiện TGPL, đó là những người làm việc trong Trung tâm TGPL nhà nước, hưởng lương định kỳ Luật sư tư thường được thuê theo

vụ việc (chi phí do nhà nước chi trả, phụthuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc), cũng có trường hợp luật sư tự liên hệ và TGPL miễn phí Luật sư là người có am hiểu sâu sắc về pháp luật, có kỹ năng và kinh nghiệm hành nghề đồng thời là chủ thể duy nhất có thể thực hiện được bất cứ hình thức TGPL nào, do đó, họ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động này và thường được khách hàng tin tưởng hơn cả

- Người thực hiện TGPL không phải là luật sư: Mặc dù, nhữngngười này không đủ tiêu chuẩn làm luật sư nhưng có kiến thức về pháp luật, họ có thể là giảng viên luật, sinh viên luật hoặc làm ngành nghề khác nhưng có kinh nghiệm pháp lý…ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam đó là Trợ giúp viên pháp lý, già làng, trưởng bản… Số lượng người am hiểu pháp luật rất đông đảo và khó xác định, bởi không

có chuyên môn, nghiệp vụ sâu rộng nên họ chỉ có thể thực hiện một số dịch vụ pháp

lý tương đối đơn giản của TGPL

1.2.2 Hình thức trợ giúp pháp lý

Ngày nay, việc TGPL đã chủ động hơn trước rất nhiều Thay vì chờ đợi người có quyền tìm đến với mình thì các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL có thể tìm kiếm khách hàng qua việc tìm hiểu nhu cầu TGPL của người dân trong các buổi tiếp xúc, làm việc tại cộng đồng dân cư Với tiêu chí này, TGPL cho phụ nữ nhập

cư được phân thành TGPL cố định và TGPL lưu động

- TGPL cố định: Là việc TGPL được thực hiện thườngxuyên, liên tục tại trụ

sở chính hoặc chi nhánh của cơ quan, tổ chức thực hiện TGPL Ưu điểm của hình thức này là người dân sẽ biết chắc chắn địa chỉ cố định mà mình có thể đến để yêu cầu TGPL Tuy nhiên, người dân sống tại các khu vực dân cư hẻo lánh, thưa thớt sẽ

Trang 28

gặp khó khăn trong việc tìm đến các địa điểm này do chúng thường phân bố ở nơi tập trung dân cư hoặc vùng trung tâm của đơn vị hành chính

- TGPL lưu động: Là một hình thức khắc phục những hạn chế của TGPL cố định, TGPL lưu động được thực hiện ở những nơi không phải là trụ sở của cơ quan,

tổ chức thực hiện TGPL, có thể được tổchức theo kỳ hoặc trong bất cứ khoảng thời gian nào TGPL lưu động giúp tiếp cận dễ dàng hơn với những khu vực bị chia cắt,

xa khu dân cư và trung tâm hành chính như vùng núi hiểm trở, vùng đảo, nông thôn song cũng có bất cập là việc TGPL lưu động chủ yếu được tiến hành dưới phương thức tư vấn pháp luật bởi thời gian không dài và không cố định

1.2.3 Phương thứctrợ giúp pháp lý

Phương thức TGPL là cách thức mà người thực hiện TGPL giúp đỡ người được TGPL Các phương thức TGPL rất đa dạng Cùng một vụ việc, người thực hiện TGPL có thể áp dụng một hoặc nhiều phương thức khác nhau nhằm bảo vệ thành công quyền lợi chính đáng cho khách hàng Với tiêu chí này, TGPL cho phụ

nữ nhập cư được phân loại thành đại diện tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài

tố tụng và các phương thức khác

- Đại diện tố tụng: Là việc người thực hiện TGPL đóng vai trò là người đại diện hoặc người bào chữa trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính…ởbất cứ giai đoạn tố tụng nào Đây là phương thức chính được nhiều nước tập trung triển khai và phát triển, đặc biệt là tố tụng hình sự bởi tính chất nghiêm trọng củalĩnh vực này

- Tư vấn pháp luật: Là việc giải đáp, hướng dẫn người được TGPL tuân thủ pháp luật và áp dụng các quyền pháp lý của mình vào thực tiễn Khôngdừng lại ở việc truyền tải các thông tin về các văn bản, quy định của pháp luật mà người thực hiện TGPL còn phải nghiên cứu vụ việc của người được TGPL từ đó đưa ra các lời khuyên hữu ích cho việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ

- Đại diện ngoài tố tụng: Là việc người thực hiện TGPL được sự đồng ý của người được TGPL nhân danh họ tham gia các quan hệ phápluật mà không liên quan đến tố tụng (bao gồm cả tố tụng hình sự và tố tụng dân sự) vì lợi ích của người được TGPL

- Các phương thức khác: Ngoài các phương thức nêu trên, người thực hiện TGPL có thể thực hiện các phương thức khác như tham gia hòa giải, khiếunại, thực

Trang 29

hiện công việc liên quan đến hành chính… để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL

1.2.4 Nội dung của trợ giúp pháp lý

Ởnhiều quốc gia, TGPL được thực hiện hoàn toàn miễn phí Tuy nhiên, ở một số quốc gia khác, việc miễn phí chỉ dành cho những đối tượng nhất địnhtheo quy định của pháp luật, căn cứ vào thu nhập trung bình hằng tháng cũng như tính phức tạp của vụ việc, người được TGPL phải chi trả một vài chi phí không đáng kể

so với việc sử dụng dịch vụ pháp lý thông thường nhằm tạo lập sự dồi dào cho nguồn quỹ TGPL Với tiêu chí này, TGPL được phân loại thành: TGPL miễn phí hoàn toàn và TGPL thu phí một phần

- TGPL miễn phí hoàn toàn: Là việc người được TGPL không phải trả bất cứ chi phí nào cho việc sử dụng các dịch vụ pháp lý do TGPL cung cấp

- TGPL thu phí một phần: Là việc người được TGPLphải trả một số khoản chi phí nhất định theo danh mục nhà nước quy định cho việc sử dụng các dịch vụ pháp lý do TGPL cung cấp

1.2.5 Các mô hình trợ giúp pháp lý

Hiện nay, trên thế giới có 03 mô hình TGPL gồm mô hình từ thiện, mô hình chăm sóc pháp lý và mô hình hỗn hợp

- Mô hình từ thiện (Charty): Là mô hình ra đời sớm nhất ở các nước Anh,

Mỹ từ đó phát triển hệ thống TGPL trên toàn thế giới Trong mô hình này, các luật

sư sẽ tự nguyện TGPL với tư các cá nhân mà không nhận bất cứsự hỗ trợ nào từ nhà nước cũng như bất cứ thù lao nào từ người được TGPL Tuy nhiên, việc TGPL được thực hiện thường xuyên hay không phụ thuộc vào đạo đức, tâm huyết, khả năng, năng lực tài chính… của các luật sư dẫn tới không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu TGPL của đông đảo người dân

- Mô hình chăm sóc pháp lý (Judicare): Là mô hình mà toàn bộ chi phí liên quan đến TGPL đều do nhà nước chi trả từ ngân sách Mô hình này được triển khai

ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Thụy Điển, New Zealand, Anh,Ấn Độ… Nhà nước sẽ tuyển chọn các luật sư công, hưởng lương hằng tháng và các chế độ khác như một công chức Bên cạnh đó, còn có đội ngũ luật sư tư được mời thực

Trang 30

hiện TGPL, hưởng thù lao theo vụ việc (mức thù lao thường được căn cứ vào mức

độ phức tạp của vụ việc cũng như khả năng, năng lực, uy tín của luật sư) Với mô hình chăm sóc pháp lý đòi hỏi quốc gia phải vững mạnh về kinh tế bởi nhà nước sẽ gánh toàn bộ khoản tiền không nhỏ cho TGPL

- Mô hình hỗn hợp: Là mô hình phổ biến nhất hiện nay trong đó có sự tham gia của các tổ chức phi nhà nước dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về TGPL Ngoài Trung tâm TGPL nhà nước, các tổ chức,cá nhân được đăng

ký TGPL với những điều kiện nhất định Việc TGPL có thể miễn phí hoàn toàn hoặc thu phí một phần và thường được căn cứ vào thu nhập trung bình hằng tháng của cá nhân Ưu điểm của mô hình này là các tổ chức TGPL có thể chủ động tìm kiếm đối tượng cần được TGPL cũng như việc miễn phí cho người nghèo Tuy nhiên, hạn chế là người được TGPL chỉ có quyền lựa chọn các luật sư đăng ký TGPL mà không được mở rộng tới các luật sư ngoài kết nối.Có thể thấy, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Việc lựa chọn áp dụng mô hình nào phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia

1.2.6 Các nguyên tắc nhằm bảo đảm vai trò của trợ giúp pháp lý cho nhóm phụ

nữ nhập cư

Đến nay, chưa có một nguyên tắc nào về TGPL được đưa ra làm tiêu chuẩn quốc tế chung Các nguyên tắc hiện nay mới chỉ tập trung ở một hoặc một vài khía cạnh liên quan đến TGPL chẳng hạn như Hiệp hội luật gia Mỹ (American Bar Assocition) đã đưa ra 10 nguyên tắc cơ bản về TGPL trong vụ việc dân sự hay các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư khi thực hiện TGPL của tổ chức Legal aid Reformer Network; các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư được thông qua tại Đại hội lần thứ VIII của Liên Hợp Quốc về phòng chống tội phạm và cải tạo phạm nhân ở Hanava, Cu Ba năm 1990 … Đối với Việt Nam, tại Điều 3, Luật Trợ giúp pháp lý đã đưa ra 04 nguyên tắc cơ bản của hoạt động trợ giúp pháp lý: Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý; Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý Trong hệ thống pháp luật về TGPL hầu hết các quốc gia đều xây dựng

Trang 31

nguyên tắc về TGPL nhằm đảm bảo chất lượng vụ việc TGPL và hiệu quả của toàn

hệ thống trong đó có những nguyên tắc quan trọng sau:

(1) Nhà nước có trách nhiệm chính trong việc thực hiện và quản lý hoạt động TGPL:

Mặc dù, sự tham gia của các tổ chức xã hội ngày càng được mở rộng song nhà nước vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong hoạt động TGPL Theo tính hành động, nhà nước có cả những nghĩa vụ thụ động và chủ động, cụ thể:

- Nghĩa vụ chủ động: Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện về TGPL; Phân bổ nguồn lực hợp lý; Thiết lập các phương tiện để phụ nữ nhập cư hưởng thụ quyền được TGPL của mình; Nâng cao kiến thức cho ngườidân và cộng đồng về quyền được TGPL; Khuyến khích và thu hút sự tham gia của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân ngoài nhà nước; Phát hiện, ngăn chặn, giải quyết các vi phạm trong hoạt động TGPL

- Nghĩa vụ thụ động: Không can thiệp, tác động vào sự hưởng thụ quyềnđược TGPL của chủ thể được TGPL và tính độc lập của người thực hiện TGPL.Cũng có thể phân loại nghĩa vụ của nhà nước trong hoạt động TGPL theo một cách khác, bao gồm: Nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực thi

(2) Mọi chủ thể đều được bình đẳng trong việc hưởng thụ quyền được TGPL

mà không có bất cứ sự phân biệt nào:

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử là nguyên tắc then chốt của luật quốc tế nói chung, luật nhân quyền quốc tế nói riêng, được ghi nhận trong bộ luật nhân quyền và thừa nhận trong các mối quan hệ quốc tế Nền tảng của nguyên tắc này chính là sự bình đẳng về nhân phẩm và các quyền mà tạo hóa ban cho loài người và tình anh em trong cách đối xử giữa con người với nhau đòi hỏi mọi người đều được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc này không hề thay đổi giá trị khi gắn với lĩnh vực TGPL Như các lĩnh vực khác, đối tượng của TGPL rất đa dạng, do đó, các quy định của pháp luật phải bảo đảm không có bất cứ sự bất bình đẳng hay sự phân biệt đối xử nào tồn tại trong việc tiếp cận và hưởng thụ quyền được TGPL

(3) Mọi hoạt động của hệ thống TGPL phải tính đến lợi ích của trẻ em:

Trang 32

Không chỉ đối với trẻ em là người yêu cầu được TGPL mà còn phải tính đến lợi ích của những trẻ em không có yêu cầu TGPL hoặc theo pháp luật quốc gia không thuộc đối tượng được TGPL nhưng họ là người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan bởi trẻ em chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và nhận thức, do đó, trong pháp luật quốc tế cũng như lịch sử loài người đây là đối tượng dễ bị tổn thương nhất và luôn cần có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt Nguyên tắc này đòi hỏi các vụ việc được TGPL có liên quan đến trẻ em phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Người thực hiện TGPL phải có kỹ năng về tiếp xúc và làm việcvới trẻ;

- Các biện pháp áp dụng trong vụ việc phải phù hợp với tâm sinh lý của trẻ;

- Trong mọi trường hợp lợi ích hợp pháp của trẻ em phải được ưu tiên

(4) Người thực hiện TGPL hoạt động độc lập, nỗ lực hết mình vàchịu trách nhiệm trước pháp luật:

Tính tự do và độc lập của người thực hiện TGPL mang tính quyết định đến hiệu quả, chất lượng của vụ việc được TGPL, đặc biệt là trong vụ án hình sự với một bên là đại diện nhà nước, có sức mạnh công quyền, cưỡng chế và một bên là người bị tình nghi, có thể bị tước tự do Chưa kể, nếu không trao quyền độc lập cho người thực hiện TGPL thì xung đột lợi ích có thể xảy ra bởi cả người tiến hành tố tụng và người thực hiện TGPL đều được trả lương hoặc hưởng các lợi ích tài chính

từ nhà nước Do đó, để đảm bảo công lý, tương tự như hệ thống tòa án, pháp luật phải quy định địa vị pháp lý độc lập cho hệ thống TGPL nói chung và người TGPL nói riêng Tính độc lập được thể hiện ở các phương diện sau:

- Được thực hiện tất cả các chức năng chuyên nghiệp mà không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp không đúng cách;

-Được tự do đi lại để tư vấn, thực hiện các công việc phục vụ cho việc TGPL;

- Được bảo mật các thông tin về vụ việc TGPL;

- Không bị đe dọa truy tố hay xử lý bằng các biện pháp hành chính, kinh tếhoặc bất cứ biện pháp trừng phạt khác với những hành động được công nhận là phù hợp với đạo đức và trách nhiệm cũng như tính chuyên nghiệp của người thực hiện TGPL

Trang 33

(5) Hệ thống TGPL chỉ được giới hạn trong các trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật:

TGPL là một hoạt động hỗ trợ xã hội, mang tính chất nhân đạo, thể hiện trách nhiệm của nhà nước với xã hội, do đó, phải được chú trọng đầu tư phát triển tất nhiên cần tính cả năng lực và nguồn lực sẵn có của quốc gia, sự phù hợp với truyền thống pháp lý, tuy nhiên, trong mọi trường hợp nhà nước không thể biện minh cho sự thoái thác trách nhiệm này Nếu có thể nên xây dựng quyền này như một quyền hiến định Bởi quyền được TGPL là một quyền tương đối, vì vậy, trong một số trường hợp đặc biệt có thể bị giới hạn Xét dưới góc độ tổng thể, hệ thống TGPL phải luôn được duy trì song có thể bị giới hạn tạm thời khi đất nước bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, bị đe dọa sự sống còn theo thủ tục mà pháp luật quy định Xét dưới góc độ cá thể, vụ việc được yêu cầu TGPL chỉ có thể bị từ chối nếu hoặc người yêu cầu không thuộc đối tượng được TGPL hoặc lĩnh vực của vụ việc không nằm trong danh mục TGPL hoặc có dấu hiệu vi phạm các điều kiện để được TGPL Các điều kiện để từ chối phải được quy định rõ ràng trong pháp luật quốc gia về TGPL

Kết luận chương 1

Với lịch sử phát triển lâu dài, sự ra đời của TGPL được hầu hết các quốc gia

và chuyên gia trên thế giới nhận định là đòi hỏi tất yếu của xã hội hiện đại Không chỉ là một trong các biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật và công bằng xã hội, TGPL cho phụ nữa nhập cư còn là tiêu chí để đánh giá mức độ văn minh, tính nhân văn, nhân đạo của một nhà nước Do vậy, càng ở những nước phát triển thì TGPL càng phát triển Với mục tiêu đảm bảo quyền tiếp cận công lý và quyền bình đẳng trước pháp luật cho tất cả mọi người, TGPL hướng tới đối tượng thụ hưởnglà nhóm phụ nữ nhập cư trong xã hội – những người có hoàn cảnh khó khăn, thiệt thòi – giúp

họ vượt qua các rào cản để tiếp cận pháp luật, thực hiện và bảo vệ các quyền pháp

lý của mình.Lịch sử hình thành và phát triển đã khẳng định vai trò hạt nhân của TGPL trong việc bảo đảm tiếp cận và thúc đẩy quyền con người của nhóm phụ nữ nhập cư trong xã hội Thông qua những hoạt động thực tiễn là cung cấp các dịch vụ pháp lý như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng… TGPL vừa

Trang 34

gây ảnh hưởng, đòi hỏi nhà nước thừa nhận các quyền con người, vừa hướng dẫn, đại diện cho phụ nữ nhập cư thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đồng thời phát hiện ra các thiếu sót, vi phạm của pháp luật cũng như quá trình thực thi pháp luật từ đó đề xuất các giải pháp sửa đổi, khắc phục.Hiện nay, trên thế giới

có mô hình TGPL, gồm: Mô hình chăm sóc; mô hình từ thiện và mô hình hỗn hợp, tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa mà nhà nước lựa chọn xây dựng mô hình TGPL phù hợp

Trang 35

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NHẬP CƯ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Quy định về trợ giúp pháp lý đối với nhóm yếu thế

2.1.1 Quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế

Việt Nam hiện là thành viên của 07 Công ước đa phương về nhân quyền Tuy nhiên, nội dung về TGPL chỉ được quy định trong một số Công ước Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (CCPR) quy định: Trong phán quyết về bất kỳ

sự buộc tội hình sự nào chống lại mình, mọi người có quyền có mặt khi xét xử và tự bào chữa hoặc nhờ người khác do mình lựa chọn bào chữa; nếu không có người bào chữa thì được thông báo về quyền này và được chỉ định người bào chữa trong trường hợp vì yêu cầu của công lý và họ không có điều kiện chi trả cho việc đó (điểm

d khoản 3 Điều 14) Đồng thời, Công ước Công ước về quyền trẻ em (CRC) quy định: Những trẻ em bị tước quyền tự do có quyền được giúp đỡ về pháp lý và giúp đỡ thích hợp khác; những trẻ em bị coi là hay bị tố cáo là đã vi phạm luật hình sự ít nhất được giúp đỡ về pháp lý hoặc những giúp đỡ thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày

sự bảo vệ của mình (điểm d Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 40) Như vậy, quy định về TGPL chỉ được quy định mang tính chất nguyên tắc trong các Công ước Công ước CCPR và CRC quy định quyền của người bị buộc tội, người bị tước quyền tự do có quyền được TGPL khi bị buộc tội hoặc tước quyền tự do và các quốc gia thành viên

có nghĩa vụ phải bảo đảm thực hiện các quyền tối thiểu này Do không quy định cụ thể việc TGPL cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới nên đối tượng này được suy đoán

là được TGPL nếu thuộc các đối tượng được TGPL theo quy định của các Công ước Đối với việc TGPL trong lĩnh vực, vụ việc, đối tượng khác được khuyến khích thực hiện trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh của các quốc gia [39]

2.1.1.1 Vị trí của trợ giúp pháp lý trong Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

Điểm d, khoản 3, Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có

Trang 36

quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng đối với việc: Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự TGPL theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu như chưa có sự TGPL; và được nhận

sự TGPL theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả

Việc có hay không có sự TGPL được xác định dựa trên khả năng một người

có thể hay không thể tiếp cận với các thủ tục tố tụng hoặc tham gia vào quá trình tố tụng một cách thực chất “Mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội là yếu tố quan trọng quyết định có cần bổ nhiệm một luật sư để bảo đảm lợi ích công lý hay không” và để bảo đảm cơ hội khách quan của bị cáo trong quá trình tố tụng Việc cung cấp TGPL trong nhiều trường hợp chỉ mang tính khuyến khích song một số trường hợp đặc biệt khác lại là nghĩa vụ của quốc gia Chẳng hạn, bị cáo phải đối mặt với án tử hình thì bắt buộc phải có sự trợ giúp hiệu quả của một luật sư do cơ quan có thẩm quyền cung cấp trong mọi giai đoạn tố tụng Trong các bình luận, khuyến nghị chung của Ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, chưa đưa ra bất cứ giải thích nào về trường hợp “lợi ích của công lý đòi hỏi” Do đó, tùy thuộc vào nhận thức trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc chung của luật nhân quyền quốc tế mà các quốc gia có thể giải thích cụ thể hơn sự đòi hỏi của công lý bao gồm những gì trong pháp luật quốc gia về TGPL Theo Tòa án Châu Âu về quyền con người thì việc xác định “trường hợp mà công lý đòi hỏi” được dựa trên 03 yếu tố sau đây: “Mức độ nghiêm trọng, tính chất phức tạp và khả năng tự bào chữa của người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo” Điểm b, khoản 2, Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định mọi trẻ em bị tình nghi hay bị cáo buộc vi phạm pháp luật hình sự đều “được trợ giúp về mặt pháp lý hoặc những trợ giúp thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày lời bào chữa của mình” Như vậy, riêng đối với trẻ em, quốc gia có nghĩa vụ bắt buộc trong việc cung cấp quyền được TGPLmột cách kịp thời ở mọi trường hợp mà không cần tính đến

sự phức tạp, tính nghiêm trọng của vụ án [39]

2.1.1.2 Vị trí của trợ giúp pháp lý trong Công ước Châu Âu về quyền con người

Trong Công ước Châu Âu về quyền con người, tại Điều 6 về quyền xét xử công bằng cũng quy định rằng “bị cáo có quyền tự bào chữa hay nhờ luật sư bào

Trang 37

chữa do mình chọn lựa, nếu người đó không đủ khả năng để trả tiền cho việc TGPL thì phải được miễn phí trong trường hợp công lý đòi hỏi” Quyền được TGPL chỉ được cung cấp với hai điều kiện sau:

- Bị cáo phải chứng minh được việc mình không có đủ khả năng để thanh toán các chi phí cho sự TGPL;

- Chỉ áp dụng khi lợi ích công lý đòi hỏi Điều này được xác định không chỉ dựa vào bối cảnh khi bị cáo nộp đơn xin TGPL mà còn bao gồm cả thời điểm tòa án quốc gia quyết định dựa trên tính hợp pháp của vụ việc Mức độ nghiêm trọng của

vụ án và của hình phạt mà bị cáo có thể phải đối mặt và tình trạng nhân thân là những nội dung sẽ được đánh giá làm căn cứ quyết định Khi quyết định có hay không áp dụng TGPL, người ta phải trả lời câu hỏi “sự vắng mặt của TGPL trong

vụ án này sẽ gây ra những hậu quả thực tế nào? Và liệu quyền lợi hợp pháp của bị cáo có được đảm bảo hay không?” Mặc dù, ghi nhận tầm quan trọng của sự tin tưởng giữa bị cáo và luật sư, tuy nhiên, khi sử dụng “luật sư chỉ định” của TGPL thì

bị cáo không có quyền lựa chọn luật sư Thêm một điểm cần lưu ý, quyền được TGPL không tự động gia hạn trong trường hợp người này kháng cáo Điều đó có nghĩa là để được hưởng quyền được TGPL trong cấp xét xử cao hơn thì bị cáo phải thực hiện lại thủ tục yêu cầu TGPL như ban đầu [39]

Như vậy, trong luật nhân quyền quốc tế, quyền được TGPL có mối quan hệ tương hỗ với các quyền con người khác, bảo đảm mọi người đều có thể tiếp cận và hưởng thụ quyền một cách bình đẳng ngay cả trong trường hợp bị tước tự do Mặc

dù, các văn kiện nhân quyền quốc tế chỉ quy định mang tính chất khuyến khích (một

số trường hợp đặc biệt sẽ mang tính bắt buộc) các quốc gia cung cấp sự TGPL trong

hệ thống tư pháp hình sự, song, trên thực tế, rất nhiều nước quy định đây như một quyền hiến định, áp dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực với nhiều đối tượng khác nhau

mà phụ nữ nhập cư là chủ thể hưởng lợi chính Trong bản Tuyên bố về nguyên tắc

và những hướng dẫn về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự năm 2012 của Liên Hợp Quốc cũng khẳng định rằng trên cơ sở của sự bình đẳng, TGPL phải chú trọng hơn đến các đối tượng yếu thế là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, dân tộc thiểu số, phụ nữ nhập cư, người có bệnh tâm thần, người sống chung với HIV và

Trang 38

các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng khác, người sử dụng ma túy, người bản địa, thổ dân, người không có quốc tịch, người xin tị nạn, công dân nước ngoài, người di

cư và lao động nhập cư, người tị nạn và người di tản

2.1.1.3 Vị trí của trợ giúp pháp lý trong hệ thống các quyền con người

Trong luật nhân quyền quốc tế, TGPL có vai trò là biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý và quyền công bằng trước pháp luật cho mọi thành viên nhân loại

mà nội hàm của nó là quyền tiếp cận tư pháp, quyền bào chữa và quyền được xét xử công bằng

Quyền tiếp cận công lý còn được gọi là quyền tiếp cận tư pháp, quyền tiếp cận pháp luật là tiền đề để bảo đảm một loạt quyền cụ thể, như quyền bình đẳng trước pháp luật (hoặc được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng), quyền được xét

xử công bằng… Có thể thấy, bản thân từ “công lý” đã mang hàm nghĩa rộng lớn Ra đời từ thời Hy lạp cổ đại, mỗi một thời kỳ khác nhau lại có những tư tưởng khác nhau về khái niệm này Theo nghĩa hẹp, công lý là việc bồi thường cho những tổn thất, thiệt hại Theo nghĩa rộng, công lý bắt nguồn từ trật tự xã hội, việc đối xử bình đẳng giữa những người có điều kiện, hoàn cảnh tương tự nhau và là yêu cầu bắt buộc để trao cho con người những quyền mà họ xứng đáng được thụ hưởng [27]

Đối với khái niệm quyền tiếp cận công lý, hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau Ở phạm vi hẹp, tiếp cận công lý hướng tới sự công bằng, khách quan trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bao gồm các thủ tục, biện pháp pháp lý, chẳng hạn quy định một người bị kết tội phải được xét xử bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và thành lập theo đúng pháp luật hoặc quy định phiên tòa phải được tổ chức công khai cho truyền thông và công chúng có thể tiếp cận (trừ những trường hợp đặc biệt)… Ở phạm vi rộng hơn, “tiếp cận công lý được hiểu là sự tìm kiếm đền bù hoặc khắc phục cho những bất công hay thiệt hại mà cá nhân phải gánh chịu, đặc biệt là nhóm phụ nữ nhập cư”

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, ngay tại những dòng đầu tiên của lời mở đầu khái niệm công lý đã được nhắc tới, gắn liền với với việc thừa nhận phẩm giá vốn có, những quyền bình đẳng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại cũng như có vị trí ngang bằng với tự do và hòa bình Như vậy, khái

Trang 39

niệm công lý ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất và tương tự thế, khái niệm quyền tiếp cận công lý không đơn thuần là sự bảo đảm các quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn trong những lĩnh vực khác, bao gồm những hành vi pháp lý khác Người có quyền hiểu biết và có khả năng theo đuổi, đòi hỏi, áp dụng các quyền con người của mình là một trong những điều kiện để công lý được thực thi Vì vậy, nếu người có quyền không biết/hiểu hoặc hạn chế về khả năng hoặc thậm chí không có khả năng đòi hỏi, áp dụng các quyền con người thì nhà nước phải đề ra các giải pháp để khắc phục tình trạng trên, bảo đảm rằng bất cứ ai trong mọi trường hợp đều có thể tiếp cận với công lý [39]

Trong luật nhân quyền quốc tế, TGPL là một trong những biện pháp bảo đảm cho quyền tiếp cận công lý, tuy nhiên, nó chỉ được đề cập trong hoạt động tố tụng hình sự, gắn liền với quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng (các quyền phái sinh của quyền tiếp cận công lý) Ngay khi một người bị cáo buộc

là phạm tội hình sự thì họ phải được thông báo về quyền được TGPL, việc TGPL miễn phí hay thu phí phần lớn phụ thuộc vào khả năng chi trả của người này Một

số trường hợp nhất định nhà nước là bên có nghĩa vụ cung cấp thay vì mang tính khuyến khích Việc TGPL cho người bị tước tự do nhằm giúp tất cả mọi người trong mọi trường hợp đều có thể tiếp cận, thực hiện các thủ tục tố tụng cũng như các quyền con người của mình, đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm mọi người luôn được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Trước hết, người thực hiện TGPL sẽ giải thích cho người bị can, bị cáo hiểu rõ về các quyền pháp lý của mình trong tố tụng hình sự để họ tự lựa chọn áp dụng hay không các quyền này Nếu có yêu cầu xa hơn, người thực hiện TGPL sẽ trợ giúp với tư cách đại diện hoàn thành các thủ tục

tố tụng hoặc bào chữa tại phiên tòa cho người có quyền được TGPL như một luật sư thực thụ Điều này rất quan trọng, đặc biệt là trong tố tụng tranh tụng, ảnh hưởng tới phán quyết của tòa án, bảo đảm xét xử diễn ra công bằng trong cuộc đấu trí giữa một bên là đại diện nhà nước (Kiểm sát viên, Công tố viên) và một bên yếu thế hơn

là người bị buộc tội Rõ ràng, sự hiểu biết, nhận thức đến áp dụng các quyền con người của bị can, bị cáo và các hoạt động đại diện, bào chữa, tranh luận tại phiên tòa đều là những yếu tố trực tiếp quyết định tới sự công bằng trong xét xử, giảm

Trang 40

thiểu tối đa đến mức có thể sự tùy tiện của các cơ quan tiến hành tố tụng, oan sai và

vi phạm các nhân quyền Do đó, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của TGPL như là một biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý của mọi chủ thể trong xã hội, đặc biệt là nhóm phụ nữ nhập cư [27]

2.1.1.4 Đối tượng trợ giúp pháp lý là phụ nữ

Luật nhân quyền quốc tế quy định rõ về việc nhà nước có trách nhiệm cung cấp TGPL đối với các đối tượng yếu thế khi họ là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự Điều này vừa nhằm đảm bảo quyền bào chữa cho các nhóm yếu thế vừa bảo đảm công lý luôn được thực thi trong mọi hoàn cảnh với tất cả mọi người

Quan niệm về nhóm phụ nữ nhập cư “Vulnerable groups” là khái niệm được

sử dụng phổ biến trong lĩnh vực quyền con người Theo từ điển Anh ngữ,

“vulnerable được dịch là có thể bị tổn thương, dễ bị nguy hiểm, yếu thế…” Nó ám chỉ tới một người cần được quan tâm, hỗ trợ và bảo vệ đặc biệt bởi do tuổi tác, khuyết tật, có nguy cơ bị lạm dụng hoặc bị bỏ quên… Nhóm dễ bị tổn thương và nhóm yếu thế là hai cụm từ thông dụng nhất khi dịch sang tiếng Việt Mặc dù, khái niệm “nhóm người dễ bị tổn thương” có thể gần gũi hơn song luận văn này sử dụng khái niệm “nhóm phụ nữ nhập cư” nhằm nhấn mạnh vị thế yếu, thiệt thòi hơn của nhóm này so với các nhóm khác trong xã hội Dựa trên các đặc điểm yếu thế thấy rằng tính yếu thế có thể được sinh ra do tự nhiên hoặc chính cấu trúc xã hội dẫn tới một người có tính yếu thế còn người kia thì không

- Tính yếu thế do tự nhiên: Là việc người đó được xếp vào nhóm yếu thế do các đặc điểm về giới, sinh lý, xu hướng tình dục, tuổi tác, chủng tộc và các yếu tố khác không bị quyết định bởi tác động bên ngoài

- Tính yếu thế bị quyết định bởi cấu trúc xã hội: Là việc người đó được xếp vào nhóm yếu thế do các đặc điểm về quốc tịch, địa vị xã hội và các yếu tố khác bị quyết định bởi tác động bên ngoài

Như vậy, gắn liền với một cá nhân, tính yếu thế không phải là bất biến, có thể thay đổi theo thời gian một cách tự nhiên (trẻ em lớn lên thành người trưởng thành) hoặc do sự cố gắng, nỗ lực bù đắp từ bên thứ 3 (chẳng hạn: một người không quốc tịch được một quốc gia công nhận là công dân và chấp nhận tư cách công dân

Ngày đăng: 17/06/2021, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w