Vấn đề nhạc điệu thơ Việt với nghĩa là các hình thức tổ chức âm thanh mang nhạc tính và điệu hồn Việt, hoặc được đưa ra dưới dạng ý tưởng chung chung trong các sách lí luận cổ điển, hoặc
Trang 1-CHÂU MINH HÙNG
NHẠC ĐIỆU THƠ VIỆT
QUA NHỮNG SÁNG TẠO CỦA THƠ MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Lê Ngọc Trà
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3Phản biện 1: PGS.TS Lê Giang
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thành Thi
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp
Phản biện độc lập:
1 GS.TS Huỳnh Như Phương
2 PGS.TS Lê Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dẫn liệu nêu
trong luận án là trung thực và các kết quả trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Đóng góp mới của luận án 21
7 Cấu trúc của luận án 22
-Chương 1: CÁC TIỀN ĐỀ CẤU TRÚC NHẠC ĐIỆU THƠ VÀ NHẠC ĐIỆU THƠ VIỆT 23
1.1 Tiền đề triết – mĩ học 23
1.1.1 Nguyên lí chung của sự hòa điệu 23
1.1.2 Sự cần thiết khu biệt các khái niệm 28
1.2 Tiền đề ngôn ngữ học 34
1.2.1 Các chất liệu ngữ âm – âm vị học 34
1.2.2 Hình thức cấu trúc nhạc điệu thơ Việt 39
1.3 Vấn đề âm và nghĩa của nhạc điệu thơ 53
1.3.1 Âm và nghĩa theo mĩ học truyền thống 53
1.3.2 Âm và nghĩa theo cấu trúc luận ngôn ngữ 55
1.3.3 Nhạc điệu với cơ chế thanh lọc và tạo nghĩa 64
-Chương 2: HÌNH THÁI NHẠC ĐIỆU THƠ VIỆT TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN THƠ MỚI 1932 1945 69
2.1 Vấn đề phân định loại hình nhạc điệu thơ 69
2.1.1 Giới hạn của các cách phân loại theo cấu trúc luận cổ điển 69
2.1.2 Tạo sinh và giải cấu trúc luận trong việc phân định loại hình 71
2.2 Hạt nhân cấu trúc và quá trình tạo sinh chuẩn nhạc điệu thơ Việt 75
2.2.1 Hình thái nhịp và sự tạo sinh tiết tấu 75
2.2.2 Hình thái vần và sự chuẩn hóa giai điệu 86
2.3 Tạo sinh chuẩn mở rộng và hiện tượng lai ghép thể điệu 98
2.3.1 Khả năng tạo sinh chuẩn mở rộng thể điệu 98
2.3.2 Hiện tượng lai ghép thể điệu 105
Trang 62.4 Tổng quan về hình thái nhạc điệu Thơ Mới 1932 1945 112
-2.4.1 Tương tác Việt- Hán và động lực nội sinh của tiến trình hiện đại hóa thi ca Việt 112
2.4.2 Dàn hợp xướng đa sắc thái của Thơ Mới 116
-Chương 3: VIỆT HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA NHẠC ĐIỆU THƠ TRONG THƠ MỚI 1932 1945 122
3.1 Duy trì và phát triển các điệu thơ dân gian Việt 122
3.1.1 Biến tấu điệu múa 122
3.1.2 Duy trì và tạo sinh điệu hát 130
3.2 Việt hóa các điệu thơ hàn lâm Hán cổ điển 145
3.2.1 Cải biến giai điệu Hán bởi động lực nội sinh của ngữ âm Việt 145
3.2.2 Biến tấu nhịp điệu Hán bằng tác động của nhịp điệu Việt 154
3.3 Hiện tượng nhại cổ và lai ghép thể điệu 158
3.3.1 Sử dụng điệu thơ cổ để nhại cổ 158
3.3.2 Lai ghép thể điệu Hán – Việt 166
3.4 Tự do cho thơ và thơ tự do 174
3.4.1 Đi tìm tự do cho thơ 174
3.4.2 Sự ra đời của thơ tự do 181
KẾT LUẬN 186
TÀI LIỆU THAM KHẢO 196
CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 206
Trang 7-MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hỡi Thi Thần hãy hát lên… - Homère mở đầu các thiên sử thi của mình bằng
tiếng hát của Thi Thần và thơ trở thành một phần của nghi lễ thiêng liêng Chiếc cầu
tương giao giữa con người và thần linh, giữa con người và vũ trụ, và có lẽ thực tế
hơn, giữa con người với con người được thực hiện bằng nhịp điệu vĩnh viễn của thi
ca Ngay từ đầu, thơ được âm nhạc hóa để mang tên gọi chung là thi ca Hòa điệu,
đó là chiều sâu của cấu trúc, nó khắc phục sự trôi tuột của thời gian, biến dòng chảy
một chiều thành không gian đa chiều của các lớp âm thanh, lưu giữ và kích thích
liên tưởng, tưởng tượng nơi người đọc, người nghe Dù sau đó hai loại hình thơ và
nhạc có bị phân hóa địa cư theo nhu cầu mở rộng và phát triển của sự đa dạng hóa
nghệ thuật, nhưng chúng vẫn giữ đặc điểm chung về chủng loại: nghệ thuật của giai
điệu, tiết tấu trong cơ chế lưu giữ – truyền đạt của mình.
Nhạc tính đã là một sự tiên định về mặt loại hình của cấu trúc ngôn ngữ thi ca.
Một cách tự nhiên hoặc có ý thức, các bài thơ cổ xưa hay hiện thời, cách luật hay
phá luật, chuẩn mực hay tự do đều được tổ chức theo những phương thức hòa âm
nhất định Không phải ngẫu nhiên mà các công trình thi học cổ điển phương Đônglẫn phương Tây đều dành một phần nói về âm luật thơ như là tổ chức của một loại
hình ngôn ngữ đặc thù Với thành tựu của ngôn ngữ học và thi pháp học hiện đại,thơ với tư cách là nghệ thuật âm thanh đã được quan tâm nhiều hơn và trở thành đối
tượng của nghiên cứu thể loại Nhạc tính có thể được xem như là một trong những
nét đầu tiên khu biệt chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ thơ.
Luận án của chúng tôi: Nhạc điệu thơ Việt qua những sáng tạo của Thơ Mới(1)
đặt vấn đề nghiên cứu nhạc điệu thơ Việt dựa trên nền cấu trúc nhạc tính phổ quát,
và đặc biệt, điệu tính - cái làm nên phong cách hay điệu hồn riêng của thơ Việt qua
thực tiễn sáng tạo sống động của Thơ Mới 1932 – 1945 Chọn Thơ Mới làm tiêu
điểm vì đây là nền thơ nằm trong ranh giới giao thời giữa các thời đại thi ca; trên
chiều lịch đại, Thơ Mới tạo sinh và cải biến từ các hình thái cấu trúc trước đó và
(1)
Thơ Mới đã là tên riêng của một trào lưu thơ, nên để ngắn gọn, ở tiêu đề của luận án chúng tôi thấy không
cần thiết chua thêm giai đoạn 1932 – 1945.
Trang 8chuẩn bị cho những gì tiếp biến sau đó; trên mặt cắt đồng đại, nói theo cách của giới
âm nhạc, là sản phẩm tân cổ giao duyên, tự thân nó mang trong mình các loại hình
nhạc điệu truyền thống và những cách tân, hiện đại hóa chuẩn bị cho sự vận động vàphát triển của thi ca Việt sau này
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu nhạc điệu thơ Việt nói chung
và nhạc điệu Thơ Mới nói riêng với tư cách là một chuyên luận Vấn đề nhạc điệu
thơ Việt với nghĩa là các hình thức tổ chức âm thanh mang nhạc tính và điệu hồn
Việt, hoặc được đưa ra dưới dạng ý tưởng chung chung trong các sách lí luận cổ
điển, hoặc khái quát hoá thành những mô hình âm luật trong các sách giáo khoa,
hoặc chỉ vài ba nhận xét cảm tính; hay cao hơn, chỉ dành một chương mục nhỏtrong những công trình nghiên cứu, phê bình thơ nói chung Gần đây, với thành tựucủa ngôn ngữ học và thi pháp học hiện đại, nhiều bài viết có chuyên sâu vào một vàikhía cạnh nào đó như vần, nhịp, bằng trắc của thơ Việt nhưng chủ yếu vẫn chưa đi
xa hơn những phân tích cấu trúc nhạc tính chung chung.
2.1 Lí luận văn học cổ Việt Nam và Trung Hoa có những điểm chung, nhất
quán trên tinh thần triết – mĩ học phương Đông, trong đó, thi ca, thứ diễn ngôn đã
được thiết chế hóa để gọi là âm luật, hình thức của nó dễ trở thành bức họa đồ cho
một hình thái tư duy Tất cả mọi cách cắt nghĩa lí giải luật thơ trong thi học cổ điển
đều dựa trên nền tảng triết lí Âm – Dương Trong khi nhạc điệu thơ, cái mang nghĩa
rộng hơn luật thơ, được cấu trúc từ âm thanh tiếng nói dân tộc, sâu hơn là cảm xúc,
điệu hồn dân tộc bao giờ cũng phong phú, đa dạng hơn các mô hình âm luật chung
Bản sắc dân tộc nằm ở tiếng nói, điệu hồn dân tộc
Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhậm, trong lời đề tựa tập Tinh sà kỉ hành, viết:
“Nước Việt ta lấy văn hiến giữ nước, thi ca thai nghén từ đời Lý, thịnh vượng ở đời
Trần, dấy lên rầm rộ vào đời Hồng Đức, đời Lê Một bộ Toàn Việt thi lục, về cổ thể,
thì không nhường thi ca đời Hán, đời Tấn Xét về cận thể thì không nhường thi ca
các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh: nhả ngọc phun châu, thật đáng gọi là nước
thơ” [135, tr.75] Trong Vũ Trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ cũng viết: “Nước ta thơ
Trang 9đời Lý già dặn súc tích, thơ đời Trần tinh vi, trong trẻo, đều có sở trường tột bậc
cũng như là thơ đời Hán, đời Đường bên Trung Hoa” [75, tr.113-114] Nhưng cái gì
đã tạo nên vẻ đẹp “không nhường” ấy, đơn thuần là tài năng hay chỉ sáng tạo theo
khuôn mẫu tư duy của thơ Hán, thơ Đường…?
Cha ông ta hầu như thường trực một tâm niệm: “Phải lấy văn chương làm tăng
quốc thể” (Hảo bả văn chương tăng quốc thể - Lê Quý Đôn) - tinh thần tự tôn dân
tộc đồng nghĩa với việc cải biến, sáng tạo trên tinh thần tiếng nói dân tộc Cái gốccủa nhạc điệu không nằm ở khuôn khổ thi luật nhân tạo mà tự nhiên mộc mạc ởnghệ thuật dân gian Lê Quý Đôn nhấn mạnh: “Văn chương tập tục chuyển biếnluôn luôn, từ chất phác mà tiến lên văn vẻ, từ mộc mạc mà tiến lên hoa mĩ” [92,
tr.67] Lê Quý Đôn dẫn lời Hoàng Đức Lương trong Trích diễm thi tập: “Than ôi!
Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, có lẽ nào không có quyển sách nào
có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường, như thếchẳng đáng thương xót lắm sao?” [47, tr.240]
Cái “quyển sách căn bản” ấy nằm ngay trong kho tàng phong phú đa dạng của
thi ca dân gian Thoát ra khỏi sự chi phối của âm luật học Trung Hoa, đề cao điệu hồn Việt qua nhạc điệu thơ dân tộc với vẻ đẹp uyển chuyển của nó, dù hiếm hoi, vẫn lấp lánh trong tàng thư cổ Trong đề tựa Quốc âm từ điệu, Phạm Đình Toái có viết:
“Ở thất ngôn thì có hình đối lập nhau, ở lục bát thì có vẻ quanh co lưu chuyển, đó là
chỗ khác nhau vậy” [135, tr.180] Trong các thể thơ truyền thống, lục bát được chú
ý như là kết tinh chuẩn mực điệu hồn dân tộc, dân dã mà bác học: “Thể thơ lục bát
đâu cũng quen thuộc, không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên
thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của contrẻ, cũng không gì là không nhịp nhàng hợp vận Than ôi, trời đất còn luôn, non
sông không đổi Có nhân vật cõi bờ ở vùng sao Chẩn, tức phải có thanh âm phong
tục của xứ Viêm Bang, có thanh âm phong tục tất phải có từ điệu ca ngâm, thì thể
thơ lục bát nhất định không thể thay đổi đi được” [135, tr.181] Việc nô lệ âm luật
Trung Hoa mà xa rời nhạc điệu dân tộc “khác nào dạo nơi phên giậu mà bỏ quêncửa nhà, chơi nơi bến bờ mà mờ tịt nguồn suối” [135, tr.182]
Trang 10Dù chỉ là những nhận xét khái lược, thi học cổ điển phương Đông nói chung
và tư tưởng của ông cha ta về thơ Việt nói riêng vẫn để lại những giá trị lâu dài
Định đề mang tính tiên nghiệm sau mặc nhiên được thừa nhận Về mặt nhạc tính
phổ quát: Thơ là tiếng nói của trái tim với những rung động tinh tế hòa điệu với
rung động của đất trời Về mặt điệu tính: Âm vang của thơ vừa nằm trong quy luật
cấu trúc chung vừa gắn liền với tiếng nói, điệu hồn riêng của dân tộc Nguyên lí
Âm – Dương (“Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo” – Kinh Dịch) chỉ là cấu trúc có
tính phổ quát của âm luật học phương Đông, mà đặc trưng bản ngữ - các tố chất ngữ
âm và cảm xúc riêng của người Việt mới thực sự làm nên giá trị phong cách Việt
Trong số các công trình khảo sát luật thơ, bộ giáo khoa Văn học Việt Nam sử yếu, Văn học Việt Nam của Dương Quảng Hàm [57], [58], đặc biệt cuốn Khảo luận Luật thơ của Lam Giang tổng hợp tương đối đầy đủ mô hình âm luật thơ Việt qua các thể thơ, trong đó có chỉ ra “thế quân bình” bằng trắc của thi ca và hình thái vần
lưng như một sáng tạo đặc thù của thi ca “quốc phong” [50] Rất tiếc, những khảo
sát và mô hình hoá trong các bộ sách giáo khoa và những công trình này chỉ là âm luật học hình thức hơn là nhạc điệu của những phong cách đặc thù.
Dưới cái nhìn của thi học cổ điển, những kiến giải, phân tích, mô hình hoá
nhạc thơ qua luật thơ hoàn toàn nằm trong trực giác và kinh nghiệm Tiếng lòng haynhững rung động vũ trụ chỉ là những nghĩa mơ hồ, trừu tượng, chỉ có thể cảm màkhông kiến giải một cách cụ thể khoa học Trong khi đó, đỉnh điểm của thi học cổ
điển lại là sự lí tính hóa các kinh nghiệm âm học, biến nghệ thuật âm thanh thành
trò chơi sắp xếp theo khuôn khổ định trước, rốt cuộc đã làm cho hình thức thi ca trở
nên đơn điệu, thậm chí dẫn đến mất chức năng ngữ nghĩa Âm luật học trở thành
khuôn mẫu cho sáng tác hơn là mang lại giá trị cho tiếp nhận thẩm mĩ
Trên bình diện tiếp nhận, phê bình, vô hình trung, nhiều công trình nghiêncứu, phê bình thơ xem nhạc điệu không còn là vấn đề quan yếu của thơ (xem nhưmột thứ khuôn khổ hình thức chung chung) hoặc tách nhạc điệu ra khỏi ngôn ngữ
thơ (coi như một thứ phương tiện chỉ để lưu giữ, truyền đạt) đều ít nhiều bị chi phối
bởi quan điểm của thi học cổ điển
Trang 112.2 Người có ý thức sử dụng cấu trúc ngữ âm lí giải nhạc điệu thơ Việt đầu tiên, có lẽ là Đặng Thai Mai Khi bình giảng Chinh phụ ngâm qua bản dịch của
Đoàn Thị Điểm (?)(1), Đặng Thai Mai dẫn ra một số ấn tượng ngữ âm của phụ âm và
nguyên âm tiếng Việt trong khả năng biểu đạt tinh tế của khúc ngâm đã được Việthoá so với nguyên tác chữ Hán Hồn Việt bộc lộ qua chính tiếng nói và hình thức
âm điệu Việt với vẻ đẹp uyển chuyển, bi thương mà hào khí, mặc dù nội dung vaymượn từ điển tích, điển cố Trung Hoa [96]
Với “thao tác luận” của phong cách học hiện đại, trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, ngoài các vấn đề ngôn ngữ, âm luật nói
chung, Phan Ngọc quan tâm đến tần số xuất hiện của từ láy âm và biến nhịp trong
câu thơ lục bát Nguyễn Du để khẳng định “trình độ điêu luyện về từ chương học cổ
mà ở Việt Nam chỉ có Nguyễn Trãi mới đạt được, như khi ta đọc Bình Ngô đại cáo.
Câu văn của hai tác giả lên xuống như núi, điệp điệp trùng trùng, câu này buông ra,
tức khắc có câu kia ứng lại, ý này vừa được biểu lộ, tức khắc có ý kia bác lại Người
đọc bị cuốn hút, nhưng không hiểu vì sao” [106, tr.365]
Thừa hưởng những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại, nhiều công trìnhnghiên cứu ngôn ngữ thơ ra đời đã tiến dần vào đặc trưng ngữ âm học thi ca Việt
Các khía cạnh nhạc tính của thơ như vần thơ, bước thơ, nhịp thơ, láy, hòa âm được
nhiều tác giả như Võ Bình, Lê Anh Hiền, Mai Ngọc Chừ, Vũ Thị Sao Chi, Hữu Đạt,Nguyễn Thị Thanh Hà, Lý Toàn Thắng,… lí giải với mức độ nông sâu khác nhau,
nhưng bước đầu đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu nhạc điệu thơ Việt dựa trên
những tiền đề khoa học nhất định: “Nhạc trong thơ chính là những hiệu quả ngữ âmcủa một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt Với sự cảm nhận tự nhiên, trực tiếpcủa thính giác về những chất liệu ngôn ngữ của mình, mỗi dân tộc đã tạo ra một nền
thơ với nhiều hình thức riêng biệt” [11] Vần, nhịp, láy âm, bằng trắc với những quy
luật cấu âm của thơ Việt được phân tích một cách kĩ lưỡng, nhưng vấn đề nhạc điệu
với tư cách là cái biểu đạt của điệu hồn Việt trong dòng chảy liên tục của thi ca dân
tộc vẫn chưa được chỉ ra vì tính đồng đại của ngôn ngữ học cấu trúc Ngay cả khi
đối chiếu với âm luật học cổ điển Trung Hoa để tìm thấy sáng tạo của Thơ Mới,
(1)
Theo Hoàng Xuân Hãn và Phan Ngọc là bản dịch của Phan Huy Ích [106, tr.268-289]
Trang 12hướng phân tích này chỉ làm rõ thêm cho một nhận xét có tính hiển nhiên, phổ quát
mà Hoài Thanh đã nói cho thi ca lãng mạn: “Với Thơ Mới, luật bằng trắc đã không
còn gượng ép gò theo niêm luật, đối ý đối thanh như thơ cũ, mà tùy thuộc vào tình ý
xúc động của nhà thơ” [141]
Công trình Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh có giá trị hơn cả về lí thuyết
và phương pháp luận ngôn ngữ học thi ca, trong đó tác giả dành một phần nghiên
cứu tổng quát về nhạc thơ Ảnh hưởng trực tiếp từ R Jakobson và trường phái cấu
trúc – chức năng luận Prague, Nguyễn Phan Cảnh đã lí giải được một số vấn đề
quan yếu của nhạc thơ Việt Nhạc thơ dựa trên những tham số thanh học căn bản
của ngữ âm tiếng Việt: các đơn vị và thuộc tính âm thanh tiếng Việt xuất hiện trongnhững tổ chức thi pháp đã được chương trình hóa: “Mang cơ chế tự điều chỉnhtrong mình, thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững”, “Đồng thời cũng
dưới hiệu quả này mà chất liệu ngôn ngữ ở đây có một nét riêng rất tiêu biểu là đặctrưng nhạc tính, kiểu như tiết tấu và hòa thanh trong âm nhạc” [15, tr.120] Hai căn
cứ khai thác nhạc tính mà tác giả đưa ra: 1) các hệ đối lập ngữ âm, 2) tiết tấu vớihình thức trùng điệp (vần, láy) Chính các nhân tố này đã tạo nên các động lực âm
thanh trong cơ chế tự điều chỉnh của nó Cấu trúc – chức năng luận qua cái nhìn của
Nguyễn Phan Cảnh đã gợi mở chiều sâu của việc phân tích nhạc tính: cơ chế độnghọc của việc phát sinh các hình thái âm thanh mang nhạc tính và mở ra các hệ thi
pháp, trong đó lục bát như là hình thái điển hình cho hệ thi pháp Việt.
Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt [42] cũng là một chuyên luận đáng chú ý
về phương pháp phân tích thơ trên tinh thần cấu trúc – chức năng luận Đặc điểm
ngôn ngữ thơ Việt được chỉ ra, trong đó có vấn đề nhạc thơ với các hình thái cấu
trúc được xử lí rõ ràng trên hai trục hệ hình và ngữ đoạn; nhưng kết quả vẫn nằm
trong định hướng chung của công trình Ngôn ngữ thơ ở trên.
Nhìn chung, ngôn ngữ học cấu trúc chỉ hướng vào tổng quát các vấn đề ngôn
ngữ thơ, phần nhạc thơ như là những bảng phác thảo có tính chất định hướng, hoặc
chỉ vận dụng các lí thuyết ngôn ngữ - thi học phổ quát để phân tích một số hiện
tượng thơ ca đơn lẻ mà chưa dành nhiều thời gian tiếp cận sâu hơn những giá trị đặc
thù của nhạc điệu thơ Việt
Trang 132.3 Chương Nhạc điệu trong Quá trình sáng tạo thơ ca của Bùi Công Hùng
được xem có tính lí luận ngữ văn rõ hơn cả Tổng hợp các lí thuyết đã có, Bùi CôngHùng đi tìm nghệ thuật âm thanh tiếng Việt qua thứ “nhạc điệu bên trong” – “nhạcđiệu của cảm xúc” để phân tích nét đặc sắc một số câu thơ Việt được xem là “giàu
nhạc tính” Tuy nhiên, những phân tích của Bùi Công Hùng rất sơ lược, chưa có gìmới, chỉ xoay quanh vần, nhịp và các chức năng âm vị học như sử dụng phụ âm,
nguyên âm; kết quả tất yếu mang đến cho người đọc vẫn là sự minh họa về nhạc tính thi ca phổ quát trên nền thuyết biểu trưng của âm (Sound Symbolism): “Tác
dụng biểu trưng của âm thanh có liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa trở nên càng cụthể và mạnh mẽ” [79, tr.207]
Việc áp dụng các lí thuyết hiện đại để giải quyết vấn đề nhạc tính của thơ Việt
có xu hướng phát triển mạnh ở Việt Nam những năm gần đây, nhưng cái gì làm nên
hạt nhân cấu trúc và động lực nội sinh trong tiến trình của nhạc điệu thơ Việt vẫncòn để ngỏ Nhiều công trình, bài báo dưới góc nhìn của thi pháp học hiện đại đãlàm sáng tỏ các bình diện của nhạc điệu thơ như nhịp điệu, vần điệu , tuy có nhữngnhận xét thú vị, nhưng rất đơn lẻ, thiếu tính hệ thống, hoặc quy về các dạng cấu trúcphổ quát cho tổ chức ngôn ngữ thi ca Chẳng hạn, về nhịp điệu, Phan Huy Dũng chorằng: “so với nhịp điệu của văn xuôi, nhịp điệu của thơ trữ tình có tính tổ chức cao
hơn hẳn đến mức trở thành yếu tố đặc trưng nhất của thơ, bởi thơ về cơ bản đã được
giải phóng khỏi chức năng tạo hình, thuật sự để tập trung vào việc biểu hiện, bộc lộcảm xúc, mà cảm xúc như ta biết, là một cái gì rất khó định hình, khó nắm bắt”
[41] Cái khó định hình, khó nắm bắt ấy, Chu Văn Sơn đã đặt vấn đề xác đáng khi xác lập tương quan điệu hồn và cấu trúc: “Khi ta nói tới điệu hồn/ điệu cảm xúc tức
là nói đến dạng cảm xúc đã được hình thức hóa, là cảm xúc đã hóa thân vào ngôn
ngữ Cho nên nó không thể nằm ngoài ngôn ngữ (…) âm vang của lời thơ, âm điệucủa tiếng thơ là dạng hết sức vi diệu của điệu hồn trong thơ” [128, tr.8] Các côngtrình thi pháp học của Đặng Tiến, Trần Đình Sử, Lê Tiến Dũng, Nguyễn XuânKính, Nguyễn Thị Bích Hải,… trong khi nghiên cứu các vấn đề thi pháp thơ Việt,
kể cả thơ Đường, hiển nhiên có chạm đến nhạc thơ như một trong những hình thức của quan niệm, nhưng chưa có điều kiện chuyên sâu như một đối tượng cần làm
Trang 14sáng tỏ Còn các bài báo khác, dù đã định hướng vào nhạc điệu thơ, nhưng lại chỉ
chuyên sâu một góc cạnh nào đó Phan Huy Dũng với Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc, [40], Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình [41], Chu Văn Sơn với một
số phân tích, thẩm bình một số bài Thơ Mới dựa trên điệu hồn và cấu trúc [126], [127], [128], Trần Thiện Khanh với Cấu trúc nhịp thơ và nhạc âm của thơ [82]
v.v dù có những phân tích tài hoa về đặc sắc một số câu thơ Việt, nhưng chỉ gópphần minh chứng cho việc áp dụng thành tựu của thi pháp học hiện đại vào việc
phân tích nhạc tính của thơ hơn là nhạc điệu thơ Việt như một phong cách đặc thù Lục bát và song thất lục bát của Phan Diễm Phương [121] có thể xem là chuyên luận chuyên sâu về thi pháp thể loại trên cả hai trục đồng đại và lịch đại Âm luật thể loại, cụ thể là lục bát và song thất lục bát Việt được mô tả kĩ lưỡng, kể cả
quá trình vận động và phát triển của thể thơ mang tính dân tộc này, nhưng giới hạncủa việc phân tích một thể thơ chưa đủ nói lên sự biến hóa đa dạng và sinh động củahồn Việt trong toàn bộ sáng tạo thi ca của dân tộc
Chưa tập trung vào vấn đề nhạc điệu, nhưng khi nói về giọng điệu trên tinh
thần thi pháp học hiện đại, Trần Đình Sử đã xem tiến trình của thi ca Việt như là sự
vận động từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói – một tiến trình vận động sau
cả ngàn năm chuyển hóa từ cổ điển sang hiện đại Dòng thơ của câu thơ điệu ngâm
cổ điển “chủ yếu là những câu thơ độc lập về cú pháp và ý nghĩa, bởi vì chỉ trongdạng độc lập như thế chúng mới có thể được xếp song song với nhau theo luật đốihoặc niêm một cách tề chỉnh”, “câu thơ dường như không phải là lời của ai cả, cũng
không hướng tới ai cả, nó chỉ biểu hiện cái nhìn về sự trầm tư nội tại, do vậy nó ít
có khả năng thể hiện cụ thể giọng điệu tiếng nói của con người” [129, tr.56] Trong
khi, câu thơ điệu nói hiện đại, đơn vị dòng thơ không trùng với câu thơ nữa, bắt đầu
từ Thơ Mới 1932 – 1945, “đã cải tạo lại câu thơ, giải phóng nó khỏi niêm luật, tạodáng lại, làm cho nó trở thành lời nói cá thể, câu thơ thường có chủ ngữ “tôi”,
“anh”, “em”, “ta” biểu thị lời nói của chủ thể xác định Câu thơ có ngữ khí từ, câu
hỏi, câu cảm thán, hướng tới chính người đọc, theo kiểu tự bạch, tâm sự với bạn bè”[129, tr.57] Sự phân định này khái quát khả năng rút ngắn khoảng cách giữa ngônngữ thơ với ngôn ngữ đời sống, từ hình thái đơn giọng sang đa giọng bằng chính sự
Trang 15tham dự của ngữ điệu biểu cảm: không phải một âm hưởng chung mô phỏng âmthanh vũ trụ mà là nhiều tiếng nói của nhiều chủ thể cất lên với bản hợp xướng
thống nhất mà phong phú, đa dạng.
Tuy nhiên, cách phân định trên chưa tính đến thơ ca dân gian với âm hưởng
riêng của nguồn mạch này Những thể thơ trong dân gian vốn mang trong mình nó
điệu thơ khác hẳn với thi ca bác học cổ điển, mặc dù có những lúc cả hai nguồn thơ
này tiệm cận nhau về việc chỉnh đốn âm luật, hoặc có thể lai ghép để thành thể mới
như hát nói trong ca trù Công trình Giọng điệu thơ trữ tình của Nguyễn Đăng Điệp
đã bổ sung cho chỗ còn để ngỏ này khi khẳng định vẻ đẹp riêng của “cây đàn muônđiệu” truyền thống Việt; tuy chưa có “một cá tính sáng tạo thực thụ”, nhưng những
“phá chuẩn”, những “biến thể” đa dạng của tiếng nói trữ tình dân tộc chính là ngọn
nguồn cho Thơ Mới sau này kế thừa và cải biến thành lối thơ trữ tình điệu nói hiện
đại: “Rõ ràng có sự khác biệt giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học Trongthơ trữ tình hiện đại, lời thơ bao giờ cũng được tổ chức một cách tối ưu thể hiệnđiểm nhìn và thái độ chủ thể” [43, tr.137] Cái nhìn này, cùng với những phân tích
cụ thể, sâu sắc giọng điệu qua âm hưởng chính (gần như chủ âm) và những “nghịch
âm” của Thơ Mới đã gợi mở chiều sâu cho những ai có ý thức chuyên tâm hơn về
nhạc điệu thơ Việt nói chung và Thơ Mới nói riêng
Với góc nhìn khác, xét về âm hưởng nhạc điệu (chứ không phải giọng điệu chung), có lẽ nên nói Thơ Mới chưa chuyển hóa triệt để từ câu thơ điệu ngâm sang
câu thơ điệu nói, và không phải cứ sử dụng hư từ, từ cảm thán là trở thành câu thơ
điệu nói, mà ngược lại, có khi chính chúng lại tăng cường sự ngâm ngợi của điệungâm và du dương của điệu hát Thực ra, sự gia tăng hư từ, từ biểu cảm trong Thơ
Mới cùng với sự so lệch giữa các dòng thơ chỉ là một sự can thiệp của ngữ điệu biểu cảm như một nét đặc thù của thơ lãng mạn làm biến dạng hình thức bên ngoài chứ
hoàn toàn không thay đổi chất lượng bên trong của điệu thơ Rất dễ nhận ra, Thơ
Mới, nền thơ của buổi giao thời, về mặt hình thái âm thanh, dù có những cải tạo mới
mẻ vẫn chịu áp lực và ảnh hưởng từ cả ba phía: thơ ca dân gian, thơ bác học cổ điển
và thơ mới phương Tây, trong đó áp lực của thi điệu truyền thống với các chủ âmriêng đã Việt hóa thi điệu ngoại nhập một cách sâu sắc Câu thơ điệu nói đúng
nghĩa, chỉ là những manh nha, hay bước chuẩn bị cho thi ca hiện đại – thơ tự do sau
này
Trang 16Vận dụng tổng hợp các lí thuyết: ngữ pháp thơ của R Jakobson, đa thanh của
M Bakhtin, kí hiệu học của R Barthes… Đỗ Đức Hiểu trong các công trình thipháp hiện đại đã thực sự dành một phần cho nghiên cứu cấu trúc âm thanh – nhạc
điệu thơ Việt qua các hiện tượng như ngôn ngữ thơ Nôm của Hồ Xuân Hương,
Truyện Kiều của Nguyễn Du, một vài bài thơ tiêu biểu của Lưu Trọng Lư, Nguyễn
Nhược Pháp… Đỗ Đức Hiểu đặc biệt quan tâm đến các “kiến trúc âm thanh”: mối
quan hệ giữa âm và nghĩa, vần, nhịp và các “hình tượng âm thanh” để từ đó lắng
nghe trong các “tiếng động” những hình ảnh, những hành động, những rung độngđược đánh thức từ “những lớp sóng” của ngôn từ thi ca Tuy các bài viết “chỉ nhìn
một khía cạnh, không nhìn toàn diện Thơ Mới” như tác giả rào đón, nhưng nhiềunhận xét sâu sắc, gợi mở một hướng nhìn mới được vạch ra: “Âm nhạc là đặc trưngnổi bật, là nhịp mạnh của Thơ Mới Đó là một sáng tạo diệu kì của nó…” [71,tr.137] Cho rằng “Thơ Mới là sự hòa quyện giữa thơ phương Đông và thơ phươngTây, là sự hòa hợp nhịp nhàng giữa Đông và Tây, là sự hòa tan vào chất dân tộcViệt Nam, thơ Đường, thơ Pháp, cổ điển và hiện đại”, nhưng, về nhạc điệu, ông vẫnkhẳng định: “Nói “ảnh hưởng” (của thơ Pháp đến thơ Việt Nam) e không chính xác,
quá đơn giản Nhà thơ Việt Nam, với một nền văn hóa vững vàng và mở, với trái
tim mình, khao khát ánh sáng tự do, khao khát giao hòa với thế giới, với con người.Truyền thống, tự do, khả năng trí tuệ, khát vọng v.v… đã thức dậy, đã sống, sốngvới những tình cảm, tư tưởng cao đẹp của Hugo, Baudelaire, Mallarmé… và sángtạo những cảnh tượng thơ lộng lẫy, hòa hợp “Cô Tô cảnh cũ”, “Đường Minh
Hoàng”, “Gái Tầm Dương”… với “khúc nhạc thơ”, “làn tóc rối”, “cặp môi điên”…trên cơ sở những điệu dân ca dân tộc, những “thôn Đoài”, “thôn Đông”, cô bé “đeo
yếm đào”, “Mỵ Nương e lệ”…” [71, tr.141]
2.4 Nhìn chung, việc áp dụng ngôn ngữ - thi pháp học hiện đại giải quyết vấn
đề nhạc điệu thơ Việt chỉ là bước khởi đầu trên những tiền đề lí thuyết chung nhất
Nhạc điệu, trong nghĩa ngôn từ mang tính nhạc và điệu hồn Việt với tính ổn định và
khả biến của nó chưa trở thành đối tượng thật sự của nghiên cứu phê bình thơ ở Việt
Nam Nhạc tính chỉ là cấu trúc phổ quát của mọi ngôn ngữ thi ca, trong khi điệu tính với sự đa dạng của nó mới là cái hồn làm nên giá trị khu biệt của phong cách.
Chỉ dừng lại trên tinh thần của cấu trúc luận, những nỗ lực phân tích phê bình trên
Trang 17dù có dựa vào chất liệu âm thanh ngôn ngữ Việt vẫn không nhìn thấy rõ hồn Việttrong sáng tạo liên tục của thi nhân Việt Hạn chế được nhìn thấy trước của cấu trúcluận cổ điển là nghiên cứu trên trục đồng đại tính tĩnh tại của cấu trúc và tính tự trị,khép kín của văn bản, cho nên, chức năng biểu đạt của nhạc tính thi ca, dù là thi ca
Việt chỉ dừng lại ở những nội dung ổn định và phổ quát; trong khi, các cấu trúc luôn là cái gì khả biến, vận động và tương tác với các cấu trúc khác để tạo nên tính
đa dạng, sinh động và đặc thù của văn bản nghệ thuật Một số nghiên cứu có chú ý
đến sự vận động biến đổi của cấu trúc thanh âm trên chiều lịch đại (theo phương
pháp hậu cấu trúc hay giải cấu trúc), nhưng chưa chỉ rõ động lực bên trong vànguyên lí của sự vận động và biến đổi ấy để thấy được hồn Việt trong thử thách củathời gian và biến động của lịch sử
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận án là nhạc điệu thơ Việt với cả hai nghĩa: nhạc tính của thơ
Việt dưới dạng cấu trúc phổ quát và điệu tính của nó trên nền chất liệu và hình thức
ngôn ngữ Việt phản ánh điệu hồn Việt; trong đó, những khảo sát, phân tích về Thơ
Mới như là điểm tham chiếu cho quá trình vận động phát triển cấu trúc và loại hình của nhạc điệu thơ Việt.
Ở cấp độ thứ nhất, nhạc tính thơ Việt nằm trong những quy luật cấu âm chung
của thi ca: các kiến trúc âm thanh đặc biệt tạo nên tiếng vang âm nhạc đối lập với tiếng ồn.
Ở cấp độ thứ hai, quan trọng hơn, điệu tính thơ Việt dựa trên chất liệu và hình thức cấu trúc ngữ âm Việt, trong đó, âm luật thi ca Việt như một hình thái cấu trúc
có động lực bên trong là cảm xúc riêng của người Việt hay hồn Việt Quan hệ giữa
chất liệu và hình thức âm thanh Việt sẽ được đặt ra và giải quyết; một mặt, dựa trênkết quả nghiên cứu của các nhà ngữ âm – âm vị học, mặt khác, khơi sâu hơn vào
khía cạnh điệu tính – cái làm nên không gian âm nhạc đích thực, như R Scruton đã
xác định trong công trình mĩ học nổi tiếng của mình [181] Ở cấp độ này, toàn bộ
chất liệu ngữ âm – âm vị học chuyển thành các hình thức của nhạc điệu: vần, nhịp
và các phương thức hoà thanh khác nhau; các tiềm năng trở thành hiện thực trong
thực tiễn sáng tạo sống động, đa dạng của người Việt mà Thơ Mới là hiện tượng
điển hình
Trang 18Trong cái nhìn liên văn bản, các tổ chức âm thanh luôn vận động trong mối quan hệ tương tác, xâm thực lẫn nhau, nhưng mỗi tổ chức đều có những hạt nhân cấu trúc làm chủ âm để khu biệt về mặt hình thái học Việc phân loại các hình thái
cấu trúc trong tính đa dạng sống động của nhạc điệu thơ Việt giúp ta nhận diện rõ
nét tính đặc thù của nhạc điệu thơ Việt trong mối quan hệ tương tác với các hình
thái tổ chức khác mà thơ Việt, từ truyền thống cho đến Thơ Mới, đã kế thừa và pháthuy trong sự phát triển và bảo tồn dân tộc tính của mình
Về lí thuyết, luận án chỉ dừng lại ở phạm vi những khái quát có tính quan yếunhất về nhạc điệu thơ Việt: quan hệ giữa chất liệu và hình thức, tương tác giữa cácloại hình cấu trúc và sự vận động của điệu hồn Việt trong lịch sử thi ca của dân tộc
Về thực tiễn, đối tượng chính để khảo sát là quyển Thơ Mới 1932 – 1945, tác giả và tác phẩm [117](1) (dày 1267 trang), coi như là tuyển tập lớn nhất (gồm 1045 bài của
89 nhà thơ), lấy đó làm hệ quy chiếu trên cả hai trục đồng đại và lịch đại cho những
phân tích về sự biến hóa loại hình và giá trị của nhạc điệu thơ Việt
Có thể, độ lớn của tuyển tập này không đảm bảo sự cô đọng về mặt giá trị khilựa chọn những tác phẩm điển hình, nhưng nó lại có ưu thế phản ánh tương đối chânthực tính đa dạng, sinh động các hình thái nhạc điệu thơ Việt qua một trào lưu thơ.Trong luận án, có một số chỗ bắt gặp tác phẩm của một vài tác giả ít được biết đến,
có thể bị cho là những sáng tạo không thành công, nhưng vẫn được trân trọng, bởi ít
ra đó là những nỗ lực kiếm tìm ban đầu nhằm cải biến nhạc điệu thơ trên con đường
hiện đại hóa thi ca dân tộc
Và cũng vì giới hạn ấy, công trình chỉ nhắm đến phong cách nhạc điệu thơ dântộc, phong cách chung của trào lưu thơ mà chưa thể đi sâu vào phong cách cá nhân
cụ thể
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án hướng vào mục đích nghiên cứu nhạc điệu thơ Việt ở các hình thái cấu trúc đặc thù mang điệu hồn Việt Đây là biện chứng hai mặt giữa nội dung và hình thức; và thi pháp học, với lập trường và định hướng nghiên cứu của nó, nội dung chỉ có thể bộc lộ ở trong và toát lên từ hình thức Điệu hồn Việt, cái nội dung
(1)
Các trích dẫn văn bản Thơ Mới trong luận án đều lấy ra từ quyển này Trích dẫn văn bản thơ khác chủ yếu
lấy nguồn từ bộ Tinh tuyển Văn học Việt Nam (gồm 11 quyển) của NXB Khoa học Xã hội
Trang 19thẩm mĩ trừu tượng ấy chừng như chỉ có cảm mà không thể định nghĩa, hoặc phải
định nghĩa bằng một siêu ngôn ngữ mơ hồ khác, ở công trình này chỉ giải quyết từ
hình thức thẩm mĩ là cấu trúc âm thanh Nói cách khác, điệu hồn Việt phải được
hình thức hóa bằng chính đường nét kiến trúc âm thanh Việt giống như hai mặt cái biểu đạt (Signifier) và cái được biểu đạt (Signified) của kí hiệu.
Không đơn thuần là sự tự tôn dân tộc, mà điều quan trọng hơn, luận án hướng
vào sự bảo tồn các giá trị truyền thống trong quá trình vận động và phát triển của thi
ca quốc âm Thơ Mới được xem là điểm khởi đầu của quá trình hiện đại hoá thi ca
dân tộc, theo chúng tôi, trong đó có quá trình Việt hoá tương đối toàn diện các hình
thái thi ca ngoại nhập cùng với khả năng tạo sinh và cải biến các hạt nhân cấu trúccủa nhạc điệu truyền thống bằng chính động lực nội sinh của tinh thần Việt
Vì thế, nhiệm vụ chính của luận án là hình thành hệ thống các cấp độ cầnnghiên cứu: 1) Các tiền đề triết - mĩ học của nhạc điệu thơ, trong đó cần chỉ ra đặcthù về chất liệu và hình thức âm thanh tiếng Việt; 2) Sự tạo sinh các hình thái kiến
trúc âm thanh thơ Việt và những cải biến trên nền các chủ âm Việt; 3) Thực tiễn
sáng tạo sống động của Thơ Mới trong mối quan hệ tương tác giữa truyền thống vàhiện đại Các cấp độ này cần được phân tích từ bề mặt cấu trúc đến động lực bêntrong cấu trúc để làm sáng tỏ các hạt nhân ổn định và các nhân tố khả biến của nghệthuật âm thanh thơ Việt trong sự phát triển tích cực của nó xuyên suốt chiều dài lịch
sử thơ Việt cho đến Thơ Mới 1932 - 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng tự nó định hướng việc lựa chọn phương pháp tiếp cận Nhạc điệu
thơ thuộc cấu trúc âm thanh ngôn ngữ, hiển nhiên, con đường tiếp cận trực tiếp nhất
không gì hơn là sử dụng các phương pháp của cấu trúc luận, trong nghĩa rộng nhất,
bao hàm cấu trúc luận truyền thống lẫn hiện đại, phương Đông lẫn phương Tây, kể
cả tạo sinh luận và giải cấu trúc luận Tất cả những ưu thế về mặt khoa học của các
lí thuyết này đều có thể áp dụng để giải quyết các khía cạnh khác nhau của đối
tượng
Cấu trúc luận truyền thống phương Đông có lẽ sát thực hơn với thơ phương
Đông, trong đó có thơ Việt Các mô hình âm luật đã được dàn dựng sẵn mà nguyên
Trang 20lý Âm – Dương như một tiền đề triết - mĩ học chi phối toàn bộ các tổ chức âm thanhmang nhạc tính của thi ca truyền thống Quay lại với tiền đề triết - mĩ học này có thể
xem như một công việc “khảo cổ”(1) để tìm thấy các giá trị tư tưởng trong tinh thần
sáng tạo nghệ thuật âm thanh của cha ông, mặc dù cách tiếp cận này đã mòn nhẵntrong các công trình thi học cổ điển
Nhạc điệu thơ được xem như một cấu trúc kép, phân biệt mà gắn kết: một tầng
thuộc ngôn ngữ học và một tầng thuộc âm nhạc học – một trong những bộ phận của
kí hiệu học Có nghĩa là phân tích nhạc điệu thơ, một mặt không tách khỏi ngôn ngữ
với những gì đã được hình thức hóa chặt chẽ (cấu trúc âm vị, hình vị, ngữ vị, cú
pháp), nhưng mặt khác lại gặp phải những gì chưa được hình thức hóa chặt chẽ
(ngoài cách luật còn có sự phá luật và những kết hợp bất quy tắc) Điều này đưa ta
đến với phương pháp của R Jakobson chấp nhận “những tưởng tượng ngôn ngữ
học”, tức là “những thực thể ảo” theo phát hiện của J Betham để xem xét các hiện
tượng ngữ pháp đặc biệt của thơ ca do áp lực của sự tổ chức âm thanh tạo thành [44,
tr.93] Cho nên, xem xét nhạc điệu thơ, trước hết và cần thiết phải sử dụng phương pháp liên ngành: cấu trúc ngôn ngữ trên hệ quy chiếu với cấu trúc âm nhạc.
Tuy nhiên, để tồn tại với tư cách là một khoa học, thi pháp học chủ yếu dựa
vào ngôn ngữ học hiện đại để xác định rõ hơn đối tượng lẫn phương pháp luận của
nó Với tư cách là nghệ thuật ngôn từ, nhạc điệu thơ thuộc ngôn ngữ học trước khi
mở rộng các bình diện đặc thù của thi học “Tất cả các yếu tố khác của hoạt độngngôn ngữ, vốn là nội dung của lời nói, đều tự nó đến quy phục ngành khoa học này,
và chính nhờ sự quy phục này mà tất cả các bộ phận của ngôn ngữ học có được vịtrí tự nhiên của nó” [125, tr.57]
Đối tượng của ngôn ngữ học, theo F Saussure, là tính hiện thực và phổ quát
của ngôn ngữ Vì thế, việc áp dụng phương pháp đồng đại của ngôn ngữ học cấu trúc: trừu xuất những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ học, những yếu tố có thể gây
phương hại đến tính hiện thực và tính phổ quát ngôn ngữ là cần thiết Mặc dù hiện
nay đã có khoa học về lời nói (Ngữ dụng học), nhưng “bộ nhị nguyên”: ngôn ngữ / lời nói của Saussure vẫn còn nguyên giá trị nếu chỉ trừu xuất phần động cơ (Motor)
thuần túy sinh – vật lí của âm thanh Bởi vì, phần động cơ hay cơ cấu động học của
(1)
Chữ dùng của M Foucault: Khảo cổ học tri thức (The Archaeology of Knowledge), Routledge, 1972.
Trang 21sự phát âm phát sinh ra lời nói mới thực sự nằm ngoài cơ chế giao tiếp Như vậy,khi nghiên cứu nhạc điệu cũng như ngôn ngữ thơ nói chung, nhà nghiên cứu chỉ
tính đến chức năng xã hội và chức năng thẩm mĩ của thế giới âm thanh mà không
cần quan tâm đến chất giọng thuần túy cá nhân, bởi vì một bài thơ có đến cả ngànchất giọng đọc (hay ngâm) khác nhau Cũng vì thế, do tách ra khỏi diễn xướng hoặc
không được kí âm một cách rõ ràng, nhạc điệu thơ chỉ tồn tại tiềm năng ở hình thức văn bản ngôn từ, cái gọi là thẩm âm trên nền cấu trúc văn bản phải thông qua tưởng
tượng có tính chủ quan Hiển nhiên, những nhân tố chưa được hình thức hoá chặt
chẽ như cách nhấn giọng, cách phân nhịp sẽ là một cơ chế mở cho sáng tạo cá
nhân khi tiếp nhận, nhưng chắc chắn chỉ là khả năng tùy biến từ cấu trúc kháchquan của ngôn ngữ và nguyên lí hòa âm của âm nhạc chứ không phải là những sángtạo tùy tiện chủ quan Nói như U Eco, “Cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật đạt đượcgiá trị mĩ học của nó, một cách chính xác, qua mối tương quan tỉ lệ với con sốnhững triển vọng khác nhau nó có thể được xem xét và lĩnh hội Những sự thể hiện
ấy mang lại cho tác phẩm một sự phong phú về âm vang và hồi vọng khác nhau mà
không làm tổn hại đến thực chất ban đầu của nó…” [49, tr.136]
Tất nhiên, bản thân cấu trúc bao giờ cũng có chiều hướng tạo sinh và giải cấutrúc, một hệ thống không tĩnh tại mà luôn vận động trong một hệ thống lớn hơn,mặt đồng đại tự nó mở ra chiều lịch đại như một nguyên lí bất khả kháng Trước khigiải cấu trúc luận ra đời, chính R Jakobson đã mở rộng biên giới của thi học cấu
trúc: “Sự mô tả đồng đại không chỉ hướng đến cái sản phẩm văn học của một thờiđại nhất định, mà hướng đến cả truyền thống văn học vẫn tồn tại trong thời đại ấy
một cách sống động” [44, tr.108] N Chomsky giải quyết vấn đề cấu trúc – lịch đạinày theo nguyên lí tạo sinh: mọi sáng tạo đều là sự tạo sinh và cải biến vô hạn dựatrên những mô hình có hạn [170]; và những mô hình này chính là những hạt nhâncấu trúc ổn định và bền vững vừa làm nền cho những vận động và biến đổi trongthực tiễn sống động của tư duy, vừa thấy được hồn Việt trong những hình thái âm
thanh Việt Cũng như R Barthes xem một văn bản luôn là giao điểm giữa các văn bản, chúng liên kết thành mạng các đơn vị đọc mà mỗi đơn vị đọc này không chỉ có
quan hệ nội tại bên trong văn bản mà còn quan hệ chồng chéo, pha tạp với các đơn
vị đọc của các văn bản khác; J Kristéva gọi là liên văn bản (Intertextuality) [174],
Trang 22hay nói như J Lacan và J Derrida, cái biểu đạt cho cái biểu đạt không giới hạn
[171], [180] Các lí thuyết này cung cấp cho ta chìa khóa của phương pháp lịch đại trên cái nhìn của liên văn bản, tạo sinh và giải cấu trúc, phân xuất nhạc điệu thơ
thành các hình thái cấu trúc đặc thù, từ đó tìm thấy trên chiều lịch đại sự tạo sinh vàcải biến vô hạn trong sáng tạo phong phú đa dạng của Thơ Mới nói riêng và thơhiện đại Việt Nam nói chung
6 Đóng góp mới của luận án
Trên bình diện lí thuyết, luận án kế thừa những tinh hoa lí luận Đông và Tây,
cổ điển và hiện đại để soi chiếu vào nhạc điệu thơ Việt với đặc tính ngữ âm và âm
luật riêng của nó Tất nhiên, các lí thuyết nghiên cứu phê bình hiện đại như cấu trúc luận, tạo sinh và giải cấu trúc luận sẽ được vận dụng nhiều hơn trong điều kiện chuyển hoá những tư tưởng phổ quát vào trong những nội dung cụ thể sát thực của
nhạc điệu thơ Việt
Trên bình diện thực hành, vấn đề hình thái học nhạc điệu thơ Việt được chúng
tôi giải quyết theo nguyên lí tạo sinh và giải cấu trúc để nhìn thấy sự biến chuyển
sống động của loại hình Các hạt nhân cấu trúc tồn tại tương đối ổn định, bền vững cùng với những hình thức tạo sinh – cải biến như nhân rộng, chuyển hoá, lai
ghép,… kể cả sự phá huỷ được chỉ ra trong khả năng sáng tạo của nghệ thuật thi ca
Việt, từ truyền thống đến Thơ Mới 1932 - 1945 Nhạc điệu thơ là một kiểu hình thức của quan niệm, các đơn vị cấu trúc trong mỗi hình thức khác nhau mang những chức năng thẩm mĩ khác nhau, và mọi sự biến đổi hình thức luôn luôn thể hiện những biến đổi về quan niệm thẩm mĩ Nghiên cứu hình thái học thơ ca, nói như R Jakobson, sẽ tìm ra chiếc cầu nối giữa âm và nghĩa mà các nghiên cứu khác chỉ
mang lại những tác dụng mơ hồ [173]
Việc phân xuất các hình thái nhạc điệu Hán và Việt, bác học và dân gian, cổ
điển và hiện đại dựa trên nền sự khu biệt các chủ âm trong một hệ thống lớn của
lịch sử thơ Việt là một vấn đề quan trọng nhất được đặt ra và giải quyết trên cả haitrục đồng đại và lịch đại Trên trục đồng đại, các hình thái này tồn tại song song nhưmột cuộc đấu tranh sinh tồn giữa các nền văn hoá; trên trục lịch đại, chúng tác động,
xâm thực, lai ghép, phủ định… và cuối cùng là quá trình Việt hoá - hiện đại hoá
trên chuỗi vận động liên tục của thi ca dân tộc
Trang 23Thơ Mới Việt Nam 1932 – 1945 đã được nghiên cứu nhiều và vẫn còn hấp
dẫn Nhưng nhạc điệu Thơ Mới, một trong những hình thức thẩm mĩ có tính đặc thù
về chủng loại vẫn còn để ngỏ Luận án khảo sát trên diện rộng cả ngàn bài Thơ Mới
và một cách tổng quát, sẽ chỉ ra các hình thái cấu trúc âm thanh tương ứng với các hình thái nghĩa, tính chất đa âm, pha tạp của nhiều hình thái nhạc điệu trong dàn
hợp xướng có tính thống nhất của nhu cầu Việt hoá - hiện đại hoá cả một nền thơ
đang bước sang giai đoạn độc lập, tự chủ bằng chính sức mạnh nội sinh của mình
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (17 trang) và Kết luận (10 trang), Tài liệu tham khảo (10
trang) luận án được triển khai thành các chương sau:
Chương 1: Các tiền đề cấu trúc nhạc điệu thơ và nhạc điệu thơ Việt (46 trang) Chương 2: Hình thái cấu trúc nhạc điệu thơ Việt từ truyền thống đến Thơ Mới
1932 -1945 (52 trang)
Chương 3: Việt hóa – hiện đại hóa nhạc điệu thơ trong Thơ Mới 1932 – 1945
(57 trang)
Chương 1 xác lập lý thuyết chung nhất về cấu trúc nhạc điệu thơ dựa trên các
tiền đề triết – mĩ học, ngôn ngữ - âm nhạc học, trong đó chỉ ra đặc trưng cơ bản củanhạc điệu thơ Việt từ chất liệu đến các hình thức tổ chức âm thanh
Chương 2 phân loại cấu trúc nhạc điệu thơ Việt theo phương pháp tạo sinh và
giải cấu trúc: các hạt nhân cấu trúc ban đầu – cái quyết định về mặt hình thái họccấu trúc được phân xuất ra để tìm thấy động lực bên trong của nó; quan hệ tương tácgiữa các hình thái nhạc điệu khác nhau và chỉ ra động lực nội sinh của một quá trìnhvận động cấu trúc từ truyền thống đến Thơ Mới 1932 – 1945
Chương 3 phân tích cụ thể thực tiễn sống động của Thơ Mới như một điểm
tham chiếu cho thấy sự đa dạng của nhạc điệu thơ Việt qua quá trình Việt hóa (quay
về truyền thống) đồng thời hiện đại hóa (hướng tới nền thơ tương lai) của nhạc điệu
thơ dân tộc Tính chất dân tộc được ưu tiên giải quyết để chứng minh cho sức sốngtrường tồn của một nền thơ trước biến động của buổi giao thời
Dù định hướng khảo sát chính của luận án là Thơ Mới, nhưng nếu “chặt khúc”Thơ Mới thành hiện tượng “không đầu không cuối” thì rất dễ ngộ nhận cái mới
hoàn toàn phủ định cái cũ hay thoát li khỏi cội nguồn truyền thống; trong khi ThơMới chưa bao giờ là “chiếc nấm lạ trên cây gia hệ văn học dân tộc” [146]
Trang 24Chương 1
CÁC TIỀN ĐỀ CẤU TRÚC NHẠC ĐIỆU THƠ VÀ NHẠC ĐIỆU THƠ VIỆT
1.1 Tiền đề triết – mĩ học
1.1.1 Nguyên lí chung của sự hòa điệu
Giả thuyết âm nhạc ra đời cùng với ngôn ngữ, thậm chí là một thứ kí hiệu tiềnngôn ngữ gần đây được các nhà triết - mĩ học hưởng ứng Từ những nhạc cụ nguyên
sơ như bộ gõ, ống thổi mô phỏng âm thanh của tự nhiên đến những nhạc cụ tinh vi
biểu lộ các trạng thái cảm xúc con người, tất cả như một quá trình được sinh ra bởinhu cầu giao tế với đất trời và giao tiếp cộng đồng Quá trình ấy cùng với sự hiệndiện của tiếng nói, thứ âm thanh phức tạp nhất đào luyện từ khí quan và trí tuệ của
con người, làm cho âm nhạc không còn là thứ âm thanh thuần chất mà là âm thanh
của ngôn ngữ với cấu trúc phức tạp, tinh vi Kết quả là, mọi nền âm nhạc đều mangnguyên lí cấu trúc chung đồng thời lại mang bản sắc riêng bởi chính sự chi phối từtiếng nói của cộng đồng bản ngữ
Nguyên lí chung của âm thanh mang tính nhạc là sự hòa điệu: “sự hài hòa vũ
trụ” và “sự sắp xếp tâm hồn” như Pythagore nói, hay sự “thanh lọc tinh vi” bởi tính
“trật tự và cao cả” như Platon và Aristotle đề xuất từ vài nghìn năm trước Tư duy
phân tích của triết – mĩ học phương Tây khởi đầu từ Pythagore: nhạc tính sinh ra là
do sự cân đối hài hòa trong dòng chảy âm thanh và có thể đo bằng các tỉ lệ toán học[74, tr.921], sau này phát triển thành nguyên lí phổ cập của âm nhạc cổ điển phương
Tây: bình quân luật Sự sắp xếp cân bằng những tương quan về quãng giữa các bậc
của hệ thống âm thanh trong âm nhạc làm cho việc chế tác nhạc cụ, diễn xướng và
điều chỉnh âm thanh trở nên đơn giản và có quy tắc Tất nhiên, phương Tây vẫn có
cái nhìn biện chứng trong cấu trúc âm thanh mang tính nhạc Heraclite xem “sự hòa
điệu được làm bằng những cái đối lập” và “tài nghệ của nhạc sĩ là đem những cái
khác nhau kết hợp với nhau” [89, tr.317] Hegel xác định một sự hài hòa đích thựcphải biểu hiện cả hai mặt khách thể lẫn chủ thể Về mặt khách thể, tính hài hòa
Trang 25không đồng nghĩa với số cộng giản đơn các mặt đối lập “Một mặt, tính hài hòa
gồm có toàn bộ các phương diện chủ yếu, về mặt khác, nó gạt bỏ sự đối lập thuầntúy của chúng với nhau Kết quả là tạo nên ở giữa chúng một mối liên hệ bên trong
và đó là yếu tố làm thành sự thống nhất của chúng” “Trong lĩnh vực âm nhạc, các
chủ âm, các trung âm và các át âm làm thành những sai biệt âm thanh chủ yếu và
được hợp nhất lại thành một thể duy nhất” [66, tr.256] Về mặt chủ thể, mọi sáng
tạo của con người đều gắn liền với một ý niệm tinh thần tự do nhất định “Hài hòa
đơn thuần vẫn chưa là tính chủ thể tự do có tính chất ý niệm của linh hồn Ở trong
linh hồn, tính duy nhất nảy sinh không phải do sự hòa hợp hay sự nhất trí đơn thuần
mà do sự phủ định những sai biệt và sự phủ định này là cái duy nhất sản sinh ra tínhthống nhất có tính chất ý niệm tinh thần Chính vì vậy, mọi nhạc điệu, mặc dù lấyhài hòa làm cơ sở vẫn có vẻ biểu hiện một tính chủ thể cao hơn và tự do hơn Sự hàihòa thuần túy một mình nó không thể bộc lộ được vẻ sinh động chủ quan cũng nhưtính chất tinh thần, mặc dù xét về mặt hình thức trừu tượng, nó đã làm thành trình
độ cao nhất và tiến gần đến trạng thái tính chủ thể tự do” [66, tr.257]
Nguyên lí của sự hòa điệu ấy không xa lạ với triết - mĩ học phương Đông, cho
dù cốt yếu của nền văn hóa này chỉ là trực giác Theo Lisevich, trong bộ Lục kinh nổi tiếng của Trung Hoa, dù Kinh nhạc đã thất truyền, nhưng từ những gì được các
triết gia nói đến, “chúng ta rất dễ hình dung đây là bộ sách dạy người ta hiểu thếgiới âm thanh mà tai chúng ta nghe được như là sự hồi âm của sự hài hòa thế giới”[90, tr 41] Cho nên, Khổng Tử khái quát: “hài hòa là gốc của nhạc”, và khẳng định
giá trị biểu đạt và lưu giữ của nghệ thuật âm thanh: “Lời không đẹp, không đi đượcxa” [137, tr.386] Mệnh đề “thi dĩ ngôn chí” xuất phát từ quan niệm: “Ở trong tim làchí, thể hiện ra lời là thơ” [90, tr.67] Trái tim tương thông với Đạo (khởi nguyêncủa vũ trụ) theo “quy luật cộng minh” phát sinh ra nhịp điệu âm thanh hòa cùngnhịp điệu vũ trụ Khổng Tử mô tả: “Các âm thanh giống nhau thì hô ứng nhau, cáckhí giống nhau thì tìm đến nhau” Mạnh Tử xác định động lực của âm thanh chính
là khí, khí tạo ra phong và ẩn tàng trong cốt: Cốt dưỡng khí, khí tạo ra phong và
phát ra âm thanh Hàn Dũ nói thêm: “Khi nào khí đầy thì lời nói sẽ phát ra như nó
cần phải có” [90, tr73] Phương thức thể hiện âm thanh là thể Tào Phi cho rằng:
“Thể là gốc của văn chương đẹp đều như nhau nhưng ngọn thì khác nhau (…) Điều
Trang 26này cũng như trong âm nhạc; cung bậc làn điệu như nhau, nhịp điệu khớp nhau,
nhưng khí lấy ra không đều, nhã, thô đều phụ thuộc vào cái vốn có (cốt - CMH)
trong con người” [90, tr.87] Khác với bình quân luật của phương Tây, nguyên lí
Âm Dương, cùng với các phạm trù khí, phong, cốt gần như chi phối toàn bộ âm luật
học phương Đông; trong đó, vấn đề khí, phong, cốt có thể xem là các nhân tố của
phong cách
Vũ trụ quan phương Đông nhìn cấu trúc thanh nhạc của mình trong thế hài hòa
của sự biến dịch Chương Nhạc tượng thiên trong Nhạc kí của Công Tôn Ni Tử chỉ
ra qui luật cấu âm biến hóa theo lẽ vận động của cảm xúc tương ứng với chuyển
dịch của đất trời, vạn vật: “Phàm âm nổi lên là từ lòng người sinh ra Lòng ngườiđộng là do sự vật sinh ra Cảm bởi vật mà động, cho nên hình thành ở thanh Thanhứng nhau nên sinh biến Biến có phương gọi là âm, liền âm lại mà hát và múa lông,múa cờ, gọi là nhạc”[137, tr.29, 30] Cho nên, ngoài thuận theo lẽ biến dịch ÂmDương của đất trời, ý niệm cấu âm của phương Đông thường gắn với các nhân tố tự
nhiên và sinh học: giọng thì định tính theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ,
điệu thì định hướng theo phương vị và dư âm xúc cảm: Nam, Bắc, Xuân, Bình, Ai,
Oán… Có lẽ, đó là thứ âm nhạc theo cảm xạ tự nhiên mà nghệ sĩ lão thành Mịch
Quang gọi đó là “phép biện chứng của tự nhiên và sinh học” [124, tr.136]
Âm nhạc là một kiểu kiến trúc âm thanh mà tính chất phổ quát của nó có giá trị
mẫu mực cho mọi loại hình nghệ thuật Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, thi ca đềutuân theo nguyên tắc của sự hòa điệu [67] Cho nên, có nhà nghiên cứu cho rằng, sựkhác nhau của âm nhạc phương Đông và phương Tây có thể hình dung như sự khácnhau giữa hình thể mái cong mềm mại uyển chuyển của đền chùa với sự đều đặn,trang nghiêm của nhà thờ gothic Bình quân luật trong kiến trúc âm nhạc phươngTây chú trọng sự cân bằng tĩnh: quãng tám được phân chia thành 12 bán cung bằngnhau; trong khi kiến trúc âm nhạc phương Đông hoàn toàn nằm trong thế cân bằng
động: bên trong thang âm ngũ cung luôn xuất hiện các âm nhỏ hơn bán cung với sự
chuyển hóa linh động, uyển chuyển giữa chúng mà các nhà âm nhạc học dân tộc gọi
là luyến láy, nhấn nhá, xếp ngói hay “thừa thượng tiếp hạ” với một cấu trúc mở
phóng khoáng, liên tục và tự nhiên [124, tr.184]
Trang 27Sự khác nhau giữa nhạc lí phương Tây và phương Đông, theo các nhà âm luậthọc, là do có sự can dự của âm thanh bản ngữ Ngôn ngữ là bộ mặt của đời sống,bản thân nó chứa đựng tất cả mọi mối quan hệ của con người, quan hệ với tự nhiên
và quan hệ cộng đồng: Chim khôn cất tiếng rảnh rang/ Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe Nhạc điệu tồn tại như một lối ứng xử văn hóa thẩm mĩ trên trục hoạt
động của ngôn ngữ bản địa Nhạc sĩ người Nga Musoki nhận xét: “Âm nhạc tái hiện
tiếng nói của con người với tất cả mọi cái tế nhị, uyển chuyển nhất của nó”, và nói
theo nhạc sĩ người Pháp Henry Barrault, mỗi tiếng nói có một nền âm nhạc riêng
[124, tr.184] Chính Lê Quý Đôn từng khẳng định quan hệ giữa âm nhạc và ngônngữ: “Thanh cấu phối hợp với ngũ âm ở cổ, lưỡi, môi, răng, phát ra; mà nhạc gia
thông tục lấy 4 thanh bình, thượng, khứ, nhập chia ra để phối với cung, thương, vũ, giốc Còn âm chủy có âm mà không có điệu” [46, tr.258] Bình quân luật phương
Tây là sản phẩm của sự tính toán hàn lâm thích hợp với ngôn ngữ trọng âm mà
ngôn điệu của nó chỉ là ngữ điệu Trong khi, ở các ngôn ngữ điệu tính, ngôn điệu đã
nằm sẵn trong cấu trúc của các âm tiết chứa thanh điệu và sự vận động tự nhiên củachúng chừng như bất tuân mọi sự sắp xếp, phân chia Bằng chứng là những dân tộc
sử dụng ngôn ngữ điệu tính gần như khó áp dụng chính xác kỹ thuật kí âm và nhạc
cụ của bình quân luật phương Tây Trong thế tương hợp giữa nhạc và lời, những âmgãy, nếu dùng kí âm phương Tây phải dùng đến ít nhất hai nốt nhạc tiếp liền nhauvới hai bậc âm thanh tinh tế khác nhau, cho nên phím bấm của các nhạc cụ dân tộc
phải có một độ lõm sâu để nhấn, nhá tạo ra một thứ âm điệu nỉ non, mềm mại Các
nhà ngữ âm học Việt chỉ ra rằng, đường nét các âm mang thanh điệu trắc của tiếngViệt rất phức tạp, có âm tiết đường nét biểu thị của nó dao động đến một quãng 10thứ Dân ca Việt mà nhạc điệu của nó dựa hẳn vào cái nền của ngôn ngữ thơ, theocác chuyên gia âm nhạc học dân tộc, việc kí âm theo quãng tám đúng và 12 báncung của bình quân luật chỉ mang tính tương đối Thực tế, sự phối âm của dân ca
Việt vượt ra ngoài khung khổ của bình quân luật Trong Vân Đài loại ngữ, Lê Quý
Đôn từng ghi nhận âm giai của âm nhạc Việt, ngoài kế thừa ngũ cung giống như âm
nhạc Trung Hoa, có đến 9 cung: Hò, xự, xang, xê, cống, cấu, líu, ú, xán So với nhạc
lí phương Tây, Tô Vũ gọi đó là “thực tiễn vượt quá tầm lí thuyết” và “lí thuyết bất
Trang 28cập” [124, tr.171] Điệu thức, vì thế, đối với dân ca Việt cũng không đơn thuần
phân biệt trưởng và thứ Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từng băn khoăn: “bài Trấn thủ lưu đồn mà tôi đã ghi là điệu thứ Thực ra, nó không thứ cũng không trưởng Nó
có mầu âm riêng biệt mà tôi rất tiếc đã bỏ qua” [124, tr.170] Cái gọi là mầu âm ấy
được giải thích bằng tương quan giữa ngũ âm và ngũ sắc mà cầu nối của nó là ngũ tạng, ngũ khiếu ở con người [124].
Con đường vận động của nghệ thuật âm thanh Việt so với nghệ thuật âm thanh
Hán có thể cùng điểm xuất phát của triết lí Âm Dương, của loại hình ngôn ngữ điệutính, thậm chí có lúc đồng hóa về khuôn khổ âm luật, nhưng vẫn có tính khu biệtbởi đặc trưng tổ chức cộng đồng và âm thanh bản ngữ Sự gắn bó máu thịt giữa con
người với môi trường sông nước và sự ổn định của cộng đồng làng xã, dẫn đến một
lối văn hóa ứng xử có tính bản địa: Âm Dương biến dịch, lấy tĩnh chế động, nhu chế
cương, từ đó sử dụng một thứ tiếng nói và nhạc điệu Việt uyển chuyển, xao động
mà yên bình, dào dạt mà thiết tha, hồn nhiên mà trật tự Rõ ràng, tiếng Việt cùngnhững điệu múa và điệu hát Việt có cấu trúc âm điệu riêng mang phong thổ của
người Việt(1) Không phải ngẫu nhiên mà, theo nhà ngữ âm học Nguyễn Tài Cẩn, từ
tứ thanh tiếng Hán (mà âm luật học chỉ tính đến bằng trắc theo lối đối xứng Âm
Dương) chuyển sang từ Hán - Việt được nhân đôi thành tám thanh với âm vực khác
nhau (và hiển nhiên âm luật học phải tính đến các nhân tố khác ngoài bằng trắc)[16, tr.305–307] Cũng không phải ngẫu nhiên mà những điệu múa, điệu hò dângian Việt thường mang tên chính nhịp điệu của cuộc sống vùng sông nước: múasàng sẩy, múa chèo thuyền, múa đạp lửa, hò giã gạo, hò cấy lúa, hò kéo gỗ… Cuộcsống lao động với tất cả sự sinh sôi tự nhiên và đa dạng của nó làm cho nhạc điệuViệt vượt ra ngoài các phạm vi âm luật cứng nhắc, thuần nhân tạo Nhạc điệu Việt
mà gốc rễ là thi ca dân gian vừa nằm trong lại vừa vượt ra ngoài khuôn khổ của sựhòa điệu Âm Dương phổ quát
Hệ quả, nguyên lí cân bằng âm thanh(2) trong thuyết “tứ thanh bát bệnh” củaThẩm Ước thời Lục triều hay chuẩn mực của niêm, đối, bằng trắc, vần, nhịp củaTống Chi Vấn và Thẩm Thuyên Kỳ đời Đường dù thống trị cả nền thi ca hàn lâm
Trang 29bác học Trung Hoa và Việt Nam, nhưng chắc chắn không xóa nhòa ranh giới giữahai nền thơ của hai bản ngữ khác nhau, trong đó, rõ nhất là ranh giới giữa thi ca báchọc và thi ca dân gian Gợi ý này của nghệ sĩ Mịch Quang có ý nghĩa chuyển hóacác nghiên cứu trên tinh thần triết – mĩ học thuần túy sang ngôn ngữ học hiện đại
mà các phương pháp của nó có thể khai triển vào chiều sâu bên trong của nghệ thuật
âm thanh nói chung và thi ca Việt nói riêng: “Về mặt phương pháp thanh nhạc, thìchèo, tuồng cũng như toàn bộ nếp ca hát dân gian dân tộc ta hoàn toàn thống nhất,
có cơ sở khoa học hạ tầng của nó là ngữ âm tiếng Việt Và chính ngữ âm tiếng Việt
là mẹ đẻ ra phương pháp luyến láy, phương pháp tiến hành giai điệu của sáng táclẫn biểu diễn, còn cha đẻ của chúng là tư duy vũ trụ quan” [124, tr.187]
Như vậy, trên thực tế, có ba tiền đề triết – mĩ học chi phối nhạc điệu truyền
thống Việt:
1) Nguyên lí hài hòa Âm Dương tạo nên thứ nhạc cổ điển, bác học với hìnhthức trang nghiêm - âm nhạc được xem như chiếc cầu nối giữa con người và đất trờitrong quan niệm Thiên Nhân hợp nhất
2) Tổ chức cộng đồng làng xã với cuộc sống lao động và hội hè sinh ra thứnhạc dân gian bình dị, tự do - âm nhạc mô phỏng nhịp điệu lao động và là nguồngiao cảm vô tận giữa con người với con người
3) Trong đó, ngữ âm tiếng nói Việt chính là nhân tố chi phối nhạc điệu Việt:
giàu cung bậc, đa sắc thái, uyển chuyển, mềm mại thể hiện tinh tế điệu hồn Việt
1.1.2 Sự cần thiết khu biệt các khái niệm
1.1.2.1 Thơ và âm nhạc
“Văn học, nhất là thơ, vốn gắn bó chặt chẽ với âm nhạc” [93, tr.198] Về mặt
loại hình, cùng là nghệ thuật thời gian nhưng thơ ca thuộc nghệ thuật ngôn từ, âmnhạc thuộc nghệ thuật âm thanh Dù khu biệt loại hình, nhưng thơ và nhạc vẫn giữ
gen đồng chủng - đi ra từ một gốc: nghệ thuật của giai điệu, tiết tấu Bởi vì, trong
sự giao thoa giữa thơ và nhạc, khó có sự tách biệt âm thanh thuần túy hay ngôn từ
thuần túy - ngôn từ không gì khác là âm: sự hòa điệu của những đơn vị, tổ chức âm
thanh đối lập tạo nên thi - nhạc.
Trang 30Từ một điểm xuất phát, âm nhạc và thơ ca chia làm hai lối rẽ với hai khuynh
hướng cấu trúc đặc thù nhưng lại không ngừng tương tác và vay mượn nhau Nói
theo hình thái học của M Cagan, thơ và nhạc với tư cách là những thể loại trữ tình;
đối với thơ là hình thức ngôn ngữ được âm nhạc hóa; trong khi âm nhạc là hình thức âm thanh được ngôn ngữ hóa “Chúng cần phải “hòa hợp” với nhau: chẳng hạn
trong hát, nghệ thuật ngôn ngữ gặp âm nhạc làm thành một kiến trúc thơ, có tiết tấu,
và âm nhạc đón gặp văn học tạo nên những quan hệ có âm hưởng cao về mặt giai
đã là một hình thức – cái biểu đạt của kí hiệu ngôn ngữ, một đơn vị âm thanh không
thuần chất mà tự bản thân nó vừa có cấu trúc với tổ chức nội tại bên trong (phụ âm,
nguyên âm, thanh điệu) lẫn quan hệ bên ngoài (ngữ đoạn, cú pháp) Chính các chất liệu âm vị học đã tạo nên âm hưởng phức tạp chống lại sự đơn điệu của các hình thức thi ca Quan trọng hơn, một đơn vị âm thanh trong âm nhạc không có nghĩa,
trong khi một đơn vị âm thanh của thơ ca đã là một kí hiệu mang nghĩa Hegel chỉdẫn: “Nếu như chúng ta xét sự khác nhau giữa các âm thanh được sử dụng ở trong
âm nhạc và các âm thanh được sử dụng trong thơ tóm lại là ở chỗ âm nhạc không sửdụng âm thanh để làm thành từ mà lấy âm thanh làm thành tố của mình, thành ra âmthanh với tính cách âm thanh làm thành một mục đích tự thân” [67, tr.385] CònLévi-Strauss nhận xét: “Ngôn ngữ có ba giai đoạn: âm kết hợp thành từ, từ kết hợpthành câu Ở âm nhạc, âm phát triển thành câu, không qua từ, không có từ vựng Ởhuyền thoại, không có âm, chỉ có từ phát triển thành câu So với ngôn ngữ thì âmnhạc là huyền thoại thiếu một khâu” [175, tr.233]
Có nghĩa là, mĩ học âm nhạc dựa vào các nguyên lý âm luật học, còn mĩ họcthi ca kết hợp các nguyên lý ngôn ngữ học lẫn âm luật học
Trang 31Đi vào chiều sâu bên trong, thơ ca và âm nhạc lại quy chiếu vào nhau trên một
hệ hình thẩm mĩ Giải thích điều này không thể dùng ngôn ngữ học hay lí thuyết âmnhạc thuần tuý mà phải viện dẫn đến một thứ ngôn ngữ - âm nhạc học Thử hình
dung, ta đang nghe thơ – trạng thái tiếp nhận nguyên thủy – rõ ràng là ta đang tiếp
nhận trực tiếp dòng chảy âm thanh, một sự hòa điệu bên trong giữa trái tim ta và
giai điệu, tiết tấu của chính bài thơ Ngay cả khi chính ta đọc thơ – kể cả đọc thầm
-âm vang của cuộc hòa điệu ấy vẫn hiển hiện trong t-âm tưởng Đó là một cấu trúc
âm thanh tiềm tại, ẩn náu bên trong lớp vỏ ngôn từ Độ vang của âm thanh điều chỉnh, hòa hợp với độ vang của ý nghĩa tạo nên giá trị thơ ca đích thực Trong điều
kiện đó, nhạc điệu thơ là một dạng siêu cấu trúc Ju.M Lotman gọi đó là “cấu trúc
bề sâu”, cấu trúc đích thực của văn bản thơ [91]
Như vậy, nhạc điệu thơ sẽ được xem xét trên cả hai chiều: nhạc điệu của ngôn ngữ và ngôn ngữ của nhạc điệu, tức là ít nhất phức hợp hai tầng nghĩa, nghĩa của
ngôn ngữ và nghĩa của cấu trúc thanh nhạc Tất nhiên, nghệ thuật âm thanh của thi
ca hoàn toàn không giống như âm nhạc, nó không phải là cái biểu đạt được hiển thịmột cách rõ ràng để đo chính xác bằng những cung bậc, thang âm cụ thể mà chỉ cóthể hình dung qua âm luật thơ và bằng tưởng tượng, bằng nội cảm hình dung chấtnhạc bên trong lớp vỏ cấu trúc ngôn từ
Chúng ta đồng tình với Hegel khi phân biệt âm nhạc và thơ: Âm nhạc phát huy
thế mạnh ở âm thanh thuần túy, trong suốt, mọi cái khách quan bên ngoài đều đượcthanh lọc bởi cảm quan bên trong; trong khi thi ca phát huy thế mạnh ở ngôn từ,mọi cảm quan bên trong bị chi phối bởi thế giới khách quan bên ngoài qua các kíhiệu, biểu tượng Nhưng không phải vì thế mà Hegel cho rằng “trong những sự kếthợp giữa nhạc và thơ, ưu thế của một trong hai nghệ thuật này đối với nghệ thuậtkia là có hại cho cả hai” [67, tr.387] Trên thực tế, thơ ca và âm nhạc đã lợi dụng ưuthế của nhau, nhất là thơ lợi dụng thế mạnh của âm nhạc để biến tiếng nói thông
thường “tiếng nói phi thường”, nói theo cách của P Valéry [83].
Có thể hình dung từ đầu, nghệ thuật âm thanh tự nó đã nhắm tới sự phân đôi
và phối hợp về mặt loại hình trên nền những nhân tố và thuộc tính căn bản sau:
Trang 32NGHỆ THUẬT ÂM THANH
giai điệu – tiết tấu
ÂM NHẠC THƠ CA
Tiếng động đơn vị Âm tiết
nguyên chất chất liệu các nhân tố âm vị
thuộc tính âm thanh
cao độ, trường độ cường độ, âm sắc
Sơ đồ 1.1 1.1.2.2 Nhạc tính và nhạc điệu thơ
Nhạc điệu thơ được định nghĩa như là “cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật
hình thành bởi vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc của văn học như mộtnghệ thuật thời gian Yếu tố hình thái vật chất tạo nên nhạc điệu là điệp âm, điệpvận với các hình thức đa dạng của chúng: bằng, trắc, nhịp điệu, niêm, đối, vần, yếu
tố tượng thanh, ngữ điệu Cái làm nên hồn của nhạc điệu là sự liên tưởng của tổchức âm thanh với cảm giác âm nhạc (nhạc cảm) trong lòng người Sự liên tưởngnày không phải bao giờ cũng cụ thể trực tiếp, nhưng bao giờ cũng có một mối liên
hệ giữa âm hưởng, nhịp điệu với điệu tâm hồn Và chỉ khi nào nhận ra mối liên hệ
ấy mới cảm thấy được nhạc điệu” [59, tr.192]
Nhạc điệu, trong nghĩa ấy, được xét cả hai mặt: hình thức (cấu tạo ngữ âm) và
nội dung (nhạc cảm) Trong nghĩa chúng tôi đang sử dụng, mượn từ thuật ngữ của
R Scruton [181], nhạc điệu (Musical Tune) bao hàm cả nhạc tính (Musical) và điệu tính (Tonality) tức là ngoài những nguyên tắc tổ chức có tính hình thức và phổ quát của cấu trúc thi ca để cho ngôn ngữ thơ mang tính nhạc, thơ ca còn mang điệu tính gắn liền với điệu hồn nhất định Điệu, trong nghĩa rộng là dáng vẻ, kiểu cách được
biểu diễn với phong cách riêng Âm thanh có điệu của nó: sự kết hợp các âm có thểbiểu diễn bằng đường nét nào đó gọi là điệu: âm điệu của ngôn ngữ, điệu thức, nhịp
điệu của âm nhạc… Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ điệu tính Bản thân một âm tiết đã
mang điệu tính với đường nét bằng phẳng hay trắc trở nhờ yếu tố thanh điệu Rộnghơn, mọi phương thức phối hợp bằng - trắc, cao - thấp, dài – ngắn, trong – đục, tắc
– vang khác nhau để biểu lộ các trạng thái cảm xúc khác nhau đều tạo điệu trong
nghĩa rộng nhất của từ
Trang 33“Điệu tính đóng vai trò dẫn dắt trong việc tạo nên không gian âm nhạc” – Sự
xác định này của R Scruton trong chương quan trọng nhất của cuốn Mĩ học âm nhạc xóa bỏ thói quen tri giác âm nhạc trên nền cấu trúc hình thức thuần túy để đi vào chiều sâu Âm nhạc là sự sắp xếp tâm hồn [181] Điệu, vì thế, không còn là các
phương tiện kĩ thuật của nghệ thuật âm thanh mà phản ánh một trạng thái cảm xúc
hay một điệu hồn nhất định Chùm các nét khu biệt về phong cách của nhạc tính thi
ca tạo nên nhạc điệu riêng trong sáng tạo của cá nhân, thời đại và dân tộc.
Trong nghĩa ấy, nhạc điệu không còn phụ thuộc các khuôn khổ thi luật mang
tính hình thức như sự tổ chức thanh, vần, nhịp, niêm, đối mà là cấu trúc mở gắn
liền với các sáng tạo mang giá trị về mặt phong cách Hiển nhiên, ở cấp độ chất liệu
tự nhiên, nhạc điệu có quan hệ với giọng điệu (Voice) “giọng nói, lối nói biểu thị
một thái độ nhất định” [160, tr.424], ở cấp độ nghệ thuật lại là “sự tổ hợp các giọng
điệu”, theo Arnaudov [5, tr.528], để trở thành sản phẩm văn hoá thẩm mĩ Trong đó,
ngữ điệu (Intonation) cũng tham dự vào tổ chức nhạc điệu: “Những biến đổi về độ
cao của giọng khi nói, khi đọc, có liên quan đến cả một ngữ đoạn và có thể dùng đểbiểu thị một số ý nghĩa bổ sung” [167, tr.722] Với tư cách là một thành phần âmthanh của phát ngôn, ngữ điệu, theo các nhà hình thức Nga, là nhân tố ngôn ngữ cóthể tham dự vào cấu trúc nhạc điệu thơ tương đương như các nhân tố vần điệu.Chẳng hạn như thơ ca lãng mạn với nhu cầu phong cách hoá âm luật, nó sử dụng
ngữ điệu tác động lên vần điệu, hoặc có thể làm chủ âm thay thế cho vần điệu để tạo
nên âm hưởng khác với thi ca cổ điển [114, tr.198]
Trong âm nhạc, khái niệm giọng điệu gồm có giọng (Tone) và điệu thức
(Mode) với chức năng kĩ thuật: xác định thang độ âm thanh, định hướng cách kếthợp các âm khác nhau theo đường nét nhất định chống sự lạc giọng, lạc điệu, và
quan trọng hơn, chính điệu thức (trưởng hoặc thứ, Nam hoặc Bắc) thể hiện các
chiều hướng cảm xúc: trong trẻo hay u ám, hào hùng hay bi thương Ở cấp độ này,khái niệm giọng điệu thuộc về nhạc lí căn bản khác với giọng điệu tự nhiên, kể cảgiọng điệu được tổ chức với tư cách là nghệ thuật ngôn từ nói chung
Thi pháp học hiện đại quan tâm đến giọng điệu như một đối tượng của ngôn
ngữ và phong cách thể loại, nhưng chỉ xem xét giọng điệu ở quan điểm, thái độ của
Trang 34chủ thể: đồng tình hay phê phán, trang nghiêm hay giễu nhại trên mọi hình tháingôn ngữ đơn thanh hay đa thanh, thơ hay tiểu thuyết Trong khi nhạc điệu với tưcách là sản phẩm đặc thù của thi ca cần được xem xét trên mối quan hệ điều chỉnhtính tự nhiên của các giọng điệu, ngữ điệu bằng chính cơ chế tổ chức của âm luật
học Âm nhạc là sự sắp xếp của tâm hồn – mệnh đề này được nhấn mạnh như một
nguyên tắc của các nghiên cứu về cấu trúc của sự hòa điệu, trong đó có thi ca
Nói đến nhạc điệu không thể không nói đến chủ âm (Tonic) như một phạm trù
quan trọng của sự hòa điệu Các nhà hình thức Nga mượn khái niệm này của âmnhạc học như một hệ quả của quá trình từ nghiên cứu các thủ pháp nghệ thuật đến tổ
chức thống nhất các thủ pháp: sự nhất thể hóa âm và nghĩa thành một toàn thể
không thể phân chia “Chủ âm có thể được xác định như một yếu tố tiêu điểm củamột tác phẩm nghệ thuật: nó thống trị, quy định và cải biến những yếu tố khác
Chính nó đảm bảo sự mạch lạc nội tại của cấu trúc” [114, tr.196] R Jakobson phát
triển khái niệm chủ âm ra ngoài biên giới kĩ thuật âm nhạc học để nhìn nhận trên diện rộng hay hệ thống lớn của nghệ thuật: Lịch sử nghệ thuật là lịch sử vận động
và thay thế các chủ âm Riêng đối với thi ca, trong phạm vi của nó, “cái sơ đồ âm vận học của nó, là hình thức của câu thơ (tiếng Pháp: Vers có hai nghĩa 1) câu thơ
và 2) sự trở về) Điều này có thể xuất hiện một trùng ngôn: câu thơ là sự trở về (le
“vers” est “vers”) Tuy nhiên, chúng ta phải luôn luôn có trong đầu sự thật này:
một yếu tố ngôn ngữ đặc thù thống trị tác phẩm trong tính tổng thể của nó; nó hoạt
động một cách quyền uy, bất khả kháng, khi thực thi trực tiếp ảnh hưởng của nó đến
các yếu tố khác” [114, tr.196-197] Theo Jakobson, yếu tố quyền uy thống trị ấy,
tùy theo sự lựa chọn có tính lịch sử mà tạo nên các hình thái chủ âm ở vần, sơ đồ
âm tiết, sự thống nhất ngữ điệu Chúng nằm trong nghệ thuật sắp xếp thành các
thang bậc giá trị và thực hiện thế ưu trội tùy theo loại thơ: cách luật, phá luật hay
thơ tự do Đối với thơ Việt, lịch sử nhạc điệu là lịch sử vận động các chủ âm, điều chỉnh và xác lập các hình thái nhạc điệu khác nhau phù hợp với điệu hồn dân tộc Như vậy ở nghĩa rộng, chủ âm không chỉ là âm ổn định, âm tựa trong sự tổ
chức giai điệu âm nhạc, mà là toàn bộ sự lựa chọn có tính quyết định điều hành, chi phối cả một hệ thống Có thể là vần, nhịp, các phương thức phối âm bằng trắc hay
cao thấp trong việc duy trì tiết tấu và tạo hình giai điệu làm chỗ dựa cho các biến
Trang 35tấu của thi ca, mà sự lựa chọn một hình thái cấu trúc nào đó đóng vai trò thống trị
đối với một chuỗi âm thanh trong một văn bản, kể cả đối với một dàn hợp xướng
như Thơ Mới, hay cả một nền thơ của dân tộc trong thế liên văn bản Nói chung,
các nhân tố có tính ổn định, bền vững chi phối mọi sự biến đổi trong sáng tạo đều
có thể xem là những chủ âm để chống sự lạc giọng, lạc điệu và định hình nên giá trị
về mặt phong cách
Tập hợp các thể thơ sử dụng cùng một hình thái chủ âm để duy trì điệu thơ
giống nhau để có thể hòa hợp nhau (như liên khúc âm nhạc) tạm gọi là thể điệu,
khái niệm chúng tôi sẽ sử dụng để phân loại về mặt hình thái học nhạc điệu thi ca
1.2 Tiền đề ngôn ngữ học
1.2.1 Các chất liệu ngữ âm – âm vị học
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, điệu tính khác với ngôn ngữ đa
âm tiết, trọng âm Sự khu biệt này xác lập hai đặc điểm quan trọng của ngữ âm tiếngViệt Một, âm tiết tiếng Việt là một đơn vị âm thanh độc lập tương ứng với mộthình vị hay một tiếng, trong hệ quy chiếu với âm nhạc tương đương như một tiếng
động vật lí Hai, bản thân một âm tiết tiếng Việt mang sắc điệu có thể hình dung
bằng đường nét sóng âm bằng phẳng (bình) hay uốn khúc (trắc), và chính đặc điểmnày làm cho hệ thống âm tiết tiếng Việt có cả hai mặt đối lập Âm - Dương: tĩnh và
động – một tiềm năng phong phú về sự hòa điệu trong tổ chức lời nói và thi ca Việt
Âm tiết được xác định như là chất liệu nhỏ nhất cấu thành nên nhạc điệu thi caViệt mà các phần tử vi mô của nó là các nhân tố âm vị học mang chức năng cấu trúcbên trong
Các nhà ngữ âm – âm vị học tiếng Việt phân xuất các chất liệu âm thanh tiếngViệt trên tinh thần chiết đoạn luận như sau: 1) Thanh điệu, 2) Phụ âm đầu; 3) Âm
chính, 4) Âm đệm, 5) Âm cuối; trong đó, mỗi thành phần có các hệ đối lập ngữ âm– âm vị học của chúng Các tri thức phổ thông về chức năng của các thành phần này
có thể dễ dàng tham khảo qua các giáo trình cơ bản về ngữ âm học tiếng Việt(1) Ở
đây, chúng tôi chỉ đi vào các khía cạnh của nhân tố điệu tính, chất liệu trực tiếp làm
nên giá trị nhạc điệu thơ Việt
(1)
Do giới hạn của luận án, những đặc điểm về ngữ âm xin tham khảo các công trình ở thư mục [76], [145].
Trang 36Nếu hiểu điệu tính trong nghĩa rộng là sóng âm có thể biểu thị bằng đường nét
cụ thể, thì sự phối hợp các nhân tố bên trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt đã là một
hình thức có điệu tính Các phụ âm đầu định vị phương thức âm thanh với những
đối lập; về cường độ: mạnh và nhẹ; về âm sắc: trong và đục, xát và rung… có thể
tạo nên giọng điệu nào đó cho một dòng ngữ lưu Phần vần với các loại âm chính,
âm đệm, âm cuối với các đối lập: dài và ngắn, trầm và bổng, tắc và vang… có khảnăng tạo nên âm điệu, kể cả nhịp điệu trong những kết hợp có tính hòa âm
Việc phát huy tiềm năng giá trị âm vị học trong sự phối hợp âm thanh thườngtạo nên sự hài hòa các đối lập tương phản hoặc tạo nên sự cộng hưởng trong bảnhòa âm tiếng Việt Nhà ngữ vị học L Hjelmslev phủ nhận vai trò của chất liệu âm
vị trong hình thức cấu trúc âm thanh [19, tr.187], nhưng thực chất, giữa chất liệu vàhình thức là một tương quan biện chứng: chất liệu tạo hình thức và hình thức điềuchỉnh, sắp xếp chất liệu Do thơ cổ điển phương Đông chỉ chú trọng âm luật họchình thức qua nguyên lí hòa điệu trên cấp độ âm tiết trở lên (bằng trắc, niêm, đối,vần), cho nên vai trò chất liệu âm vị học bị mờ nhạt Thi thoảng, hiện tượng pháthuy chất liệu âm vị học có nổi lên nhưng chỉ là những sáng tác đơn lẻ Trường hợp
Nguyễn Du: Lơ thơ tơ liễu buông mành… Hồ Xuân Hương: Một đèo, một đèo, lại một đèo…, Nguyễn Khuyến: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo… chưa phải là phổ
quát Nhưng đến Thơ Mới, nền thơ giàu nhạc tính nhờ sự cộng hưởng âm thanh, các
chất liệu âm vị tiếng Việt phát huy khá cao bởi sự phục sinh có ý thức sự giàu có về
mặt chất liệu của âm thanh tiếng nói dân tộc: Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu/ lả
lả cành hoang nắng trở chiều (Xuân Diệu), Rơi rơi… dìu dịu rơi rơi…/ Trăm muôn giợt nhẹ nối lời vu vơ (Huy Cận), Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Hàn Mặc Tử), Buồn hưởng vườn người vai suối tươi/ Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời (Nguyễn Xuân Sanh)…
Bên trong mỗi âm tiết tiếng Việt đã luôn chứa đựng một sự điều hòa cộng
hưởng nhờ cấu trúc đặc biệt của nó Theo Đoàn Thiện Thuật, “các yếu tố cấu thành
âm tiết tiếng Việt không như các âm vị trong các ngôn ngữ Ấn Âu, độc lập ngangnhau, bình đẳng với nhau về khả năng kết hợp: chúng được tổ chức theo một tôn ti
riêng” [145, tr.90] Tính tôn ti (quan hệ chính phụ) này phản ánh sự chặt chẽ về mặt
Trang 37cấu trúc của âm tiết tiếng Việt Gordina, khi nghiên cứu ngữ âm học tiếng Việt bằngnhững phân tích thực nghiệm, đã chứng minh cái kết cấu chặt chẽ có tôn ti ấy, và
hơn thế, nhân tố làm nên tính nhạc trong chính bản thân âm tiết: “Trong âm tiết
tiếng Việt, bao giờ sau một nguyên âm dài cũng có một phụ âm ngắn, và saunguyên âm ngắn bao giờ cũng có một phụ âm dài”, “âm tiết tiếng Việt là một cấutrúc có hai bậc: bậc thứ nhất là phụ âm đầu và phần vần, bậc thứ hai là những thành
tố của vần” Hệ quả, độ dài – ngắn của các âm vị trong một âm tiết bị điều chỉnh bởitính toàn vẹn của hình thức âm tiết và tất yếu dẫn đến “tính cố định của trường độ
âm tiết”(1) [145, tr.90-91] Đây chính là cơ sở để Cao Xuân Hạo đi đến lý thuyết
“trường âm vị”: “âm tiết mới là một âm đoạn, và là âm đoạn nhỏ nhất” dành cho
tiếng Việt [64, tr.333]
Hiển nhiên, điệu tính của âm thanh tiếng Việt trước tiên và quyết định phải là
thanh điệu Thứ nhất, thanh điệu được xác định là loại âm vị siêu đoạn tính trải dài
trên toàn bộ âm tiết tiếng Việt; thứ hai, chính thanh điệu làm cho âm tiết trở thànhmột cấu trúc bền vững, ổn định; và thứ ba, đường nét của âm thanh tiếng Việt thểhiện sinh động và rõ nhất bằng chính thanh điệu
Thanh điệu tiếng Việt có sáu thanh chính: ngang, huyền, sắc, ngã, hỏi, nặng.
Từ chương học cổ điển phân loại thanh điệu dựa vào hai hệ đối lập Đối lập về âmvực có phù (ngang, ngã, sắc) – trầm (huyền, hỏi, nặng); đối lập về âm điệu có bình(ngang, huyền) – trắc (sắc, ngã, hỏi, nặng) Riêng các âm trắc, cao độ rất tương đối
bởi độ gãy của sóng âm, chúng dao động như một nốt nhún của nhạc cụ phương
Đông Theo nhà ngữ Việt học Nguyễn Tài Cẩn, thực chất tiếng Việt có đến tám
thanh với một so sánh thú vị về tương quan biến đổi từ tứ thanh âm Hán trung cổ
đến tám thanh âm Hán – Việt [16, tr.305–307]:
Bình Ngang Ngang Huyền Ngang
Thượng Hỏi Hỏi Nặng//Ngã Ngã
Trang 38Theo ông, đó là sự nhân đôi âm điệu dựa trên biến đổi về âm vực:
Ngang Hỏi Sắc khứ sắc nhập (Cao)
Bình
Huyền Thượng Ngã Khứ Nặng khứ Nhập nặng nhập (Thấp)Thực ra đó là sự biến điệu trong khả năng sinh sôi của ngữ âm Việt Điều nàymuốn nói lên rằng, giữa Hán và Việt không dễ bị đồng hóa, mà trong quá trình giao
thoa, tương tác đã có sự biến hóa theo nguyên tắc lưỡng phân của Dịch học phươngĐông, nhưng quan trọng hơn, động lực nội sinh của ngôn ngữ bản địa đã thúc đẩy
quá trình biến hóa ấy
Hệ quả thứ nhất, sự phối hợp âm thanh của tiếng Việt và thi ca Việt sẽ diễn rakhông chỉ trên nền đối lập bình – trắc mà còn mang tiềm năng đa dạng của nhiều
phương thức phối hợp khác nhau cho bản hòa âm của một chuỗi ngữ lưu Về
nguyên tắc vật lí, mọi tương tác từ các đối lập đều có thể tạo ra động lực để sinh ra
sóng âm Điều này sẽ được giải thích rõ hơn trên mặt hình thái học cấu trúc nhạcđiệu thơ Việt
Hệ quả thứ hai, theo mĩ học phương Đông, các âm tiết mang thanh điệu trắcthuộc Dương – động, trong khi các âm tiết mang thanh bình thuộc Âm – tĩnh, hệ đối
lập này trở thành một lập trình mang tính tự động của sự hòa điệu Âm Dương phổ
quát Tuy nhiên, ở chiều sâu của nguyên lí biến dịch Âm Dương, động mà tĩnh, tĩnh
mà động, các âm trắc mang động lực sóng âm mạnh nhưng mất độ vang, trong khi
các âm bằng mang động lực sóng âm yếu nhưng độ vang xa Điều thú vị là, theo cáinhìn của âm nhạc học, so với ngôn ngữ trọng âm, tiếng Việt đã mang trong mình nómột thứ nhạc điệu tự nhiên, bởi vì hệ thống thang bậc các thanh điệu đã tồn tại đủ
tiềm năng của chủ âm, át âm, trung âm, âm chuyển tiếp như cấu trúc âm nhạc Âm
trắc tiếng Việt đa dạng về sắc thái, chúng đóng vai trò như những âm át, âm trunghoặc âm chuyển tiếp để gây động lực cho cả chuỗi ngữ lưu, trong khi âm bằng chỉ
có thanh ngang và huyền nhưng thường đóng vai trò chủ âm của chuỗi ngữ lưu.Bằng chứng là người Việt thích dùng âm bình ở cuối câu hơn âm trắc; vần – chủ âmcủa thi ca Việt phổ biến là âm mang thanh điệu bình để điều chế sự dao động củacác âm trắc Nguyên lí điều hòa Âm Dương, lấy tĩnh chế động không chỉ tồn tạitrong tổ chức cộng đồng Việt như các nhà văn hóa học đã chỉ ra [144] mà tồn tạingay trong cấu trúc âm thanh Việt để trở thành một phong cách Việt
Trang 39Một hệ quả thú vị khác, các nhà ngữ âm – âm vị học tiếng Việt cho thấy, âmtiết tiếng Việt dù đơn lập, nhưng sự cộng hưởng từ bên trong, dẫn đến cộng hưởng
ra bên ngoài âm tiết diễn ra khá sinh động, uyển chuyển Cao Xuân Hạo chỉ ra sựcộng minh giữa các nhân tố âm vị làm cho âm tiết là một cấu trúc vừa chặt chẽ bêntrong vừa dao động sang các âm tiết bên ngoài [64], còn Đoàn Thiện Thuật pháthiện bên trong âm tiết tiếng Việt là một cấu trúc tĩnh mà động bởi đường nét thanh
điệu phức tạp: trừ các âm tiết mang thanh điệu bình, các âm tiết mang thanh điệu
trắc dù là một đơn vị âm thanh, nhưng nếu kí âm theo cách của phương Tây phải
dùng đến một chùm hai nốt nhạc thuộc hai bậc khác nhau [145, tr.111] Nói cách
khác, âm tiết tiếng Việt luôn chứa đựng một năng lượng tiềm tàng phát sinh ra độnglực của sự nối kết và vận động: dù chất lượng của âm tiết ổn định trên tinh thầnchiết đoạn luận, nhưng có thể co giãn bởi sự phối hợp tương tác qua lại trên dòngngữ lưu Rõ nhất là sự phối hòa âm thanh trong sự dao động và tự điều chỉnh củasóng âm Các từ láy đôi, láy ba có thể kết dồn lại thành từng chùm các nốt liên hai,
ba (n §): nhỏ nhỏ, xiêu xiêu, hõm hòm hom,… hoặc các điệp âm với phương thức cộng hưởng có thể giãn ra thành những âm rải (w w…): sương nương theo trăng ngừng lưng trời (Xuân Diệu)… Độ vang của âm tiết không phải bất định mà có thể
dứt khoát hoặc ngân nga kéo dài bởi sự ngắt dòng đột biến hoặc nối kết liên tục:
Lửng lơ cao đưa tận lưng trời xanh ngắt, Mây bay… gió cuốn… mây bay… (Thế Lữ), Chết rồi! Xiêm áo trắng như tinh… (Hàn Mặc Tử) Cao độ cũng có thể biến
đổi, ngay trong các từ cùng thanh, đường nét của thanh điệu thăng giáng bất định
bởi sự tác động của các âm phụ cận, giống như những nốt láy nhún, láy rảy hoặc luyến trong âm nhạc: Sông Mã xaUrồi TâyUTiếnUơi/ Nhớ về rừngUnúi nhớUchơiUvơi… Đó là chưa kể đến sự tác động của ngữ điệu, nhân tố quan trọng
của hiện thực lời nói làm cho âm tiết biến chất một cách rõ nét: dài hơn hoặc ngắn
hơn, cao hơn hoặc thấp hơn Phải chăng, chính đặc điểm này đã tạo nên một thứ
nhạc truyền thống du dương không thể đặt vừa trong khuôn khổ bình quân luật của
phương Tây, mà theo các nhà âm nhạc học dân tộc, là thứ nhạc luyến láy, nhấn nhá, nhạc mềm uyển chuyển có tính đặc thù của âm nhạc Việt [113], [124].
Trang 40Âm tiết tiếng Việt là đơn vị âm thanh mang cả hai đặc tính: vừa là chất liệu
(tương ứng với một tiếng động vật lí) vừa là một hình thức (tồn tại như một hình vị
có cấu trúc từ các chất liệu âm vị và đã là một kí hiệu mang nghĩa) Sự phức hợpbên trong cấu trúc âm tiết và sự đa dạng về sắc thái trong hệ thống ngữ âm tiếngViệt đã làm cho tiếng Việt mang tiềm năng nhạc tính và điệu tính ngay từ bản thânchất liệu Tất nhiên, mọi tiềm năng ấy chỉ có giá trị thật sự khi được hình thức hóathành tổ chức nhạc điệu thi ca trong lịch sử sáng tạo của người Việt Hình thức điềuchỉnh, sắp xếp chất liệu và chất liệu phát huy tiềm năng trong cấu trúc hình thức
1.2.2 Hình thức cấu trúc nhạc điệu thơ Việt
Hòa thanh là khái niệm chỉ hình thức tổ chức thẩm mĩ của thi ca lẫn âm nhạc:
sự hài hòa trong cấu trúc âm thanh của một chỉnh thể tạo nên vẻ đẹp của dòng chảy
âm thanh đối lập với tiếng ồn Về mặt kĩ thuật âm nhạc học, “hòa thanh là sự hài
hòa âm thanh, hài hòa giữa các âm theo chiều ngang (là giai điệu), và theo chiềudọc (là các hợp âm), hài hòa giữa các kết cấu âm nhạc (giữa các tiết nhạc, câu nhạc,
đoạn nhạc… với nhau) và hài hòa trong toàn bộ tác phẩm” [34, tr.35] Về mặt thi
học, hòa thanh thể hiện ở tính nhịp nhàng hòa hợp của sóng âm, cụ thể là sự điềuhòa có chu kì bằng trắc, cao thấp, dài ngắn trên dòng thơ và giữa các dòng thơ,
trong đó luật thơ thể hiện ở các thể thơ cách luật là sản phẩm của sự chuẩn hóa
thành nguyên tắc lý tính của sự hòa điệu
Âm luật thơ không đồng nhất với âm luật của âm nhạc, nhưng tất yếu nằmtrong hệ quy chiếu với nguyên lí âm nhạc học cơ bản Bởi vì, âm luật thơ thực chất
là sự vận dụng luật hòa thanh của âm nhạc học trên bình diện thi học, trong đó hòathanh ở nghĩa rộng không chỉ là sự luân phiên bằng trắc mà là tổng hòa của các hiện
tượng cấu âm, có thể chứa các âm điệu khác nhau: thuận tai (Consonace), hoặc nghịch tai (Dissonance), thậm chí chối tai (Cacophony) do nhiều cách phối hợp
khác nhau dựa trên những chủ âm nhất định
Có thể hình dung âm thanh mang tính nhạc cấu trúc theo luật hòa thanh được
thực hiện trên hai trục: trục ngang - ngữ đoạn với đường nét tuyến tính của giai điệu
và trục dọc – hệ hình với sự song song của hình giai điệu – sự thống nhất có tính