Qua nghiên nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về THADS, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, có thể đưa ra quan niệm về Chấp hành viên như sau: Ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
LÊ THỊ MAI
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄNTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Hà Nội, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
LÊ THỊ MAI
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của bản án, quyết định dân sự của Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại và của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh bằng các biện pháp pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa và góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước
Điều 106 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Bản án, quyết định
của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Bảo
đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án được quy định tại Điều 19 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 23 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 quy định: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Trong phạm vi, quyền hạn của mình, Tòa án và các
cơ quan tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ
đó
Nhận thức tầm quan trọng của công tác THADS, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về THADS, như trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1995) về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một buớc nền hành chính; Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 08/NQ-
TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2004) và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49/NQ-TW
Trang 5ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị kết luận về vViệc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Kế thừa nhiều quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm và pháp điển hóa thành quy định của Luật, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 còn sửa đổi và bổ sung thêm rất nhiều quy định mới
Thực hiện Luật Thi hành án dân sự 2008, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 về Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, Chỉ thị số 40/CT-TTg ngày
02 tháng 11 năm 2020 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Luật Thi hành án dân sự 2008, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 cho thấy, thực trạng công tác thi hành án dân sự ở nước ta trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tổ chức thi hành án vẫn còn một số tồn tại như số việc chưa có điều kiện thi hành án còn nhiều, việc vi phạm trình tự, thủ tục thi hành án của Chấp hành viên vẫn còn nhiều; các hiện tượng tiêu cực, vô tâm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên, nghĩa vụ Chấp hành viên hoặc lạm dụng quyền hạn theo quy định của pháp luật của một số Chấp hành viên hoặc công chức thi hành án vẫn còn xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc cho người dân Về mặt thể chế, một số quy định của pháp luật về thi hành án chưa tạo được hành lang pháp lý đầy đủ cho Chấp hành viên chủ động tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định
Vị trí, vai trò của Chấp hành viên trong THADS là một nội dung không thể thiếu trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu
Trang 6về địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS là một yêu cầu cần thiết góp phần thực hiện thành công yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Việc nghiên cứu này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Bởi nó góp phần vào việc làm rõ và cũng
cố lý luận về địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Chấp hành viên, nhằm định hướng hoạt động của Chấp hành viên, đáp ứng yêu cầu của
cải cách tư pháp hiện nay Với lý do đó, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Địa vị
pháp lý Chấp hành viên trong thi hành án dân sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ Thông qua đề tài này, tôi muốn
làm rõ hơn vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trong THADS (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh), từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về Chấp hành viên trong THADS, nâng cao hiệu quả công tác THADS
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Theo thống kê không đầy đủ thì cũng có một số công trình nghiên cứu về địa
vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:“Đề án kiện toàn mô hình tổ chức và
đội ngũ cán bộ thi hành án để thực hiện có hiệu quả Luật thi hành án dân sự năm 2008”, mã số 2010-8219 do PGS.TS Nguyễn Văn Luyện, nguyên Tổng cục trưởng
Tổng cục Thi hành án dân sự làm chủ nhiệm đề tài; Đề án cấp Bộ: “Khảo sát khoa
học về quy trình, thủ tục thi hành các bản án có tài sản thi hành là bất động sản và các giải pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất cho các quy trình này” do bà Đinh
Thị Mai Phương làm chủ nhiệm Luận án tiến sỹ luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008 với
đề tài Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay; Luận văn thạc
sỹ luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả
Đặng Đình Quyền, năm 2012, với đề tài Năng lực của Chấp hành viên trong thi hành
án dân sự ở Việt Nam; Luận văn thạc sỹ luật học tại tại Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Phíp, năm 2009, với đề tài Hoàn
thiện địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam; Ngoài
ra, còn có các tài liệu tham khảo khác như: Giáo trình môn Luật Thi hành án dân sự
Trang 7của trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Kỹ năng Thi hành án dân sự (phần chung
và phần nghiệp vụ thi hành án) của Học viện Tư pháp; Bình luận Luật Thi hành án dân
sự của Thạc sỹ, Chấp hành viên Hoàng Thị Thanh Hoa, Giảng viên Hồ Quân Chính,
Học viện Tư pháp, Thạc sỹ Nguyễn Văn Nghĩa, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2019 Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu, luận giải được những khía cạnh nhất định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm vụ của Chấp hành viên trong THADS, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của Chấp hành viên THADS từ thực tiễn một địa phương cụ thể Mặt khác, đa số các công trình nghiên cứu đó đều được thực hiện trước khi có Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự Nay, theo Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì nhiều quy định về địa vị pháp lý của Chấp hành viên đã có sự thay đổi đáng kể
Luận văn Địa vị pháp lý Chấp hành viên trong thi hành án dân sự từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật có
liên quan trong thời gian gần đây để phân tích, nghiên cứu, đánh giá về địa vị pháp
lý Chấp hành viên trong THADS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, nội dung các quy định về hoạt động của Chấp hành viên theo luật Thi hành án dân sự cũng như tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động của Chấp hành viên trong THADS Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý của Chấp hành viên theo hướng cải cách tư pháp như Bộ Chính trị đã đề ra trong các nghị quyết 08, 49 và 48
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý
Chấp hành viên trong THADS
- Nghiên cứu, phản ánh thực trạng địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc
Trang 8- Đề xuất, kiến nghị một số nội dung, giải pháp nhằm bảo đảm địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật THADS về địa
vị pháp lý Chấp hành viên và thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động của Chấp hành viên trong THADS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, thẩm quyền, phạm vi hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Chấp viên trong THADS trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí
Minh và 22 Chi cục THADS quận, huyện, thành phố trực thuộc, không đề cập đến hoạt động của Chấp hành viên tại cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Quốc phòng
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008
có hiệu lực cho đến nay, các sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận để thực hiện đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện chứng,
và duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp áp dụng trong phần cơ sở lý luận
trình bày tại Chương 1 của luận văn
- Phương pháp thống kê, phân tích, khảo sát thực tế, so sánh được sử dụng
cho những nội dung nêu tại Chương 2 của luận văn
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và quy nạp áp dụng tại Chương 3 của
luận văn
Luận văn cũng tham khảo và kế thừa một số phương pháp và tài liệu của Cục
Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 đến nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan lập pháp lựa chọn giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS, các quy định về thủ tục tố thi hành án dân sự và các quy định liên quan đến quá trình tổ chức hành án của Chấp hành viên để việc tổ chức thi hành án của các cơ
Trang 9quan Thi hành án Tòa án được khách quan, hiệu quả, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho Chấp hành viên khi thực hiện tổ chức thi hành án
Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn cho những người làm công tác thực tiễn mà cụ thể ở đây là Chấp hành viên, giúp cho Chấp hành viên có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của họ được pháp luật quy định để từ đó áp dụng cho thống nhất, chính xác, tránh áp dụng tùy tiện Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập đối với công chức ngành THADS
Trên cơ sở nghiên cứu đề tài "Địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS từ thực tiễn Thành phố Hồ chí Minh" luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về địa
vị pháp lý của Chấp hành viên; nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động của Chấp hành viên trong THADS; tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hoạt động của Chấp hành viên để thấy được những kết quả đạt được và chưa đạt được, tìm ra những nguyên nhân Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của Chấp hành viên theo hướng cải cách tư pháp như Bộ Chính trị đã đề ra
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm 3 chương, như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý Chấp hành viên trong
THADS
Chương 2: Thực trạng địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý Chấp hành viên
trong THADS
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CHẤP HÀNH VIÊN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò của Chấp hành viên
1.1.1 Quan niệm, lịch sử hình thành Chấp hành viên ở nước ta
1.1.1.1 Quan niệm về Chấp hành viên
Dưới góc độ thuật ngữ, cụm từ “thi hành án” được Từ điển Luật học định
nghĩa:“Thi hành án, giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc
một vụ án được xét xử nhằm làm cho các phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật Vì vậy, bản án sau khi có hiệu lực thi hành phải được thi hành nghiêm chỉnh”
Dưới góc độ chính sách pháp luật của Nhà nước ta, hoạt động thi hành án được coi là hoạt động tư pháp, cụ thể là Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đề ra chủ trương tiếp tục cải cách, đổi mới tổ chức hoạt động các cơ quan tư pháp,
đã nhấn mạnh:“Thành lập cảnh sát tư pháp trên cơ sở tổ chức và lực lượng hiện có
ở ngành công an để hỗ trợ công tác thi hành án hình sự, dân sự , khẩn trương ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án… làm cơ
sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp Ngoài ra, Nghị quyết số
49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến
năm 2020 cũng nêu rõ: “Chuẩn bị về điều kiện cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho
Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án Từng bước thực hiện xã hội hóa, giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án… Xây dựng lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp chính quy, đáp ứng kịp thời cho hoạt động xét xử, thi hành án”
Dưới góc độ thực tiễn, Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đã đi vào thực tế cuộc sống và theo quy định của Luật này thì, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (trừ hệ thống tổ chức thi hành trong quân đội) được tổ chức
và quản lý tập trung, thống nhất theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu
Trang 11trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án - những quy định này mang đậm tính chất tư pháp Tại Tờ trình số 31/TTr-CP ngày 04/4/2008 của Chính phủ về dự
án Luật Thi hành án dân sự cũng đã khẳng định:“Thi hành án dân sự có vai trò
quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước”
Nói tóm lại, hoạt động thi hành án là một trong những hoạt động tư pháp của Nhà nước nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác được thi hành theo đúng quy định của pháp luật
Chấp hành viên thi hành án dân sự, xét về cả phương diện lý luận và phương diện thực tiễn, là một chức danh tư pháp đã được quy định từ rất sớm trong các văn bản pháp luật về THADS Từ khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 đến nay, các quy định về vai trò, vị trí, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và tầm quan trọng của chức danh Chấp hành viên thi hành án dân sự ngày càng được bổ sung, hoàn thiện đầy đủ, xác định vị trí của chức danh này trong bộ máy tổ chức cơ quan thi hành án dân sự cũng như trong quá trình tổ chức thi hành án
Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định:
“1 Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản
án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này Chấp hành viên có ba ngạch
là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp
2 Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm
3 Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên”
Qua nghiên nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về THADS, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, có thể đưa ra quan niệm về Chấp hành viên như sau:
Chấp hành viên là công chức thi hành án dân sự, là người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định của
Trang 12Luật Thi hành án dân sự Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Chấp hành viên được cấp trang phục, phù hiệu để sử dụng trong khi thi hành công
vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ
1.1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành Chấp hành viên
Khái niệm “Chấp hành viên” được ra đời khá sớm ở Việt Nam Người thực hiện ban đầu chưa được gọi Chấp hành viên mà là Ban Tư pháp xã và Thừa phát lại (Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tháng 7/1946 đến tháng 7/1960 nhiệm vụ thi hành án do Thẩm phán kiêm nhiệm vừa xét xử vừa
tổ chức thi hành bản án, quyết định Sau đó, trong khoảng 12 năm (từ tháng 7/1960 đến tháng 10/1972), bố trí ở các Tòa án nhân dân địa phương Theo đó, Phòng Chỉ đạo thi hành án được thành lập từ ngày 14/11/1974 [25, tr 158]
Từ ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186-TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và Thông tư số 186-
TC cùng ngày hướng dẫn thực hiện Quyết định số 186-TC đã thay tên gọi “Nhân viên Chấp hành án” bằng tên gọi “Chấp hành viên”, tuy nhiên về tổ chức thì Chấp hành viên vẫn được bố trí ở các Tòa án địa phương dưới sự quản lý của Chánh án Tòa án để thực hiện chuyên trách việc thi hành án Khái niệm “Chấp hành viên” ra đời và được sử dụng thống nhất trong Luật Thi hành án dân sự và trong các văn bản pháp luật khác có liên quan từ đó đến nay Như vậy, khái niệm “Chấp hành viên” được ra đời từ các tên gọi trước đây xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam như “Thừa phát lại”, “Chấp hành viên đồng thời là Thẩm phán”, “Nhân viên Chấp hành án” [25, tr 159]
Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy
định: Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án,
quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự
Trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008, việc tổ chức thi hành bản
án, quyết định về dân sự do Chấp hành viên thực hiện Tuy nhiên, đồng thời với việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Quốc hội cũng ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, theo đó, Nghị quyết quy định để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số
Trang 13công việc liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương Việc thí điểm được thực hiện từ ngày luật này có hiệu lực đến ngày 01/7/2012 Đây
là một trong những nội dung triển khai thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Từng bước thực hiện xã hội hóa và
quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan Nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” Trên cơ sở Nghị quyết này của
Đảng, Quốc hội đã lần lượt ban hành 03 Nghị quyết từng bước thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại; bắt đầu từ năm 2010 thí điểm riêng Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 01/7/2012 đến hết ngày 31/12/2015 thực hiện thí điểm nhân rộng trên phạm vi 13 tỉnh thành phố và kể từ ngày 01/01/2016 đã chấm dứt việc thí điểm để thực hiện chính thức, đánh dấu sự ra đời của một nghề mới, nghề Thừa phát lại, trên phạm vi cả nước ở Việt Nam Các Nghị quyết quan trọng của Quốc hội liên quan đến việc thí điểm và tổ chức hoạt động của Thừa phát lại bao gồm, Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về Luật Thi hành án dân sự, Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016
Như vậy, hiện nay, bên cạnh chức danh Chấp hành viên còn có chức danh Thừa phát lại Do vậy nếu nói chỉ có chức danh Chấp hành viên mới có thẩm quyền
tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân sự là hoàn toàn chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và không phù hợp với thực tiễn công tác Thi hành án dân sự Nếu chế định Thừa phát lại vẫn tồn tại và phát triển thì quy định của Luật Thi hành án dân sự phải cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp khi quy định về người được giao tổ chức thi hành bản án, quyết định [25, tr 160]
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về kiện toàn của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự, các chức danh thi hành án dân sự, một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự Luật Thi hành án dân sự
Trang 14năm 2008 và trong cả những nội dung sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự), Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành
án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định 62) đã quy định rất rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và các quy định khác có lên quan đến chức danh Chấp hành viên
Tham gia vào quá trình THADS có rất nhiều chủ thể và mỗi chủ thể có vị trí, vai trò khác nhau Trong đó, chủ thể tham gia vào hầu hết các giai đoạn của quá trình thi hành án và là người giữ vị trí, vai trò tổ chức thi hành án được gọi là “Chấp hành viên” Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành
1.1.1.3 So sánh chức danh Chấp hành viên với một số chức danh khác liên quan
* So sánh chức danh Chấp hành viên với chức danh Thẩm tra viên trong thi hành án dân sự
Xét trên phương diện pháp lý và trên phương diện thực thi chức trách nhiệm vụ được quy định trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản có liên quan thì hai chức danh này hoàn toàn khác biệt Nếu Chấp hành viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ THADS có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định dân
sự, có quyền thực hiện thông báo thi hành án, quyết định về thi hành án như quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.v.v… thì Thẩm tra viên cũng là công chức THADS nhưng không trực tiếp tham gia tổ chức thi hành án, không có thẩm quyền ra các quyết định về thi hành án, mà làm nhiệm vụ kiểm tra công tác thi hành án như là hoạt động kiểm soát trong “nội bộ” ngành, nội bộ cơ quan, đơn vị để kịp thời phát hiện các thiếu sót, vi phạm trong quy trình thủ tục tổ chức thi hành án của Chấp hành viên, thực hiện nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo của đương sự đối với các hoạt động thi hành án, mà đa số là khiếu nại, tố cáo các văn bản, quyết định, hành vi của Chấp hành viên Tuy nhiên trong hoạt động THADS hai chức danh này có mối quan hệ hỗ trợ, hoạt động trực tiếp tổ
Trang 15chức thi hành án của Chấp hành viên làm phát sinh hoạt động kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thẩm tra viên khi Chấp hành viên có sai sót, vi phạm trong quá trình tác nghiệp; ngược lại, nhờ hoạt động kiểm tra của Thẩm tra viên sẽ giúp Chấp hành viên hạn chế, khắc phục được các sai sót, vi phạm xảy ra trong thực thi nhiệm vụ của mình Mặt khác, khái niệm Chấp hành viên được quy định từ khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 và ngày càng được hoàn thiện thể hiện trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án của Chấp hành viên trong khi chức danh Thẩm tra viên lần đầu tiên được quy định trong Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ
* So sánh chức danh Chấp hành viên với chức danh Thừa phát lại
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công tác thi hành
án dân sự thì sự ra đời của Văn phòng Thừa phát lại đã giúp cho người dân cũng như các tổ chức được quyền lựa chọn về việc yêu cầu thi hành án tại Cơ quan thi hành án hoặc tại Văn phòng Thừa phát lại Thừa phát lại là người được Nhà nước
bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng
và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan Do
đó, giữa chức danh Chấp hành viên và chức danh Thừa phát lại có một số đặc điểm giống nhau về thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ như trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự, xác minh điều kiện thi hành án, thực hiện việc tống đạt các văn bản giấy tờ cho đương sự Tuy nhiên, giữa Chấp hành viên và Thừa phát lại có một số đặc điểm khác nhau như: Thừa phát lại được lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Thừa phát lại không tổ chức thi hành các bản án, quyết định trong trường hợp Thủ trưởng Cơ quan thi hành
án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án; trong khi Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành các các bản án, quyết định dân sự theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (không phân biệt là trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án hay trường hợp ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu) Khi tổ chức thi hành án Thừa phát lại không có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như Chấp hành viên Và dù là Thừa phát lại hay Chấp hành viên đều phải
Trang 16thực hiện đúng trình tự, thủ tục, tuân thủ các quy định của pháp luật về thi hành án,
và đều chịu sự kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và quy định pháp luật liên quan Hệ thống pháp luật về Thừa phát lại cũng chưa được hoàn thiện cũng gây khó khăn nhiều cho hoạt động của Thừa phát lại
* So sánh chức danh Chấp hành viên với Thẩm phán, Kiểm sát viên
Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp Hiện nay, trong ngành Kiểm sát và Tòa án cũng có các ngạch kiểm sát viên (Điều 76 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014), các ngạch Thẩm phán tương tự như ngạch Chấp hành viên (Điều 66 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014)
Tuy nhiên, theo quy định Thẩm phán là chức danh xét xử chuyên nghiệp và
là công chức nhà nước Trong hội đồng xét xử, Thẩm phán được coi là chuyên gia
có trình độ chuyên môn cao về pháp luật Thẩm phán đóng vai trò chính “gánh vác” chức năng xét xử của Tòa án Đối với Kiểm sát viên thì tại Điều 74 và Điều 83
của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Kiểm sát viên là
người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Như vậy, Thẩm phán hay Kiểm
sát viên đều có một số đặc điểm giống Chấp hành viên, đó là đều là công chức nhà nước, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, về bản chất, Thẩm phán, Kiểm sát viên có vai trò, chức trách, nhiệm vụ hoàn toàn khác biệt với Chấp hành viên, đó là, nhiệm vụ của Kiểm sát viên là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (trong đó có hoạt động THADS), còn Thẩm phán là chức danh xét xử Chấp hành viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ THADS, là người được Nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo Luật Thi hành án dân sự, quá trình tổ chức thi hành Chấp hành viên chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm tra trực tiếp từ Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên và chịu sự kiểm sát trực tiếp từ Kiểm sát viên được phân công làm nhiệm vụ trực tiếp kiểm sát hoạt động THADS
1.1.2 Đặc điểm, các ngạch Chấp hành viên
1.1.2.1 Đặc điểm của Chấp hành viên
Trang 17Chấp hành viên có các đặc điểm cơ bản sau:
* Chấp hành viên là công chức nhà nước, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
Chấp hành viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành những vụ việc, quyết định dân sự theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự Trong hoạt động THADS, Chấp hành viên giữ vị trí trung tâm, là người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự; khi tổ chức thi hành án, Chấp hành viên độc lập, nhân danh sử dụng quyền lực Nhà nước để kịp thời tổ chức thi hành án
1.1.2.2 Các ngạch Chấp hành viên
Tại Điều 3 của Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05 tháng 04 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức chuyên ngành THADS thì chức danh Chấp hành viên thi hành án dân sự được chia làm ba ngạch, với tên, mã ngạch như sau:
(1) Chấp hành viên cao cấp; Mã số ngạch: 03.299
(2) Chấp hành viên trung cấp; Mã số ngạch: 03.300
(3) Chấp hành viên sơ cấp; Mã số ngạch: 03.301
a) Chấp hành viên cao cấp: Chấp hành viên cao cấp là công chức chuyên
môn nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính cao nhất; trực tiếp tổ chức thi hành những vụ việc THADS, thi hành án hành chính đặc biệt phức tạp, có liên quan đến các ngành, các cấp, các địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự
b) Chấp hành viên trung cấp: Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên
môn nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính, trực tiếp tổ chức thi hành những vụ việc THADS; thi hành án hành chính phức tạp, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự
c) Chấp hành viên sơ cấp: Chấp hành viên sơ cấp là công chức chuyên môn
nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính, có trách nhiệm trực tiếp tổ chức THADS, đôn đốc thi hành án hành chính đối với những vụ việc đơn giản, lượng
Trang 18tiền, tài sản phải thi hành án có giá trị không lớn thuộc thẩm quyền thi hành của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự
Ngoài ra từ Điều 5 đến Điều 7 của Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05 tháng 04 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (sau đây gọi tắt là Thông tư 03) còn quy định cụ thể chức trách, nhiệm vụ và tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của các ngạch Chấp hành viên cao cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên sơ cấp
1.1.3 Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên
Chấp hành viên là công chức nhà nước và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động thi hành án, cho nên chỉ những người đáp ứng đủ những tiêu chuẩn
do pháp luật quy định mới được bổ nhiệm làm Chấp hành viên Điểm mới trong tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên theo quy định tại Điều 18 Luật Thi hành án dân sự
đó là quy định cụ thể về thời gian làm công tác pháp luật đối với các ngạch Chấp hành viên Theo đó, Chấp hành viên sơ cấp phải có thời gian công tác pháp luật từ
03 năm trở lên, đối với Chấp hành viên trung cấp thì phải có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên, đối với Chấp hành viên cao cấp thì phải có thời gian làm chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên Một trong các tiêu chuẩn bắt buộc để được bổ nhiệm làm Chấp hành viên đó là phải qua kỳ thi và trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên ở các ngạch tương ứng Quy định mới về thi tuyển Chấp hành viên này nhằm khắc phục hạn chế trong quy trình, thủ tục tuyển chọn để bổ nhiệm Chấp hành viên theo quy định của pháp luật hiện hành, thông qua thi tuyển
sẽ cho phép lựa chọn được người có đủ tiêu chuẩn, năng lực để bổ nhiệm Chấp hành viên, tạo khả năng thu hút cán bộ hoạt động ở những lĩnh vực khác, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính
Trang 19Tuy nhiên, việc thi tuyển Chấp hành viên trong thời gian trước mắt cũng có trường hợp ngoại lệ để phù hợp với điều kiện cụ thể về nguồn công chức làm công tác thi hành án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết số 24/2008/NQ-QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự đã nhất trí giao cho Chính phủ quy định những cơ quan Thi hành án dân sự cụ thể ở các địa bàn này được tuyển chọn người có trình độ cử nhân luật làm Chấp hành viên không qua thi tuyển trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành
Về thời hạn bổ nhiệm Chấp hành viên: Luật Thi hành án dân sự đã quy định mới về việc bổ nhiệm Chấp hành viên không kỳ hạn, vừa kế thừa được những ưu điểm, vừa khắc phục được về cơ bản những hạn chế của việc bổ nhiệm Chấp hành viên có kỳ hạn Chấp hành viên là chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về Thi hành án dân sự nên việc bổ nhiệm Chấp hành viên không theo nhiệm kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để Chấp hành viên làm tốt công tác thi hành án, điều này cũng không hạn chế việc xử lý kỷ luật nếu Chấp hành viên có vi phạm hoặc miễn nhiệm nếu chấp hành viên không đủ năng lực, điều kiện làm chấp hành viên Hơn nữa, quy định mới về việc bổ nhiệm Chấp hành viên không kỳ hạn cũng phù hợp với định hướng đã được quy định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ
Chính trị, đó là: “Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ
bổ nhiệm không có kỳ hạn”
1.1.3.2 Miễn nhiệm Chấp hành viên
Ngoài ra, để giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho Chấp hành viên khi được chuyển công tác, theo quy định tại Điều 19 Luật Thi hành án dân sự
đã quy định Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan khác vì việc làm thủ tục miễn nhiệm chức danh Chấp hành viên đối với họ trong các trường hợp này là không thật sự cần thiết Ngoài ra, Luật Thi hành án dân sự cũng đã quy định các trường hợp phải được Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên, đó là trường hợp do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khoẻ mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao; do năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không còn đủ tiêu chuẩn để
Trang 20làm Chấp hành viên Trình tự, thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên do Chính phủ quy định được quy định tại Điều 64 Nghị định 62
1.1.3.3 Cách chức Chấp hành viên
Được quy định tại Điều 65 Nghị định 62, Chấp hành viên có thể bị cách chức Chấp hành viên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án chưa đến mức bị thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy cần thiết phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức Chấp hành viên; Vi phạm nghiêm trọng quy định những điều Chấp hành viên không được làm mà xét thấy cần thiết phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức Chấp hành viên Trình tự, thủ tục để đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cách chức Chấp hành viên được thực hiện theo quy định của pháp luật về kỷ luật đối với cán bộ, công chức
1.1.3.4 Điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 70 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì thẩm quyền điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên đang giữ chức vụ lãnh đạo thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quyết định việc điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên từ tỉnh này sang tỉnh khác, Chấp hành viên viên đang giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên trong địa bàn do mình quản lý Trường hợp điều động, luân chuyển Chấp hành viên giữ chức vụ lãnh đạo quản lý thì phải xin ý kiến của người có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo trước khi thực hiện điều động, luân chuyển, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự
1.1.4.1 Chấp hành viên là người trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp luật quy định
Tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên phát sinh trong quá trình thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành thể hiện vị trí của Chấp hành viên trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật thi hành án dân
Trang 21sự tạo thành địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự Việc xác định địa vị pháp lý của Chấp hành viên chịu sự quy định và chi phối của nhiều yếu
tố khác nhau như đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự, bản chất của thi hành án dân sự, vị trí, vai trò của Chấp hành viên hành viên trong THADS [24]
Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự, thì trong hoạt động THADS chỉ có Chấp hành viên là người duy nhất được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác
do pháp luật quy định Ngoài Chấp hành viên, trong THADS, các chức danh khác như Thẩm tra viên, Lưu trữ viên, Thủ quỹ… không được trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự Tuy nhiên, không phải vì thế mà Chấp hành viên được phép lạm quyền, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín
1.1.4.2 Chấp hành viên là trung tâm, hạt nhân của hoạt động thi hành án
Chấp hành viên là người giữ vị trí trung tâm trong hoạt động THADS, chức danh Chấp hành viên công chức chuyên mô nghiệp vụ thi hành án dân sự, do Nhà nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định dân sự; khi tổ chức thi hành án, Chấp hành viên nhân danh, sử dụng quyền lực Nhà nước để kịp thời tổ chức thi hành án
Trong cơ quan Thi hành án dân sự, nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự là nhiệm vụ chính, xuyên suốt, kết quả công tác THADS hàng năm của các cơ quan thi hành án dân sự chủ yếu dựa trên kết quả thi hành án về việc và tiền của các Chấp hành viên, hoạt động của Chấp hành viên góp phần tạo nên uy tín, sức mạnh cho các cơ quan Thi hành án dân sự Vai trò của Chấp hành viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định kết quả công việc của cơ quan Nếu như các phán quyết của Tòa án mới chỉ là trên giấy thì hoạt động tác nghiệp của Chấp hành viên là tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự, do
đó hoạt động của Chấp hành viên thường được dư luận xã hội quan tâm chú ý Tư cách, đạo đức nghề nghiệp, trình độ, kỹ năng xử lý vụ việc của Chấp hành viên là những tiêu chí, thước đo để người dân đánh giá vị thế của cơ quan Thi hành án dân
Trang 22sự, tính chuyên nghiệp của công chức, đánh giá về bộ máy nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật
1.1.4.3 Hoạt động của Chấp hành viên mang tính độc lập
Điều này được hiểu là trong qúa trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên không bị tác động, can thiệp từ bất cứ ai, cơ quan nào để buộc phải tổ chức thi hành
án trái quy định của pháp luật Nhiệm vụ và quyền hạn của Chấp hành viên do pháp luật THADS quy định, Chấp hành viên tổ chức thi hành bản án, quyết định khi được thủ trưởng cơ quan Thi hành án phân công
1.2 Địa vị pháp lý Chấp hành viên trong thi hành án dân sự
1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý Chấp hành viên
Địa vị pháp lý là tổng thể các quyền, nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật, phản ánh vị trí, tư cách pháp lý của chủ thể đó trong các mối quan hệ pháp luật
Địa vị pháp lý Chấp hành viên trong thi hành án dân sự được hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ tổ chức thi hành án của Chấp hành viên phát sinh trong quá trình thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành, thể hiện vị trí của Chấp hành viên trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật thi hành án dân
sự Trong đó các quyền thi hành án dân sự của Chấp hành viên là phạm vi những việc mà Chấp hành viên được quyền quyết định, thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình còn nghĩa vụ thi hành án của Chấp hành viên được hiểu là những việc mà Chấp hành viên phải thực hiện trong quá trình tổ chức thi hành án nhằm đảm bảo cho việc thi hành bản án, quyết định được nhanh chóng và hiệu quả Chấp hành viên không chỉ là chủ thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự mà còn là chủ thể của nhiều loại quan hệ pháp luật khác như quan hệ pháp luật hành chính Vì vậy, ngoài pháp luật thi hành án dân sự, hành vi của Chấp hành viên còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác Tuy nhiên, nói đến địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong THADS là chỉ nói đến các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên với tư cách là người trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự, phát sinh trong quá trình THADS, các quyền và nghĩa vụ này trước hết được quy định tại Luật thi hành án dân sự 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự 2008, cụ thể, Điều 20 Luật Thi hành án dân sự đã quy định 10 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên:
Trang 23- Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền
- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên
- Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án
- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án
- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án
- Yêu cầu cơ quan công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật
- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành án; quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm
- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chỉ trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án dân sự và các khoản phải nộp khác
- Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ
- Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín
Có thể quan niệm về địa vị pháp lý Chấp hành viên thi hành án dân sự như sau:
Trang 24Địa vị pháp lý Chấp hành viên thi hành án dân sự là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong các quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự, thể hiện vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức trách, nhiệm vụ, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chấp hành viên khi thực hiện các nhiệm vụ thi hành thi hành các bản án, quyết định theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Cấu thành địa vị pháp lý Chấp hành viên
Cấu thành địa vị pháp lý Chấp hành viên bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên phát sinh trong quá trình thi hành các bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự
Địa vị pháp lý của Chấp hành viên gắn liền với các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong quá trình thi hành án, do đó để xác định địa vị pháp lý của Chấp hành viên cần nghiên cứu các quy định của pháp luật quy định về các quyền
và nghĩa vụ của Chấp hành viên
1.2.2.1 Khái quát chung về các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên
a) Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên:
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự 2008 gồm có 10 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn được trình bày ở phần trên
b) Quy định nhiệm vụ cụ thể đối với từng ngạch Chấp hành viên:
Theo Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05 tháng 04 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân sự thì thì mỗi ngạch Chấp hành viên tương ứng có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhiệm vụ cụ thể đối với ngạch Chấp hành viên sơ cấp là trực tiếp
tổ chức thi hành án dân sự, đôn đốc thi hành án hành chính đối với những vụ việc đơn giản, lượng tiền, tài sản phải thi hành án có giá trị không lớn thuộc thẩm quyền thi hành của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự
Thứ hai, nhiệm vụ cụ thể đối với ngạch Chấp hành viên trung cấp là trực tiếp
tổ chức thi hành những vụ việc thi hành án dân sự; thi hành án hành chính phức tạp,
Trang 25tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự
Thứ ba, nhiệm vụ cụ thể đối với ngạch Chấp hành viên cao cấp là trực tiếp tổ
chức thi hành những vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính đặc biệt phức tạp, có liên quan đến các ngành, các cấp, các địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự
Đồng thời, Chấp hành viên còn được hưởng các quyền, phải thực hiện các chức trách, nhiệm vụ, nghĩa vụ theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các quy định của pháp luật hiện hành
c) Quy định về trách nhiệm của Chấp hành viên:
Điều 21 Luật Thi hành án dân sự quy định những việc Chấp hành viên không được làm, gồm:
- Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm
- Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật
- Can thiệp trái pháp luật vào việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án
- Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án
- Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
+ Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc của chồng Chấp hành viên;
+ Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì;
- Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục; phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
- Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án
- Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật
Trang 261.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ
a) Địa vị pháp lý Chấp hành viên thể hiện ở các quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trong THADS:
Theo pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự được cụ thể hoá bởi nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, trong đó Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 bao hàm những công việc Chấp hành viên được làm, đặc biệt Khoản 4 và Khoản 6 Điều luật này nêu rõ Chấp hành viên
có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án và thực hiện các công việc pháp luật quy định, đây là nội dung quan trọng để Chấp hành viên thực hiện việc thi hành
án đúng pháp luật Ở cuối điều luật này quy định: “Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm và uy tín”, để được pháp luật bảo vệ, trước tiên Chấp hành viên phải
sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ đúng pháp luật, hành xử đúng chuẩn mực đạo đức được quy định
Để hạn chế tiêu cực, giúp Chấp hành viên nâng cao ý thức trách nhiệm, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã dành Điều 21 quy định những việc Chấp hành viên không được làm, nhằm giúp phòng tránh tham nhũng và hạn chế tiêu cực khi thi hành công vụ của Chấp hành viên, trong đó, Khoản 7, Khoản 8 nhấn mạnh điều Chấp hành viên không được sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án; không được cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định, trì hoãn, kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án Năm
2010, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành cũng đã buộc người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án dân sự phải nghiêm khắc hơn trong quá trình hoạt động của mình để tránh gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ
chức và Nhà nước
Trang 27Luật Thi hành án dân sự quy định trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Chấp hành viên được quyền ra các quyết định về thi hành án, chẳng hạn như căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, nếu xét thấy người phải thi hành án thuộc một trong các trường hợp như: người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, cho người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án…
Luật Thi hành án dân sự 2008 đã quy định thêm cho Chấp hành viên có những nhiệm vụ quyền hạn mới Theo đó, Chấp hành viên có quyền được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ và được quyền áp dụng biện pháp bảo đảm Thi hành án dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn THADS trong tình hình mới
b) Địa vị pháp lý Chấp hành viên thể hiện thông qua các quy định về trình tự, thủ tục thi hành các bản án, quyết định:
Bên cạnh những quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trong quá trình THADS, địa vị pháp lý Chấp hành viên còn thể hiện thông qua các quy định về trình tự, thủ tục thi hành các bản án, quyết định (bao gồm giai đoạn tự nguyện thi hành án, giai đoạn cưỡng chế thi hành án và giai đoạn kết thúc thi hành án) Đây là những quy định hết sức cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của Chấp hành viên khi xử lý một vụ việc thi hành án cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể, chẳng hạn như trong giai đoạn tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên có nhiệm vụ: Thông báo các quyết định thi hành án và giấy báo tự nguyện thi hành án cho đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đồng thời Chấp hành viên có quyền: Triệu tập đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; quyền được áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc các biện pháp cưỡng chế quy định tại Chương IV Luật Thi hành án dân sự 2008 hoặc trong giai đoạn cưỡng chế thi hành án nếu xét thấy người phải thi hành án có tài sản nhưng không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên có nhiệm vụ căn cứ vào kết quả xác minh điều kiện thi hành án, tình hình thực tế của địa phương, nghĩa vụ phải thi hành, yêu cầu của đương sự để lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế Thi hành
án cho phù hợp, đạt hiệu quả (Điều 71 Luật Thi hành án sự 2008); ra quyết định
Trang 28cưỡng chế và thông báo quyết định cưỡng chế thi hành án (Điều 38 Luật Thi hành
án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014; Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2008); lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án (Điều 72 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014) tổ chức cưỡng chế, đồng thời Chấp hành viên cũng có nghĩa vụ thông báo quá trình tổ chức thi hành án cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bảo đảm việc thi hành án được công khai, minh bạch
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên thể hiện ở thủ tục thi hành án giai đoạn sau khi cưỡng chế thi hành án: Đối với loại việc thi hành án trả tài sản cho người được thi hành án thì sau khi tổ chức giao tài sản cho người được thi hành án thì Chấp hành viên có thể tiến hành thu phí thi hành án của người được thi hành án Công việc cuối cùng của Chấp hành viên là sắp xếp hồ sơ và lưu trữ hồ sơ thi hành án; Đối với loại việc thi hành án trả tiền cho người được thi hành án, sau khi thực hiện xong biện pháp cưỡng chế và thu được tiền thì Chấp hành viên phải thực hiện thanh toán tiền cho người được thi hành án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền
1.3 Các yếu tố tác động đến địa vị pháp lý Chấp hành viên
1.3.1 Quy định của pháp luật về địa vị pháp lý Chấp hành viên
Việc hoàn thiện thể chế, hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đã quyết định đến sự hoàn thiện về tư cách, địa vị, vị trí, vai trò, quyền hạn
và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của Chấp hành viên, từ đó tạo cơ sở pháp lý, tạo
cơ chế hoạt động thuận lợi cho các Chấp hành viên trong việc thực thi công vụ Đồng thời, có cơ chế giải quyết kịp thời đối với những khó khăn, bất cập thực tiễn thi hành án của Chấp hành viên để thi hành dứt điểm các vụ việc kéo dài, tồn đọng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân
1.3.2 Tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự
Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện được sắp xếp, kiện toàn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự cơ bản đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao Các bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đã được tổ chức thi hành nghiêm chỉnh; phần lớn các địa phương đều hoàn thành vượt chỉ tiêu thi hành
án do Quốc hội và cơ quan thi hành án cấp trên đề ra Cơ chế tổ chức, hoạt động của bộ máy của cơ quan thi hành án dân sự có ảnh hưởng, tác động mang tính quyết
Trang 29định đến vai trò, địa vị và tư cách của Chấp hành viên trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự Với thể chế, quy định của pháp luật ngày càng được hoàn thiện, cơ cấu tổ chức cơ quan thi hành án được kiện toàn hơn đã mang lại hiệu quả hoạt động cho Chấp hành viên, tạo ra vị thế, sự chuyên trách, thẩm quyền rõ ràng cho Chấp hành viên, qua đó khẳng định, củng cố và hoàn thiện địa vị pháp lý của Chấp hành viên
1.3.3 Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự
Công tác THADS là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền về tài sản và nhân thân của các bên đương sự Để giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành nhiều thủ tục như: Tống đạt, xác minh, áp dụng các biện pháp đảm bảo, biện pháp cưỡng chế thi hành án v.v… Ví dụ: Chấp hành viên cần xác minh tài khoản của người phải thi hành thì cần sự phối hợp của ngân hàng, tổ chức tín dụng v.v… Ở đâu, nơi nào có sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương thì nơi đó công tác thi hành án thuận lợi và đạt được thành tích tốt Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chưa thấy được hết trách nhiệm của mình hoặc có nhận biết trách nhiệm nhưng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời các yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến lượng hồ sơ THADS còn tồn đọng nhiều
Từ thực tiễn cho thấy việc phối hợp tốt với các cơ quan, tổ chức, ban ngành có liên quan trong THADS là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác THADS
1.3.4 Năng lực của Chấp hành viên
Mặc dù những năm gần đây, công tác THADS đã được được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện qua đội ngũ Chấp hành viên đã được tăng cường về số lượng và cả chất lượng, tuy nhiên công tác THADS vẫn là mối quan tâm trong lĩnh vực tư pháp do số lượng án tồn đọng ở một số nơi chưa được thi hành còn nhiều, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp còn xảy ra Một trong những nguyên nhân cơ bản
là do năng lực của Chấp hành viên trong THADS còn hạn chế Do đó, nâng cao năng lực của Chấp hành viên trong THADS giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt và mục tiêu của cải cách tư pháp
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, Chấp hành viên thi hành án dân sự nào cũng phải có năng lực nhất định Với trách nhiệm là người được Nhà nước trao
Trang 30quyền trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự và do tính chất công việc, năng lực của Chấp hành viên trong THADS là tổng hợp những yếu tố như: khả năng nhận thức, khả năng áp dụng pháp luật, khả năng làm việc độc lập, tính quyết đoán cao, khả năng kiềm chế và kiên nhẫn, khả năng làm việc với nhiều người và khả năng sáng tạo, khả năng kiểm tra và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn [39] Tất cả những yếu tố đó có tác động trực tiếp đến khả năng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
và hiệu quả của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án
1.3.5 Công tác kiểm tra của Thẩm tra viên đối với hồ sơ của Chấp hành viên
Mặc dù thẩm tra viên không phải là người được Nhà nước giao trực tiếp tổ chức thi hành án như Chấp hành viên nhưng thông qua công tác kiểm tra hoạt động thi hành án (các đợt kiểm tra hoặc kiểm tra hồ sơ cụ thể một vụ việc do Chấp hành viên tổ chức thi hành); công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hồ sơ của Chấp hành viên, Thẩm tra viên sẽ kiểm tra xem Chấp hành viên đã thực hiện đúng, đầy đủ, chặt chẽ các thủ tục theo quy định của pháp luật chưa, giúp Chấp hành viên khắc phục, hạn chế những vi phạm xảy ra trên thực tế, nếu phát hiện Chấp hành viên có hành vi
vi phạm pháp luật thì Chấp hành viên sẽ phải tiến hành xử lý theo quy định Nhờ có công tác kiểm tra của Thẩm tra viên đã góp phần nâng cao ý thức, kỹ năng, trách nhiệm của Chấp hành viên trong tổ chức thi hành án
1.3.6 Ý thức pháp luật trong xã hội
Khác với giai đoạn xét xử và giải quyết tranh chấp trước đó, các quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự mới chỉ được xác định trên giấy thì hoạt động THADS lại trực tiếp tác động đến các quyền nhân thân và tài sản - các quyền, lợi ích thiết thân của người phải thi hành án, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người phải THADS và gia đình họ Chính vì vậy, trong THADS, các đương sự thường phản ứng gay gắt, quyết liệt và tìm mọi cách để chống đối, cản trở việc thi hành án, làm cho các quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định chậm được thực hiện hoặc không thực hiện được, án dân sự tồn đọng, kéo dài từ năm này qua năm khác Một
số đương sự có văn hóa ứng xử không phù hợp và chưa nắm vững quy định của pháp luật, điều này cũng có từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện hiện chức trách, nhiệm vụ quyền hạn của Chấp hành viên theo quy định của pháp luật
Trang 31Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, địa vị pháp lý Chấp hành viên đã được khái quát, chỉ rõ về mặt lý luận, phân tích, phát triển ở các nội dung cơ bản gồm: Các quan điểm, quan niệm về Chấp hành viên, lịch sử hình thành chức danh, vai trò, chức năng, nhiệm vụ v.v… cấu thành nên địa vị pháp lý Chấp hành viên trong THADS Chấp hành viên
là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự Địa vị pháp lý Chấp hành viên THADS là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong các quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự, thể hiện vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức trách, nhiệm vụ, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chấp hành phát sinh trong quá trình thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành Cấu thành địa vị pháp lý Chấp hành viên thể hiện ở các quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trong THADS và thông qua các quy định về trình tự, thủ tục thi hành các bản án, quyết định (giai đoạn tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án và giai đoạn kết thúc thi hành án) Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến địa vị pháp lý Chấp hành viên bao gồm: Pháp luật; thông qua công tác kiểm tra của Thẩm tra viên; Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan; Năng lực của Chấp hành viên; Tổ chức bộ máy
cơ quan thi hành án dân sự; và Ý thức pháp luật trong xã hội
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CHẤP HÀNH VIÊN
TRONG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ
Sau khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được Quốc hội thông qua, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Thi hành án dân sự Theo đó, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có tên gọi là Cục Thi hành án dân sự tỉnh, là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự của Bộ Tư pháp Cục Thi hành án dân sự tỉnh có các phòng chuyên môn trực thuộc Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác giữa các phòng chuyên môn trực thuộc do Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh quy định
Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở
cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số BTP ngày 06/11/2009 và Quyết định số 1712/QĐ-BTP ngày 23/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, tài khoản riêng
2468/QĐ-và trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh
Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh có 06 phòng chuyên môn
trực thuộc: 1) Văn phòng; 2) Phòng Tổ chức cán bộ; 3) Phòng Nghiệp vụ và Tổ
chức thi hành bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân giai đình, phá sản, trọng tài thương mại (gọi tắt là Phòng Nghiệp vụ 1); 4) Phòng Nghiệp vụ và
Tổ chức thi hành án phần dân sự, tiền, tài sản, vật chứng trong bản án, quyết định hình sự, hành chính và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản; đôn đốc thi hành án hành chính (gọi tắt là Phòng Nghiệp vụ 2); 5) Phòng Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; 6) Phòng Kế hoạch - Tài chính
Trang 33Trong đó, Phòng Nghiệp vụ 1 và Phòng Nghiệp vụ 2 có số lượng Chấp hành viên nhiều nhất, có chức năng chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự, ngoài ra còn chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện quản lý, hướng dẫn, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra nghiệp vụ thi hành án đối với các Chấp hành viên
Các phòng chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Cục, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự
Ngoài các phòng chuyên môn trực thuộc, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh còn có 24 Chi cục Thi hành án dân sự quận, huyện trực thuộc (kể từ ngày 01/01/2021, thực hiện Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Ủy ban Thường vụ vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thành lập Thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, đã sáp nhập 03 Chi cục gồm Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức thành Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức trực thuộc Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) Các Chi cục thi hành án dân sự quận, huyện thực hiện chức năng thi hành án dân sự và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định tại Điều 16 Luật Thi hành án dân sự 2008
Về đội ngũ công chức: Năm 2021, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được giao 624 biên chế (Cục: 120 người; Chi cục: 504 người) Tuy nhiên, tính đến thời điểm tháng 02 năm 2021, số biên chế hiện có là 580 người (Cục: 112; Chi cục: 468 người), còn thiếu 44 người so với số biên chế được giao
Về công chức lãnh đạo: Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh có Cục trưởng đồng thời là Thủ trưởng cơ quan và 03 Phó Cục trưởng đồng thời là Phó Thủ trưởng cơ quan (thiếu 01 Phó Cục trưởng); 06 Trưởng phòng và 13 Phó trưởng phòng chuyên môn
Trong tổng số 580 biên chế của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, có: 309 Chấp hành viên (trong đó có 02 Chấp hành viên cao cấp bao gồm cả Cục trưởng và Phó Cục trưởng; 93 Chấp hành viên trung cấp; 214 Chấp hành viên
Trang 34sơ cấp); 27 Thẩm tra viên thi hành án (trong đó có 04 Thẩm tra viên chính và 23 Thẩm tra viên); 113 Thư ký thi hành án (trong đó 108 Thư ký và 05 Thư ký trung cấp); 61 Kế toán viên, số còn lại giữ các chức danh khác như: Chuyên viên, Văn thư, Thủ kho, Thủ quỹ,
- Số lượng Chấp hành viên trong các cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh các năm gần đây như sau:
Bảng 2.1 Số lượng Chấp hành viên các cơ quan THADS Thành phố Hồ Chí
Minh từ năm 2017-2020 (người)
hành viên cao cấp
Chấp hành viên trung cấp
Chấp hành viên sơ cấp
(Nguồn: Báo cáo của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
Theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Thông tư số 03/2017-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức Chấp hành viên và Thư ký thi hành án dân sự thì, Chấp hành viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính cao nhất, trực tiếp tổ chức thi hành những vụ việc thi hành án dân sự; thi hành án hành chính đặc biệt phức tạp, có liên quan đến các ngành, các cấp, các địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự; Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính, trực tiếp
tổ chức thi hành những vụ việc thi hành án dân sự; thi hành án hành chính phức tạp, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự; Chấp hành viên sơ cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ THADS, thi hành án hành chính, có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự, đôn đốc thi hành án hành chính đối với những vụ việc đơn giản, lượng tiền, tài sản phải thi hành án có giá trị
Trang 35không lớn thuộc thẩm quyền thi hành của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành
2.1.2 Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm tài chính, thương mại lớn của cả nước, số lượng giao dịch thương mại ngày càng tăng qua các năm Cùng với việc phát triển lớn mạnh là các vụ tranh chấp thường xuyên xảy ra, là nơi tập trung những vụ việc kinh tế, hình sự phức tạp có tính chất trọng điểm của cả nước
Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành, được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, sâu sắc của lãnh đạo Bộ
Tư pháp, lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự, các cơ quan Thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
Với số thụ lý chiếm 13% về việc và 33% về tiền của toàn hệ thống nhưng số biên chế được giao chỉ chiếm 6% của toàn hệ thống thi hành án dân sự, là một áp lực rất lớn đối với các cơ quan Thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; tuy vậy, với nỗ lực, quyết tâm hoàn thành và vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, kết quả công tác THADS Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 11,57% về việc và 30,84% về tiền trong chỉ tiêu nhiệm vụ của toàn hệ thống (năm 2019)
Trang 36Về việc, các cơ quan Thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết xong 59.082 việc trong năm 2015 và tăng lên 63.936 việc trong năm 2019; về tiền đã giải quyết xong 11.892 tỷ đồng trong năm 2015 và tăng lên 23.917 tỷ đồng trong năm 2019 So với số lượng Chấp hành viên, mỗi Chấp hành viên thi hành xong bình quân 192 việc và 38,7 tỷ đồng trong năm 2015, thì đến năm 2019, mỗi Chấp hành viên thi hành xong bình quân 196 việc và 73,4 tỷ đồng Về theo dõi việc thi hành án hành chính, đến năm 2019, chỉ còn theo dõi 58 việc thi hành án hành chính
Trong 05 năm qua, kết quả thi hành án về việc và tiền của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đều đạt và vượt các chỉ tiêu do cấp trên giao Với những thành tích, kết quả đã đạt được liên tục trong nhiều năm, tập thể và nhiều cá nhân Cục Thi hành án dân sự Thành phố đã được Bộ Tư pháp công nhận tập thể lao động xuất sắc và được tặng cơ thi đua ngành Tư pháp; nhiều cá nhân điển hình tiên tiến đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng và các danh hiệu cao quý trong phong trào thi đua như: Bằng khen của Chính phủ; Huân chương Lao động hạng Ba
Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền địa phương nên công tác thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sâu sát, kịp thời, đạt hiệu quả cao; nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất hết sức phức tạp, có ảnh hưởng rất lớn về kinh tế cũng như chính trị, trật tự an toàn xã hội: vụ Trần Văn Giao, vụ Epco Minh Phụng phải thi hành án trên 4.000 tỷ đồng hay như vụ Tân Trường Sanh phải thi hành án trên 1.000 tỷ đồng; trong năm 2020, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý thi hành nhiều vụ có số tiền phải thi hành
án lớn thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng theo dõi như: vụ Huyền Như, vụ Phạm Công Danh, vụ Hứa Thị Phấn, vụ Dương Thanh Cường, vụ Trần Phương Bình…
Tính từ năm 2016 đến năm 2020, Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân
sự Thành phố Hồ Chí Minh đạt kết quả như sau:
Trang 37Bảng 2.2 Kết quả THADS về việc từ năm 2016 -2020
lý (việc)
Tổng có điều kiện (việc)
Tổng giải quyết xong (việc)
Tỷ lệ thi hành xong trong số có điều kiện
Bảng 2.3 Kết quả thi hành án dân sự về tiền năm 2016-2020
Năm Tổng thụ lý (ngàn
đồng)
Tổng có điều kiện (ngàn đồng)
Tổng giải quyết xong (ngàn đồng)
Tỷ lệ thi hành xong trong số có điều kiện
Trang 38cũng làm ảnh hưởng đến tiến độ thi hành án Việc kiện toàn lãnh đạo các đơn vị tiếp tục được quan tâm, chú trọng hơn nhưng vẫn chưa đầy đủ Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính tuy có biến chuyển nhưng chưa đạt yêu cầu của lãnh đạo Bộ Tư pháp, lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự Một số việc báo cáo theo yêu cầu chưa bảo đảm thời gian theo quy định
Ngoài ra, cũng vó những nguyên nhân khách quan làm ảnh hưởng tiến độ thi hành các vụ án, đó là ý thức chấp hành pháp luật của nhiều người phải thi hành án chưa cao Nhiều trường hợp cố tình trốn tránh, chây ỳ không chịu thi hành án và tìm mọi cách để gây khó khăn Chấp hành viên cơ quan thi hành án như khi Chấp hành viên tiến hành thủ tục đo vẽ, kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, giao tài sản cho người mua trúng đấu giá gắp phải sự chống đối, không hợp tác, thậm chí đe dọa dẫn đến vụ việc kéo dài, gây khó khăn trong quá trình thi hành án hoặc một số đương sự cố tình khiếu nại, tố cáo để cố tình trì hoãn việc thi hành án Mặc dù, quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã nhiều lần, động viên, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án nhưng người phải thi hành án vẫn không tự nguyện, dẫn đến việc cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để bảo đảm kỷ cương, tính nghiêm minh của pháp luật Việc người phải thi hành án không
tự nguyện, cản trở việc thi hành án đã gây tốn nhiều công sức và thời gian giải quyết cơ quan thi hành án dân sự
2.2 Thực tế địa vị pháp lý Chấp hành viên trong các cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Địa vị pháp lý Chấp hành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự
2.2.1.1 Tình hình, kết quả thực hiện
* Về nhiệm vụ “Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các
quyết định về thi hành án theo thẩm quyền”:
Trong công tác thi hành án dân sự thì xác minh điều kiện thi hành án là việc làm rất quan trọng của Chấp hành viên, kết quả xác minh chính xác sẽ giúp Chấp hành viên ban hành các quyết định về thi hành án có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành đầy đủ, kịp thời và đúng pháp luật Tuy
Trang 39nhiên, công tác xác minh điều kiện thi hành án là việc làm rất phức tạp đòi hỏi phải phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành luật khác nhau
Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 62, khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiện kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành viên có thể xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, khi Chấp hành viên cùng với chính quyền địa phương đến trực tiếp nơi cư trú của người phải thi hành án để xác minh tài sản thì rất khó xác định được tài sản của người phải thi hành án qua việc yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực tài sản của mình để thi hành án là điều không có tính khả thi trên thực tế, vì đa số đương sự đều không cung cấp nguồn gốc của tài sản, hoặc nêu rõ loại tài sản, thậm chí có trường hợp còn bất hợp tác, không cung cấp hoặc cung cấp không đúng về các tài sản hiện đang có Để đảm bảo quyết định của bản án được thi hành trên thực tế, đạt hiệu quả, nên chăng pháp luật cần quy định bổ sung quy định đối với hoạt động thi hành án cần phải có Cảnh sát tư pháp hỗ trợ bảo vệ cho hoạt động tổ chức thi hành án của Chấp hành viên được an toàn, hiệu quả Trong trường hợp cần thiết có thể xem xét bổ sung cho Chấp hành viên được quyền khám xét nơi ở, khám người, nơi cất giữ đồ đạc của người phải thi hành án thì kết quả thi hành sẽ đạt hiệu quả cao hơn
Theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự “đơn yêu cầu thi hành án phải nêu thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án” Với quy định này, người được thi hành án phải tự mình xác minh điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án để cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án, điều này là không có tính khả thi Người được thi hành án khó có thể yêu cầu cơ quan chức năng cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án Vì tài sản, tài khoản là bí mật thông tin của cá nhân được pháp luật bảo vệ, mặt khác, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thông tin cho người được thi hành án hoặc
cố tình cung cấp sai, thì chưa có biện pháp xử lý, do đó quyền lợi hợp pháp và yêu