Tình hình nghiên cứu đề tài Nội dung vi phạm hành chính là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm;nhưng do nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn củavấn đề
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG QUỲNH LƯU
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG QUỲNH LƯU
VI PHẠM HÀNH CHÍNH LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số : 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trương Hồ Hải
HÀ NỘI - 2021
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích và số lượng; cốđịnh về vị trí địa lý và không thể di dời được; đây chính là nguyên nhân chủ yếutạo ra sự khác biệt về giá trị giữa các diện tích đất có vị trí địa lý khác nhau với cáctài sản khác Dưới góc độ chính trị pháp lý, đất đai là yếu tố cơ bản nhất của chủquyền lãnh thổ quốc gia
Chính sách đất đai luôn được coi là một trong những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước Hiến pháp đã xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Chế độ nàyđược xác lập, duy trì, củng cố hoàn thiện qua các Luật Đất đai (LĐĐ) năm 1987,LĐĐ năm 1993 và LĐĐ năm 2003 Đồng thời, Nhà nước ban hành hàng loạt cácvăn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ pháp luật đất đai nhằm quản lýchặt chẽ, khai thác tiềm năng của đất đai một cách hợp lý và sử dụng có hiệu quả,triệt để tiết kiệm đất, ngăn ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai
Tuy nhiên, trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù Nhànước có nhiều văn bản quản lý và xử lý vi phạm về đất đai, nhưng do đất đai trởthành hàng hoá mà giá trị của nó ngày càng tăng vơí tốc độ rất cao, lợi nhuận thuđược từ việc chuyển nhượng đất đai không có mặt hàng và nghề kinh doanh nàosánh nổi Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai diễn ra ở khắp mọi nơi, hàngngày, và nó gây khó khăn cho quản lý nhà nước về đất đai, nó cò là nguyên nhâncủa những tranh chấp, mâu thuẫn gay gắt trong nhân dân và xã hội Về mặt thựctiễn, do chủ quan, coi thường những vi phạm nhỏ nên xử lý không kiên quyết,thiếu nghiêm minh dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật, vi phạm ngày càngtràn lan, khó kiểm soát
Thực tế nhiều năm qua cho thấy tình trạng vi phạm trong quản lý và SDĐ đaicủa các đối tượng xảy ra nhiều và phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành; điều này thểhiện số lượng đơn khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hàng năm chiếm tỷ lệ cao(trên 80% tổng lượng đơn thư hàng năm của huyện Nhà Bè Xảy ra thực trạng trên
có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản
1
Trang 4là: các VPHC chưa được phát hiện kịp thời, đầy đủ và việc xử lý chưa nghiêmminh; việc chấp hành và thực thi các quyết định xử phạt VPHC chưa kiên quyết,triệt để; quy định của pháp luật đất đai về xử phạt VPHC còn có nhiều vướng mắc,bất cập, có quy định chưa có tính khả thi.
Nhà Bè là một huyện đang phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn phát triển về
cơ sở hạ tầng, công tác quản lý về đất đai gặp nhiều khó khăn Nhiều hành viVPHC về đất đai vẫn xảy ra, đòi hỏi cần phải có nghiên cứu tổng thể hệ thốngpháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai nóichung và về việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói riêng
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết và cấp
bách nhằm góp phần hoàn thiện về công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyệnNhà Bè nói riêng và các quy định về VPHC trong lĩnh vực đất đai nói chung
Chính vì những lý do cấp thiết trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung vi phạm hành chính là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm;nhưng do nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn củavấn đề này, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhaunhư:
Luận văn nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá và phân tích những quyđịnh pháp luật của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 1995 để làm rõ các dấuhiệu, tính chất, đặc điểm của các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàntỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra các giải pháp nhăm góp phần tăng cường hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ở Thái Bình trong thời gian tới Như vậy,luận văn của tác giả Đỗ Thị Phương một mặt không đi sâu nghiên
Trang 5cứu về việc xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai hay trong sử đụng đấtđai.
Nguyễn Thùy Chi (2012), “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nângcao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính về đất đai ở quận Tây Hồ, thành phố HàNội”, Luận văn thạc sỹ ngành Địa chính, trường Đại học Khoa học tự nhiên Việcnghiên cứu của tác giả đánh giá của tác giảcũng chủ yếu dựa trên Pháp lệnh năm
1995, đi sâu nghiên cứu thực trạng xử lý VPHC về đất đai ở một địa bàn cụ thể làquận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội
Nguyễn Kong Trình (2014) “Đánh giá thực trạng và nghiên cứu đề xuất một
số giải pháp về VPHC trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Vĩnh Phúc”, Luận văn Thạc
sỹ chuyên ngành Quản lý đất đai, Trường Đại học Nông Lâm năm 2014- Đại họcThái Nguyên
Đặng Thị Minh Hằng (2015), “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháptrong xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai,thành phố Hà Nội”
Phạm Thị Dương (2018) “Pháp luật về VPHC trong lĩnh vực đất đai từ thựctiến thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học, khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến vi
phạm pháp luật nói chung, hoặc vi phạm pháp luật hành chính ở lĩnh vực cụ thể làđất đai mà chưa đề cập đến vi phạm hành chính về đất đai, đặc biệt cụ thể là ởhuyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận về vi phạm hành chính trong lĩnh vựcđất đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá tổng quan vềthực tiễn vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè,thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn ngừa viphạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố HồChí Minh trong tương lai
3
Trang 63.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn phân tích cơ sở lý luận về vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh
- Từ thực trạng tại huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, luận văn phântích, đánh giá thực trạng về tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấtđai và mặt còn tồn tại, hạn chế đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
từ thực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua, rút ranhững nguyên nhân của hạn chế
- Cuối cùng, Luận văn đưa ra các quan điểm, giải pháp, phương hướng kiếnnghị thiết thực để ngăn ngừa vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từthực tiễn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai
- Thực trạng tình hình vi phạm hành chính lĩnh vực đất đại huyện Nhà Bè
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối
quan hệ tổng quan, được tiếp cận từ nhiều phía; cụ thể là tiếp cận từ tổng thểtới chi tiết; từ lý luận, phương pháp luận tới thực tiễn; từ chính sách, pháp luật tới
Trang 74
Trang 8- Phương pháp đối chiếu, so sánh, đánh giá, diễn giải
Từ các số liệu thu thập được ta tiến hành đối chiếu, so sánh mức độ, tính chất
vi phạm giữa các vùng trong phạm vi nghiên cứu Từ đó đánh giá, diễn giải cácnguyên nhân, lý do dẫn đến các vi phạm trong lính vực đất đai
- Phương pháp tham khảo và sử dụng các tài liệu liên quan đến đề tài
Sử dụng các tài liệu nghiên cứu các đề tài có nội dung liên quan làm cơ sởtham khảo, kế thừa và phát huy những điểm nổi bật có liên quan trong nội dungnghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp
Phương pháp này được sử dụng để tìm ra nguyên nhân, lý do dẫn đến các ciphạm từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng vi phạm hànhchính lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Nhà Bè
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xử lý VPHC và pháp luật xử lý
- Tạo lập cơ sở khoa học trong việc đề xuất các giải pháp nhằm phòng, chống
vi phàm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay
7 Cơ cấu của Luận văn
Luận văn được cơ cấu gồm 3 chương : phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo :
Chương 1: Cơ sở lý luận về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai
Trang 9Chương 2: Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Quan điểm và giải pháp ngăn ngừa vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh.
6
Trang 10CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.1 Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Khái niệm vi phạm hành chính
Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Luật xử lý viphạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được địnhnghĩa một cách trực tiếp mà được hiểu một cách gián tiếp qua khái niệm “xử lý
vi phạm hành chính”: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cánhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ýhoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Cũng có quan điểm hiện nay cho rằng nhiều vi phạm hành chính ngày nay có
lẽ còn nguy hiểm hơn nhiều lần một tội phạm nặng nhất như giết người, vì chúnggiết môi trường sống của con người, tức là gián tiếp, có khi là trực tiếp giết nhiềungười và hủy hoại môi trường sống của nhiều thế hệ mai sau Vì vậy, “vi phạmhành chính ở nước ta là loại hành vi gây bất ổn cho xã hội rất lớn, gây nguy hiểmcho xã hội rất lớn so với nhiều nước”
Tuy nhiên về mặt lý luận chung, các nhà khoa học pháp lý đều thừa nhận: Vi
phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:
Là một lĩnh vực của quản lý hành chính Nhà nước, quản lý hành chính nhànước về đất đai đã và đang gặp phải nhiều vi phạm hành chính như không đăng kýquyền sử dụng đất, thực hiện không đúng trình tự thủ tục hành chính do pháp luậtđất đai quy định, hủy hoại đất, lấn chiếm đất đai, chuyển quyền
Trang 11sử dụng đất trái phép… Những hành vi này đã gây nên những bức xúc lâu dài,không chỉ ở những đô thị lớn mà ở hầu hết mọi nơi trên lãnh thổ nước ta.
Việc xác định khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có ý nghĩarất quan trọng để phân biệt giữa nó với các loại vi phạm pháp luật khác, từ đó giúp
ta có thể xác định được khi nào một hành vi bị coi là vi phạm hành chính Hơn thếnữa, việc xác định đúng đắn về bản chất của loại vi phạm này giúp các cơ quanNhà nước, những người có thẩm quyền mới xác định được đúng hành vi vi phạm,đúng tính chất và mức độ xâm hại của nó, thông qua đó áp dụng trách nhiệm pháp
lý một cách chính xác và nghiêm khắc
Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai lần đầutiên được ghi nhận tại Điểm 1 mục I Thông tư số 278-TT/ĐC ngày 07/3/1997 củaTổng cục Địa chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 4-CP ngày 10/01/1997 củaChính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: “Vi phạm hànhchính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai là những hành vi làm trái với quyđịnh về quản lý, sử dụng đất đai nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệmhình sự” Khái niệm này mới chỉ phản ánh được mặt khách quan của vi phạm, màkhông đề cập đến mặt chủ quan và chủ thể của vi phạm hành chính
Đến Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 thay thếNghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; và Nghị định số 91/2019/NĐ-CPngày 19 tháng 11 năm 2019 thay thế Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng
11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
có hiệu lực kể từ ngày 05/01/2020 đều không khái quát cụ thể khái niệm về viphạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Tuy nhiên kế thừa các khái niệm của cácNghị định trước có thể định nghĩa như sau: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấtđai là hành vi trái pháp luật đất đai, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâmphạm đến quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, quyền và lợi ích của người sử dụngđất cũng như
8
Trang 12các quy định về chế độ sử dụng các loại đất mà không phải là tội phạm và theo quyđịnh của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
1.1.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Từ khái niệm trên, ta thấy hành vi vi phạm hành chính về đất đai cũng nhưhành vi vi phạm pháp luật về đất đai nói chung, có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất là, khi có hành vi trái pháp luật về lĩnh vực đất đai.
Để nhận định được có hành vi trái pháp luật về lĩnh vực đất đai thì ta phải dựatrên cơ sở những quy định của pháp luật về đất đai, đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai, những phong tục, tậpquán của từng địa phương để xem xét về một hành vi cụ thể Nếu một chủ thể thựchiện những việc mà pháp luật đất đai nghiêm cấm hoặc không làm những việc màpháp luật đất đai yêu cầu thì người đó là người có hành vi vi phạm pháp luật đấtđai
Thứ hai là, có lỗi.
Hành vi trái phát luật về lĩnh vực đất đai có thể thực hiện bằng hành động nhưviệc: sử dụng đất không đúng mục đích, phá vỡ mặt bằng đất, sử dụng đất khôngđúng mục đích, sử dụng trái phép và không đúng với quy định của Pháp luật
1.2 Các yếu tố cấu thành và các loại hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai
1.2.1 Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Hành vi trái phát luật về lĩnh vực đất đai là hành vi cố ý hoặc vô ý của cánhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tộiphạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
Hành vi trái phát luật về lĩnh vực đất đai là một dạng của vi phạm pháp luật vìvậy mà vi phạm hành chính về đất đai cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố là mặtkhách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể
- Mặt khách quan của Hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực đất đai: Dấu hiệu
bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi vi
Trang 13phạm hành chính Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bênngoài của con người trong những hoàn cảnh điều kiện nhất định Mỗi hành vi đềuđược hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, nghĩa là chủ thể ýthức được và chủ động thực hiện nó Những hoạt động của con người trong trạngthái vô thức không thể coi là hành vi Hành vi phải được biểu đạt ra bên ngoàibằng những phương thức khác nhau (hành động hoặc không hành động).
Hành vi mà tổ chức, cá nhân thựchiện trong trường hợp này là hành vi xâmphạm các quy tắc quản lý nhà nước và đều bị pháp luật hành chính ngăn cấm
Trong các trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm hành chính với thiệt hại cụ thể đã xảy ra là cần thiết để bảo đảmnguyên tắc cá nhân, tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chínhhành vi của mình gây ra Nhìn chung hậu quả của vi phạm hành chính không nhấtthiết là thiệt hại cụ thể
- Mặt chủ quan của vì phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Nếu xác
định rằng chủ thể thực hiện hành vi khi không có khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi thì chúng ta kết luận rằng không có vi phạm hành chínhxảy ra
Vấn đề xác định dấu hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đềcòn có nhiều ý kiến khác nhau
- Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Vi phạm hành
chính cũng như các vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hộiđược pháp luật bảo vệ Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính làhành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước đã đượcpháp luật hành chính quy định và bảo vệ
Nói cách khác vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của phápluật về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quytắc về quản lý và sử dụng đất đai, an toàn giao thông, quy tắc về an
10
Trang 14ninh trật tự, an toàn xã hội Điều đó đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Luật xử lý vi phạm
hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi phạmhành chính
1.2.2 Các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai a.
Các hành vi vi phạm trong sử dụng đất đai là :
- Sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm a và d khoản 1 Điều 57 của Luậtđất đai;
- Sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất vào mụcđích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo
quy định tại các điểm c và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai;
- Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừngphòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất vàomục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép theo quy định tại các điểm b và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai;
- Sử dụng đất trong nhóm đất phi nông nghiệp vào mục đích khác khôngđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm đ,
e và g khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai;
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa không đúng quy định; sử
dụng đất vào mục đích khác thuộc trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định;
- Lấn, chiếm đất;
- Hủy hoại đất;
- Không đăng ký đất đai;
- Chuyển quyền, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai…
Trang 15b Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động về đất đai : 11
Trang 16- Hành vi vi phạm về điều kiện được hoạt động tư vấn xác định giá đất đối vớitrường hợp hoạt động tư vấn xác định giá đất nhưng không có chức năng
tư vấn xác định giá đất hoặc chức năng thẩm định giá hoặc chức năng tư vấn địnhgiá bất động sản hoặc không có đủ 03 định giá viên đủ điều kiện hành nghề tư vấnxác định giá đất quy định tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 44/2014/NĐ-CPngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất (sau đây gọi là Nghịđịnh số 44/2014/NĐ-CP), được sửa đổi tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số136/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi một số điềucủa các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tàinguyên và môi trường (sau đây được gọi là Nghị định số 136/2018/NĐ-CP)
- Hành vi vi phạm về điều kiện được hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đối với trường hợp hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất nhưng không có chức năng tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấthoặc không có đủ 02 cá nhân hành nghề tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, được sửa đổitại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 136/2018/NĐ-CP
- Hành vi vi phạm khác như hoạt động tư vấn dịch vụ trong lĩnh vực đất
đai khác như điều tra, đánh giá đất đai; cải tạo đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ
sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận; đấugiá quyền sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà vi phạm điều kiện vềhoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai quy định tại khoản 3 Điều 25 củaLuật Đấu giá tài sản; các Điều 5a và 5b của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đượcsửa đổi, bổ sung tại các khoản 1 và 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2018/NĐ-CP vàkhoản 1 Điều 9 của Nghị định số 45/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2015 củaChính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ
c Các hành vi vi phạm được giải thích như sau:
Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa
đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà
Trang 17nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất
bị lấn đó cho phép
Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đaicho phép;
- Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác
mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;
- Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng
mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);
- Làm biến dạng địa hình trong các trường hợp: thay đổi độ dốc bề mặtđất; hạ thấp bề mặt đất do lấy đất mặt dùng vào việc khác hoặc làm cho bề mặt đấtthấp hơn so với thửa đất liền kề; san lấp đất có mặt nước chuyên dùng, kênh,mương tưới, tiêu nước hoặc san lấp nâng cao bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp
so với các thửa đất liền kề; trừ trường hợp cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậcthang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao,được thuê hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩmquyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận;
- Làm suy giảm chất lượng đất trong các trường hợp: làm mất hoặc giảm độdầy tầng đất đang canh tác; làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệpbằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn sỏi, đá hay loại đất có thành phần khácvới loại đất đang sử dụng; gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp;
- Gây ô nhiễm đất là trường hợp đưa vào trong đất các chất độc hại hoặc
vi sinh vật, ký sinh trùng có hại cho cây trồng, vật nuôi, con người;
- Làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định làtrường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và ckhoản này mà dẫn đến không sử dụng đất được theo mục đích được Nhà nướcgiao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụngđất;
13
Trang 18- Làm giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định làtrường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và ckhoản này mà phải đầu tư cải tạo đất mới có thể sử dụng đất theo mục đích đãđược Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhậnquyền sử dụng đất.
Giao dịch về quyền sử dụng đất là trường hợp các bên liên quan thực hiện
việc chuyển đổi hoặc chuyển nhượng hoặc tặng cho hoặc cho thuê, cho thuê lạihoặc thừa kế hoặc thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy địnhcủa pháp luật về đất đai
Hậu quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện
ở việc họ bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài đã được quy định trong phápluật Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm pháp
lý nhất định
Trách nhiệm hành chính đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cócác đặc điểm sau:
Trang 19Thứ nhất, đây là hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Vì vậy, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đaiđối với một chủ thể cần xác định người đó có thực hiện vi phạm hành chính tronglĩnh vực đất đai trên thực tế hay không Các dấu hiệu pháp lý của
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là căn cứ cần thiết để xác định hành
vi của người đó thực hiện có đủ yếu tố cấu thành vi phạm hành chính tronglĩnh vực này hay không Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai không đặt
ra đối với người không thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Việctruy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với chủ thể vi phạmhành chính trong lĩnh vực đất đai, về thực chất là việc xử lý vi phạm hành chínhđối với các chủ thể này
Người bị truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai buộc phảithực hiện các biện pháp chế tài hành chính do người có thẩm quyền quyết định.Các biện pháp chế tài hành chính trong lĩnh vực đất đai áp dụng đối với người bịtruy cứu trách nhiệm hành chính là các biện pháp buộc người vi phạm phải chịunhững hạn chế về quyền, tài sản Cũng cần lưu ý rằng vi phạm hành chính chỉ là cơ
sở chung để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với người vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực đất đai Việc một người vi phạm hành chính có bị truy cứu tráchnhiệm hành chính trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào việc thực hiện nhiềuquy định pháp luật khác có liên quan, chẳng hạn các quy định về thời hạn và thờihiệu trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Ví dụ, một ngườithực hiện hành vi hủy hoại đất bằng việc đào xới đất gò, đồi để bán, nhưng đến khi
cơ quan nhà nước phát hiện vi phạm hành chính đó đã hết thời hiệu xử phạt thìtrách nhiệm hành chính cũng sẽ không đặt ra đối với người đó trong trường hợpnày
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và lý luận về lĩnh vực nàychỉ đề cập đến trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, theo quyđịnh của pháp luật đất đai trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai đặt ra đốivới cả cá nhân, tổ chức, hộ gia đình và cơ sở tôn giáo Đây là
15
Trang 20điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai với các lĩnh vựckhác và trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai là trách nhiệm pháp
lý của chủ thể vi phạm hành chính trước Nhà nước Chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai do Nhà nước thiết lập.
Nhà nước buộc chủ thể này phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi đểbảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai đã được thiết lập
ra Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính nói chung và trong lĩnh vựcđất đai nói riêng đối với trách nhiệm dân sự Trong trường hợp này Nhà nước làngười đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự của tổ chức, cánhân vi phạm đối với bên bị vi phạm
Thứ ba,việc truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính và pháp luật đất đai.
Đặc điểm này biểu hiện cụ thể ở những nội dung dưới đây:
Một là, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với người vi phạmhành chính trong lĩnh vực đất đai pháp luật hành chính và pháp luật đất đai đã xácđịnh cụ thể những người có thẩm quyền thực hiện hoạt động này Đáp ứng nhu cầu
xử lý nhanh chóng, khắc phục kịp thời hậu quả do hành vi vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực đất đai gây ra, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính tronglĩnh vực đất đai được trao cho Chủ tịch UBND các cấp và Chánh Thanh tra, thanhtra viên thuộc cơ quan có thẩm quyền thanh tra đất đai
Hai là, truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải đảm bảolựa chọn và áp dụng đúng các biện pháp chế tài hành chính đối với người vi phạmhành chính
Ba là, truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai được tiến hànhtheo thủ tục do pháp luật hành chính và pháp luật đất đai quy định Truy cứu tráchnhiệm hành chính nói chung và trách nhiệm hành chính trong lĩnh
Trang 21vực đất đai nói riêng đều tác động trực tiếp đến việc đảm bảo việc quyền, lợi íchhợp pháp của các đối tượng có liên quan Vì vậy, khi tiến hành truy cứu tráchnhiệm hành chính các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ một cách nghiêm ngặtcác quy định về thủ tục do pháp luật hành chính và pháp luật đất đai đặt ra.
Về căn bản, thủ tục này đòi hỏi người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệmhành chính phải thực hiện các công việc theo đúng trình tự về thời gian, khônggian nhằm đảm bảo có đầy đủ các căn cứ cần thiết để tiến hành truy cứu tráchnhiệm hành chính đối với người vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai mộtcách nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn pháp luật quy định Trong khi đó việctruy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dân sự đòi hỏi phải tuân thủ các quy định về thủtục tố tụng hình sự
1.3.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người vi phạm sẽ bị xử lý vi phạmhành chính, xử lý vi phạm bằng hình thức kỷ luật, xử lý vi phạm về hình sự và xử
lý vi phạm về dân sự Trong các hình thức xử lý trên thì xử lý vi phạm hành chính
là chủ yếu bởi vì đây là biện pháp cơ bản nhằm giáo dục, răn đe, ngăn ngừa những
vi phạm pháp luật Nhà làm luật thấy rằng chưa cần phải truy cứu trách nhiệm hình
sự trong những trường hợp đó
1.3.2.1 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Trên cơ sở các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, các nhàkhoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính như sau: “Xửphạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vàocác quy định pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính, quyết định ápdụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chínhkhác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với các tổ chức,
cá nhân vi phạm hành chính.”
Trên cơ sở khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính nói chung trên tác giảcho rằng: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạt động của chủthể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật về xử lý vi
17
Trang 22phạm hành chính và pháp luật đất đai, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt viphạm hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Thứ nhất, việc xử phạt hành vi vi phạm pháp luật hành chính được áp dụngđối với cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, cơ sở tôn giáo vi phạm hành chính theo quyđịnh của pháp luật đất đai
Thứ hai, việc xử phạt hành vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực đấtđai được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính và Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực đất đai
Thứ ba, việc xử phạt vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực đất đaiđược tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong cácvăn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và Nghị định của Chínhphủ quy định riêng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Thứ tư, kết quả của hoạt động của việc xử phạt hành vi vi phạm pháp luậthành chính trong lĩnh vực đất đai được thể hiện ở các quyết định xử phạt vi phạmpháp luật hành chính trong lĩnh vực đất đai Trong đó ghi nhận các hình thức xửphạt áp dụng đối với người vi phạm pháp luật hành chính bao gồm những hình
thức xử phạt chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền), hình thức xử phạt bổ sung và
các biện pháp khắc phục hậu quả Việc quyết định áp dụng biện pháp xử phạt đóthể hiện sự trừng phạt của nhà nước đối với người vi phạm nhằm giáo dục cho mọingười có ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng Trongtrường hợp hết thời hiệu xử phạt người có thẩm quyền xử phạt có thẩm quyền vẫnđược quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả để buộc người
vi phạm phải khắc phục các hậu quả do hành vi vi phạm gây ra Nếu người bị xửphạt vẫn cố tình không chấp hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng cácbiện pháp khắc phục hậu quả, người có thẩm quyền sẽ ra quyết định cưỡng chế đểbuộc người vi phạm phải thi hành quyết định xử phạt
Trang 231.3.2.2 Các biện pháp xử lý hành chính khác
Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành
vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truycứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chínhnhư: biện pháp giáo dục tại phường xã; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sởgiáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính Các biện pháp này hoàntoàn không phù hợp với lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên, Điều 38của Luật Đất đai năm 2003 có quy định mười hai (12) trường hợp thu hồi đất,trong đó có một số trường hợp thu hồi đất mang tính chất chế tài để xử lý các viphạm do người sử dụng đất gây ra đó là:
Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp: Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm
2003 mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai thángliền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười támtháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốntháng liền;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được
sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậmhơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhậnbàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép
Theo chúng tôi việc nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp trên có thể coi
là biện pháp xử lý hành chính khác đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vựcđất đai
Trang 2419
Trang 25Bởi lẽ, các biện pháp này được thu hồi trên cơ sở kết luận thanh tra theo trình
tự thủ tục quy định tại Điều 132 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Mặt khác, Điều 28
24 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP cũng quy định rõ trách nhiệm của người cóthẩm quyền xử phạt khi xử lý vi phạm hành chính mà vi phạm hành chính đó thuộctrường hợp phải thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai:
- Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện đồng thời việc xử phạt vi phạm hành chính và việc thu hồi đất;
- Người có thẩm quyền xử phạt nhưng không có quyền thu hồi đất thì thựchiện xử phạt vi phạm hành chính và có trách nhiệm gửi văn bản đề nghịUBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất UBND cấp có thẩmquyền có trách nhiệm thực hiện việc thu hồi đất đối với trường hợp đủ căncứ; trường hợp không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai thìphải thông báo
cho người đề nghị, người bị xử phạt, UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất biết rõ
lý do;
- Trường hợp hết thời hiệu xử phạt người có thẩm quyền xử phạt có tráchnhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính và ra quyết định thu hồi đất trongtrường hợp thuộc thẩm quyền hoặc đề nghị UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đấttrong trường hợp không thuộc thẩm quyền
1.3.2.3 Vai trò của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính tronglĩnh vực đất đai nói riêng đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, nótrực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định về vật chất và tinh thầncho cá nhân, tổ chức xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Riêngcác vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nó gây thiệt hại trực tiếp đến cácquyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ quản lý và sử dụng đất của nhànước và quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàndân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai Vì thế việc xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực đất đai có vai trò lớn trong việc bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của người sử dụng đất, chế độ
20
Trang 26quản lý và sử dụng đất đai của nhà nước Ngoài vai trò là một chế tài pháp lý bấtlợi đối với người vi phạm, xử lý vi phạm hành chính còn có vai trò lớn trong việcphòng ngừa và giáo dục chủ thể vi phạm.
Xử lý vi phạm hành chính còn có tác dụng răn đe các chủ thể khác khiến họphải kiềm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật đất đai, từ đó thực hiện đúng cácquy định của pháp luật đất đai
Trang 27CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và sử dụng đất đai huyện Nhà Bè
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Huyện Nhà Bè là huyện loại 2, nằm về phía Đông Nam của thành phố Hồ ChíMinh, cách trung tâm Thành phố 12 - 15 km Phía Bắc giáp quận 7 Phía Nam giáphuyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Phía Tây giáp huyện Bình Chánh, có hệ thốnggiao thông nối liền Thành phố với hướng ra biển, đi các tỉnh miền Tây và cũng làtrục phát triển không gian chính của Thành phố về hướng biển
Huyện Nhà Bè có tổng diện tích tự nhiên là 10.042,70 ha, trong đó diện tíchđất nông nghiệp là 3.949,50 ha, đất phi nông nghiệp 6.093,20 ha gồm 6 xã và 01thị trấn: xã Phú Xuân, xã Phước Lộc, xã Phước Kiển, xã Nhơn Đức, xã Long Thới,
xã Hiệp Phước và thị trấn Nhà Bè, với dân số thống kê cuối kỳ năm 2015 là142.907 dân và đến năm 2019 là 216.794 dân (trong đó thường trú: 110.676 dân,tạm trú: 97.463 dân), tăng 62.381 dân trong vòng 4 năm
Diện tích tự nhiên: 10.041,25 ha, dân số khoảng 206.760 người (dân số thực
tế cư trú trên địa bàn huyện Nhà Bè đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, theo số lượngthống kê của Chi cục Thống kê Huyện) Mật độ dân số là 2.080 người/km2, gồm 6
xã và 1 thị trấn: xã Long Thới, xã Phú Xuân, xã Hiệp Phước, xã Nhơn Đức, xãPhước Lộc, xã Phước Kiển và thị trấn Nhà Bè
Huyện Nhà Bè nằm án ngữ trên đoạn đường thủy huyết mạch từ Biển Đôngvào nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp với rừng Sác Ở phía tâyhuyện Nhà Bè, con kênh Cây Khô nằm trên tuyến đường thuỷ từ đồng bằng sôngCửu Long về Thành phố Hồ Chí Minh
22
Trang 28Hệ thống sông ngòi chằng chịt thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới giaothông đường thủy đi khắp nơi, có điều kiện xây dựng các cảng nước sâu đủ sứctiếp nhận các tàu có trọng tải lớn cập cảng.
Với tốc độ gia tăng dân số cao, tỷ lệ người dân tạm trú chiếm 44,95%, cùngvới tốc độ đô thị hóa nhanh, bên cạnh những thành tựu phát triển về kinh tế - xãhội - an ninh - quốc phòng, cũng đã đặt ra những khó khăn, thách thức nhất định
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Trước giải phóng, đất đai ở Nhà Bè hầu hết bị bỏ hoang hóa, số đất canh tác
đa phần do địa chủ nắm giữ Do ảnh hưởng của nước phèn, mặn sản xuất lúa độccanh một vụ năng suất thấp đã dẫn đến 30% số dân luôn thiếu ăn từ 1 đến 3 thángtrong năm Các cơ sở Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp có nhưng không đángkể
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất Tổ quốc, Đảng bộ,chính quyền và nhân dân huyện Nhà Bè bắt tay vào hàn gắn vết thương chiếntranh, xây dựng kiến thiết quê hương, đã gặt hái được những kết quả đáng trântrọng và tự hào trên lĩnh vực phát triển kinh tế
Với định hướng phát triển Thành phố về phía Nam, cùng với chủ trươngThành phố đẩy mạnh xây dựng đô thị thông minh sẽ thúc đẩy sự phát triển các dự
án kinh tế - xã hội trên địa bàn Huyện, nhất là dự án Khu đô thị cảng Hiệp Phước,khu đô thị Phước Kiển – Nhơn Đức sẽ tạo động lực thu hút các nguồn đầu tư pháttriển Huyện Bên cạnh đó, xu hướng đô thị hóa tiếp tục diễn ra, dân số tăng nhanh,thành phần dân cư, đặc điểm cư trú đa dạng; khoa học kỹ thuật phát triển mạnh
mẽ, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ tác động rất lớn đối với mọi mặt đờisống xã hội
Huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai nhiều giải pháp thực hiện có hiệuquả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về giải pháp chủ yếu tập trung kiềmchế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và Nghị
Trang 29quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sảnxuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu Qua đó, tăng cường quản lýchặt chẽ các nguồn thu, chi ngân sách; phối hợp với các sở, ngành, các doanhnghiệp Thành phố tổ chức nhiều đợt bán hàng bình ổn giá, thường xuyên kiểm soátthị trường, kịp thời ngăn chặn hàng gian, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc…nhằm đưa hàng hóa đến người tiêu dùng, có chất lượng, bảo đảm an sinh xã hội, ổnđịnh thị trường, không để biến động lớn về giá cả, nhất là đối với các mặt hàngthiết yếu… Định kỳ, Huyện tổ chức các cuộc đối thoại, gặp gỡ doanh nghiệp nhằmnắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, hướng dẫn thực hiện chế độ miễn giảm,giãn thuế theo quy định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốnvới lãi suất phù hợp nhằm duy trì và ổn định sản xuất Số doanh nghiệp và hộ kinhdoanh cá thể tăng so với đầu nhiệm kỳ; kinh tế tập thể tiếp tục được quan tâm củng
cố và nâng cao chất lượng hoạt động Hệ thống chợ, cửa hàng tiện ích, cửa hàngbình ổn giá được xây dựng và phát triển, đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng củanhân dân
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 13,16% vượt chỉ tiêuNghị quyết đề ra (12%/năm) Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của Huyện phát triển theođúng định hướng Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện lần thứ X đề ra là “… từng bướcxây dựng Nhà Bè thành Huyện có cơ cấu kinh tế thương mại - dịch vụ - côngnghiệp phát triển bền vững” Cùng với sự hoạt động, phát triển ổn định của Khucông nghiệp Hiệp Phước và hệ thống cảng đã tác động tích cực đến quá trình pháttriển kinh tế - văn hóa - xã hội của Huyện, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho người dân trên địa bàn
2.1.2.2 Đặc điểm xã hội
Về dân số lao động: Hiện tại, dân số Huyện Nhà Bè khoảng hơn 206 ngàn
người, diện tích 10040km2 Giai đoạn 2015-2020 Huyện đã giải quyết việc làmcho hơn 30.000 lượt lao động (gần 16 ngàn lao động nữ) đạt 105,40% kế hoạchgiai đoạn, trong đó lao động có việc làm ổn định trong khu công nghiệp, dịch
24
Trang 30vụ là 12.530 lượt lao động (5.875 nữ), đạt 110,80% kế hoạch giai đoạn Tỷ lệ laođộng có việc làm thường xuyên theo tiêu chí 12, đạt 96,3%.
Về giáo dục và đào tạo: Hoàn thành công tác phân luồng đạt chỉ tiêu đề ra
(20,76%/20%) Tính đến cuối năm học 2019-2020, toàn Huyện có 15/35 trườngcông lập đạt chuẩn quốc gia (08 mầm non, 03 tiểu học, 04 trung học cơ sở), chiếm
tỷ lệ 42,86%; có 26/35 trường công lập đạt Chuẩn chất lượng giáo dục (08 mầmnon, 10 tiểu học, 06 trung học cơ sở), chiếm tỷ lệ 74,29%; có 03/32 trường mầmnon tư thục đạt chuẩn Chất lượng giáo dục cấp độ 1
- Công tác giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội: Chương trình
giảm nghèo bền vững với phương pháp đa chiều và kết thúc chuẩn thu nhập bìnhquân 21 triệu đồng/người/năm trở xuống đối với hộ nghèo, trên 21 đến 28 triệuđồng/người/năm đối với hộ cận nghèo Đến nay, số hộ nghèo trên địa bàn Huyệncòn 92 hộ, chiếm tỷ lệ 0,24%, giảm 2,46%, đạt 116,66% kế hoạch, hộ cận nghèocòn 479 hộ, chiếm tỷ lệ 1,29%, đạt 111,62% kế hoạch, trên địa bàn còn 4 hộ giađình chính sách cận nghèo, giảm 29 hộ so đầu năm Huyện cơ bản hoàn thành 3/5chiều nghèo: chiều y tế, chiều điều kiện sống và tiếp cận thông tin, hoàn thành 7/11chỉ số: giáo dục trẻ em, cấp thẻ BHYT, tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh; nhà ở(kết cấu nhà đảm bảo theo tiêu chí 3 cứng), nước sạch, sử dụng viễn thông và tàisản tiếp cận thông tin Hiện nay, các xã nông thôn mới đã đạt tiêu chí 11 - hộnghèo, < 1% theo quy định
- Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Công tác khám chữa bệnh,
chăm
sóc sức khỏe cho người dân được thực hiện tốt ở cả 02 tuyến xã, thị trấn và Bệnhviện Huyện
2.1.3 Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên 10.041,25 ha, dân số khoảng 206.760 người (dân
số thực tế cư trú trên địa bàn huyện Nhà Bè đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, theo
số lượng thống kê của Chi cục Thống kê Huyện) Mật độ dân số là
2.080 người/km2 Trong đó:
+ Đất nông nghiệp 3.949,50 ha, chiếm 39,33% diện tích đất tự nhiên;
Trang 31+ Đất lâm nghiệp 6.093,20, ha, chiếm 60,67% đện tích đất tự nhiên;+ Đất chưa sử dụng không còn.
Quỹ đất trên đã giao cho các đối tượng quản lý và sử dụng như sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sử dụng 107.870, 3137 ha, chiếm 69,79% diện tích đất tự nhiên; trong đó, đất nông nghiệp 95.296, 5584 ha, chiếm 91,89% tổng quỹ đất nông nghiệp của huyện;
+ Các tổ chức kinh tế đang quản lý, sử dụng 933, 8196 ha, chiếm 0,60% diện tích tự nhiên;
+ Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng 44.625, 054 ha, chiếm 28,87% diện tích đất tự nhiên;
+ Các tổ chức khác đang quản lý và sử dụng 1.109, 3735 ha, chiếm 0,71% diện tích đất tự nhiên.
Tình hình cụ thể từng loại đất như sau:
+ Thứ nhất là đất nông nghiệp: 3.949,50 ha Trong đó
- Đất trồng lúa 151,06 ha (xã Hiệp Phước chiếm 151,06 ha);
- Đất trồng cây lâu năm 2.916,12 ha (Thị trấn Nhà Bè 105,12 ha; xã Phú Xuân99,13 ha; xã Long Thới 328,14 ha; xã Nhơn Đức 516,64 ha; xã Phước Kiển508,42 ha; xã Hiệp Phước 1.209,68 ha; xã Phước Lộc 148,98 ha)
- Đất nuôi trồng thuỷ sản 882,32 ha (Thị trấn Nhà Bè 2,92 ha; xã Phú Xuân3,35 ha; xã Long Thới 50,18 ha; xã Nhơn Đức 202,12 ha; xã Phước Kiển52,42 ha; xã Hiệp Phước 421,22 ha; xã Phước Lộc 150,10 ha)
+ Thứ hai là đất phi nông nghiệp: 6.093,20 ha Trong đó
- Đất quốc phòng 42,68 ha (xã Phú Xuân 40,99 ha; xã Hiệp Phước 1,69
ha)
- Đất an ninh 62,18 ha (xã Phú Xuân 3,50 ha; xã Phước Lộc 58,69 ha)
- Đất khu công nghiệp 891,72 ha (xã Long Thới 93,18 ha; xã Hiệp Phước 798,54)
26
Trang 32- Đất thương mại dịch vụ 217,06 ha (Thị trấn Nhà Bè 129,08 ha; xã Phú Xuân25,55 ha; xã Long Thới 1,30 ha; xã Nhơn Đức 10,45 ha; xã Phước Kiển50,62 ha; xã Hiệp Phước 00 ha; xã Phước Lộc 0,07 ha)
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp 30,04 ha (Thị trấn Nhà Bè 0,73 ha; xãPhú Xuân 8,85 ha; xã Long Thới 16,42 ha; xã Nhơn Đức 1,37 ha; xã PhướcKiển 2,42 ha; xã Hiệp Phước 0,24 ha; xã Phước Lộc 0,02 ha)
- Đất phát triển hạ tầng 1.014,30 ha (Thị trấn Nhà Bè 50,58 ha; xã Phú Xuân152,32 ha; xã Long Thới 217,81 ha; xã Nhơn Đức 218,38 ha; xã Phước Kiển190,91 ha; xã Hiệp Phước 125,03 ha; xã Phước Lộc 59,28 ha)
- Đất bãi thải, xử lý chất thải 2,45 ha (xã Long Thới 1,00 ha; xã Phước Kiển 0,37 ha; xã Phước Lộc 1,08 ha)
- Đất ở tại nông thôn 1.192,18 ha (Thị trấn Nhà Bè 00 ha; xã Phú Xuân190,26 ha; xã Long Thới 146,60 ha; xã Nhơn Đức 227,98 ha; xã Phước Kiển419,98 ha; xã Hiệp Phước 113,38 ha; xã Phước Lộc 93,97 ha)
- Đất ở tại đô thị 134,79 ha (Thị trấn Nhà Bè 134,79 ha)
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan 13,60 ha (Thị trấn Nhà Bè 0,53 ha; xã PhúXuân 7,73 ha; xã Long Thới 1,49 ha; xã Nhơn Đức 1,30 ha; xã Phước Kiển1,07 ha; xã Hiệp Phước 1,09 ha; xã Phước Lộc 0,40 ha)
- Đất xây dựng trụ sở và các tổ chức sự nghiệp 0,11 ha (xã Phú Xuân 0,11
ha)
- Đất cơ sở tôn giáo 5,50 ha (Thị trấn Nhà Bè 0,66 ha; xã Phú Xuân 1,59 ha;
xã Long Thới 0,41 ha; xã Nhơn Đức 0,96 ha; xã Phước Kiển 0,09 ha; xãHiệp Phước 0,47 ha; xã Phước Lộc 1,33 ha)
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hoả táng 9,30 ha (Thịtrấn Nhà Bè 1,87 ha; xã Phú Xuân 0,80 ha; xã Long Thới 0,47 ha; xã Nhơn Đức5,55 ha; xã Phước Kiển 0,34 ha; xã Hiệp Phước 0,11 ha; xã Phước Lộc 0,16 ha)
- Đất sinh hoạt cộng đồng 2,17 ha (Thị trấn Nhà Bè 0,04 ha; xã Phú Xuân0,05 ha; xã Long Thới 0,07 ha; xã Nhơn Đức 1,17 ha; xã Phước Kiển 0,11ha;
Trang 3327
Trang 34- Đất khu vui chơi, giải trí công cộng 201,50 ha (Thị trấn Nhà Bè 3,93 ha; xãPhú Xuân 17,51 ha; xã Long Thới 18,42 ha; xã Nhơn Đức 49,38 ha; xãPhước Kiển 90,22 ha; xã Hiệp Phước 9,58 ha; xã Phước Lộc 12,47 ha)
- Đất cơ sở tính ngưỡng 1,70 ha (Thị trấn Nhà Bè 0,26 ha; xã Phú Xuân 0,05ha; xã Long Thới 0,21 ha; xã Nhơn Đức 0,22 ha; xã Phước Kiển 0,23 ha; xãHiệp Phước 0,18 ha; xã Phước Lộc 0,10 ha)
- Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối 2.260,54 ha (Thị trấn Nhà Bè 168,90 ha; xãPhú Xuân 446,56 ha; xã Long Thới 205,39 ha; xã Nhơn Đức 212,96 ha; xãPhước Kiển 180,14 ha; xã Hiệp Phước 969,47 ha; xã Phước Lộc 77,12 ha)
- Đất có mặt nước chuyên dùng 7,10 ha (xã Nhơn Đức 4,57 ha; xã Phước Kiển 1,61 ha; xã Hiệp Phước 0,50 ha; xã Phước Lộc 0,42 ha)
- Đất phi nông nghiệp khác 4,25 ha (xã Phú Xuân 3,71 ha; xã Long Thới 0,53 ha)
+ Thứ ba là đất chưa sử dụng :
Công tác quản lý đất đai đã dần dần đi vào ổn định và ngày càng hiệu quả.Công tác quy hoạch sử dụng đất được chú trọng thực hiện, đảm bảo chất lượng,phù hợp thực tiễn phát triển của Huyện, quy hoạch xây dựng chi tiết đã cơ bản phủkín, là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý đất đai cũng như quản lý đô thị.Huyện đã hoàn thành công tác kiểm kê đất đai với số liệu và bản đồ số hiện trạng
sử dụng đất từ huyện xuống xã, thị trấn Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,chuyển mục đích sử dung đất được thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch Công táccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đạt 97,2 % góp phần ổn định trong việcquản lý Công tác thanh tra đất đai được tiến hành thường xuyên, phát hiện và xử
lý kịp thời các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai Hiện nay, bản đồ theo hệthống mới (bản đồ số với hệ tọa độ VN 2000) đã được áp dụng để đo đạc, đây làmột trong những thuận lợi của công tác quản lý nhà nước về đất đai Đội ngũ cán
bộ quản lý về đất đai có trình độ chuyên môn và tâm huyết, bám sát địa bàn
Trang 35Bảng 2.1 Tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (giai đoạn
2015-2019) (Nguồn: Báo cáo số 844/BC-TNMT ngày 03/11/2020 của Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện Nhà Bè)
Trang 3629
Trang 3830
Trang 392.1.3.3 Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Công tác giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, đượcthực hiện đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình tự, thủ tục theo quy định.Trong giai đoạn năm 2015 đến năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè đã thựchiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đảm bảo đúngthẩm quyền và trình tự thủ tục theo quy định của Luật đất đai 2013 Số Quyết địnhtrong lĩnh vực đất đai: ban hành 316 quyết định thu hồi đất đối với 244 hộ (diệntích tái định cư là 52.340,8 m2), Số quyết định cho thuê đất: không có, chuyển mụcđích sử dụng đất: 3.479 trường hợp (hộ gia đình, cá nhân), Chuyển từ đất nôngnghiệp sang đất sang phi nông nghiệp: 1673 trường hợp, diện tích 694.636 m2,Chuyển mục đích sử dụng đất trong nhóm đất nông nghiệp:1.806 trường hợp, diệntích 4.171.579,445 m2
Đối với công tác cấp giấy quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất: Đã cấp giấy chiếm tỷ lệ 97%, đồng thời rà soát, thống kê còn
342 trường hợp chưa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắnliền với đất để giải quyết dứt điểm Đến cuối năm 2018, Ủy ban nhân dân huyệnNhà Bè ban hành Kế hoạch số 2996/KH-UBND tiếp tục triển khai công tác cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất Ủy ban nhân dân Huyện kết hợp với Ủy bannhân dân 7 xã, thị trấn đến tận nhà người dân hướng dẫn thủ tục Ủy ban nhân dânHuyện đã hoàn tất công tác cấp giấy đối với 38 trường hợp đủ điều kiện,
còn 304 trường hợp chưa đủ điều kiện, kiến nghị cơ quan cấp trên có hướng dẫn đểtiếp tục xem xét, giải quyết (nhà cất sau quy hoạch không phù hợp quy hoạch,nhận chuyển nhượng bằng giấy tay sau 01/01/2008, phần đất có nguồn gốc làkênh, rạch nằm len lỏi, liền kề, xen kẽ trong khu dân cư…)
Bảng 2.2 Bảng theo dõi việc chuyển mục đích đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện (giai đoạn 2015-2019)(Nguồn: Báo cáo số 844/BC-TNMT ngày 03/11/2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nhà Bè)
31
Trang 40Diện nghiệp được Chính
chuyển mục đích sử dụng đến năm 2020 theo NQ 80