1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu trong tiếng hàn, đối chiếu với tiếng việt trên cứ liệu lời thoại phim truyền hình

178 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

  • QUY ƯỚC VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

  • PHẦN MỞ ĐẦU

    • 1. Lý do chọn đề tài

    • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

      • 2.1. Các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu

      • 2.2. Các nghiên cứu về hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu

    • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

    • 6. Điểm mới của luận án

    • 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

    • 8. Bố cục luận án

  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • 1.1. Các vấn đề về ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

      • 1.1.1. Ẩn dụ ý niệm và các loại ẩn dụ ý niệm

      • 1.1.2. Hoán dụ ý niệm và mối liên hệ với ẩn dụ ý niệm

    • 1.2. Các vấn đề về cảm xúc yêu

      • 1.2.1. Khái niệm cảm xúc yêu

      • 1.2.2. Phản ứng tâm sinh lý và cơ sở nghiệm thân của ẩn dụ ý niệm, hoán dụý niệm cảm xúc yêu

    • 1.3. Văn bản ngôn ngữ phim truyền hình và ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm trong lời thoại

    • 1.4. Các vấn đề về dịch

      • 1.4.1. Khái niệm dịch và dịch phụ đề

      • 1.4.2. Dịch ẩn dụ, hóa dụ và các chiến lược dịch ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm

    • 1.5. Tiểu kết

  • Chương 2 ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC YÊU TRONG TIẾNG HÀN ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

    • 2.1. Dẫn nhập

    • 2.2. Các mô hình ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu trong tiếng Hàn đối chiếu với tiếng Việt

      • 2.2.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn SỰ GẮN KẾT CỦA HAI VẬT THỂ

      • 2.2.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn CĂN BỆNH

      • 2.2.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH

      • 2.2.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn CUỘC CHIẾN

      • 2.2.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn SỰ SỞ HỮU

      • 2.2.6. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn VẬT CHỨA

      • 2.2.7. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn VẬT THỂ

      • 2.2.8. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn SỨC MẠNH

    • 2.3. Tiểu kết

  • Chương 3 HOÁN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC YÊU TRONG TIẾNG HÀN ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

    • 3.1. Dẫn nhập

    • 3.2. Các mô hình hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu trong tiếng Hàn đối chiếu với tiếng Việt

      • 3.2.1. Hoán dụ ý niệm dựa trên PHẢN ỨNG SINH LÝ

      • 3.2.2. Hoán dụ ý niệm dựa trên PHẢN ỨNG BIỂU LỘ

      • 3.2.3. Hoán dụ ý niệm dựa trên PHẢN ỨNG HÀNH VI

    • 3.3. Hiện tượng giao thoa giữa hoán dụ ý niệm và ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu

      • 3.3.1. Ẩn dụ từ hoán dụ

      • 3.3.2. Hoán dụ trong ẩn dụ

    • 3.4. Tiểu kết

  • Chương 4 ỨNG DỤNG TRONG DỊCH PHIM TRUYỀN HÌNH

    • 4.1. Khảo sát dịch ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu trong phụ đề phim truyền hình Hàn Quốc

      • 4.1.1. Phương pháp và ngữ liệu khảo sát

      • 4.1.2. Kết quả khảo sát dịch ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm

        • 4.1.2.1. Mô hình dịch M→M, P→P

        • 4.1.2.2. Mô hình dịch M→M, P→P’

        • 4.1.2.3. Mô hình dịch M→M’, P→P’

        • 4.1.2.4. Mô hình dịch M→D

        • 4.1.2.5. Mô hình dịch M→Ø, P→Ø

    • 4.2. Đề xuất quy trình dịch các ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu trong phim truyền hình Hàn Quốc

      • 4.2.1. Nhận diện và phân tích ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm

      • 4.2.2. Chọn mô hình dịch

      • 4.2.3. Dịch và hoàn thiện bản dịch

    • 4.3. Tiểu kết

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHAN THỊ HỒNG HÀ ẨN DỤ Ý NIỆM VÀ HOÁN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC YÊU TRONG TIẾNG HÀN, ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VI

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu

Các nghiên cứu về sự biểu đạt cảm xúc bằng ngôn ngữ thường gắn liền với ngôn ngữ học tri nhận và được tiếp cận từ quan điểm nghiên cứu liên ngành với các lĩnh vực khác như văn hóa học, tâm lý học, y học,

Trên thế giới, các nghiên cứu về ADYN cảm xúc diễn ra sôi nổi ngay từ những buổi đầu khi ngôn ngữ học tri nhận nhận được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học vào những năm cuối thế kỷ 20 Tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu của Lakoff & Johnson (1980), Lakoff & Kửvecses (1987), Kửvecses (1986, 1988, 1990a, 1990b, 2000), Gibbs (1994), Urgerer, F.&H.Schmid (1996), Niemeier, S.&R.Dirven (1997), Ning Yu (1998)

Tuy không nghiên cứu sâu về cảm xúc nhưng quan điểm của Lakoff & Johnson (1980) về ADYN cùng các ví dụ kinh điển liên quan đến cảm xúc như TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (LOVE IS A JOURNEY), TÌNH YÊU LÀ

SỰ MẤT TRÍ (LOVE IS INSANITY) của các tác giả có thể nói là nền móng cho các nghiên cứu về phạm trù cảm xúc nói chung, cảm xúc yêu nói riêng

Tỏc giả cú nhiều nghiờn cứu về ý niệm cảm xỳc cú thể kể đến Kửvecses Cỏc nghiờn cứu của Kửvecses (1986, 1988, 1990a, 1990b, 2000) xoay quanh nhiều vấn đề liên quan đến cảm xúc, trong đó có tình yêu Theo tác giả, cảm xúc nói chung, tình yêu nói riêng tuy phức tạp về mặt khái niệm nhưng có một cấu trúc ý niệm nhất định có thể giải thích bằng một mô hình lý tưởng qua các BTNN Các nghiên cứu trên của tác giả vì thế nhằm cung cấp một cách lý giải ngôn ngữ học về cảm xúc mà cụ thể là qua hệ thống các ADYN và HDYN

Nghiên cứu của Ning Yu (2009) về ý niệm “tim” hay “xīn (tâm)” của tiếng Trung cũng là một nghiên cứu điển hình chỉ ra sự khác biệt căn bản trong quan điểm tri nhận giữa Trung Quốc và phương Tây Theo Dựa trên khảo sát về ý niệm

“tim” từ các góc độ: y học, triết học, ngôn ngữ học, Ning Yu (2009) cho thấy đây là ý niệm trung tâm trong tư duy người Trung Quốc, bao hàm cả “tim” và “ đầu”, đại diện cho cảm xúc và lý trí, đối lập với quan điểm nhị nguyên của phương Tây, phân chia rõ ràng đầu đại diện cho lý trí và tim đại diện cho cảm xúc Đây cũng chính là cơ sở để giải thích cho nhiều tương đồng và khác biệt trong văn hóa phương Tây và phương Đông. Ở Hàn Quốc, các nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và biểu hiện cảm xúc nói riêng cũng bắt đầu từ khá sớm, nhưng phải đến những năm 2000 mới thật sự trở nên đa dạng hơn Trong đó, các nghiên cứu tiêu biểu riêng về cảm xúc yêu có thể kể đến bao gồm: Kim Hyang-suk (2001), Lim Ji-ryong (2005a), Na Ik-ju

Kim Hyang-suk (2001) nghiên cứu thành ngữ biểu thị các cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu trong tiếng Hàn Liên quan đến tình yêu, khác với Na Ik-ju (2000), tác giả phân tích ADYN tình yêu qua một số miền nguồn như: BÁU VẬT, SỰ RUNG ĐỘNG, NỖI NHỚ, SỰ THA THỨ Dựa trên bốn miền nguồn này, tác giả tiếp tục phân tích các miền nguồn cấp thấp hơn Bên cạnh đó, tác giả cũng đặc biệt tập trung ở khía cạnh đặc trưng về mặt thân thể của các thành ngữ trong mối liên hệ giữa các bộ phận cơ thể và cảm xúc Dựa trên các bộ phận cơ thể xuất hiện trong thành ngữ, tác giả phân loại thành nhóm các thành ngữ có sử dụng các bộ phận bên ngoài như tai, mắt và nhóm các thành ngữ có sử dụng các bộ phận bên trong như lồng ngực, tim Trong đó, theo thống kê của tác giả, mắt chiếm 72% và là bộ phận cơ thể chủ yếu xuất hiện trong các thành ngữ thể hiện tình yêu Tuy nhiên tác giả cũng đồng thời cho rằng không có bộ phận cơ thể nào chỉ dành riêng để diễn tả tình yêu

Lim Ji-ryong (2005a) tìm hiểu cách thức ý niệm hóa tình yêu của người Hàn Quốc dưới hai dạng tư duy hoán dụ và ẩn dụ Đối với tư duy ẩn dụ, tác giả đưa ra

10 miền nguồn được dùng để tư duy cho tình yêu bao gồm CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA, KẺ ĐỊCH, ĐỒ VẬT, THỰC VẬT, THỨC ĂN – RƯỢU, NƯỚC BIỂN, LỬA, SỢI DÂY, QUẢ BÓNG BAY, TÒA NHÀ Theo tác giả, hai hiện tượng HDYN và ADYN trong tình yêu cho thấy mối quan hệ mật thiết với phản ứng sinh lý của cơ thể và kinh nghiệm đời thường HDYN mã hóa một tình yêu giữa hai người khác giới, trong khi đó ADYN liên quan tổng thể đến các kiểu dạng tình yêu Tuy mang tính liệt kê, thiếu các phân tích, lý giải cho các đặc thù tri nhận của người Hàn, nhưng khung nghiên cứu của Lim Ji-ryong (2005) – cũng là khung nghiên cứu được tác giả áp dụng khi khảo sát các cảm xúc khác như vui, buồn, sợ, giận, căng thẳng – được xem như chuẩn mực cho nhiều nghiên cứu cảm xúc ở Hàn Quốc

Na Ik-ju (2008) phân tích ý niệm tình yêu trong tiếng Hàn qua một số mô hình miền nguồn, đối chiếu với tiếng Anh Đặc biệt, bên cạnh các miền nguồn ý niệm hóa tình yêu thông dụng như SỰ GẮN KẾT CỦA HAI VẬT THỂ, CUỘC CHIẾN, CUỘC HÀNH TRÌNH, CĂN BỆNH, SỨC MẠNH tác giả đưa ra một số miền nguồn ý niệm hóa người yêu như NGƯƠI YÊU LÀ THỨC ĂN, NGƯỜI YÊU

LÀ CHIM CÂU, NGƯỜI YÊU LÀ THẦN, đồng thời so sánh với các miền nguồn tương đương trong tiếng Anh như NGƯỜI YÊU LÀ CHIM hay NGƯỜI YÊU LÀ CHỦ NHÂN Nghiên cứu của Na Ik-ju (2000) dừng lại ở mức độ dùng các ví dụ để giới thiệu, minh chứng cho các miền nguồn, còn thiếu các phân tích cùng căn cứ khoa học cho quan điểm của tác giả

Kim Tae-heon (2008) so sánh ADYN tình yêu trong ca từ tiếng Anh và tiếng Hàn, đặc biệt nhấn mạnh ở vai trò văn hóa trong việc hình thành các tư duy ẩn dụ Theo tác giả, các ca khúc tiếng Anh nhấn mạnh khía cạnh tích cực của tình yêu, trong khi các ca khúc tiếng Hàn cho thấy xu hướng nhấn mạnh khía cạnh tiêu cực của tình yêu, và điều này có liên quan trực tiếp đến giá trị quan, chế độ, lịch sử, truyền thống văn hóa Đặc biệt, miền nguồn SỰ XA CÁCH VỀ THỂ XÁC được xem là miền nguồn trung tâm trong ngữ liệu ca từ của tiếng Hàn cho thấy niềm tin ở tình yêu, kết hệt với tính bảo thủ và dư âm của tư tưởng Nho giáo trong quan điểm truyền thống của người Hàn về tình yêu

Bên cạnh đó có thể kể đến các nghiên cứu khác như No Jin-seo (2007) so sánh ADYN trong thơ tiếng Anh và tiếng Hàn, Kwon Yeon-jin (2014) cũng so sánh ẩn dụ tình yêu trong ca từ tiếng Hàn và tiếng Anh, Uemura Mayumi (2018) so sánh các biểu hiện tình yêu của người Hàn và người Nhật thể hiện trên ca từ Liên quan đến nghiên cứu Hàn – Việt, có một luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2013) so sánh các thành ngữ biểu thị cảm xúc có sử dụng các bộ phận thân thể trong tiếng Hàn và tiếng Việt, giới hạn ở 5 cảm xúc: giận, vui, buồn, ghét, sợ Nhìn chung, các nghiên cứu về cảm xúc yêu ở Hàn Quốc phổ biến nhất là dựa trên nguồn ngữ liệu ca từ Một số nghiên cứu khác dựa trên các thành ngữ hoặc tác phẩm văn học Các nghiên cứu đối chiếu chủ yếu tập trung ở các ngôn ngữ: Anh, Nhật, Trung Ở Việt Nam, các nghiên cứu về cảm xúc từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt ADYN cảm xúc bắt đầu được quan tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây Chỉ riêng các nghiên cứu có đề cập đến phạm trù cảm xúc yêu ở quy mô luận án tiến sĩ, có thể kể đến Ly Lan (2010), Trần Thế Phi (2016), Trần Văn Nam (2017)

Ly Lan (2010) khảo sát ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của nhóm từ biểu đạt tình cảm trong tiếng Anh, liên hệ với tiếng Việt, tập trung ở 4 tình cảm: vui, yêu, sợ và giận trên hai phương diện: quá trình ý niệm hóa và cơ sở nghiệm thân của từng cảm xúc Với nguồn tư liệu lớn, luận án chủ yếu tập trung ở việc hệ thống hóa một cách đa chiều và kỹ lưỡng các cơ sở tri nhận nghiệm thân và các ý niệm miền nguồn Các ngữ liệu được dùng như những ví dụ minh họa cho khung nghiên cứu của luận án Trần Thế Phi (2016) nghiên cứu ADYN cảm xúc thông qua khảo sát thành ngữ tiếng Việt biểu thị năm loại cảm xúc: vui, buồn, giận, sợ, yêu; so sánh với thành ngữ tiếng Anh Khác với Ly Lan (2010), tác giả chú trọng nhiều hơn ở việc thống kê, phân tích ngữ liệu, đồng thời tìm kiếm các lý giải từ khác biệt văn hóa Liên quan đến cảm xúc yêu, luận án phân tích qua các miền nguồn: SỰ HỢP NHẤT CÁC THÀNH PHẦN, PHÉP THUẬT, THỨC ĂN NGON MIỆNG, ĐIÊN RỒ, LỬA Tuy nhiên với quy mô chỉ là một mục nằm trong một chương của luận án, các ADYN tình yêu chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu

Các nghiên cứu về hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu

So với ADYN, các nghiên cứu về HDYN ít hơn Cũng có các tác giả nghiên cứu riêng về HDYN nhưng trong nhiều trường hợp, HDYN chỉ được đề cập ở một phần, như một hiện tượng khác của tư duy trong các nghiên cứu về ADYN Lakoff

& Johnson (1980) là một ví dụ Tuy nhiên, nghiên cứu của hai tác giả một lần nữa đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì đã mở ra sự thay đổi trong nhận thức về hoán dụ Theo Lakoff & Johnson, hoán dụ không chỉ là ngôn ngữ mà là cấu trúc tư duy, thái độ, hành vi

Koevecses (1986, 2010), Radden & Kửvecses (1999) phõn biệt hoỏn dụ trờn quan điểm tri nhận với hoán dụ theo cách hiểu truyền thống, xem hoán dụ là một hiện tượng của ý niệm, quá trình tri nhận, được hình thành trong một mô hình tri nhận lý tưởng ICM (Idial idealized cognitive model)

Goossens (1990) nghiên cứu về sự tương tác giữa ẩn dụ và hoán dụ, hệ thống các biểu thức có sự tương tác trong 2 trường hợp chính: Ẩn dụ từ hoán dụ và hoán dụ trong ẩn dụ

Barcelona (2000) xem hoán dụ là sự chiếu xạ từ một miền tri nhận sang một miền khác Hai miền cùng trong một miền hoặc ICM vì thế miền nguồn cung cấp tiếp cận về tâm lý cho miền đích Định nghĩa của Barcelona (2000) một mặt kế thừa được toàn bộ các ưu điểm của các định nghĩa trước đó, đưa thêm khái niệm về tiếp cận tâm lý, nhấn mạnh vai trò tri nhận của hoán dụ, mặt khác tiếp nhận quan điểm hoán dụ không nhất thiết phải có chức năng chỉ thị Ở Hàn Quốc, nghiên cứu về hoán dụ cảm xúc tiêu biểu có thể kể đến Lim Ji- ryong (1999, 2003, 2005a, 2005b) Trọng tâm nghiên cứu của Lim Ji-ryong (1999,

2003) là phản ứng cơ thể, biểu hiện liên quan đến các bộ phận cơ thể khi diễn đạt cảm xúc dựa trên tư duy hoán dụ của người Hàn Đặc biệt, Lim Ji-ryong (2005a) hệ thống hóa các phản ứng liên quan đến các bộ phận cơ thể bên trong và bên ngoài cơ thể trong tư duy hoán dụ Dựa trên ngữ liệu mở là kho ngữ liệu điện tử và các tác phẩm tiểu thuyết, tác giả liệt kê những hiện tượng sinh lý được sử dụng để đại diện cho cảm xúc yêu như sự gia tăng thân nhiệu, gia tăng nhịp đập của tim, hoạt động mạnh của hệ thống tuần hoàn máu, sự run rẩy hoặc co rút, tê liệt của một số bộ phận, tiết nước bọt, rối loạn ngôn ngữ hay rối loạn hô hấp Lim Ji-ryong (2005b) khảo sát chuyên sâu về các phản ứng màu sắc của các bộ phận cơ thể trong mối liên hệ với cảm xúc của người Hàn Cứ liệu được Lim Ji-ryong (2005b) sử dụng làm căn cứ khảo sát chủ yếu dựa trên trích dẫn từ tác phẩm văn học Cũng như các nghiên cứu của tác giả về ADYN cảm xúc, các nghiên cứu về HDYN của tác giả tuy nghiêng về liệt kê, thiếu các phân tích lý giải từ nhiều góc độ như văn hóa, xã hội nhưng khung nghiên cứu của tác giả đã trở thành khuôn mẫu cho nhiều nghiên cứu liên quan đến cảm xúc về sau

Các nghiên cứu khác về hoán dụ cảm xúc chủ yếu ở quy mô luận văn thạc sĩ, phần lớn là các nghiên cứu so sánh đối chiếu với ngôn ngữ khác mà chủ yếu là tiếng Trung Một số ít các nghiên cứu khác so sánh với tiếng Nhật, tiếng Anh Về nội dung, các nghiên cứu thường xoay quanh những cách biểu đạt mang tính hoán dụ có sử dụng các bộ phận cơ thể người hoặc các biểu hiện về màu sắc liên quan đến cảm xúc Ở Việt Nam, các nghiên cứu về HDYN cảm xúc còn khá hạn chế Nghiên cứu chuyên sâu về HDYN cảm xúc tình yêu lại càng ít hơn Các nghiên cứu chủ yếu được đề cập đến như một phần trong nghiên cứu về ẩn dụ Tiêu biểu có thể kể đến

Ly Lan (2010), Trần Bá Tiến (2012), Trần Trung Hiếu (2015) Điều này cũng có thể hiểu được khi chính ngữ liệu của luận án cũng cho thấy số lượng các BTNN trên nền tư duy HDYN chỉ bằng khoảng 1/3 so với các BTNN trên nền tư duy ADYN trong cả tiếng Hàn và tiếng Việt

Ly Lan (2010) khảo sát HDYN trong tiếng Việt và tiếng Anh, xem đây như một phương thức trong quá trình ý niệm hóa các cảm xúc: hạnh phúc, yêu, sợ, giận Nghiên cứu cho thấy mỗi cảm xúc có xu hướng về một cách ý niệm hóa nhất định Như cảm xúc sợ có thể thiên về hoán dụ, giận có cả hai xu hướng trong khi hạnh phúc và tình yêu lại thiên về ẩn dụ

Trần Bá Tiến (2012) dành một chương để nghiên cứu về đặc điểm hoán dụ tri nhận của thành ngữ biểu thị các cảm xúc giận dữ, vui, buồn, xấu hổ và sợ hãi trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời đưa ra kết luận về một số khác biệt nhất định cùng các lý giải từ góc độ văn hóa trong cách tiếng Anh và tiếng Việt dùng tư duy hoán dụ để diễn đạt cảm xúc

Trần Trung Hiếu (2015) nghiên cứu tính nghiệm thân của các ý niệm chỉ cảm xúc trong kết cấu “X (Vị từ) + bộ phận cơ thể người” trong tiếng Việt từ góc độ ADYN và HDYN Trong đó, các HDYN cảm xúc tiêu biểu được tác giả khảo sát liên quan đến: đặc điểm cụ thể của cảm xúc, nguyên nhân gây ra cảm xúc, kết quả của cảm xúc và trạng thái của cảm xúc

Như vậy, 10 đến 20 năm trở lại đây, cả ở Hàn Quốc và Việt Nam, các nghiên cứu về cảm xúc tuy nhận được nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng có thể nói chủ yếu nghiêng về ẩn dụ ý niệm Các nghiên cứu cũng thường ở dạng tổng hợp các cảm xúc Nghiên cứu về một cảm xúc nhất định nếu có thường dừng lại ở quy mô các bài viết Về ngữ liệu, các nghiên cứu khai thác nhiều nhất ở các loại ngữ liệu như thành ngữ, ca từ và tác phẩm văn học Các nghiên cứu đối chiếu ở Việt Nam chủ yếu gồm các nghiên cứu Việt – Anh, các nghiên cứu ở Hàn Quốc gồm Hàn – Trung, Hàn – Nhật, Hàn – Anh Tóm lại, một nghiên cứu Hàn – Việt riêng về cách biểu đạt cảm xúc yêu dựa trên cứ liệu lời thoại phim truyền hình là một mảng nghiên cứu còn bỏ ngỏ.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu Để phục vụ cho việc nghiên cứu, luận án có sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

5.1.1 Phương pháp miêu tả, phân tích Đây là phương pháp chủ đạo được chúng tôi sử dụng trong luận án Dựa trên kết quả thống kê, phân loại ngữ liệu dưới dạng các hệ thống ý niệm, luận án tiến hành miêu tả từng mô hình ADYN, xác định cấu trúc ý niệm qua sự chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích hoặc từng mô hình HDYN, xác định cơ chế chiếu xạ của các HDYN Trên cơ sở đó, phân tích đặc trưng của từng mô hình ADYN và HDYN cảm xúc yêu trong tiếng Hàn Luận án cũng xem xét các biểu thức ẩn dụ có giao thoa với hoán dụ, tìm hiểu vai trò của tư duy hoán dụ cũng như mối quan hệ với ẩn dụ trong các biểu thức này

Luận án cũng dùng phương pháp này để miêu tả, phân tích các mô hình dịch được người dịch sử dụng, cũng như các vấn đề thường gặp khi dịch các biểu thức ADYN và HDYN cảm xúc yêu trong lời thoại phim truyền hình Hàn Quốc sang tiếng Việt

Phương pháp này được sử dụng để xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình ý niệm hóa cảm xúc yêu của người Hàn và người Việt được thể hiện trên ngữ liệu, làm nổi bật tính phổ quát và đặc thù trong cách tư duy và biểu hiện cảm xúc yêu trên ngôn từ của người Hàn Trong quá trình đối chiếu, luận án đặc biệt chú ý đến hướng nghiên cứu liên ngành, dùng các kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực khoa học liên quan như tâm lý, y học, hoặc văn hóa, xã hội, địa lý, lịch sử Hàn Quốc và Việt Nam nhằm giải thích cho những đặc trưng trong cách tư duy và thể hiện tình yêu của người Hàn

5.1.3 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học

Luận án còn sử dụng phương pháp thống kê ngôn ngữ học, bao gồm cả thống kê định lượng và định tính để hỗ trợ cho các phương pháp trên trong việc phân tích và so sánh ngữ liệu để làm rõ đặc điểm của các ADYN, HDYN trong lời thoại phim truyền hình, cũng như làm rõ đặc điểm của các mô hình dịch ADYN, HDYN được sử dụng khi dịch phụ đề tiếng Việt trong các bộ phim Hàn Quốc

Nguồn ngữ liệu được sử dụng cho chương 2 và 3 của luận án là lời thoại hai bộ phim truyền hình Hàn Quốc được sản xuất trong vòng 15 năm trở lại đây bao gồm: “가문의 영광(Vinh quang gia tộc)” (54 tập) (được ký hiệu là H1),

“풀하우스(Ngôi nhà hạnh phúc)” (16 tập) (được ký hiệu là H2) và các bộ phim phiên bản Việt, được Việt Nam sản xuất lại theo kịch bản của chính các bộ phim Hàn Quốc kể trên bao gồm: “Cầu vồng tình yêu” (85 tập) (được ký hiệu là V1),

“Ngôi nhà hạnh phúc” (26 tập) (được ký hiệu là V2) Đây là hai bộ phim có chủ đề về tình yêu và cuộc sống Đặc biệt bộ phim “가문의 영광(Vinh quang gia tộc)” xoay quanh các câu chuyện tình yêu của 5 cặp đôi trong hai gia đình thuộc các lứa tuổi từ trẻ đến trung niên là một nguồn tư liệu phong phú và đa dạng về các cách biểu đạt liên quan đến tình yêu của nhiều thế hệ, nhiều kiểu loại tình yêu của người Hàn

Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng cho chương 4 của luận án là phụ đề hai bộ phim truyền hình Hàn Quốc “함부로 애틋하게(Yêu không kiểm soát)” (20 tập) (được ký hiệu là H3) và “공항 가는 길(Chờ em nơi phi trường)” (16 tập) (được ký hiệu là H4) của đài KBS 2, được dịch và chiếu trên kênh HTV2 của đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thêm phụ đề của hai bộ phim Hàn Quốc “가문의 영광(Vinh quang gia tộc)” (54 tập) và

“풀하우스(Ngôi nhà hạnh phúc)” (16 tập) là các bộ phim được dịch bởi các kênh online.

Điểm mới của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về ADYN và HDYN cảm xúc yêu trong lời thoại phim truyền hình Hàn Quốc, đối chiếu với tiếng Việt

Khác với các công trình nghiên cứu lấy thành ngữ, tác phẩm văn học, văn bản báo chí, diễn văn làm ngữ liệu để tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, luận án này chọn ngữ liệu là lời thoại phim truyền hình, một kiểu diễn ngôn hội thoại, ít nhiều gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp đời thường

Cùng với các biểu thức ADYN cảm xúc yêu, nghiên cứu phân tích sâu cả ở cơ chế hoán dụ và các biểu thức có sự giao thoa giữa ADYN và HDYN là vấn đề vốn ít được quan tâm và đề cập sâu ở các nghiên cứu liên quan đến ý niệm cảm xúc nói chung, cảm xúc yêu nói riêng

Ngoài ra, luận án chú trọng ở phần ứng dụng vào dịch phụ đề phim truyền hình Hàn – Việt Đây là một mảng nghiên cứu xuất phát từ những đòi hỏi thực tế nhưng vẫn còn bỏ ngỏ cả ở Hàn Quốc và Việt Nam.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Góp phần nghiên cứu hệ thống ADYN và HDYN cảm xúc yêu trong văn bản lời thoại phim truyền hình trong tiếng Hàn và tiếng Việt - mảng nghiên cứu còn chưa nhận được sự quan tâm ở cả Hàn Quốc và Việt Nam

- Xác định đặc trưng của ADYN và HDYN trên ngữ liệu lời thoại phim truyền hình, góp phần làm sáng tỏ tư duy ngôn ngữ dân tộc của Hàn Quốc và Việt Nam

- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào dịch ADYN và HDYN từ tiếng Hàn sang Việt, đưa ra một quy trình dịch cụ thể dành riêng cho dịch thuật ADYN và HDYN cảm xúc trong lời thoại phim truyền hình Hàn Quốc sang tiếng Việt

- Cung cấp ngữ liệu để nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học môn tiếng Hàn cho người Việt hoặc tiếng Việt cho người Hàn Đặc biệt là môn dịch

- Làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về sau, liên quan đến vấn đề ADYN và HDYN cảm xúc

- Góp phần tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc Hàn - Việt, đóng góp giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa mỗi dân tộc.

Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của luận án: Trình bày các vấn đề lý thuyết được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu, bao gồm: các vấn đề về lý thuyết ADYN và HDYN, các vấn đề về cảm xúc yêu, vấn đề ngôn ngữ phim truyền hình và vấn đề về dịch, đặc biệt là dịch ADYN và HDYN

Chương 2 Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu trong tiếng Hàn đối chiếu với tiếng

Việt: Luận án chia các biểu thức ADYN thu thập được từ nguồn ngữ liệu thành tám miền nguồn trong tiếng Hàn và tiếng Việt, bao gồm: SỰ GẮN KẾT CỦA HAI VẬT THỂ, CUỘC CHIẾN, CĂN BỆNH, CUỘC HÀNH TRÌNH, SỰ SỞ HỮU, VẬT CHỨA, VẬT THỂ, SỨC MẠNH Luận án phân tích và trình bày kết quả khảo sát từng miền nguồn dựa trên ngữ liệu tiếng Hàn và tiếng Việt thu thập được, xác định tỷ lệ xuất hiện để phân tích mức độ thông dụng của từng miền nguồn đối với từng ngôn ngữ, miêu tả và phân tích các miền nguồn, so sánh và đưa ra lý giải về sự tương đồng hoặc khác biệt, từ đó rút ra đặc điểm mang tính phổ quát hoặc đặc thù trong từng miền nguồn

Chương 3 Hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu trong tiếng Hàn đối chiếu với tiếng Việt: Luận án chia các biểu thức HDYN thu thập được từ nguồn ngữ liệu thành ba mô hình chính trong tiếng Hàn và tiếng Việt, bao gồm: PHẢN ỨNG SINH

LÝ ĐẠI DIỆN CẢM XÚC YÊU, PHẢN ỨNG BIỂU LỘ ĐẠI DIỆN CẢM XÚC YÊU và PHẢN ỨNG HÀNH VI ĐẠI DIỆN CẢM XÚC YÊU Luận án đồng thời xác định tỷ lệ xuất hiện để phân tích mức độ thông dụng của từng mô hình đối với từng ngôn ngữ, miêu tả, phân tích và khái quát đặc điểm từng mô hình, so sánh và đưa ra lý giải trong sự tương đồng hoặc khác biệt, từ đó rút ra đặc điểm mang tính phổ quát hoặc đặc thù trong từng mô hình

Cũng trong chương 3, luận án xác định các biểu thức ADYN có sự giao thoa với tư duy hoán dụ, phân loại các biểu thức này theo hai loại giao thoa chính là ẩn dụ từ hoán dụ và hoán dụ trong ẩn dụ Từ đó, luận án phân tích tính hoán dụ trong từng loại để làm rõ vai trò của hoán dụ và ranh giới với ẩn dụ trong các biểu thức này Luận án cũng xác định tần số xuất hiện, phân tích đặc điểm của từng mô hình giao thoa, so sánh giữa tiếng Hàn và tiếng Việt để một lần nữa rút ra tính phổ quát hoặc đặc thù của hiện tượng tư duy này trong tiếng Hàn

Chương 4 Ứng dụng trong dịch phim truyền hình: Luận án khảo sát bản dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Việt của phụ đề phim Hàn, nhận diện phương thức dịch, phân tích đặc điểm các mô hình dịch thông dụng khi dịch ADYN, HDYN cảm xúc yêu, đồng thời phân tích và khái quát hóa các vấn đề thường gặp khi dịch các biểu thức này

Dựa trên phân tích ở các chương 2, 3 và 4, luận án đề xuất quy trình dịch cho ADYN và HDYN cảm xúc yêu khi dịch phim truyền Hàn Quốc sang tiếng Việt, phân tích từng công đoạn và minh họa bằng ví dụ cụ thể.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Các vấn đề về ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

1.1.1 Ẩn dụ ý niệm và các loại ẩn dụ ý niệm

Theo quan điểm tiền tri nhận, ẩn dụ được xem xét và nghiên cứu trên bình diện ngôn từ Chức năng và phạm vi sử dụng của các ẩn dụ được xác định qua vai trò của phép tu từ mang tính nghệ thuật trong các tác phẩm văn học và thơ ca Aristotle có thể xem là người đầu tiên bàn đến khái niệm ẩn dụ ngôn từ Định nghĩa của ông về ẩn dụ trong hai tác phẩm “Rhetoric” (“Thuật hùng biện”) và “Poetics” (“Thi ca”) thường được coi là định nghĩa kinh điển nhất về ẩn dụ Ông quan niệm ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi: từ chủng sang loài, từ loài sang chủng, từ loài sang loài hay chuyển theo nguyên tắc tương suy (analogy) (Trần Văn Cơ, 2009, tr.58 – 60)

Quan điểm của Aristotle cũng là quan điểm chủ đạo của các nghiên cứu về ẩn dụ suốt một thời gian dài cho đến những năm cuối thế kỷ 20, khi Johnson và Lakoff lần đầu tiên đưa ra cách tiếp cận ẩn dụ hoàn toàn mới mẻ với quan niệm về các ý niệm mang tính ẩn dụ (metaphorical concepts) trong tác phẩm “Metaphors We Live by” (1980), phân biệt ẩn dụ ngôn từ với ADYN Theo đó, ẩn dụ được nhìn từ góc độ của ngôn ngữ học tri nhận, không còn là thuộc tính của từ, hiện tượng của ngôn ngữ mà là thuộc tính của ý niệm, hiện tượng của tư duy Vượt qua giới hạn của một công cụ ngôn từ, ADYN thể hiện vai trò trong chính cơ chế tư duy Các tác giả đã đưa ra vô số các ví dụ cho thấy BTNN mang tính ẩn dụ này tồn tại trong những đoạn hội thoại đời thường quanh ta, như một phương tiện của tư duy, giúp con người cụ thể hóa những khái niệm mơ hồ, trừu tượng qua hệ thống những ý niệm quen thuộc, phổ biến trong quan niệm, tri thức của chúng ta

Chúng ta có thể thấy vô số các BTNN mang tính ẩn dụ này tồn tại trong hội thoại đời thường vẫn diễn ra quanh ta Để tư duy và diễn tả một phạm trù trừu tượng như cảm xúc, chúng ta dựa trên các trải nghiệm của mình về những sự vật hiện tượng cụ thể hơn có thể tri giác được trong cuộc sống: “cơn giận bốc lên ngùn ngụt”,

“tình yêu của họ đã đến đoạn kết”, “nỗi buồn khiến tôi tan nát” Như thế, chúng ta đã tư duy dựa trên các ý niệm: GIẬN DỮ LÀ LỬA, YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, BUỒN LÀ ĐAU ĐỚN VỀ THỂ XÁC và ta gọi đây là những ADYN

Như vậy, ADYN được xác lập khi ta hiểu một miền ý niệm bằng một miền ý niệm khác Hai miền ý niệm này được gọi là miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) Trong đó, miền ý niệm với các cách biểu đạt mang tính ẩn dụ, dùng để hiểu một miền khác được gọi là miền nguồn, còn miền ý niệm được hiểu bằng miền nguồn được gọi là miền đích Mỗi miền nguồn tồn tại dưới dạng một hệ thống những kinh nghiệm có tổ chức và liên kết sẽ là căn cứ để ta hiểu miền đích (Kửvecses, 2010, tr.4) Trong cỏc vớ dụ trờn, chỳng ta cú cỏc miền nguồn cụ thể LỬA, CUỘC HÀNH TRÌNH, ĐAU ĐỚN VỀ THỂ XÁC và các miền đích trừu tượng là các cảm xúc: GIẬN DỮ, YÊU, BUỒN

Theo Kửvecses (2010, tr.33-46), cú nhiều cỏch phõn loại ADYN Trong đú, từ quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, bốn cách phân loại sau đóng vai trò quan trọng: 1) Phân loại theo tính quy ước Theo đó, ẩn dụ được phân thành ẩn dụ quy ước dùng cho các ẩn dụ ổn định và ẩn dụ phi quy ước được dùng cho các biểu thức ngôn ngữ mới mẻ, gây ấn tượng 2) Phân loại theo chức năng, gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng, mỗi loại ẩn dụ có một chức năng riêng 3) Phân loại theo bản chất, gồm ẩn dụ dựa trên tri thức cơ bản và ẩn dụ dựa trên lược đồ hình ảnh 4) Phân loại theo mức độ tổng quát với ẩn dụ ở mức độ tổng quát cao và các ẩn dụ cụ thể

Chúng tôi lựa chọn quan điểm phân loại theo chức năng tri nhận với tư cách là phương thức của tư duy (Kửvecses, 2010, tr.37-40) Tuy nhiờn, sự phõn loại này chỉ mang tớnh tương đối bởi cũng theo Kửvecses, trong nhiều trường hợp, cỏc loại ADYN có thể trùng nhau Đồng thời ngữ liệu khảo sát của chúng tôi cho thấy cơ chế ẩn dụ liên quan đến cảm xúc yêu chủ yếu dựa trên: ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể Vì thế chúng tôi đi sâu xem xét hai loại ADYN này

➢ Ẩn dụ cấu trúc (Structural Metaphors) Ẩn dụ cấu trúc là loại ADYN có chức năng tri nhận giúp chúng ta hiểu nghĩa của miền đích nhờ hệ thống cấu trúc tri thức của miền nguồn, thông qua sự chiếu xạ giữa cỏc thành tố cấu trỳc của hai miền (Kửvecses, 2010, tr.37-38) Núi một cỏch khác, chúng ta dùng một ý niệm đã được cấu trúc ở mức độ cao, được miêu tả rõ ràng để cấu trúc hóa một ý niệm khác (Lakoff & Johnson, 1980, tr.61)

Trong một phạm trù trừu tượng và đa dạng như cảm xúc, con người càng có xu hướng dùng một miền ý niệm cụ thể để cấu trúc hóa, cụ thể hóa các diễn biến nội tâm và tình cảm phức tạp Trên thực tế, phần lớn các ADYN cảm xúc yêu như TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH, TÌNH YÊU

LÀ CUỘC CHIẾN đều là ẩn dụ cấu trúc

Cùng xem xét ADYN kinh điển của Lakoff và Johnson: TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (LOVE IS A JOURNEY) Khi ta nói “Chúng ta không đi tới đâu cả” trong ngữ cảnh hai người đang chia sẻ chuyện tình cảm, cụm từ “không đi tới đâu cả” chỉ ra hai điều: một chuyến đi với một cái đích nhất định, và chuyến đi đang được đề cập không dẫn tới cái đích nào Ta lại có từ “chúng ta” chỉ những người tham gia chuyến đi Như vậy, câu nói này cho chúng ta ba thành tố cấu trúc của cuộc hành trình: người tham gia cuộc hành trình, chuyến đi và cái đích Tuy nhiên, khi câu nói này được phát ngôn trong ngữ cảnh hai người đang chia sẻ chuyện tình cảm, tất cả đều hiểu cái người nói đang nghĩ đến không phải những người tham gia cuộc hành trình thực sự mà những người yêu nhau, không phải chuyến đi đúng nghĩa mà những sự kiện trong quan hệ yêu đương, không phải một cái đích cụ thể mà là cái đích của mối quan hệ tình cảm

Các thành tố cấu trúc của miền ý niệm nguồn tương đương một cách có hệ thống với cỏc thành tố cấu trỳc của miền ý niệm đớch Theo Kửvecses (2010), chỳng ta hiểu được ý niệm miền đích dựa trên ý niệm miền nguồn là nhờ sự tương đương giữa hai miền này, trong đó các thành tố cấu trúc miền đích sẽ tương đương với các thành tố cấu trúc miền nguồn Những tương đương về mặt ý niệm này được gọi là những chiếu xạ (mappings) (tr.7)

Tuy nhiờn, cũng theo Kửvecses (2010), miền đớch vốn khụng cú cỏc thành tố này trước khi được cấu trúc hóa dựa trên các thành tố của miền nguồn Nó là sự áp dụng miền nguồn vào miền đích, để đưa ra một ý niệm miền đích với một cấu trúc riêng hay hệ thống các thành tố (tr.7) Nói một cách khác, chính ý niệm miền nguồn đã tạo ra ý niệm miền đích mà trong ví dụ trên đây, ý niệm cuộc hành trình đã tạo ra ý niệm tỡnh yờu Kửvecses đó đưa ra một thớ nghiệm tư duy để chứng minh người ta không thể tưởng tượng đến cái đích, những khó khăn, lựa chọn hay tiến triển trong tình yêu một cách độc lập với những ý nghĩ liên quan trong miền ý niệm cuộc hành trình Điều này cho thấy miền đích tình yêu không hề có một cấu trúc độc lập trước khi nó được cấu trúc hóa bởi miền nguồn cuộc hành trình

➢ Ẩn dụ bản thể (Ontological Metaphors)

Khác với ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể không cung cấp các cấu trúc tri nhận cho miền đích, nó liên quan đến bản chất của sự tồn tại Ở loại này, chúng ta thể hiện các kinh nghiệm của mình dưới dạng các vật thể, vật chất và vật chứa (objects, substances, containers) Nhờ thế, chúng ta thấy được những cấu trúc một cách rõ ràng hơn trong những miền ý niệm không có cấu trúc hoặc có nhưng rất ít (Kửvecses, 2010, tr.38-39)

Khi đồng nhất kinh nghiệm của mình với các vật thể hay vật chất, dựa trên các vật thể hay vật chất cụ thể này, ta có thể phạm trù hóa, phân loại hay định lượng và diễn giải để hiểu được các kinh nghiệm của mình (Lakoff and Johnson, 1980, tr.25)

Ví dụ, để diễn tả một phạm trù trừu tượng như tâm trí, tình cảm, chúng ta ngầm định nó như một vật thể, nhờ thế, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về ý niệm tâm trí hay tình cảm Chúng ta nói “nỗi buồn của tôi”, “niềm vui của tôi”, “cơn giận của tôi” một cách tự nhiên mà không biết rằng ta chỉ có thể nói như thế khi ngầm định các ý niệm trừu tượng như nỗi buồn, niềm vui, cơn giận là những vật thể ta có thể sở hữu Một dạng ẩn dụ bản thể điển hình khác là ẩn dụ vật chứa (Container Metaphors) (Lakoff & Johnson, 1980, tr.29-32) Chúng ta xem ý niệm đích như những vật chứa được tách biệt khỏi thế giới còn lại bằng giới hạn có thể hữu hình, có thể vô hình Chúng ta tri giác không gian bên trong vật chứa và không gian còn lại bên ngoài vật chứa Trong các câu: “Họ tìm thấy hạnh phúc trong tình yêu.”, “Cô tìm mọi cách để thoát ra khỏi nỗi sợ hãi.”, “Cô bé đắm chìm trong nỗi buồn.”, các ý niệm trừu tượng như TÌNH YÊU, NỖI SỢ HÃI, NỖI BUỒN được hiểu như những không gian riêng, tách biệt với thế giới bên ngoài Chúng ta có thể bước vào hoặc bước ra, có thể bị đắm chìm vào và tìm cách thoát ra Cụ thể hơn, các ý niệm này còn có thể là những vật chất nào đó trong vật chứa Ví dụ khi nói “kìm nén cơn giận”, ta đang tri nhận cơn giận là vật chất ở dạng khí nằm trong vật chứa hoặc khi nói “giận sôi sùng sục”, ta tri nhận cơn giận là vật chất ở dạng lỏng

Các vấn đề về cảm xúc yêu

1.2.1 Khái niệm cảm xúc yêu

Khi xem xét tình yêu từ góc độ tâm lý học, người ta thường nhắc đến lý thuyết tam giác tình yêu (Triangular Theory of Love) của Robert Sternberg Theo

Người đang yêu Dấu hiệu đang yêu Độ mãnh liệt của tình yêu

CĂN BỆNH Triệu chứng của bệnh

Mức độ của bệnh Người bệnh

Sternberg (1986: 120-124), tình yêu được cấu trúc hóa dựa trên sự kết hợp của 3 yếu tố cấu thành: đam mê (passion), thân mật (intimacy) và cam kết (commitment) Trong đó, đam mê là sự lôi cuốn và hấp dẫn về ngoại hình, ham muốn về thể xác; thân mật là cảm giác ấm áp, gần gũi, sự cảm nhận hạnh phúc khi ở cùng đối tượng, còn cam kết là sự cam kết chung thủy trong thời gian ngắn hoặc nỗ lực duy trì cam kết trong thời gian dài Dựa trên sự hiện diện hoặc kết hợp của các yếu tố cấu thành này, ông phân ra làm 7 loại tình yêu: (1) Thích (liking) chỉ có sự thân mật, (2) Tình yêu cuồng dại (infatuation) chỉ có đam mê, (3) Tình yêu trống rỗng (empty love) chỉ có cam kết, (4) Tình yêu lãng mạn (romantic love) gồm đam mê và thân mật, (5) Tình bầu bạn (companionate love) gồm thân mật và cam kết, (6) Tình yêu dại khờ (fatuous love) gồm đam mê và cam kết và cuối cùng là (7) Tình yêu trọn vẹn – tình yêu ở trạng thái lý tưởng nhất với đầy đủ ba yếu tố: đam mê, thân mật và cam kết Còn theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2016, tr.1482), “yêu” gồm hai nghĩa: 1 Có tình cảm dễ chịu khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó, muốn gần gũi và thường sẵn sàng vì đối tượng đó mà hết lòng (Tình cảm mẹ con, tình bạn, tình yêu nghề nghiệp ) 2 Có tình cảm thắm thiết dành riêng cho một người khác giới nào đó, muốn chung sống và cùng nhau gắn bó cuộc đời Luận án xác định giới hạn tình yêu ở nghĩa thứ 2 Với sự biến đổi của thực tế xã hội, chúng tôi bổ sung đây là loại tình cảm thắm thiết dành riêng cho một người khác giới hoặc thứ tình cảm tương tự như tình cảm này Do đó, trong tam giác tình yêu của Sternberg ngoại trừ tình yêu có một thành phần “thân mật” không xuất hiện ở tình yêu nam nữ hay loại tình yêu tương tự như tình yêu nam nữ, sáu loại tình yêu còn lại đều là đối tượng nghiên cứu của đề tài

1.2.2 Phản ứng tâm sinh lý và cơ sở nghiệm thân của ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm cảm xúc yêu

Theo Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2012, tr 43), cảm xúc là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc, gồm hai mặt:

(1) Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật, như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa

(2) Phản ứng tâm lý, qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn

Phản ứng sinh lý dưới sự điều khiển của hệ thần kinh thực vật trước hết liên quan đến sự tiếp nhận kích thích và tiết ra hoóc môn Nguồn gốc của từ hoóc môn là

“hormaein”, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là kích thích hay làm cho hưng phấn Khi cơ thể tiếp nhận các tín hiệu dưới dạng những biến đổi đối với cơ thể, hoóc môn được tiết ra, theo mạch máu đến các tế bào, kích thích các tế bào để truyền đạt trạng thái mới của cơ thể 2 Đây cũng chính là cơ sở tri nhận nghiệm thân chính của ADYN và HDYN cảm xúc nói chung, cảm xúc yêu nói riêng

Khi yêu, cơ thể sẽ tiết các hoóc môn như dopamin hay adrenalin, noradrenalin 3 Chính các hoóc môn này là tác nhân tạo nên các phản ứng như rối loạn hoạt động của tim, rối loạn hoạt động của trí não cùng các biểu hiện bên ngoài khác có thể quan sát được như đỏ mặt, miệng lắp bắp Điều này giải thích cho cách con người dùng chính các PHẢN ỨNG SINH LÝ để đại diện cho tình yêu hoặc mượn ý niệm CĂN BỆNH để diễn tả và tư duy về tình yêu Ở giai đoạn sau, các hoóc môn như oxytocin hay vasopressin tiếp tục được tiết ra qua tiếp xúc thân thể, tạo cảm giác gắn kết, tin cậy, chung thủy 4 , làm nên cơ sở cho tư duy ADYN TÌNH YÊU LÀ SỰ GẮN KẾT CỦA HAI VẬT THỂ, TÌNH YÊU LÀ SỰ SỞ HỮU Bên cạnh đó, những phản ứng tâm lý tùy thuộc những bộ phận thần kinh: mạng lưới, hệ viền (système limbique) – dưới đồi thị (hypothalamus); phản ứng tâm lý xuất phát từ khả năng ít nhiều đối phó với một tình huống mang tính bất ngờ, và

2 https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/cai-nhin-moi-ve-tinh-yeu-theo-quan-diem-khoa-hoc-2050636.html

3 http://news.chosun.com/site/data/html_dir/2016/09/23/2016092301172.html

4 http://lg-sl.net/product/infosearch/curiosityres/readCuriosityRes.mvc?curiosityResId=HODA2017110174 biểu hiện của cảm xúc tùy thuộc đặc điểm của phong tục tập quán, của nền văn hóa xã hội (Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, 2012, tr 43)

Những phản ứng tâm lý này làm nên một cơ sở nghiệm thân khác của các ADYN, HDYN cảm xúc yêu Chúng ta có thể trực tiếp cảm nhận hoặc dễ dàng quan sát thấy những biểu lộ tình cảm trên ánh mắt, gương mặt, trong thái độ hoặc hành vi của những người đang yờu Theo Kửvecses (1986: 65), với HDYN SỰ GẦN GŨI THÂN THỂ (PHYSICAL CLOSENESS) ĐẠI DIỆN CHO TÌNH YÊU, chúng chỉ đơn giản diễn tả những gì chúng ta có thể quan sát ở những người yêu nhau: họ thường ở bên nhau, muốn ở bên nhau Khi nghe những biểu thức này, chúng ta nghĩ ngay đến những người yêu nhau và đây chính là cơ chế tư duy của HDYN Khi dùng một biểu thức HDYN, ta đang quy chiếu đến X vốn có liên quan với Y và ngụ ý Y Ở đây, sự gần gũi thân thể (physical closeness) X đang quy chiếu cho Y, dựa trên cơ sở mối quan hệ nhân quả giữa ý niệm “tình yêu” và “sự gần gũi thân thể” Cơ sở nghiệm thân này có khi trở thành cơ sở để hình thành các tư duy có cấu trúc phức tạp, giải thích được nhiều hơn cho tình yêu như trong các ADYN TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH

1.3 Văn bản ngôn ngữ phim truyền hình và ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm trong lời thoại

Văn bản phim truyền hình (drama text) là một thể loại văn bản đặc biệt, một dạng ký hiệu tổng hợp có sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh bao gồm cả hình ảnh động, lời thoại, tiếng động, phụ đề Các thông tin có thể được truyền tải qua hình ảnh hoặc âm thanh hoặc cả hai, mang tính chất của một văn bản đa phương thức (multimodal text) Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu chính của luận án sẽ là ngôn ngữ nói, hay lời thoại của phim

Theo Từ điển chuyên ngành Quốc ngữ Hàn Quốc (Ku In-hwan, 2006, tr.69), văn bản phim truyền hình lấy hình ảnh cuộc sống con người làm đề tài chính, dùng ngôn ngữ để truyền đạt Hội thoại kịch bản được thể hiện bởi các diễn viên tái hiện diễn ngôn đời thường trong cuộc sống, dùng ngôn ngữ cụ thể, thực tế để thể hiện

Ngôn ngữ phim truyền hình và ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm trong lời thoại 27 1.4 Các vấn đề về dịch

Mặt khác, trong hai bộ phim được khảo sát, các BTNN liên quan đến tình yêu nhiều hơn bất kỳ loại tình cảm nào khác như vui, buồn, giận, sợ Điều này có lý do là ngoài việc tình yêu cùng các mối quan hệ yêu đương là chủ đề chính của hai bộ phim được chọn, nhu cầu giao tiếp liên quan đến cảm xúc yêu thường nhiều hơn các cảm xúc khác Trên thực tế, kể cả hội thoại trong phim và hội thoại trong đời thường, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, thay vì kể lể về cảm giác giận, vui của mình, chủ thể phát ngôn có khuynh hướng thể hiện bằng thái độ mà không dùng lời thoại hoặc một câu nói đơn giản cho biết mình đang giận hoặc đang vui Trong khi đó, với một cảm xúc lãng mạn như tình yêu, người nói có nhu cầu giãi bày, thổ lộ và miêu tả về nó Đây cũng là điểm cho thấy sự khác biệt khi nghiên cứu ADYN, HDYN yêu trên ngữ liệu ngôn ngữ phim truyền hình

1.4 Các vấn đề về dịch

1.4.1 Khái niệm dịch và dịch phụ đề

Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch Theo Newmark (1988, tr.5), dịch là chuyển nghĩa một văn bản sang một ngôn ngữ khác theo cách tác giả văn bản dự kiến thể hiện Theo Larson (1984, tr.3), dịch là sự chuyển tải ý nghĩa của SL sang ngôn ngữ tiếp nhận (receptor language), còn theo Nida (1982, tr.12), dịch chủ yếu là sự tái tạo trong ngôn ngữ tiếp nhận sự tương đương tự nhiên và gần nhất với thông điệp của SL, về nghĩa và về phong cách

Khám phá nghĩa Diễn đạt lại nghĩa

NGÔN NGỮ NGUỒN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN

Mỗi quan điểm có thể khác, nhấn mạnh ở một số khía cạnh và ít nhấn mạnh hơn ở một số khía cạnh khác Nhưng về cơ bản, các định nghĩa này đều mô tả một quá trình mà theo Larson (1984, tr.3), gồm các công đoạn từ tìm hiểu từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, tình huống giao tiếp và ngữ cảnh văn hóa của văn bản ngôn ngữ nguồn, phân tích để quyết định nghĩa, và tái xây dựng trên cùng một nghĩa, sử dụng từ vựng và cấu trúc ngữ pháp phù hợp với ngôn ngữ tiếp nhận và ngữ cảnh văn hóa Quá trình này dược Larson (1984, tr.4) khái quát hóa như trong

Quá trình dịch (Larson 1984: 4)

Trong quá trình này, dịch sẽ chịu tác động của các yếu tố nhất định Newmark

(1988, tr.4) đã đưa ra một danh sách gồm 10 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dịch và sản phẩm dịch Các yếu tố này có thể phân thành 3 nhóm lớn: nhóm liên quan đến

SL gồm: người viết, các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ văn bản nguồn; nhóm liên quan đến TL, gồm người đọc và các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ văn bản đích; nhóm không thuộc về SL hay TL, gồm đối tượng của văn bản đích và người dịch Với tầm quan trọng của yếu tố văn bản trong dịch thuật, nhiều nghiên cứu tiếp cận dịch thuật từ các loại văn bản cụ thể: tác phẩm văn học, diễn thuyết chính trị, báo chí, ngôn ngữ truyền hình, trong đó có cả phụ đề phim Mỗi thể loại cho thấy những đặc điểm nhất định và vì thế được áp dụng những lý thuyết dịch khác nhau Với hướng nghiên cứu của luận án, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu lý thuyết dịch liên quan đến phụ đề phim

Trước hết, phụ đề (subtitle) được hiểu là dòng chữ hoặc một phần hội thoại trên màn hình, xuất hiện giữa các hình ảnh động không tiếng; hoặc là các câu dịch sang một ngoại ngữ nào đó, xuất hiện phía dưới màn hình đồng thời với các hình ảnh động hoặc trong một chương trình ti vi 5 Như vậy, dịch phụ đề phim có thể hiểu là hoạt động dịch để ghi lại các nội dung lời thoại đang phát trong phim dưới dạng các dòng phụ đề

Về bản chất, cũng như mọi hoạt động dịch khác, dịch phụ đề cũng là một quá trình chuyển nghĩa với người dịch là trung tâm, bắt đầu từ việc khám phá nghĩa văn bản nguồn đến diễn đạt lại nghĩa ở văn bản dịch bằng TL Theo Gambier (2003, tr.178), phụ đề được gọi là dịch nếu việc dịch không chỉ xem là vấn đề chuyển nghĩa đơn giản từ từ sang từ, mà bao gồm một loạt các chiến lược kể cả tóm tắt, nhấn mạnh và nếu nhìn một cách toàn thể, phải cân nhắc cả về thể loại, phong cách của người làm phim, nhu cầu và mong đợi của người xem, tính đa phương thức của giao tiếp nghe nhìn

Gottlieb (1992, tr.162) xem dịch phụ đề là một dạng đặc biệt của dịch thuật với các đặc điểm: (1) được viết (written), (2) có tính phụ trợ (additive), (3) tính tức thời (immediate), (4) tính đồng bộ (synchronous) và (5) tính đa phương thức (polymedial)

Trong đó, được viết (written) vì nó hiển thị dưới dạng các dòng chữ chạy trên màn hình, khác với các thể loại dịch phim khác như lồng tiếng hoặc thuyết minh; tính phụ trợ (additive) vì phụ đề chỉ đóng vai trò bổ sung cho hội thoại được phát bằng SL; tính tức thời (immediate) vì mọi hội thoại trong một bộ phim diễn ra trong dòng thời gian, nằm ngoài tầm kiểm soát của người nghe, người xem hay người đọc; tính đồng bộ (synchronous) vì nó diễn ra song song với SL; và tính đa phương

5 https://www.merriam- webster.com/dictionary/subtitle thức (polymedial) vì thông điệp sẽ được truyền tải đồng thời với ít nhất một phương thức trở lên: nghe hoặc nhìn, hoặc cả hai

Với các đặc trưng này, Gottlieb (1992, tr.166-167) đưa ra 10 chiến lược dịch thông dụng khi dịch phụ đề: Kéo dài diễn đạt, diễn giải thêm, dùng diễn đạt thay thế, diễn đạt như SL, dùng diễn đạt tương tự, sao chép nguyên văn, chuyển đổi vị trí, tóm lược súc tích, giảm lược, cắt bớt, bỏ Trong đó, các chiến lược tiêu biểu thường được sử dụng khi dịch phụ đề là tóm lược súc tích, giản lược và cắt bớt Điều này cũng dễ hiểu vì phụ đề chịu giới hạn về thời gian, không gian, cùng yêu cầu về tính

“dễ hiểu” Không những không thể giải thích, chú thích thêm như dịch văn học hay các văn bản khác, trong nhiều trường hợp, để đảm bảo các tiêu chí, kể cả tiêu chí kỹ thuật của phụ đề, người dịch sẽ phải chấp nhận giữa các phương án khả thi, phương án nào phù hợp nhất về độ dài mà vẫn dễ hiểu và ít gây tổn thất nhất về thông tin

1.4.2 Dịch ẩn dụ, hóa dụ và các chiến lược dịch ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm

Dịch ẩn dụ, theo Newmark là vấn đề đặc thù quan trọng nhất của dịch thuật (Newmark, 1988, tr.104), là trung tâm của tất cả các vấn đề thuộc lý thuyết dịch (Newmark, 1981, tr.96) Ẩn dụ quan trọng không chỉ vì vai trò của nó đối với văn bản, mà còn vì dịch ẩn dụ là một vấn đề không đơn giản với mọi dịch giả

Larson (1998, tr.275-276) chỉ ra nhiều điểm khiến ẩn dụ khó hiểu và khó dịch như: hình ảnh sử dụng trong ẩn dụ hoặc tỉ dụ xa lạ với TL, chủ đề ẩn dụ không được đề cập, TL không so sánh theo kiểu SL, các ngôn ngữ khác nhau về mức độ thường xuyên sử dụng ẩn dụ, khó nhận biết điểm tương đồng (point of similarity) làm cơ sở cho ẩn dụ và đặc biệt nhấn mạnh ở việc trong một nền văn hóa khác, điểm tương đồng này có thể được hiểu khác, hoặc cùng một hình ảnh có thể sử dụng với những ý nghĩa khác nhau Để minh họa, Larson đưa ra ví dụ John is a rock (John là một cục đá) Ở một số nền văn hóa, hình tượng “cục đá” mang ý nghĩa hàm ẩn đứng im, không di chuyển nhưng trong một nền văn hóa khác lại mang ý nghĩa của sự mạnh mẽ Do đó, nếu chuyển dịch nguyên văn có thể cho ra một ý nghĩa khác hẳn Quả vậy, nếu tiếp cận từ góc độ tư duy của người Hàn và người Việt, một cái đầu bằng đá (돌머리) thường được người Hàn tư duy ở khía cạnh đặc ruột và liên tưởng đến sự ngu dốt Nhưng đá với người Việt là “vững như bàn thạch”, là “trái tim sắt đá” Người Việt tư duy đá ở khía cạnh cứng, khó thay đổi và vì thế sẽ được liên tưởng đến sự bất biến, kiên định theo nghĩa tích cực hoặc đôi khi sự lạnh lùng, cố chấp theo nghĩa tiêu cực

Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh khía cạnh văn hóa của ẩn dụ và cho rằng dịch ẩn dụ khó trước hết vì nó liên quan đến việc truyền tải các yếu tố văn hóa tiềm ẩn giữa hai ngôn ngữ Theo Snell-Hornby (1995, tr.56) vấn đề căn bản của dịch ẩn dụ bắt nguồn từ khác biệt văn hóa, dẫn đến khác biệt trong ngôn ngữ, trong cách ý niệm hóa, sự hình thành các ý nghĩa biểu trưng Nghĩa của ẩn dụ vì thế thường mang tính đặc thù văn hóa Hoặc nói một cách khác, theo Nida & Taber

ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC YÊU TRONG TIẾNG HÀN ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

HOÁN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC YÊU TRONG TIẾNG HÀN ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

ỨNG DỤNG TRONG DỊCH PHIM TRUYỀN HÌNH

Ngày đăng: 17/06/2021, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w