1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người việt thông qua một số từ khóa (so sánh đối chiếu tiếng việt với tiếng anh và tiếng nga)

250 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 250
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BIA LUAN AN

  • LUAN AN TIEN SI

    • BIA LUAN AN

    • LOI CAM DOAN

    • Content

    • DISSERTATION

    • TAI LIEU

    • PHU LUC

    • 141.pdf

      • BIA LUAN AN

      • LOI CAM DOAN

      • Content

      • DISSERTATION

      • TAI LIEU

      • PHU LUC

    • 152.pdf

      • BIA LUAN AN

      • LOI CAM DOAN

      • Content

      • DISSERTATION

      • TAI LIEU

      • PHU LUC

Nội dung

Wierzbicka, chúng tôi áp dụng vào nghiên cứu một số “từ khóa” của tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Anh và tiếng Nga, nhằm làm nổi rõ những nét bản sắc văn hóa và đồng thời

Lịch sử vấn đề

Luận án đặt vấn đề tìm hiểu đặc trƣng văn hóa trong mối quan hệ với ngôn ngữ và tri nhận liên quan đến các khái niệm từ khóa thông qua những phân tích cụ thể từ thực tiễn tiếng Việt trong so sánh với tiếng Anh và tiếng Nga Nhƣ đã biết, một ngôn ngữ của một cộng đồng dân tộc thể hiện cách thức mà trong đó người bản ngữ tri nhận, trải nghiệm về thế giới, ứng xử trong thế giới đó theo bản sắc văn hóa của dân tộc mình Theo suy nghĩ của chúng tôi, trong bối cảnh lí thuyết và nghiên cứu thực tế hiện nay, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận là một trong những cách tiếp cận mới nhằm khẳng định hướng nghiên cứu những đặc trƣng văn hóa và tri nhận của một cộng đồng dựa trên những cứ liệu ngôn ngữ tự nhiên là hoàn toàn mang tính khả thi

Nhìn rộng ra thế giới, ý tưởng cho rằng các ngôn ngữ khác nhau là chỗ dựa cho sự tri giác khác nhau về tri nhận, về cách nhìn nhận thế giới quan khác nhau, đã đƣợc Wilhelm von Humboldt (1903) khẳng định từ lâu Mối liên hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận cũng được nhà ngôn ngữ học người Mỹ Benjamin Lee Whorf - người mà G Lakoff cho là “tiên phong trong ngôn ngữ học”- đề cập đến từ thế kỷ

19 Giống nhƣ Whorf, Lakoff tin rằng những sự khác biệt trong hệ thống ý niệm ảnh hưởng một cách đáng kể đến hành vi của chúng ta và rằng điều đó là cực kỳ quan trọng để hiểu hành vi phụ thuộc nhƣ thế nào vào cách chúng ta suy nghĩ Chomsky [100] thì lại ủng hộ cái nhìn đối lập cho rằng các ý niệm là bẩm sinh và có một đặc tính văn hóa độc lập

Trong thập kỷ 90 của thế kỉ 20, các nhà ngữ học hiện đại đã công bố hàng loạt những vấn đề liên quan đến phổ niệm và sự biến đổi trong ngôn ngữ và tƣ duy – trong đó có Anna Wierzbicka Không giống Whorf - người đã tập trung vào những nghiên cứu ngữ pháp, Wierzbicka đã có những công trình nhƣ: “Duša (soul), toska (yearning), sud'ba (fate): Three key concepts in Russian language and Russian culture” [210]; “Japanese key words and core cultural values” [213]; Semantics, culture, and cognition: Universal, human concepts in culture-specific configurations” [212]; “Lexicon as a key to history, culture, and society

"Homeland" and "Fatherland" in German, Polish and Russian.” [214], trong đó bà mô tả không những về từ vựng nói chung mà còn về những trường từ vựng nói riêng nhằm khám phá những đặc thù văn hóa gắn với các trường từ vựng (như trường từ vựng về cảm xúc…) cũng như nghiên cứu hành động ngôn từ và các giá trị văn hóa gắn với hành động ngôn từ Tác giả còn nhấn mạnh rằng những ý niệm từ vựng có liên quan đến văn hóa ảnh hưởng rất rõ nét lên cách ứng xử và nếp nghĩ của chúng ta Bà khẳng định mỗi ngôn ngữ bao gồm vô số những ý niệm đơn giản bên cạnh hàng loạt những ý niệm phức tạp đƣợc mô tả nhƣ những tập hợp văn hóa đặc thù và đã tiến hành khảo sát trên cứ liệu tiếng Anh, Nga, Ba Lan, Đức, Nhật

Tiếp bước hướng đi mới mẻ này của bà là hàng loạt những nghiên cứu khác của Cliff Goddard “Keywords, culture and cognition” [127]; “The universal syntax of semantic primitives” [128] và gần đây là việc nghiên cứu những phân tử ngữ nghĩa (semantic molecules) trong “Semantic molecules” [130] Theo tác giả thì một phân tử ngữ nghĩa là nghĩa từ vựng phức tạp có chức năng nhƣ một đơn vị trung gian trong cấu trúc của những ý niệm phức tạp khác

Một vài tác giả khác nhƣ Androula Yiakoumetti và Andreas Papapavlou đã áp dụng lý thuyết của Wierzbicka về siêu ngôn ngữ (metalanguage) vào việc tường giải những từ mang tính văn hóa đặc thù thông qua việc phân tích nghĩa của bảy từ được chọn làm từ khóa để tìm hiểu đặc trưng văn hóa của người Hy lạp trong công trình “Evaluation of cultural universality with reference to culture-specific lexicon in Greek [219]

Cũng theo khuynh hướng này, Ning Yu đã áp dụng một số khái niệm của NNHTN về ẩn dụ, hoán dụ, các mô hình văn hóa, về tính nghiệm thân trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc so sánh với tiếng Anh nhƣ:

“Metaphorical expressions of anger and happiness in English and Chinese.” [221];

“The Contemporary Theory of Metaphor: A Perspective from Chinese” [222] Tác giả đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn mới về tính đa dạng của ngôn ngữ từ đó nêu bật những khác biệt về văn hóa và tri nhận giữa phương Đông và phương Tây Những nghiên cứu của tác giả từ quan điểm NNHTN về các từ chỉ bộ phận cơ thể người là những bằng chứng ngôn ngữ học chỉ ra sự ý niệm hóa về cảm xúc, khả năng tinh thần, đặc điểm tính cách, giá trị văn hóa thể hiện trong các nền văn hóa làm sáng tỏ bản chất và thể hiện sự tri nhận con người thông qua các ngôn ngữ khác nhau đã vƣợt khỏi cầu nối ngôn ngữ - văn hóa - tri nhận (NN – VH – TN), góp phần quan trọng trong việc chỉ ra cách nhìn nhận và hiểu biết của chúng ta về cả hai khía cạnh phổ quát và không phổ quát của con người “Body and emotion: Body parts in Chinese expression of emotion” [224]; “Heart and cognition in ancient Chinese philosophy” [226]; “From Body to Meaning in Culture” [227] Ở Việt Nam, nhƣ đã đề cập ở trên, cho đến nay thì hầu nhƣ chƣa có những chuyên khảo hay bài báo nào đề cập đến nghiên cứu theo hướng đi từ việc phân tích từ khóa để tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt thông qua các từ khóa

Tuy nhiên điểm qua một cách sơ lƣợc, chúng tôi nhận thấy về phía các nhà Việt ngữ học, cũng đã có một số tác giả chú ý đến những đặc trƣng văn hóa-dân tộc của tiếng Việt trong việc nghiên cứu ngữ nghĩa của từ, thành ngữ, phương ngữ, tư duy và ngôn ngữ, giao tiếp của người Việt Chẳng hạn như công trình của Nguyễn Lai [42, tr 191-199] đã đi sâu nghiên cứu sự phát triển nghĩa của nhóm từ này đồng thời với sự phát triển nhận thức, tư duy của người Việt Hồ Lê trong công trình Cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại [46] đã nêu lên những vấn đề cơ bản của từ, cơ chế hình thành và việc nhận diện từ trong tiếng Việt Tác giả Nguyễn Thiện Giáp với công trình Lƣợc sử Việt ngữ học [32] đã đƣa ra cái nhìn khá tổng quan về lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, mối quan hệ giữa tiếng Việt với các ngành khoa học xã hội khác Nguyễn Huy Cẩn đã giới thiệu một số hướng nghiên cứu mới có tính liên ngành của Việt Ngữ học trong công trình Việt ngữ học dưới ánh sáng các lý thuyết hiện đại [2]

Về phía các nhà ngôn ngữ tri nhận, cho đến nay cũng có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này: Lý Toàn Thắng, trong Sự hình dung không gian trong ngữ nghĩa của các loại từ và danh từ chỉ đơn vị [56] đã phân tích cách thức người Việt dùng các loại từ để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể (như hình dáng, kích cỡ, tư thế), từ đó chỉ ra cách thức riêng của người Việt trong việc ý niệm hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận Trong Đặc trƣng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tƣ duy [71], Nguyễn Đức Tồn khẳng định nét đặc trƣng này dựa trên các bình diện tri giác, phạm trù hóa hiện thực khách quan và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, định danh, ngữ nghĩa các trường từ vựng và tư duy liên tưởng, điểm quan trọng là tác giả chứng minh được rằng tư duy ngôn ngữ ở người Việt mang tính cụ thể, hành động là kiểu “tư duy thiên về tƣ duy hình tƣợng” và vì thế thích hợp với loại hình sáng tạo nghệ thuật

Không thể không kể đến hai cuốn chuyên khảo gần đây của tác giả Trần Văn Cơ [9] và [10] trong đó tác giả đã trình bày hàng loạt các vấn đế tổng quan thuộc về khoa học tri nhận nhằm giúp độc giả có cái nhìn khái quát về NNHTN Đi sâu vào những vấn đề cụ thể hơn, Trần Trương Mỹ Dung trong Tìm hiểu ý niệm “buồn” trong tiếng Nga và tiếng Anh [22] đã bước đầu xác định tính dân tộc của ý niệm thông qua các phân tích cụ thể của ngôn ngữ

Cần phải kể đến một số nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân, nhƣ “Những nghịch lý ngữ nghĩa [16]; Những giới từ không gian: Sự chuyển nghĩa và ẩn dụ [17] đề cập đến những từ như trên-dưới, trước-sau, gần-xa, trong-ngoài là những cặp khái niệm nguyên thủy trong “nhận thức” không gian liên hệ tới sự tồn tại, vận động của con người; hay “Cái bụng chứa tinh thần” [18]; “Nước” - một từ đặc Việt” [19]; cũng đề cập đến những vấn đề cụ thể trong tiếng Việt từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận

Nhìn vấn đề rộng hơn từ góc độ văn hóa học, chúng ta thấy một số nhà văn hóa học như Chu Xuân Diên đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết và phương pháp, đề cập đến lịch sử hình thành khoa học văn hóa dân gian, về văn hóa Việt Nam, hay Trần Quốc Vƣợng thực hiện lối tiếp cận liên ngành, đa ngành và xuyên ngành giữa Khảo cổ học với Nhân học, Văn hóa học trong nghiên cứu Trong một công trình đƣợc tái bản nhiều lần, Trần Ngọc Thêm [65] cho rằng nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã trải qua ba thời kỳ, kể từ Humboldt cuối thế kỷ XIX với luận điểm coi “ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc” đến thời kỳ thứ hai từ những năm 1930 với giả thuyết E.Sapir- Whorf và thời kỳ thứ ba là từ những năm

1950 với Claude Levi-Strauss Hiện nay đã là thời kỳ thứ tƣ với hầu hết các tác giả quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa nói chung, mối quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể giữa hai đối tƣợng ngôn ngữ và văn hóa dẫn đến quan hệ tương hỗ giữa hai thành phần ngôn ngữ học và văn hóa học nói riêng

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Như vậy, theo lập luận về văn hóa và nhu cầu tâm thức người Việt của tác giả Phan Ngọc, đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu sẽ là 4F nêu trên Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu trên cứ liệu tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga, dường như F2 (Family) là mang tính phổ quát - tập hợp những người cùng sống chung gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu thể hiện trong các từ điển [54]; [229] và

[253] vì vậy nghiên cứu từ “gia đình” nhƣ một từ khóa là chƣa thỏa đáng trong văn hóa Việt xét từ bình diện ngôn ngữ, chƣa nêu bật đƣợc những nổi trội văn hóa của người Việt trong so sánh với những từ tương đương family và семья trong tiếng

Vì thế việc phân tích điều tra xã hội học đã đƣợc tiến hành để thay thế từ khóa gia đình bằng một từ khác Bằng cách liệt kê các từ khóa trong các ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Đức, tiếng Nhật của Wierzbicka, chúng tôi thiết lập bảng câu hỏi điều tra trên 83 đối tƣợng sinh viên khoa Ngữ văn và khoa Hóa của Đại học Sƣ Phạm TP HCM Kết quả là cả từ “hồn/ linh hồn/ tâm hồn” đƣợc lựa chọn với tần suất khá cao

Cụ thể, đối tƣợng nghiên cứu của luận án là phân tích bốn từ khóa: “PHẬN”,

“QUÊ”, “MẶT”, “HỒN” từ góc độ tri nhận nói chung, và cụ thể hơn là từ góc độ ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics) Tức nghiên cứu chính ý nghĩa của từ và hình thức diễn đạt các ý niệm đƣợc biểu thị qua ngôn ngữ, đồng thời mô tả các phương thức phạm trù hóa ý niệm trong bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ để tìm hiểu đặc trưng văn hóa-tri nhận của người Việt Đây là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn khả quan không chỉ trong nghiên cứu tiếng Việt nhằm lưu giữ, bảo tồn và phát triển mà còn góp thêm tiếng nói trong giảng dạy và học tập tiếng nước ngoài.

Phạm vi nghiên cứu

Trong NNHTN, ngữ nghĩa học là sự ý niệm hóa (conceptualization), các đơn vị ngôn ngữ (từ ngữ, kết cấu) đều biểu đạt các ý niệm và những ý niệm này đều tương ứng với các ý nghĩa của những đơn vị ngôn từ đó [158]

Chúng tôi tiến hành phân tích bốn miền ý niệm “SỐ PHẬN – QUÊ HƯƠNG – DIỆN MẠO – LINH HỒN” so sánh đối dịch tương đương với bốn ý niệm “FATE – HOMELAND – FACE – SOUL” trong tiếng Anh và “СУДЬБА – РОДИНА – ЛИЦО – ДУША” trong tiếng Nga, sử dụng phần mềm SPSS để có những thông số cụ thể nhằm chỉ ra sự khác biệt đáng kể về những ý niệm người Việt biểu đạt trong bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ so với cộng đồng người nói tiếng Anh và tiếng Nga Bởi vì cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ cũng nhƣ cách nhìn thế giới không hoàn toàn mang tính phổ quát mà còn mang tính đặc thù nên những cộng đồng ngôn ngữ khác nhau sẽ có phần nhìn nhận thế giới không giống nhau thông qua lăng kính của mình

Vì khuôn khổ của luận án có giới hạn mà khối lƣợng tri thức về ngành khoa học mới mẻ này (NNHTN) lại rất đa dạng và phong phú, luận án sẽ không đi sâu phân tích các từ khóa dựa vào khung phân tích văn hóa độc lập (cultural- independent analytical framework) “siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên” (natural semantic metalanguage – NSM) do Anna Wierzbicka khởi xướng Và chúng tôi cũng không xem xét vấn đề trên mọi bình diện của NNHTN nhƣ: phạm trù mô hình nguồn-đích, lý thuyết điển dạng, thuyết pha trộn (blending theory) hay những lĩnh vực khác để lý giải vấn đề của mình.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, ngoài các phương pháp quen thuộc mà bất cứ công trình nghiên cứu, dù khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội đều đề cập đến: chúng tôi cố gắng sử dụng và phối hợp các phương pháp khảo sát, nghiên cứu khác nhau Đặc biệt chúng tôi quan tâm đến một số phương pháp như:

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Muốn có nhận xét mang tính tổng hợp, chúng tôi phải tìm hiểu tƣ liệu là các yếu tố của ngôn ngữ, phân tích từng yếu tố một để xác minh vấn đề Phương pháp này bước đầu giúp chúng tôi thấy rõ hơn bản chất của đối tượng nghiên cứu

Phương pháp so sánh đối chiếu

Vận dụng phương pháp này, người viết muốn làm rõ hơn, thuyết phục hơn về những vấn đề đặt ra trong luận án Chúng tôi cố gắng đối chiếu, so sánh với tiếng Anh, tiếng Nga để làm nổi bật những đặc trƣng ngữ nghĩa của các từ khóa tiếng Việt, từ đó hy vọng tìm ra những tương đồng và khác biệt về văn hóa và tư duy của người Việt

Phương pháp thống kê – phân loại

Nhờ phương pháp thống kê-phân loại, luận án có thể đưa ra những chứng cứ cụ thể, chính xác trong quá trình nghiên cứu, giúp cho việc trình bày những luận điểm của luận án tăng thêm tính thuyết phục

Phương pháp phân tích thành tố Đây là phương pháp quen thuộc trong ngữ nghĩa học, đặc biệt trong ngữ nghĩa học từ vựng Khi phân tích ngữ nghĩa của các “từ khóa”, chúng tôi sử dụng phương pháp này để làm nổi rõ các nét nghĩa và con đường chuyển hóa nghĩa của các

“từ khóa” trong tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga

Phương pháp điều tra xã hội học

Trong quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã sử dụng phương pháp này thông qua phiếu điều tra để tìm hiểu phản ứng của người bản ngữ nói các ngôn ngữ Việt, Nga và Anh nhằm làm rõ thêm cảm thức của cộng đồng nói ngôn ngữ đó, đo đếm đƣợc cách sử dụng các ngôn ngữ này nhằm nêu bật những đặc trƣng tri nhận và văn hóa của các cộng đồng nói ngôn ngữ trên

Tất nhiên, các phương pháp trên đây không thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết vấn đề luận án đƣa ra Thực hiện đề tài luận án “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt thông qua một số “từ khóa” (So sánh đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga) chúng tôi có tham vọng khẳng định tiềm năng một hướng nghiên cứu mới, đóng góp vào việc tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa và tri nhận

Những trình bày trên đây có thể cho thấy định hướng nghiên cứu của luận án Công việc chủ yếu chúng tôi đã triển khai là thu thập và xử lý tốt ngữ liệu với một khối lƣợng lớn, xác định bộ máy khái niệm để vận dụng miêu tả nhằm tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đặt ra trong mục đích nghiên cứu

Từ giao diện giữa tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga thể hiện ở các từ khóa được lựa chọn của luận án, việc làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa, tƣ duy còn góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng ngôn ngữ, trau dồi rèn luyện tiếng Việt chẳng những đối với việc giảng dạy cho người bản ngữ mà còn cho người nước ngoài học tiếng Việt, góp thêm một phần vào việc lý giải và phân tích các vấn đề đối dịch song ngữ (Việt- Anh, Việt-Nga).

Nguồn ngữ liệu

Từ gợi ý của GS Phan Ngọc [50] về bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm 4F, chúng tôi đã chọn lựa các “từ khóa” làm đối tƣợng nghiên cứu của luận án Việc chọn lựa này đƣợc tiến hành theo cách nhƣ sau:

- Chọn ngẫu nhiên 83 sinh viên trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh (khoa Văn, Hóa) tham gia vào quá trình khảo sát

- Những khái niệm “từ khóa” là „từ mang yếu tố văn hóa đặc thù‟, „đặc trƣng văn hóa và tri nhận của người Việt‟ được giải thích cặn kẽ cùng với các thí dụ đính kèm

- Các tiêu chí để chọn từ khóa bao gồm:

(i) là từ đƣợc sử dụng rộng rãi, toàn dân

(ii) được sử dụng thường xuyên trong một trường ngữ nghĩa riêng biệt (trường từ vựng cảm xúc, trường từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể người.v.v )

(iii) có khả năng kết hợp với các loại từ khác để trở thành ngữ mới

(iv) thường được sử dụng trong tục ngữ, châm ngôn, những bài hát phổ biến, tiêu đề sách, báo v.v

- 19 “từ khóa” trong các ngôn ngữ Anh, Nga, Đức, Ba Lan và Nhật (theo Anna Wierzbicka): phận/ số phận, niềm khao khát, hồn/ tâm hồn/ linh hồn, Tổ quốc

(trong tiếng Nga), danh dự, giữ gìn, sự tin cậy, lòng biết ơn, sự công bằng, sự đồng cảm, tinh thần (trong tiếng Nhật), quê hương (tiếng Đức), đất nước (tiếng Ba Lan), tâm trí, tình bạn, sự tự do, sự phát triển, thế hệ (trong tiếng Anh) đƣợc đƣa vào phiếu điều tra Bằng phép tính toán loại trừ và dựa vào tổng số phần trăm thu đƣợc qua quá trình thử nghiệm, chúng tôi có đƣợc bốn từ: quê (homeland), phận (fate), mặt (face) và hồn (soul) chiếm tỉ lệ phần trăm khá cao trên tổng số 19 từ Số liệu thống kê cho thấy bốn từ khóa này thể hiện rõ nét nhất cảm thức của người Việt về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận

Sau khi xác định đƣợc bốn từ khóa, chúng tôi đã thu thập từ các nguồn tƣ liệu chủ yếu sau đây để phục vụ cho việc nghiên cứu:

- Từ điển tiếng Việt (2000) do Hoàng Phê chủ biên;

- Từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu Anh-Việt, Việt-Anh (2004) của

Cao Xuân Hạo & Hoàng Dũng;

- Đại Nam quấc âm tự vị (1982) của Huình Tịnh Paulus Của;

- Từ điển Anh-Việt (1993) của các tác giả Hồ Hải Thụy, Chu Khắc Thuật, Cao

Xuân Phổ (Viện Ngôn ngữ học);

- Từ điển Nga-Việt (2 tập) (1977) của К Малкинов, В В Иванов, И А Мальханова;

- Từ điển thành ngữ tiếng Việt (2002) của Nguyễn Nhƣ Ý, Nguyễn Văn

- Từ điển tiếng Việt (1998) do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên;

- Từ điển thành ngữ tiếng Việt (1998) của Nguyễn Lân;

- Từ điển thành ngữ tiếng Việt (1995) của Vũ Dung

- Oxford Advanced Learner‟s Encyclopedic Dictionary (1992) do Oxford

- The American Heritage Dictionary of the English Language, 4th edition Copyright (2010) Houghton Mifflin Harcourt Publishing Company Published by Houghton Mifflin Harcourt Publishing Company;

- Macmillan English Dictionary for Advanced Learners (2002) do Macmillan Limited xuất bản, tái bản 2007;

- The Meriam-Webster New Book of Word Histories (1991) do Meriam-

- Dictionary of Symbols (1996) do Penguin Books xuất bản;

- Cambridge Idioms Dictionary (1998) do Cambridge University Press xuất bản, Tái bản 2006

- Фразеологий словарь русского языка (1986) do А И Молоткова chủ biên;

- Фразеология современного русского языка (1969), do Н М Шанский chủ biên;

- Словарь русского языка в четырех томах (1983), của Академия наук СССР - Институт русского языка biên soạn;

- Cловарь русского языка О И Ожегов (1982) do Н Ю Шведова chủ biên

Ngoài ra, trong quá trình khảo sát các miền ý niệm đƣợc biểu thị bằng bốn từ khóa trong tiếng Việt so sánh với các từ tiếng Anh „Fatherland – Fate – Soul – Face‟ và tiếng Nga „Родина – Судьба – Душа – Лицо‟, chúng tôi sử dụng nguồn tƣ liệu đa dạng đƣợc rút ra từ sách, báo, tạp chí cùng với hàng loạt các tác phẩm văn học bao gồm tiểu thuyết, thơ ca v.v bằng bản in và bản điện tử cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga để tiến hành phân tích phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc sử dụng phương pháp định lượng và phương pháp định tính trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là ngành khoa học xã hội và nhân văn ngày càng trở nên hữu dụng nhằm làm tăng sức thuyết phục của các giả thuyết khoa học Sử dụng phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) để phân tích những ngữ liệu thu thập đƣợc là biện pháp khả dụng của chúng tôi trong quá trình nghiên cứu nhằm làm tăng tính thuyết phục cho những luận điểm đề ra trong luận án.

Ý nghĩa khoa học của luận án

Với nội dung luận án là nghiên cứu đối chiếu một số “từ khóa” tiếng Việt so sánh với tiếng Anh và tiếng Nga để tìm hiểu bản sắc văn hóa và đặc thù tri nhận của người Việt, chúng tôi hy vọng có thể giới thiệu thêm một hướng nghiên cứu mới đi từ những sự kiện ngôn ngữ cụ thể đến những khác biệt văn hóa và tri nhận, bổ sung thêm lý luận và tƣ liệu cho việc nghiên cứu tiếng Việt từ góc độ NNHTN

Kết quả đạt đƣợc của luận án cũng góp phần làm sáng tỏ thêm một số bình diện của giả thuyết Sapir – Whorf về mối quan hệ hữu cơ giữa tri nhận, văn hóa, và ngôn ngữ Đóng góp vào việc tìm hiểu những khác biệt về ngôn ngữ do nền văn hóa qui định Ngôn ngữ làm rõ văn hóa, làm cho văn hóa sâu sắc hơn

Luận án cũng cho thấy ảnh hưởng của sự khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa lên đời sống tinh thần của con người chịu sự chi phối của cách thức con người trải nghiệm, tri giác thế giới khách quan, từ đó cho thấy tiềm năng của các nghiên cứu liên ngành

Ngoài ra, hiện nay do nhu cầu học tập và giao lưu văn hóa, ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh và tiếng Nga và cả tiếng Việt nói riêng (đề cập trong luận án) trở thành bộ môn quan trọng, đặc biệt là trong ngành giảng dạy tiếng nước ngoài Kết quả của luận án còn có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận cho chuyên ngành phương pháp giảng dạy Việc tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của một cộng đồng thông qua các từ khóa chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ-văn hóa cũng như cách thức con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật, sự tình của thế giới khách quan sẽ giúp các nhà giáo dục có thêm cơ sở lý luận để biên soạn giáo trình, đề ra những phương pháp và cách thức giảng dạy hiệu quả

Chúng tôi hy vọng là những kết quả đạt đƣợc của luận án sẽ có ích cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga Giải quyết thấu đáo những nhiệm vụ đề ra, luận án có những ý nghĩa nhất định đối với thực tiễn của ngôn ngữ học

Việc phân tích những tương đồng và khác biệt trong đặc điểm ngữ nghĩa của từ cũng như đặc điểm văn hóa trong các ngôn ngữ Việt – Anh – Nga trước hết giúp người học hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt văn hóa từ đó giúp họ có kiến thức, có khả năng phân tích xử lý các vấn đề ngôn ngữ hiệu quả hơn

Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng góp phần lý giải sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa từ góc nhìn tri nhận luận (làm rõ ngôn ngữ, lý giải sự khác biệt nghĩa văn hóa, tri nhận) nhằm hỗ trợ cho việc học ngoại ngữ, cung cấp tƣ liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ cũng nhƣ bản sắc văn hóa của một cộng đồng.

Bố cục của luận án

Ngôn ngữ và văn hóa

Nhìn chung, giới khoa học trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Tuy nhiên có thể lƣợc quy về ba quan điểm chủ yếu: (i) cấu trúc của một ngôn ngữ quyết định cách nhìn nhận thế giới của người nói ngôn ngữ đó; (ii) văn hóa của một dân tộc tìm thấy sự phản ánh trong ngôn ngữ mà họ sử dụng; (iii) có rất ít hoặc không có mối quan hệ nào giữa ngôn ngữ và văn hóa [206, tr.212]

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, ngôn ngữ được coi là phương tiện chủ yếu cho mọi hoạt động của đời sống xã hội của chúng ta Khi đƣợc sử dụng trong bối cảnh giao tiếp, ngôn ngữ lại liên quan đến văn hóa ở nhiều mặt đa dạng và phức tạp Trước hết, lời nói mà ta thốt ra ám chỉ các kinh nghiệm phổ biến Chúng thể hiện các hiện thực, ý tưởng hoặc sự kiện có thể giao tiếp được vì chúng phản ánh kho kiến thức mà con người chia sẻ với nhau Từ ngữ cũng phản ánh thái độ và niềm tin của người nói, quan điểm của họ, và cả những quan điểm của người khác Trong trường hợp này, ngôn ngữ thể hiện hiện thực văn hóa

Nhưng những con người trong một cộng đồng xã hội không chỉ thể hiện kinh nghiệm mà họ còn tạo ra kinh nghiệm qua ngôn ngữ Thông qua phương tiện mà họ chọn để giao tiếp với nhau, họ cấp cho ngôn ngữ các ý nghĩa, ví dụ, nói chuyện trực tiếp trên điện thoại, viết thƣ hay gửi email, đọc báo hoặc hiểu một biểu đồ hay bản đồ nào đó chính là cách mà con người sử dụng phương tiện nói, viết hoặc hình ảnh tạo ra những ý nghĩa có thể hiểu đƣợc nhau qua chất giọng, giọng nói; qua cách đàm thoại; qua điệu bộ và nét mặt Thông qua các khía cạnh bằng lời hoặc phi lời, ngôn ngữ bao gồm hiện thực văn hóa

Cuối cùng, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đƣợc xem nhƣ là có giá trị văn hóa của bản thân nó Thông qua ngôn ngữ, người nói định dạng chính họ và những người khác Họ xem ngôn ngữ như một biểu tượng của bản sắc xã hội Việc cấm sử dụng ngôn ngữ thường được người nói ngôn ngữ đó hiểu như là sự đàn áp lại cộng đồng xã hội và văn hóa của họ Do đó, ta có thể nói rằng ngôn ngữ là biểu trƣng hiện thực văn hóa [152, tr.3]

Từ góc nhìn liên ngành, có thể thấy rằng, ngôn ngữ là một trong những yếu tố cấu thành của văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau [200, tr.275-307] Ngôn ngữ là thế giới trung gian giữa nhận thức của con người với thế giới khách quan, là một thứ lăng kính qua đó con người nhận thức thế giới

Vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa đã đƣợc nghiên cứu khá kỹ và khá đa dạng từ góc nhìn của nhiều ngành khoa học Trong khi nhân chủng học xã hội coi ngôn ngữ nhƣ một yếu tố hay bộ phận hữu cơ của văn hóa, các nhà ngôn ngữ học lại coi việc nghiên cứu văn hóa nhƣ là nghiên cứu ngôn ngữ trong đó nhấn mạnh đến đặc tính ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau và cho dù ngôn ngữ quyết định sự tồn tại của văn hóa, nó cũng là một thành tố độc lập của nền văn hóa dân tộc Đánh giá luận điểm “ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc” do Humboldt khởi xướng, M.M Gukhman cho rằng:

Việc xem ngôn ngữ nhƣ là thành tố quan trọng nhất của văn hóa và chú ý tới chức năng xã hội của nó, nhấn mạnh mối liên hệ lẫn nhau giữa ngôn ngữ và

„linh hồn‟ (…) – đó là cống hiến hiển nhiên của V F Humboldt vào hệ vấn đề ngôn ngữ học thế kỷ XIX [136, tr.123-124]. Điều đó chỉ ra rằng, là một thành tố của nền văn hóa tinh thần, ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt, là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh cũng nhƣ phát triển và hoạt động của những thành tố khác trong văn hóa Đến lƣợt mình, sự phát triển của văn hóa lại tạo tiền đề trở lại cho ngôn ngữ phát triển

Từ góc độ văn hóa học, W Goodnough cho văn hóa là những hiểu biết đƣợc tiếp nhận trong xã hội Dù là vật chất hay tinh thần, văn hóa chỉ thực sự là chính nó khi thực sự trở thành những hiểu biết đƣợc cộng đồng chấp nhận

Văn hóa của một xã hội theo tôi quan niệm bao gồm tất cả những gì mà một người phải biết và phải tin để có thể hành xử theo cách mà các thành viên trong cộng đồng chấp nhận được… Văn hóa, vốn là những cái mà con người phải học mới có đƣợc chứ không nhƣ tài sản thừa kế bằng vật chất của mình Suy cho cùng văn hóa là những hiểu biết, sản phẩm của sự học tập, theo cách hiểu chung nhất của thuật ngữ này [5, tr.1]

Tuy khái niệm văn hóa còn có những định nghĩa khác nhau, nhƣng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ dân tộc là một bộ phận của nền văn hóa dân tộc, ngôn ngữ là một trong những phương tiện biểu hiện đặc trưng của văn hóa dân tộc, giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Về mặt này, tác giả Phạm Đức Dương nhấn mạnh rằng:

Nếu nhƣ văn hóa là tổng thể những hệ thống các tín hiệu khổng lồ mang tính thiết chế xã hội, bao trùm lên mọi hoạt động của một cộng đồng người nhất định, thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất đƣợc xây dựng trên quan hệ biểu trưng văn hóa của loài người [2, tr.24]

Ngành nhân loại học coi văn hóa là cách sống của con người Theo Brown

[92], văn hóa là một yếu tố nội tại trong bản chất con người và ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên trong một nền văn hóa, là sự thể hiện rõ ràng và trực tiếp nhất của nền văn hóa đó Nhƣ vậy, thế giới quan và nhân sinh quan của một con người, hệ thống suy nghĩ, hành động, cảm giác và giao tiếp của người đó có thể bị xáo trộn nếu có sự chuyển đổi từ một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác

Về phía các nhà ngôn ngữ học, đi sâu vào mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và cách ứng xử, Wierzbicka thông qua các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng văn hóa khác nhau thì ngôn ngữ khác nhau, ứng xử văn hóa cũng khác nhau

“…những khác biệt trong cách nói năng thể hiện trong các xã hội và cộng đồng ngôn ngữ khác nhau là rất rõ rệt và có hệ thống Chúng phản ánh các giá trị văn hóa khác nhau.” [211, tr.63]

Ngôn ngữ và tri nhận

Nhƣ đã có dịp đề cập sơ bộ trên đây, câu hỏi về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận đã là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà ngữ học Đại thể có thể qui về hai giải thuyết cho mối liên hệ này: một là sự tri nhận ảnh hưởng đến ngôn ngữ, và hai là ngôn ngữ định hướng sự tri nhận Trước thời của F De Saussure, V Humboldt (1960) đã đưa ra ý tưởng cho rằng những ngôn ngữ khác nhau là nguyên nhân cho sự khác biệt trong tri nhận, trong cách nhìn nhận về thế giới khách quan:

… ngôn ngữ dường như là sự thể hiện ra bên ngoài của linh hồn dân tộc; ngôn ngữ của dân tộc là linh hồn của nó và linh hồn của dân tộc là ngôn ngữ của nó – khó lòng hình dung một cái gì đồng nhất với nhau hơn thế Chúng ta không thể nào hiểu đƣợc bằng cách nào chúng hòa lẫn với nhau thành nguồn thống nhất và nằm ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta Không cố gắng xác định cái nào có ƣu thế hơn cái nào, chúng ta cần thấy trong sức mạnh của tinh thần dân tộc cái nguyên tắc có tính chất quyết định thực sự và cái cơ sở chắc chắn của sự khác biệt giữa các ngôn ngữ bởi vì chỉ có sức mạnh tinh thần của dân tộc mới là hiện tƣợng sống và độc lập, còn ngôn ngữ phụ thuộc vào nó (tr.31)

Cho đến nay giả thuyết về tính tương đối ngôn ngữ của Sapir-Whorf vẫn còn là vấn đề chƣa đƣợc chứng minh thấu đáo và gây nhiều tranh cãi, nhƣng nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều đồng ý với nhận định cho rằng giá trị của giả thuyết không phải ở chỗ chứng minh mối quan hệ có tính chất quyết định và bất biến giữa các phạm trù ngôn ngữ cụ thể và các kiểu tư duy của con người trong một hệ thống văn hóa, mà nó có giá trị trong việc nêu lên mối liên hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, tƣ duy và toàn bộ nền văn hóa của một cộng đồng ngôn ngữ Chính giả thuyết này đã chỉ ra một trong những nguyên nhân gây ra những khó khăn cho việc giao tiếp giữa những cộng đồng nói ngôn ngữ khác nhau, cho người học ngoại ngữ, cho các nhà dịch thuật Nói một ngôn ngữ khác không đơn thuần là việc phát ra hệ thống âm thanh khác, là hiểu và ghi nhớ một cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa khác mà quan trọng hơn hết chính những hiểu biết nhất định về một nền văn hóa khác và các mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận

…Con người không sống đơn độc trong thế giới khách quan, cũng không bị lẻ loi trong thế giới của các hoạt động xã hội như lâu nay con người vẫn hiểu mà được sự ưu ái của ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt trong giao tiếp xã hội Sẽ là ảo tưởng khi cho rằng con người điều chỉnh cho thích nghi với thế giới hiện thực mà không cần sử dụng ngôn ngữ, rằng ngôn ngữ chỉ đơn thuần là một phương tiện ngẫu nhiên để giải quyết những vấn đề cụ thể trong giao tiếp hoặc sự phản ánh Bản chất của vấn đề là ở chỗ, phần lớn “thế giới thực tại đƣợc hình thành dựa trên các thói quen ngôn ngữ của cộng đồng… Chúng ta nhìn thấy, nghe thấy và trải nghiệm cuộc sống như chúng ta vẫn thường làm vì các thói quen ngôn ngữ của cộng đồng qui định sẵn một số lựa chọn nhất định về sự thông hiểu [187, tr.69]

Vì mỗi ngôn ngữ cấp cho chúng ta cách nhìn nhận thế giới và cách con người tri giác các sự vật, sự tình của thế giới khách quan mà con người tồn tại nên việc sử dụng ngôn ngữ thường kéo theo các hình mẫu do văn hóa qui định Những hình mẫu này ảnh hưởng không ít đến cách con người sắp xếp trật tự từ để tạo câu, cách con người tư duy, cách nhìn nhận thực tại khách quan Whorf [208, tr.66] tin tưởng rằng, những mô hình ngôn ngữ (nhƣ các phạm trù trong ngữ pháp chẳng hạn) trong các ngôn ngữ khác nhau có tầm ảnh hưởng lớn đến cách con người tư duy

…Chúng ta chia cắt thực tế theo những tuyến mà ngôn ngữ của dân tộc để lại Chúng ta thấy các phạm trù và các loại trong thế giới các hiện tƣợng không phải vì chúng đập vào mắt chúng ta, mà trái lạ,i thế giới hiện ra nhƣ là một dòng ấn tƣợng nhƣ trong kính vạn hoa và cần đƣợc tƣ duy, tổ chức lại Điều này có nghĩa là phần lớn bởi hệ thống ngôn ngữ trong tư tưởng của chúng ta [208, tr 213-214]

Cũng theo Whorf, những sự khác biệt trong cấu trúc ngôn ngữ giữa các ngôn ngữ đƣợc phản ánh trong thói quen tƣ duy và tập quán về hành vi Những đặc tính nào đó của một nền văn hóa ảnh hưởng đến cách mà con người tri giác và ghi nhớ Whorf cũng tin rằng văn hóa và ngôn ngữ là hai đối tƣợng không thể tách rời

Theo Vygotsky [205] ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển tri nhận Điều này đƣợc thể hiện ngay từ khi một đứa trẻ bắt đầu học nói và thụ đắc được ngôn ngữ trong giao tiếp của mình Ngôn ngữ, trước hết, được coi là phương tiện hữu hiệu của quá trình giao tiếp xã hội của con người, sau đó đƣợc chuyển hóa thành công cụ tối ƣu trong việc hình thành các quá trình tri nhận ứng với sự chi tiết hóa một hệ thống biểu tƣợng trừu tƣợng giúp trẻ con hình thành khả năng tƣ duy

Những nghiên cứu gần đây của Boroditsky [90] cho thấy sự khác biệt trong cách tri giác về thời gian giữa các dân tộc nói tiếng khác nhau tồn tại trên các múi giờ khác nhau là rất rõ ràng Ngôn ngữ châu Âu có các hình thái phạm trù thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai nên xã hội phương Tây nhìn nhận và chi phối các hoạt động theo sự phân chia thời gian như vậy Điều đó cũng ảnh hưởng không ít đến cách người tri giác về thời gian “TIME IS MONEY” Họ nhận thức thời gian như một cái gì đó nên đƣợc bảo quản tiết kiệm, tránh mất mát lãng phí, cũng chính vì vậy mà việc đến đúng giờ hẹn là một nét văn hóa rất được coi trọng của người phương Tây

Ngôn ngữ được coi là nhà tổ chức tri thức quan trọng của loài người [137], và đó cũng là cơ sở để tin rằng những bình diện của ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc phạm trù hóa – một trong những khái niệm then chốt trong việc mô tả hoạt động nhận thức của con người Phạm trù hóa là quá trình cấu tạo và phân xuất chính bản thân các phạm trù, là quá trình phân chia thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, quá trình sắp xếp các hiện tượng theo thứ tự số lượng giảm dần hoặc hợp nhất chúng lại Ví dụ, Markman và Hutchinson [167, tr.25] đã chứng minh rằng, khi nghe một từ nào đó, trẻ con sẽ chuyển sự chú ý của chúng từ hệ thống tham tố sang hệ thống phân loại Điều đó đã dẫn đến một kết luận khá quan trọng rằng ngôn ngữ có thể giữ vai trò trực tiếp trong việc tạo ra một phương thức hệ thống nổi trội cho các mối quan hệ phạm trù

Ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận đƣợc đề cập đến không chỉ trong ngành ngôn ngữ học, mà còn là đối tƣợng nghiên cứu của ngành nhân học, thần kinh học, tâm lý học, triết học, xã hội học Thoạt nhìn vấn đề có vẻ khá đơn giản, nhƣng khi đi sâu tìm hiểu là nảy sinh hàng loạt các tiền đề phức tạp về bộ máy khái niệm, về sự liên hệ và tác động qua lại trong nghiên cứu liên ngành Vì thế chúng tôi không có ý định đi sâu vào cuộc tranh luận với những nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam, mà chỉ tiến hành xem xét vấn đề từ hai khía cạnh: (i) những nội dung ngôn ngữ với tƣ cách là đối tƣợng của việc nghiên cứu tri nhận; (ii) thông qua việc nghiên cứu đối chiếu giữa các nền văn hóa khác nhau để đặt ra vấn đề có thể thấy đặc trƣng tri nhận của các dân tộc bản ngữ hay không

Nhìn rộng ra thế giới, một trong những vấn đề gây tranh luận về mối liên hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận liên quan đến câu hỏi: “Con người nói thứ ngôn ngữ khác nhau có suy nghĩ và trải nghiệm thế giới khách quan theo cách khác hay không? Và nếu có thì những sự khác biệt diễn ra trong tƣ duy đó có dựa trên những dị biệt về cấu trúc và từ vựng trong ngôn ngữ bản địa hay không?” Những người khởi xướng hướng nghiên cứu này phải kể đến là Benjamine Whorf và Edward Sapir với “giả thuyết tương đối ngôn ngữ học” rất nổi tiếng với lập luận rằng ngôn ngữ quyết định tƣ duy và cách nhìn nhận thế giới, và vì thế văn hóa và tƣ duy lệ thuộc vào ngôn ngữ Hơn nữa, ngôn ngữ là công cụ có giá trị trong việc nghiên cứu một nền văn hóa “ngôn ngữ là chỉ dẫn cho hiện thực xã hội … và là chỉ dẫn mang tính biểu trƣng cho văn hóa” [195, tr.203]

Whorf chỉ ra rằng một ngôn ngữ có những đơn vị từ vựng riêng để mô tả những khái niệm mà với ngôn ngữ khác con người không phân biệt được Ông dẫn ra trường hợp về người Eskimo có bốn cách diễn đạt khác nhau cho một từ tiếng Anh “snow (tuyết)” Ngoài những nghiên cứu về từ vựng, Whorf còn quan tâm đến các phạm trù ngữ pháp, đặc biệt là ngữ pháp của người da đỏ như Nootka, Hopi hay Shawnee Từ việc so sánh các ngôn ngữ Ấn-Âu, ông tin rằng việc nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của các ngôn ngữ sẽ dẫn đến những hiểu biết về văn hóa

Bằng việc so sánh câu “I was riding a horse” trong tiếng Anh và sự chuyển dịch sang tiếng Navajo thành “The horse and I were moving about”, Elgin [110] đã cho thấy mối quan hệ giữa ngựa và người cưỡi ngựa ở hai câu trên là hoàn toàn khác nhau: người cưỡi ngựa trong tiếng Anh được mô tả như một chủ thể hoạt động và ngựa là khách thể bị con người cưỡi Trong khi đó, ở ngôn ngữ Navajo, hành động cưỡi ngựa là hoạt động chung của cả người và ngựa chứ không tính đến mối quan hệ chủ thể-khách thể Dưới ánh sáng giả thuyết về tính tương đối ngôn ngữ của Whorf, có thể thấy rằng, người Navajo tri giác và trải nghiệm mối quan hệ giữa con người và con vật (ngựa trong trường hợp này) hoàn toàn khác cách nói của người Anh

Nếu như sự suy nghĩ của con người thực sự có liên quan đến ngôn ngữ thì có lẽ chúng ta cần giải thích những khác biệt văn hóa trong tri nhận bằng cách xem xét những khác biệt trong các ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu về giả thuyết tương đối ngôn ngữ cho đến nay vẫn chƣa thực sự rõ ràng Bên cạnh những kết quả thu đƣợc bổ sung thêm vào những nhận định của giả thuyết, dường như cũng còn khá nhiều kết quả nghiên cứu đối lập với tư tưởng của Sapir và Whorf (dẫn từ nguồn http://www.ablongman.com/partners ngày 18/ 09/ 2007) Đại đa số các học giả đồng tình với cái gọi là “biến thể yếu (weak version)” trong cách nhìn nhận ngôn ngữ của nguyên lý Sapir-Whorf về “tính tương đối của ngôn ngữ” đều tin rằng tƣ duy không hoàn toàn đƣợc xác định bởi ngôn ngữ chúng ta nói một cách tuyệt đối Hơn nữa, cách chúng ta nói về con người, về các vật thể hay sự kiện rất có thể làm chúng ta chú ý ít nhiều đến những khía cạnh nào đó của những sự kiện, con người và các vật thể đó

Trong các ngôn ngữ khác nhau, chúng ta nhận thấy những yếu tố ngôn ngữ khác biệt đôi khi có thể giúp dễ dàng hơn trong giao tiếp Chẳng hạn, trong tiếng Anh có dạng thức tiếp diễn (continuous tense) để phân biệt những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và vẫn đang tiếp tục ở hiện tại trong một khoảng thời gian với những sự kiện đã xảy ra và kết thúc tại thời gian xác định trong quá khứ (present perfect continuous tense) nhƣ trong câu “I worked all afternoon/ Tôi đã làm việc suốt buổi chiều.” khác với câu “I have been working all afternoon/ Tôi vẫn đang làm việc suốt từ chiều” Một vài ngôn ngữ (tiếng Đức, tiếng Hebrew chẳng hạn) không có dạng tiếp diễn như tiếng Anh, tuy vậy người ta vẫn cố gắng thể hiện chuỗi thời gian tiếp diễn và khoảng thời gian sự kiện diễn ra bằng cách dùng các từ ngữ hỗ trợ Giả thuyết theo quan điểm của Whorf cho rằng sự phân biệt giữa quãng thời gian các sự kiện diễn ra có thể không quan trọng trong cách nói của nền văn hóa Đức và Hebrew, nhƣng lại là sự quan tâm trong cộng đồng văn hóa Anh Nói cách khác, nếu có điều gì đó đƣợc mã hóa vào ngôn ngữ của một nền văn hóa, thì điều đó ắt hẳn phải là quan trọng

Về vấn đề này, Vygotski khẳng định rằng những ảnh hưởng văn hóa, những yếu tố tinh thần, và ngôn ngữ là quá trình tổng hợp xuất hiện đồng thời Điều đó có nghĩa là sự tương tác xã hội với vô vàn điều quanh ta giúp cho việc định hướng phẩm chất của ngôn ngữ và năng lực tinh thần ở mọi lứa tuổi Với quan điểm lý thuyết nhƣ thế, Vygotski tạo ra một cụm từ mới, “nói để học (talking to learn)” bằng việc giải thích rằng, trẻ con nên giao tiếp với mọi người bằng lời nói – điều đó giúp ngôn ngữ của chúng trở thành một bộ phận hoàn toàn thuộc về bản chất hoặc khả năng tƣ duy của mình tức là đồng hóa ngôn ngữ một cách vô thức [204]

Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng, trẻ con thụ đắc ngôn ngữ ngay trong quá trình tương tác với chính cha mẹ chúng và hình thành những giá trị văn hóa trong tƣ duy của mình thông qua giao tiếp trong gia đình và xã hội [93], [133] Trong những nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ ở làng Samoan, Ochs [178] cho thấy sự tồn tại hai cách diễn đạt ngôn ngữ rất rõ ràng: “ngôn từ hoa mỹ (good speech)” và “ngôn từ bình dân (bad speech)” Lối nói sau (bad speech) hàm chứa những lối nói phát ra bằng cách làm tắc hoàn toàn hoặc một phần hơi đƣợc phát ra qua miệng và vì thế đƣợc dùng chủ yếu trong những cuộc giao tiếp không nghi thức, trong khi đó “ngôn từ hoa mỹ” đƣợc dùng để nói với những nhân vật không quen biết hoặc những trường hợp cần nghi thức giao tiếp trang trọng nơi trường học, nhà thờ chẳng hạn hoặc khi giao tiếp với những người có địa vị trong xã hội Tiếp thu cùng lúc hai lối nói này, trẻ con Samoan tự biết cách dùng mỗi loại ngôn ngữ cho phù hợp với các tình huống giao tiếp xã hội Ở Việt Nam, vấn đề về mối liên hệ bộ ba NN – VH – TN thực sự còn khá mới mẻ, tuy nhiên vấn đề về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa gần đây đã đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ

Tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng, theo quan điểm tương đối luận của E Sapir và B Wholf, ngôn ngữ là một lăng kính mà qua đó người bản ngữ tri giác thế giới vì thế cách tri nhận thế giới của họ thiên về hiện thực; trong khi đó Chomsky, theo quan điểm phổ quát luận lại cho rằng các thứ tiếng đƣợc cộng đồng ngôn ngữ sử dụng chẳng qua chỉ là “dị bản địa phương” của một hệ thống ngôn ngữ nhất định chi phối cách khái niệm hóa thế giới của chúng ta

Giữa tiếng nói của một dân tộc với nền văn hóa của dân tộc ấy chắc chắn phải có một mới quan hệ nhất định Vì ngôn ngữ trực tiếp phản ánh các tri giác và tƣ duy thế giới của cộng đồng dân tộc, mà văn hoá dân tộc không thể không liên quan đến cách tri giác và tƣ duy ấy Đó là một sự thật không còn có thể đặt thành vấn đề gì nữa [34, tr.287]

Thực tế cho thấy, các ngôn ngữ khác nhau có thể giống nhau một về những khái niệm và ý nghĩa mà nó cần phân biệt và diễn đạt, nhƣng chúng lại có thể khác nhau về những phương tiện được dùng để truyền đạt các khái niệm và các ý nghĩa ấy Hơn nữa, chúng ta thừa nhận rằng mỗi ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu hành chức theo những quy luật riêng của bản thân trong môi trường văn hóa liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người sử dụng ngôn ngữ ấy

Những ảnh hưởng của các nhân tố văn hóa đối với cấu trúc của một ngôn ngữ là điều không phải bàn cãi Cái có thể đặt thành vấn đề là thực chất của mối quan hệ này ra sao, và trong chừng mực nào các dữ kiện ngôn ngữ có thể đƣợc sử dụng làm căn cứ kinh nghiệm để từ đấy rút ra những nhận định đáng tin cậy về những đặc trưng văn hóa của những người nói thứ tiếng ấy như tiếng mẹ đẻ của họ, và sử dụng nhƣ thế nào

Tóm lại, việc trả lời câu hỏi muôn thuở “Sự tri nhận có phụ thuộc vào ngôn ngữ hay không và ngƣợc lại ngôn ngữ có là công cụ thực thi quá trình tri nhận của con người hay không?” thiết nghĩ là đã thu được nhiều kết quả nghiên cứu khả quan Thông qua quá trình chuyển di từ học ngôn ngữ đơn thuần sang việc học cả ngôn ngữ và văn hóa, các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng ngôn ngữ và sự tri nhận là hiện tƣợng văn hóa tự nhiên Đến lƣợt mình, ngôn ngữ và văn hóa lại thuộc về hệ thống sinh thái (ecological system) của con người nơi mỗi cá nhân trong cộng đồng góp thêm những trải nghiệm vào cuộc sống của mình Chúng tôi đồng tình với quan điểm xem xét ngôn ngữ - văn hóa trong mối quan hệ không thể tách rời với tri nhận, và dĩ nhiên là với hạt nhân trung tâm là con người, bởi suy cho cùng nếu không có con người thì sẽ không tồn tại luôn cả ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận Có thể hình dung mối quan hệ này đƣợc nêu trong sơ đồ 1.1 (xem sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa – tri nhận

Sơ đồ cho thấy rõ hơn vị thế của con người trong mối quan hệ với ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận trong mối quan hệ ba chiều không thể tách rời và khẳng định rằng không thể nhắc đến yếu tố này mà bỏ qua yếu tố kia trong đó văn hóa và ngôn ngữ luôn làm tiền đề cho nhau, qui định sự phát triển của nhau

Nhƣ vậy những nghiên cứu về NN, VH và TN cũng bắt đầu có chỗ đứng và khởi sắc trong nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam Tuy nhiên cho đến nay vẫn chƣa có chuyên khảo hay bài báo nào đề cập trực tiếp đến vấn đề này Mặc dù ý thức rất rõ về điều này, nhƣng do tính phức tạp của vấn đề và do khuôn khổ có hạn của luận án, trong Chương cơ sở lí luận, chúng tôi cũng chỉ tổng kết những ý kiến xoay quanh vấn đề từ những nghiên cứu của các học giả trên thế giới cũng nhƣ những ý kiến của các nhà ngữ học Việt Nam, để từ đó tìm ra con đường nghiên cứu đi từ mối quan hệ bộ ba này đến cách phân tích những “từ khóa” nhất định làm dữ liệu nhằm tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt

2 Anna Wierzbicka và hướng nghiên cứu đặc trưng văn hóa qua từ khóa

Về khái niệm “siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên

Theo Wierzbicka, ý nghĩa của các từ khóa trong một ngôn ngữ có thể và cần phải đƣợc diễn giải nhờ vào một hệ siêu ngôn ngữ phổ quát mà bà gọi tên là “siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên” (Natural Semantic Metalanguage – NSM) [209]

Lý thuyết NSM là một trong những phương pháp tiếp cận hiện đại về ngữ nghĩa, và phương pháp luận của nó đã được phát triển như một công cụ để phân tích ngữ nghĩa Lý thuyết này đã đƣợc đề xuất và phát triển bởi Wierzbicka (1972, 1980,

1991, 1992,1996) và các đồng nghiệp của bà trong hơn ba thập kỷ qua Siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên bao gồm hai thành tố: từ vựng và cú pháp Từ góc độ từ vựng, bà đề xuất 60 nhân tử ngữ nghĩa (semantic primitives) có tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ, tương ứng với những từ nguyên sơ (primes) vốn là chìa khóa cho việc mô tả nghĩa của chúng

Theo Anna Wierzbicka, những đặc điểm thiết yếu của nhân tử ngữ nghĩa phải bao gồm những yếu tố sau:

- Chúng không thể đƣợc định rõ (indefinable), nghĩa là chúng có thể đƣợc dùng để giải thích ý nghĩa của các từ khác, nhƣng bản thân chúng không đƣợc tự định nghĩa

- Chúng phải đƣợc chấp nhận nhƣ là những nhân tử ngữ nghĩa, nghĩa là nhờ chúng có thể trình bày một cách mạch lạc tất cả những nghĩa phức tạp

- Một số nhân tử có thể đƣợc nhận biết về mặt hình vị (morphemes), một số khác lại về mặt từ vị (lexeme)

Sau đây là những nhân tử ngữ nghĩa (đƣợc viết hoa) mà bà đề xuất [216, tr.26] (xem bảng 1.1)

Determiners: THIS, THE SAME, OTHER

Quantifiers: ONE, TWO, MANY/MUCH, ALL, SOME

Attributes: GOOD, BAD, BIG, SMALL

Mental predicates: THINK, KNOW, WANT, FEEL, SEE, HEAR

Actions, events, and movement: DO, HAPPEN, MOVE

Life and death: LIVE/ALIVE, DIE

Logical concepts: NOT, MAYBE, CAN, BECAUSE, IF, IF WOULD

Time: WHEN/TIME, BEFORE, AFTER, A LONG TIME,

A SHORT TIME, NOW, FOR SOME TIME

Space: WHERE/PLACE, HERE, UNDER, ABOVE, FAR,

NEAR, SIDE, INSIDE, HERE Intensifier, augmentor: VERY, MORE

Partonomy and Taxonomy: PART OF, KIND OF

Hãy xem xét một vài thí dụ mà bà dùng nhân tử ngữ nghĩa để tường giải nghĩa của các từ chìa khóa Chẳng hạn:

(a) one of two parts of a person (một trong hai phần của con người)

(b) one cannot see it (phần mà người ta không thể nhìn thấy)

(c) because of this part, a person can think and know (nhờ phần này mà con người có thể suy nghĩ và hiểu biết)[212, tr.45]

(a) a part of a person (một phần của con người)

(b) one cannot see it (người ta không thể nhìn thấy)

(c) one can imagine that it is a part of a person‟s body (người ta có thể tưởng tượng rằng nó là một phần của cơ thể con người)[in the middle of the upper half of the body (nửa thân trên của cơ thể)

(d) one can hear its movements (con người có thể nghe được sự chuyển động của nó ở phần giữa bộ phận phía trên của cơ thể người)

(e) of this part, a person can feel good things and bad things (nhờ có phần này, con người có thể cảm nhận những gì là tốt đẹp và những điều xấu xa)

(f) because of this part, a person can feel good things towards other people (nhờ có bộ phận này, con người có thể cảm nhận những điều tốt đẹp trước những người khác)[212, tr.48]

Theo bà, ý niệm MIND (tinh thần) là “một đặc trƣng tính cách của văn hóa Anglo-Saxon, chứ không phải đối với văn hóa Tây Âu nói chung [1992a: 43] Tuy nhiên “những phạm trù tâm lý dân tộc Anh thường bị đồng hóa là “Tây Âu” [1992a: 40] Ý niệm „heart‟ (tim) trong tiếng Anh đƣợc xem nhƣ cơ quan của cảm xúc, không phải là chỗ chứa của tất cả cảm xúc mà chỉ là các cảm xúc „tốt‟ hoặc

„xấu‟ mà thôi Chẳng hạn: „His heart was full of surprise/amazement/interest/ Lòng anh ấy đầy sửng sốt/kinh ngạc/ niềm đam mê‟ [212, tr.47]

Cũng theo Wierzbicka, để có thể nói về điều gì đó, chúng ta cần nhiều hơn số lƣợng từ cần có, nghĩa là chúng ta cần tới những tổ hợp từ có nghĩa Vì thế, bà không chỉ đề cập đến những phổ niệm từ vựng, mà còn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề đƣợc bà gọi là “cú pháp phổ quát của nghĩa” (Universal Syntax of Meaning), cú pháp này có đối tƣợng khảo sát là những tổ hợp vốn do sự kết hợp các nhân tử ý niệm (conceptual primitives) phổ quát tạo nên [215, tr.20]

Một trong những điểm mạnh về lý thuyết của Anna Wierzbicka ở đây là bà đã sử dụng một trong những ngôn ngữ tương đối đơn giản trong việc hiển ngôn hóa (khác xa với phương pháp tường giải thông thường trong từ điển truyền thống: có thể dịch những từ chƣa biết này bằng những từ chƣa biết khác) Anna Wierzbicka cho rằng có thể kết hợp những từ đơn giản mà bà đƣa ra, để mô tả những ý niệm phức tạp; những từ đó biểu đạt những ý niệm mà mọi người (kể cả trẻ con) cũng có thể sử dụng và hiểu đƣợc Thực vậy, những định nghĩa đơn giản của bà cho phép tất cả người đọc có thể thông hiểu những mô tả mà không cần phải tra cứu từ trong từ điển

Mặt tích cực khác trong lý thuyết của bà là siêu ngôn ngữ đƣợc đƣa ra không phải là nhân tạo [dưới dạng những chỉ tố và những nét đặc trưng –(markereses and featureses), vốn đã bị chỉ trích là không thể mô tả nghĩa của từ một cách chính xác] mà là ngôn ngữ tự nhiên, không phải bằng cách:

… dựa vào những biệt ngữ chuyên môn hay dựa vào những mô hình toán học và logic, cái đƣợc cho là cơ sở dẫn đến sự nghiêm ngặt trong khoa học, nhƣng mặt khác lại làm khó hiểu hơn thay vì phải làm cho sáng sủa những hiện tƣợng tự nhiên những vấn đề phải nghiên cứu… [211, tr.454]

Tuy nhiên, cần chú ý rằng, nhƣ một số học giả đã chỉ ra, ứng dụng lý thuyết về siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên của Anna Wierzbicka trong thực tế cũng có mặt hạn chế Trước hết, những định nghĩa cho những ý niệm còn quá dài, có khi phải dùng tới 10 câu để mô tả một ý niệm Phương pháp này rõ ràng là không kinh tế và tác giả chưa cung cấp đủ bằng chứng lý do tại sao người ta lại phải dùng những mô tả dài nhƣ thế Thực tại tâm lý của những thuật ngữ này là rất quan trọng, đến nỗi nó dường như đôi lúc là phi tồn tại (non-existance) trong trường hợp những định nghĩa dài dòng nhƣ vậy

Một hạn chế khác có thể thấy trong khẳng định quả quyết của Anna Wierzbicka là, tất cả các ý niệm, kể cả những ý niệm đơn giản, có thể đƣợc xác định một cách chính xác nếu sử dụng siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên Bà còn đề xuất rằng chúng ta có thể xác định chính xác nghĩa của cả từ ngữ (chứ không chỉ các ý niệm) bởi vì từ là đại diện chính xác của những ý niệm tri nhận Tuy nhiên, thực tế ngôn ngữ cho thấy, một số những định nghĩa về từ của bà là rất mờ nhạt Nó có thể là tối ưu ở một phương diện nào đó nhưng cũng khó dùng để xác định nghĩa ở cấp độ từ vựng theo cách chính xác và sáng tỏ đƣợc Cách nhìn theo nguyên tử luận này đưa đến giả thuyết là sự tri nhận của con người có thể được rút gọn về các nhân tử từ vựng phổ quát Chẳng hạn xét trường hợp của từ GOOD và BAD theo hướng nhân tử ngữ nghĩa của Anna Wierzbicka Làm thế nào chúng ta biết rằng có những nghĩa nhƣ thế, nhƣ cách mà bà đề xuất? Dĩ nhiên là tính đa nghĩa (polysemy) không thể giải thích đƣợc bởi vì nó cung cấp những hiển ngôn kiểu nhƣ: He is a bad person (Anh ta là người không tốt); He is bad at Maths (Anh ta dở toán); We had bad weather this morning (Sáng nay, chúng tôi đã gặp phải thời tiết tồi tệ) Nhƣ vậy, khẳng định của Anna Wierzbicka về việc định nghĩa từ theo cách này vẫn chƣa được lý giải một cách thuyết phục Bà cho rằng thông qua phương pháp (siêu ngôn ngữ) của bà, những phong cách giao tiếp khác nhau và những chuẩn mực tương tác xã hội khác nhau có thể đƣợc giải thích, và bà nghĩ rằng có thể đƣa ra những định nghĩa chính xác về những giao tiếp văn hóa

Hướng tiếp cận ngôn ngữ trên bình diện ngữ nghĩa-tri nhận

Từ khóa “phận” và các ý niệm trong tiếng Việt

Từ khóa “quê” và các ý niệm trong tiếng Việt

Phân tích ngữ liệu và đánh giá

Từ khóa “mặt” và các ý niệm trong tiếng Việt

TỪ KHÓA “HỒN” VÀ CÁC Ý NIỆM 1 Tiểu dẫn

Ngày đăng: 17/06/2021, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w