1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân trên địa bàn huyện vĩnh tường tỉnh vĩnh phúc giai đoạn 2008 2012

87 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phát hiện, xử lý các vi phạm về đất đai trong nhiều trường hợp còn chậm, thiếu cương quyết, thậm chí vi phạm pháp luật; công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về đất

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––

NGUYỄN XUÂN GIANG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH,

CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH TƯỜNG,

TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2008 - 2012

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ ở học vị nào khác

2 Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã có lời cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và ý kiến đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các phòng, trung tâm thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc; UBND huyện Vĩnh Tường; phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Tường và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu và nghiên cứu thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài./

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ, cụm từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Những đóng góp mới của nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1.2 Một số văn bản pháp lí liên quan đến đề tài 6

1.2 Khái quát về vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai 8

1.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 8

1.2.2 Khái niệm vi phạm hành chính 8

1.2.3 Khái niệm, đặc điểm và các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 9

1.2.4 Một số quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 14

1.3 Sơ lược về tình hình vi phạm và xử lý vi phạm về đất đai trong cả nước và của tỉnh Vĩnh Phúc 24

1.3.1 Sơ lược về tình hình sử dụng đất trên cả nước 24

1.3.2 Tình hình vi phạm và xử lý vi phạm hành chính về đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

Trang 5

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

8 năm 2013 32

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc và được hoàn thiện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 32 2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

34

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 34

2.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu 35

35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Sơ lược về tình hình cơ bản của huyện vĩnh tường 36

3.1.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên của huyện Vĩnh Tường 36

3.1.2 Sơ lược về điều kiện kinh tế-xã hội của huyện Vĩnh Tường 38

3.1.3 Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và thực trạng công tác quản lý đất đai của huyện Vĩnh Tường 40

3.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Vĩnh Tường 41

3.2 Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008 - 2012 43

3.2.1 Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 theo thời gian 44

3.2.2 Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 theo không gian 46

3.2.3 Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 theo hình thức vi phạm 49

Trang 6

3.2.4 Đánh giá sự hiểu biết của người dân về vi phạm hành chính trong sử

dụng đất nông nghiệp 51

3.2.5 Đánh giá chung về thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 55

3.3 Đánh giá kết quả xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 57

3.3.1 Đánh giá kết quả xử lý vi phạm theo thời gian 57

3.3.2 Đánh giá kết quả xử lý vi phạm theo không gian 59

3.3.3 Đánh giá kết quả xử lý vi phạm theo hình thức vi phạm 61

3.3.4 Đánh giá sự hiểu biết của người dân về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp 62

3.3.5 Đánh giá ảnh hưởng của vi phạm và xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp đến công tác quản lý đất đai 65

3.3.6 Đánh giá chung về kết quả xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 67

3.4 Nguyên nhân vi phạm, khó khăn trong giải quyết, giải pháp hạn chế và xử lí vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Tường 70

3.4.1 Nguyên nhân chính dẫn đến vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Tường 70

3.4.2 Khó khăn, hạn chế trong việc xử lý vi phạm 71

3.4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và đẩy mạnh xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Tường 72

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Đề nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

nông nghiệp theo vùng 47Bảng 3.5: Thống kê các trường hợp vi phạm hành chính trong sử dụng đất

nông nghiệp theo hình thức vi phạm 49Bảng 3.6: Đánh giá sự hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến vi phạm hành

chính trong sử dụng đất nông nghiệp 52Bảng 3.7: Đánh giá sự hiểu biết về các hành vi vi phạm hành chính và thẩm

quyền quy định hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp 53Bảng 3.8: Đánh giá sự hiểu biết về mức độ hậu quả của hành vi vi phạm

hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp 54Bảng 3.9: Đánh giá chung sự hiểu biết của người dân về vi phạm hành

chính trong sử dụng đất nông nghiệp 56Bảng 3.10: Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất

nông nghiệp theo thời gian 57Bảng 3.11: Thống kê kết quả xử lý vi phạm theo không gian 59Bảng 3.12: Thống kê kết quả xử lý vi phạm theo vùng 60Bảng 3.13: Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất

nông nghiệp theo hình thức vi phạm 61Bảng 3.14: Đánh giá hiểu biết về các mức xử lý hành vi vi phạm hành

chính trong sử dụng đất nông nghiệp 63Bảng 3.15: Đánh giá sự hiểu biết về thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm

hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp 65Bảng 3.16: Đánh giá về tình trạng và ảnh hưởng của của vi phạm, xử lý vi

phạm đến công tác quản lý đất đai tại cơ sở 66Bảng 3.17: Hình thức xử lý một số trường hợp vi phạm 68

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Số trường hợp vi phạm theo thời gian từ năm 2008-2012 45

Hình 3.2 Diện tích đất vi phạm theo thời gian từ năm từ năm 2008-2012 45

Hình 3.3 Số các trường hợp vi phạm tính theo Vùng 48

Hình 3.4 Diện tích đất vi phạm tính theo Vùng 48

Hình 3.5 Số các trường hợp vi phạm tính theo hình thức vi phạm (%) 50

Hình 3.6 Diện tích đất vi phạm tính theo hình thức vi phạm (%) 50

Hình 3.7 Số trường hợp vi phạm bị xử lý tính theo thời gian 58

Hình 3.8 Diện tích đất vi phạm bị xử lý tính theo thời gian 58

Hình 3.9 Số các trường hợp vi phạm bị xử lý tính theo vùng 60

Hình 3.10 Diện tích đất vi phạm bị xử lý tính theo vùng 60

Hình 3.11 Số trường hợp vi phạm bị xử lý tính theo hình thức vi phạm 62

Hình 3.12 Diện tích đất vi phạm bị xử lý tính theo hình thức vi phạm 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là nơi trên đó, con người xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc; là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa; phân bổ các vùng kinh tế, các khu dân cư; là thành quả cách mạng của cả dân tộc; là cơ sở để phát triển hệ sinh thái, tạo nên môi trường, duy trì sự sống của con người và sinh vật Đối với nước ta phát triển đi lên từ nông nghiệp, hiện nay với đa số người dân sống bằng nghề làm nông nghiệp, bên cạnh việc khai thác sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực từ đất thì công tác đầu tư mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đã, đang và tiếp tục là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách Đất đai có vai trò quan trọng như vậy, nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai Một trong các biện pháp hữu hiệu được Nhà nước chú trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai đó là xử lý các VPHC về đất đai, từng bước lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, trong thời gian qua VPHC về đất đai nói chung và VPHC trong SDĐNN nói riêng vẫn diễn biến phúc tạp hàng ngày, hàng giờ và ở nhiều nơi, không những gây khó khăn cho quản lý nhà nước về đất đai, gây bức xúc cho số đông người sử dụng đất tôn trọng pháp luật đất đai mà còn là nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Vĩnh Tường là huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc, đất chật, người đông, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông Trong những năm vừa qua huyện đã khai thác tương đối tốt nguồn lực từ đất đai cho phát triển KT-XH,

Trang 11

nhiều xã, thị trấn trong huyện người dân đã biết khai thác đất cho sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế, thu nhập ổn định góp phần không nhỏ nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho chính người nông dân

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, việc khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai còn chưa thực sự hợp lý, hiệu quả và bền vững Tình trạng lấn, chiếm đất đai; lợi dụng chủ trương dồn điền đổi thửa, phát triển kinh tế trang trại để xây dựng trang trại không đúng quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt; sử dụng đất sai mục đích nhất là sử dụng đất nông nghiệp làm nhà ở, làm công trình phục vụ kinh doanh, dịch vụ diễn ra phức tạp ở nhiều xã, thị trấn trong huyện mà chưa được các cấp, các ngành xem xét xử lý một cách đồng bộ, dứt điểm Một số cấp uỷ, chính quyền cơ sở phó mặc cho chuyên môn, thậm chí buông lỏng công tác quản lý đất đai dẫn đến tình trạng VPHC trong SDĐNN chưa được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật Động lực thúc đẩy, phát huy nguồn lực từ đất còn nhiều hạn chế đã làm chậm quá trình phát triển KT-XH trên địa bàn huyện

Để có cách nhìn khách quan dựa trên những cơ sở luận cứ khoa học và nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất

nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008-2012”

2 Mục tiêu của đề tài

Trang 12

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của vùng nghiên cứu để thấy được ảnh hưởng đến các VPHC và xử lý VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân như thế nào

- Đánh giá được thực trạng VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 để thấy được nguyên nhân và kết quả phát hiện các vi phạm

- Đánh giá được kết quả xử lý VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 để thấy được kết quả và những khó khăn trong xử lý vi phạm

- Chỉ ra được những nguyên nhân vi phạm; những khó khăn, tồn tại và giải pháp khắc phục trong công tác phát hiện và xử lý VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012

- Giải pháp đề xuất phải đảm bảo khoa học, đúng với chính sách pháp luật của nhà nước, phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi

3 Những đóng góp mới của nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ này là công trình chuyên ngành Quản lý đất đai nghiên cứu VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, các nhân ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn đã khái quát, hệ thống hoá một số cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về VPHC, xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói

Trang 13

chung và trong SDĐNN nói riêng; phân tích đánh giá thực trạng VPHC trong SDĐNN, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường phòng, chống, hạn chế tiến tới đẩy lùi tình trạng VPHC trong SDĐNN, góp phần tăng cường quản lý nhà nước về đất đai ở huyện Vĩnh Tường Phân tích tình hình diễn biến phức tạp và khẳng định yêu cầu bức xúc của việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói chung và trong SDĐNN nói riêng ở Vĩnh Tường Đề xuất các quan điểm và giải pháp phù hợp với thực tiễn của huyện Vĩnh Tường mang tính kiến nghị để các nhà quản lý, những người trực tiếp thi hành xử lý VPHC trong SDĐNN ở huyện Vĩnh Tường nghiên cứu vận dụng

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Do vai trò quan trọng của đất đai đối với sự phát triển của đất nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất quản lý, sử dụng đất đai trên cả nước Luật đất đai năm 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã tạo thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng, phù hợp sự phát triển của đất nước theo từng giai đoạn, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội Tuy nhiên pháp luật về đất đai hiện nay vẫn

còn những hạn chế, bất cập: “Mặc dù chỉ có đối tượng quản lý là đất đai

nhưng được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau (ngoài Luật Đất đai và 04 Luật có sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Đất đai còn có trên 20 Luật và nhiều văn bản của Chính phủ có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai) Các văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ quan chủ trì xây dựng khác nhau nên đã dẫn đến sự chồng chéo, có nhiều điểm chưa thống nhất ’’ [2, tr 11] Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về

đất đai ở nhiều địa phương còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, đặc biệt là vai trò của UBND các cấp trong việc phát hiện và xử lý các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai Việc phát hiện, xử lý các vi phạm về đất đai trong nhiều trường hợp còn chậm, thiếu cương quyết, thậm chí vi phạm pháp luật; công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về đất đai trong nhân dân chưa được làm tốt, ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất chưa nghiêm… dẫn đến vi phạm trong quản lý sử dụng đất đai nói chung

và VPHC trong SDĐNN nói riêng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra

Trang 15

Trong quá trình SDĐNN được giao 20 năm (1993-2013) của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Vĩnh Tường nói riêng, bên cạnh những thành tựu to lớn về sản xuất nông nghiệp đã đạt được, đất đai được sử dụng ngày càng hiệu quả thì tình trạng tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác như: Làm nhà ở; xây dựng các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đào ao thả cá trên đất chuyên trồng lúa…không được phát hiện và xử lý kịp thời, cương quyết, đúng pháp luật hoặc đã phát hiện, xử lý song người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm, tình hình vi phạm không giảm đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai, mất công bằng trong sử dụng đất; trong nhiều trường hợp là nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã

hội tại cơ sở Vì vậy việc nghiên cứu “Đánh giá thực trạng VPHC trong

SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế, tiến tới đẩy lùi tình trạng

vi phạm pháp luật về đất đai trong SDĐNN là hết sức cần thiết và cấp bách

1.1.2 Một số văn bản pháp lí liên quan đến đề tài

- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992[15];

- Luật Đất đai năm 2003 [16];

Trang 16

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai [9];

- Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm

2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2008 [10];

- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai [11];

- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa [12];

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ [3];

- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai [4];

- Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 05 tháng 7 năm 2007 của Huyện ủy Vĩnh Tường về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp Uỷ đảng trong quản lý đất đai [13]

- Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23 tháng 4 năm 2012 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về Tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác bảo vệ tài nguyên trên địa bàn [21];

- Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc Về việc tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn [28]…

Trang 17

1.2 Khái quát về vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai

1.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành

vi con người Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định Mỗi hành

vi đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ thể ý thức được và chủ động thực hiện nó Những hoạt động của con người không thể coi là hành vi, nếu con người hoạt động trong trạng thái vô thức

Trong hoạt động của mỗi người thường có rất nhiều hành vi khác nhau được thể hiện bằng những phương thức khác nhau trong quá trình sản xuất, trao đổi, sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống Song tuỳ theo tính chất, đặc điểm và những lĩnh vực thể hiện của hành vi con người mà xã hội đặt ra những tiêu chuẩn, những công cụ điều chỉnh chúng khác nhau Những hành vi nào của con người được pháp luật quy định, điều chỉnh thì được gọi là hành vi pháp luật Hành vi pháp luật gắn liền với các quy định của pháp luật, những hành vi không được pháp luật quy định, điều chỉnh thì không phải là hành vi pháp luật

Tóm lại, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể

có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại

các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

1.2.2 Khái niệm vi phạm hành chính

VPHC là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm hình sự nhưng VPHC là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn

Trang 18

và xử lý kịp thời Chính vì lẽ đó, công tác đấu tranh phòng và chống VPHC luôn là vấn đề được xã hội ta quan tâm Từ trước đến nay Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về VPHC và các biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này, trong đó phải kể đến Pháp lệnh xử lý VPHC năm

2002 được Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khóa X thông qua 02 tháng 7 năm

2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008 Gần đây nhất ngày 20 tháng 6 năm 2012 Quốc Hội khóa XIII đã thông qua Luật xử lý VPHC năm 2012, có hiệu lực thi hành

từ ngày 01 tháng 7 năm 2013

Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002, VPHC được định nghĩa một cách

gián tiếp: "Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức

(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [22, tr 10]

Luật xử lý VPHC năm 2012 có nêu cụ thể, rõ ràng hơn: “ VPHC là

hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật

về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC’’ [17, tr 1]

1.2.3 Khái niệm, đặc điểm và các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay có hai Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai, đó là Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 và Nghị định số 105/2009/NĐ-

CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ (Nghị định số

105/2009/NĐ-CP thay thế Nghị định số 182/2004/NĐ-105/2009/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày

01 tháng 1 năm 2010)

Trang 19

Một số thay đổi chính về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai giữa Nghị định số 182/2004/NĐ-CP và Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đó là: Nghị định số 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt VPHC chính trong lĩnh vực đất đai ngoài những nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các quy định mới về xử lý VPHC đã được Quốc hội thông qua ( Pháp lệnh xử

lý VPHC năm 2002 được Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khóa X thông qua ngày 02 tháng 7 năm 2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm

2002 và được sửa đổi năm 2007, 2008) về cơ bản phần những quy định chung

và phần thủ tục xử phạt vi phạm, thi hành quyết định xử phạt VPHC không có thay đổi nhiều so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP Phần thay đổi chủ yếu là quy định về hành vi VPHC; xác định mức độ hậu quả của hành vi VPHC; các mức xử phạt; thẩm quyền xử phạt, ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP có quy định

cụ thể, rõ ràng hơn, bổ sung thêm về hành vi vi phạm, mức phạt cao hơn, thẩm quyền xử phạt cao hơn…so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP Cụ thể:

+ Về xác định mức độ hậu quả của hành vi VPHC ở cả hai nghị định đều quy định có 4 mức song giá trị quyền sử dụng đất quy thành tiền đối với diện tích đất bị vi phạm ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với

Nghị định số CP (Ví dụ: mức một ở Nghị định số

182/2004/NĐ-CP quy định trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích bị vi phạm quy thành tiền dưới hai triệu đồng đối với đất nông nghiệp và dưới mười triệu đồng đối với đất phi nông nghiệp trong khi đó ở Nghị định số 105/2009/NĐ-

CP quy định trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích bị vi phạm quy thành tiền dưới ba mươi triệu đồng đối với đất nông nghiệp và dưới một trăm năm mươi triệu đồng đối với đất phi nông nghiệp);

+ Về mức phạt tiền đối với các hành vi VPHC trong quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP

(ví dụ: Mức phạt tiền thấp nhất, cao nhất trong Nghị định số

182/2004/NĐ-CP lần lượt là một trăm nghìn đồng và ba mươi triệu đồng; còn mức phạt tiền

Trang 20

thấp nhất, cao nhất trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP lần lượt là hai trăm nghìn đồng và năm trăm triệu triệu đồng) Điều đáng chú ý là các mức phạt

cho các hành vi VPHC đối với đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa nước ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP có khung phạt rất cao; nhiều hành

vi vi phạm có khung phạt cao nhất là năm trăm triệu đồng, nhằm răn đe, hạn chế các vi phạm để bảo vệ đất trồng lúa nước;

+ Về thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC trong quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với Nghị định số

182/2004/NĐ-CP đối với cả hình thức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung (ví

dụ: trong quy định tại Nghị định số 182/2004/NĐ-CP thẩm quyền phạt tiền cao nhất của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh lần lượt là năm trăm nghìn đồng, hai mươi triệu đồng và ba mươi triệu đồng còn trong quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP thẩm quyền phạt tiền cao nhất của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh lần lượt là hai triệu đồng, ba mươi triệu đồng và năm trăm triệu đồng)

Trong phần Tổng quan tài liệu nghiên cứu, chúng tôi sử dụng Nghị định

số 105/2009/NĐ-CP để nghiên cứu, đánh giá về các nội dung có liên quan

1.2.3.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Nghị định số 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm trong

lĩnh vực đất đai có nêu: “ VPHC trong lĩnh vực đất đai là hành vi cố ý hoặc

vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật,, [11, tr 1] 1.2.3.2 Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

VPHC trong lĩnh vực đất đai là một dạng của VPHC vì vậy mà đặc điểm của VPHC trong lĩnh vực đất đai cũng được thể hiện ở bốn yếu tố là mặt

khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

Trang 21

- Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực đất đai là những biểu hiện

ra bên ngoài của VPHC về đất đai, nó gồm có những yếu tố sau:

+ Hành vi trái pháp luật đất đai Để xác định có hành vi trái pháp luật đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai để xem xét về một hành vi cụ thể

+ Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai gây

ra Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện ở chỗ

nó xâm hại quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền lợi của người sử dụng đất

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHC về đất đai với hậu quả mà

nó gây ra cho xã hội thể hiện sự thiệt hại cho xã hội là do chính hành vi VPHC về đất đai gây ra

- Mặt chủ quan của VPHC về đất đai là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm, gồm lỗi, động cơ và mục đích:

+ Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con người đối với hành

vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định được hình thức xử

lý phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật đất đai

+ Mục đích, động cơ trong VPHC về đất đai

- Khách thể của VPHC về đất đai

+ Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi VPHC xâm hại Vậy khách thể của VPHC trong lĩnh vực đất đai là những quan hệ trong quản lý, sử dụng đất đai bị hành vi VPHC xâm hại

+ Chủ thể của VPHC về đất đai

VPHC về đất đai là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý hoặc

vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật đất đai bảo vệ Do vậy,

Trang 22

chủ thể của VPHC về đất đai là những cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể Những hành vi này đều xâm hại đến các quan hệ pháp luật đất đai đang được duy trì, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Song do tính chất và mức độ xâm hại của hành vi chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở thành tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

1.2.3.3 Các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai [11, tr.4-11]

Hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai bao gồm:

- Sử dụng đất không đúng mục đích;

- Lấn, chiếm đất;

- Huỷ hoại đất;

- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;

- Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện;

- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết hạn sử dụng đất mà đang sử dụng đất;

- Gây cản trở trong việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng; Không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Trang 23

- Tự tiện di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa giới hành chính; Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất;

- Chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai;

- Hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật hoặc không được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

- Hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động hành nghề;

- Cung cấp dữ liệu đất đai không đúng quy định của pháp luật

Như vậy quy định hiện hành của pháp luật về các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai khá đầy đủ, đảm bảo bao quát các hoạt động quản lý và sử dụng đất đai

1.2.4 Một số quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

- Một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt hành chính một lần Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì từng người vi phạm đều bị xử

Trang 24

phạt Một người thực hiện nhiều hành vi VPHC thì bị xử phạt về từng hành vi

vi phạm

- Hình thức xử phạt chính được áp dụng độc lập; hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính đối với những hành vi VPHC có quy định hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định

số 105/2009/NĐ-CP

- Hình thức, mức độ xử phạt được xác định căn cứ vào tính chất, mức

độ vi phạm, hậu quả của hành vi VPHC, nhân thân của người có hành vi VPHC, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng được áp dụng theo quy định của pháp luật

- Mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm là mức trung bình của mức xử phạt quy định đối với hành vi đó; nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống mức thấp hơn, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của mức xử phạt; nếu hành vi vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên cao hơn, nhưng không được vượt quá mức tối đa của mức xử phạt

1.2.4.2 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính [11, tr.2]

Thời hiệu xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai là hai (2) năm kể từ ngày có hành vi VPHC được thực hiện Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó

có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu VPHC thì thời hiệu xử phạt VPHC là ba (3) tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm Trường hợp hết thời hiệu xử phạt VPHC mà hành vi VPHC chưa bị xử phạt thì người có thẩm quyền không thực hiện xử phạt VPHC mà áp dụng biện

Trang 25

pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều

4 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP mà người có hành vi vi phạm lại có hành vi VPHC mới quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm

có hành vi VPHC mới hoặc từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt

1.2.4.3 Xác định mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính [11, tr.3]

- Mức độ hậu quả của hành vi VPHC được xác định theo nguyên tắc quy đổi giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền theo giá đất tại thời điểm xử phạt do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất đó quy định và chia thành bốn (4) mức sau đây:

+ Mức một (1): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền dưới ba mươi triệu (30.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, dưới một trăm năm mươi triệu (150.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp;

+ Mức hai (2): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền từ ba mươi triệu (30.000.000) đồng đến dưới tám mươi triệu (80.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ một trăm năm mươi triệu (150.000.000) đồng đến dưới bốn trăm triệu (400.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp;

+ Mức ba (3): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền từ tám mươi triệu (80.000.000) đồng đến dưới hai trăm triệu (200.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ bốn trăm triệu (400.000.000) đồng đến dưới một tỷ (1.000.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp;

Trang 26

+ Mức bốn (4): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền từ hai trăm triệu (200.000.000) đồng trở lên đối với đất nông nghiệp, từ một tỷ (1.000.000.000) đồng trở lên đối với đất phi nông nghiệp

- Đối với các loại đất chưa được xác định giá mà phải xác định giá để tính mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính gây ra thì việc xác định giá thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

1.2.4.4 Hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được nêu trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP

- Các hình thức xử phạt bao gồm: Hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC; tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề định giá; cấm hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong xử phạt VPHC về đất đai là buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm; buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm; buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra

Trang 27

- Phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với hành vi vi phạm sau:

+ Sử dụng đất không đúng mục đích nếu hậu quả của hành vi thuộc mức một (1);

+ Gây cản trở cho việc sử dụng đất (đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc lên thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác) tại khu vực nông thôn;

+ Không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi đến hạn sử dụng đất mà đang sử dụng đất tại khu vực nông thôn;

+ Chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra về đất đai

- Phạt tiền được áp dụng cho tất cả các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai với mức phạt từ hai trăm nghìn (200.000) đồng đến năm trăm triệu (500.000.000) đồng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm Đối với mức phạt năm trăm triệu (500.000.000) đồng được áp dụng cho các hành vi vi phạm sau:

+ Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp, chuyển đất trồng cây lâu năm, đất ao, hồ đầm, nuôi trồng thủy sản nước mặn mà không được cấp có thẩm quyền cho phép nếu hậu quả của hành vi thuộc mức bốn (4);

+ Lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ công trình, đất thuộc khu vực

đô thị, đất có di tích lịc sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được UBND tỉnh, T.P trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ mà pháp luật về chuyên ngành liên quan chưa quy định nếu hậu quả của hành vi thuộc mức bốn (4);

+ Gây ô nhiễm đất dẫn đến hậu quả làm cho đất giảm hoặc mất khả năng sử dụng theo mục đích đã được xác định nếu hậu quả của hành vi thuộc mức bốn (4);

Trang 28

+ Tổ chức, cơ sở tôn giáo có hành vi nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai nếu hậu quả của hành vi thuộc mức bốn (4)

- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm ngoài hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung dưới đây:

+ Hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC được áp dụng đối với các hành vi vi phạm: Hủy hoại đất; gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác; Tự tiện di chuyển, làm sai lệch,

hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn công trình, mốc địa giới hành chính;

+ Hình thức phạt bổ sung là tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề định giá được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

+ Hình thức phạt bổ sung là cấm hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động hành nghề

- Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên, tùy theo tính chất, mức độ, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả dưới đây:

+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm được áp dụng đối với các hành vi vi phạm: Sử dụng đất không đúng mục đích; lấn, chiếm đất; hủy hoại đất; gây cản trở cho việc

sử dụng đất của người khác; tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;

Trang 29

+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào đất được áp dụng đối với hành

+ Biện pháp khắc phục hậu quả là tịch thu lợi ích có được do vi phạm được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền

sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;

+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng đối với hành

vi vi phạm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;

+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải cung cấp thông tin, giấy

tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra được áp dụng đối với hành vi

vi phạm: Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai

1.2.4.5 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đai được nêu trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP

- Thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp trong việc xử phạt VPHC:

Chủ tịch UBND các cấp có quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai bằng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đồng thời được tịch thu tang vật, phương tiện dùng để VPHC tùy theo vị trí của người có thẩm quyền và mức

Trang 30

độ VPHC được xác định (Ví dụ: Chủ tịch UBND cấp xã được phạt tiền đến

hai triệu (2.000.000) đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC có giá trị đến hai triệu (2.000.000) đồng Chủ tịch UBND cấp huyện

có quyền: phạt tiền đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt tiền đến năm trăm triệu (500.000.000) đồng)

Ngoài ra Chủ tịch UBND các cấp còn có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm; buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm; buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra

- Thẩm quyền của Thanh tra chuyên ngành về đất đai trong việc xử

phạt VPHC: Thanh tra viên đất đai đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra cấp Sở; Chánh thanh tra cấp Bộ đều có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đồng thời được tịch thu tang vật, phương tiện dùng để VPHC tùy theo vị trí

của người có thẩm quyền và mức độ VPHC được xác định (Ví dụ Thanh tra

viên đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến năm trăm nghìn (500.000) đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC; tịch thu lợi ích

có được do vi phạm có giá trị đến hai triệu (2.000.000) đồng Chánh Thanh cấp Sở có quyền phạt tiền đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng và Chánh Thanh tra cấp Bộ có quyền phạt tiền đến năm trăm triệu (500.000.000) đồng)

Ngoài ra Thanh tra viên đất đai đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra cấp Sở; Chánh thanh tra cấp Bộ còn có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm; buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại

Trang 31

vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm; buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra Riêng Thanh tra viên đang thi hành công vụ chỉ được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm

1.2.4.6 Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp phải thu hồi đất, phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ về đất đai

- Khi xử lý VPHC mà VPHC đó thuộc trường hợp phải thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai thì thực hiện theo quy định sau đây:

+ Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều

25 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP mà có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại Điều 44 của Luật Đất đai thì thực hiện đồng thời việc xử phạt VPHC và việc thu hồi đất;

+ Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại các Điều 25, 26 và 27 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP nhưng không có quyền thu hồi đất thì thực hiện xử phạt VPHC và có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất UBND cấp có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện việc thu hồi đất đối với trường hợp đủ căn cứ; trường hợp không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai thì phải thông báo cho người đề nghị, người bị xử phạt, UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất biết rõ

lý do;

+ Trường hợp hết thời hiệu xử phạt quy định tại Điều 4 của Nghị định

số 105/2009/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về VPHC và ra quyết định thu hồi đất trong trường hợp thuộc thẩm quyền

Trang 32

hoặc đề nghị UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp không thuộc thẩm quyền

- Khi xử lý VPHC mà VPHC đó thuộc trường hợp quy định tại Điều 22

và Điều 23 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đăng ký hoạt động hành nghề để tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật

- Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt VPHC phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền mà không được giữ lại để xử phạt hành chính Trường hợp đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt phải hủy quyết định đó và trong thời hạn ba (3) ngày, kể từ ngày hủy quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền

1.2.4.7 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và thi hành quyết định xử phạt trong lĩnh vực đất đai

- Thủ tục xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật

- Thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai:

+ Người bị xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn mười (10) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định

xử phạt, trừ trường hợp pháp luật về xử lý VPHC chính có quy định khác

+ Quá thời hạn quy định nêu trên mà người bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp sau đây:

Trang 33

Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập hoặc khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng;

Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; Các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt

- Việc hoãn chấp hành quyết định xử phạt tiền cũng như thẩm quyền, thủ tục và việc tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật

Như vậy có thể thấy quy định của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai khá chi tiết, cụ thể, rõ ràng Các hình thức phạt chính, phạt bổ sung, nhất là các biện pháp khắc phục hậu quả đã thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, có tính răn đe cao Tuy nhiên qua nghiên cứu thấy rằng quy định xác định mức độ hậu quả của hành vi VPHC theo nguyên tắc quy đổi giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất vi phạm thành tiền theo giá đất tại thời điểm xử phạt do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi

có đất đó vi phạm quy định còn phức tạp, chưa tương xứng với hành vi vi phạm do giá đất UBND tỉnh, thành phố quy định thiếu tính ổn định (giá đất được ban hành hằng năm) và thường thấp hơn giá đất thị trường tại thời điểm

1.3 Sơ lược về tình hình vi phạm và xử lý vi phạm về đất đai trong cả nước và của tỉnh Vĩnh Phúc

1.3.1 Sơ lược về tình hình sử dụng đất trên cả nước

Theo Báo cáo Tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường [2] cho thấy đất của nước ta hiện có khoảng 33.096 nghìn ha, là một trong những nước có diện tích đất đai bình quân đầu người thấp trên thế giới (khoảng 0,37 ha đất tự nhiên/người và 0,28 ha đất nông nghiệp/người) Trong tổng diện tích tự nhiên của cả nước có 90,44% diện tích đã được khai thác đưa vào sử dụng

Trang 34

cho các mục đích;

31 tháng 12 năm 2010 như sau:

- Đất nông nghiệp: 26.226 nghìn ha (chiếm 79,24% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước), trong đó diện tích đất trồng lúa là 4.120 nghìn ha;

- Đất phi nông nghiệp: 3.705 nghìn ha (chiếm 11,20% tổng diện tích đất

tự nhiên của cả nước), trong đó diện tích đất ở là 684 nghìn ha (đất ở tại nông thôn là 550 nghìn ha; đất ở tại đô thị là 134 nghìn ha); đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 259 nghìn ha, đất có mục đích công cộng là 1.207 nghìn ha;

- Đất chưa sử dụng: 3.164 nghìn ha (chiếm 9,56% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước), trong đó chủ yếu là đất núi đá chưa sử dụng (2.632 nghìn ha)

KT-XH, đảm bảo an ninh, quốc phòng, an ninh lương thực, phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều các hạn chế, thiếu sót, vi phạm pháp luật về đất đai trong hầu hết các lĩnh vực như bồi thường, giải phóng mặt bằng; thu hồi, giao đất, cho thuê đất; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cấp GCNQSDĐ; tài chính về đất đai…Riêng diện tích đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai trong gần 7 năm vừa qua trên cả nước là 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân Một số tỉnh có diện tích đất vi phạm bị thu hồi lớn như: Bình Phước 6.070 ha, Phú Yên 5.813 ha, Đăk Nông 5.791

ha, Quảng Nam 5.217 ha, Gia Lai 2.719 ha, Quảng Ninh 2.245 ha, Khánh Hòa 604 ha, Hà Nội 594 ha…

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai rất phức tạp như vậy là do công tác thanh tra, kiểm tra

về đất đai chưa được thực hiện tốt “Công tác thanh tra chưa được tổ chức

thường xuyên, còn thiếu tính chủ động, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi

Trang 35

của thực tiễn Việc xử lý sau thanh tra của các cấp, các ngành chưa kiên quyết, triệt để, kịp thời làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động thanh tra, cụ thể: tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng sai mục đích, để đất hoang hóa diễn ra thường xuyên và dưới nhiều hình thức gây bức xúc trong dư luận nhân dân và xã hội nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm; chế tài quy định xử lý, xử phạt vi phạm pháp luật đất đai còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm,, [2, tr 28] Từ đó cho thấy, tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất

đai đối với nước ta hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm khai thác tốt hơn nữa nguồn lực từ tài nguyên đất cho phát triển KT-XH, đồng thời quy định cụ thể, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để góp phần hạn chế thấp nhất các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

1.3.2 Tình hình vi phạm và xử lý vi phạm hành chính về đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, sau hơn 15 năm (1997-2012) tái lập tỉnh, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã từng bước đi vào nề nếp Việc quản lý sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả, góp phần tích cực cho quá trình phát triển KT-XH, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về đất đai cho phát triển công nghiệp,

đô thị và dịch vụ Tuy nhiên công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót, chưa được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, trong đó có tình hình vi phạm

và xử lý VPHC trong quản lý, sử dụng đất đai “Tình trạng lấn, chiếm, làm

nhà trái phép trên đất nông nghiệp, vi phạm hành lang, chuyển đổi, chuyển nhượng đất ở, đất nông nghiệp không đúng pháp luật, không đúng thẩm quyền diễn ra phổ biến ở các địa phương,, [20, tr 8]

Trang 36

Đã có hàng nghìn trường hợp vi phạm Luật đất đai ở các thời điểm khác nhau, mức độ nặng, nhẹ khác nhau dưới nhiều hình thức Tình trạng vi phạm Luật đất đai diễn biến phức tạp, giải quyết gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp

ủy đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp Theo báo cáo của cơ quan chức năng tính đến hết năm 2012 trên địa bàn toàn tỉnh đã có 7.690 trường hợp vi phạm Luật đất đai dưới hình thức lấn, chiếm đất đai, xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp và đất hành lang giao thông với tổng diện tích đất vi phạm gần 270ha [20, tr 3] Trong đó:

- Vi phạm lấn, chiếm đất đai xây dựng công trình trái phép trên đất nông nghiệp, đất hành lang giao thông là 95,78ha;

Trang 37

- Huyện Yên Lạc có 536 trường hợp vi phạm, diện tích vi phạm 145.040 m2 với 17/17 xã, thị trấn có vi phạm;

- Huyện Tam Dương có 205 trường hợp vi phạm, diện tích vi phạm 26.166 m2 với 11/13 xã, thị trấn có vi phạm;

- Thị xã Phúc Yên có 449 trường hợp vi phạm, diện tích vi phạm 87.977 m2 với 9/9 xã, phường có vi phạm;

- T.P Vĩnh Yên có 438 trường hợp vi phạm, diện tích vi phạm 68.808 m2 với 8/9 xã, phường có vi phạm

Kết quả trên cho thấy tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đều có các trường hợp vi phạm Luật đất đai, trong đó nhiều huyện, thành phố, thị xã 100% số đơn vị cấp xã có các trường hợp vi phạm Luật đất đai Huyện có nhiều trường hợp vi phạm Luật đất đai nhất, diện tích vi phạm lớn nhất là huyện Vĩnh Tường với 3.878 trường hợp vi phạm, 1.868.485 m2 đất vi phạm, chiếm 50,43% tổng số các trường hợp vi phạm và chiếm 69,21% tổng

diện tích đất vi phạm trên địa bàn toàn tỉnh

Tình hình đó cho thấy nhiều địa phương chưa quan tâm đầy đủ đến công tác quản lý đất đai, thậm chí còn buông lỏng, né tránh e ngại trong phát hiện và xử lý vi phạm Để từng bước đưa công tác quản lý đất đai trên địa bàn

đi vào nề nếp; tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân về quyền và nghĩa vụ trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất đai Từng bước ngăn chặn, hạn chế tiến tới chấm dứt tình trạng buông lỏng quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên đất trái phép, không đúng quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đi đôi với xử lý cương quyết, dứt điểm các trường hợp vi phạm Luật đất đai; Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc và

cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo,

Trang 38

hướng dẫn và triển khai thực hiện việc xử lý các trường hợp vi phạm Luật đất đai trong đó có Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23 tháng 4 năm 2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và Chỉ thị

số 10/CT-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn

Trên địa bàn toàn tỉnh, bước đầu đã lập biên bản VPHC được 2.838 trường hợp, ra quyết định xử phạt VPHC 846 trường hợp, tổ chức cưỡng chế tháo dỡ, vận động tự giác tháo dỡ 245 trường hợp và tổ chức cưỡng chế tháo

dỡ 271 công trình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp và đất hành lang giao thông Kết quả xử lý chưa được nhiều và chủ yếu dừng lại ở hình thức lập biên bản VPHC (2.838/7.690 trường hợp vi phạm bằng 36,91% tổng số trường hợp vi phạm); các trường hợp vi phạm bị xử phạt VPHC, cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm mới chỉ đạt 14,19% tổng số các trường hợp vi phạm (1.091/7.690 trường hợp vi phạm) và các trường hợp được tuyên truyền, vận động tự giác tháo dỡ công trình xây dựng vi phạm cũng chỉ đạt 3,19% tổng số các trường hợp vi phạm (245/7.690 trường hợp vi phạm)

Kết quả xử lý các trường hợp vi phạm theo đơn vị hành chính cấp huyện như sau:

- Huyện Tam Đảo lập biên bản VPHC 228 trường hợp, vận động tự giác tháo dỡ công trình vi phạm 35 trường hợp;

- Huyện Bình Xuyên lập biên bản VPHC 390 trường hợp, xử phạt

VPHC 388 trường hợp, vận động tự giác tháo dỡ công trình vi phạm 93 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 93 trường hợp;

- Huyện Vĩnh Tường lập biên bản VPHC 280 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 93 trường hợp;

- Huyện Lập Thạch lập biên bản VPHC 736 trường hợp;

Trang 39

- Huyện Sông Lô lập biên bản VPHC 81 trường hợp, xử phạt VPHC 24 trường hợp;

- Huyện Yên Lạc lập biên bản VPHC 427 trường hợp, xử phạt VPHC

178 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 79 trường hợp;

- Huyện Tam Dương lập biên bản VPHC 156 trường hợp, xử phạt VPHC 15 trường hợp, vận động tự giác tháo dỡ công trình vi phạm 01 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 04 trường hợp;

- Thị xã Phúc Yên lập biên bản VPHC 222 trường hợp, xử phạt VPHC

61 trường hợp, vận động tự giác tháo dỡ công trình vi phạm 05 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 30 trường hợp;

- T.P Vĩnh Yên lập biên bản VPHC 318 trường hợp, xử phạt VPHC 180 trường hợp, vận động tự giác tháo dỡ công trình vi phạm 111 trường hợp và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm 04 trường hợp;

Kết quả trên cho thấy tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn đều triển khai xử lý các trường hợp vi phạm với số lượng và mức độ khác nhau Tuy nhiên do không xử lý ngay từ thời điểm vi phạm mới phát sinh, nên hầu hết các trường hợp được phát hiện sau khi đã xây dựng công trình dẫn đến khó khăn, phức tạp trong quá trình xử lý Nhiều trường hợp vi phạm chưa được xử lý quyết liệt, xử lý mang tính hình thức, chủ yếu mới dừng lại ở việc lập biên bản vi phạm Lập biên bản vi phạm nhiều nhất là huyện Lập Thạch với 100% các trường hợp vi phạm (736/736) song không tiếp tục thực hiện xử phạt VPHC và các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật; Thành phố Vĩnh Yên có số trường hợp vi phạm tự giác tháo dỡ công trình xây dựng nhiều nhất 111 trường hợp bằng 25,34 % tổng số các trường hợp vi phạm Huyện Vĩnh tường có số trường hợp vi phạm nhiều nhất, tuy nhiên kết quả xử

lý lập biên bản vi phạm hành chính chỉ bằng 7,22% tổng số các trường hợp vi phạm (280/3.878) và không có trường hợp nào tự giác tháo dỡ công trình xây

Trang 40

dựng vi phạm “ Việc để tình trạng lấn, chiếm, sử dụng đất không đúng mục

đích vi phạm pháp luật về đất đai, trách nhiệm trước hết thuộc về Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn theo quy định tại khoản 2, điều 143 Luật Đất đai năm 2003, trong đó có trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp huyện chưa kiểm tra, xử lý đối với Chủ tịch UBND cấp xã nơi để xảy ra tình trạng lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép,, [20, tr 8-9]

Kết quả bước đầu xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh chưa đạt kết quả như mong muốn song hết sức quan trọng, tạo đà tiếp tục tuyên truyền, vận động và đẩy mạnh xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Nhận xét, đánh giá chung về tổng quan tài liệu nghiên cứu: Nghiên cứu

về vi phạm hành chính nói chung và VPHC trong lĩnh vực đất đai nói riêng là

lĩnh vực phức tạp, có nhiều khó khăn Tuy nhiên đối với đề tài Đánh giá thực

trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đính, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008-2012

cũng có thuận lợi, đó là: Cơ sở lý luận và các văn bản pháp lý có liên quan là

rõ ràng, có sức thuyết phục với hệ thống quan điểm, chính sách, pháp luật đầy

đủ của Đảng và Nhà nước Bên cạnh đó, từ thực tế công tác quản lý, sử dụng đất đai trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, tình trạng VPHC trong lĩnh vực đất đai xảy ra nhiều và diễn biến hết sức phức tạp, tạo ra sự thiếu công bằng, gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai

Ngày đăng: 17/06/2021, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2003
2. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2012), Báo cáo Tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2013 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2013 và định hướng sửa đổi Luật đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên & Môi trường
Năm: 2012
3. Bộ Tài nguyên & Môi trường, Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ- CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT
4. Bộ Tài nguyên & Môi trường, Thông tư số 16/TT-BTNMT ngày 26/8/2010 quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/TT-BTNMT
5. Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Tường (2012), Niên giám thống kê 2012, Vĩnh Tường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Tường
Năm: 2012
6. Chính phủ, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
7. Chính phủ, Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 182/2004/NĐ-CP
8. Chính phủ, Nghị định số 37/2005/NĐ - CP ngày 18/3/2005 về Quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 37/2005/NĐ - CP
9. Chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 về Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2007/NĐ-CP
10. Chính phủ, Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ xung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 128/2008/NĐ-CP
11. Chính phủ, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2009/NĐ-CP
12. Chính phủ, Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 42/2012/NĐ-CP
13. Huyện ủy Vĩnh Tường (2007), Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 05/7/2007 của Huyện ủy Vĩnh Tường về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng trong quản lý đất đai, Vĩnh Tường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 05/7/2007 của Huyện ủy Vĩnh Tường về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng trong quản lý đất đai
Tác giả: Huyện ủy Vĩnh Tường
Năm: 2007
14. Huyện ủy Vĩnh Tường (2013), Chương trình hành động của Huyện ủy Vĩnh Tường về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai, Vĩnh Tường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động của Huyện ủy Vĩnh Tường về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai
Tác giả: Huyện ủy Vĩnh Tường
Năm: 2013
18. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2008), Bài giảng Pháp luật và chính sách đất đai. Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Pháp luật và chính sách đất đai
Tác giả: Nguyễn Khắc Thái Sơn
Năm: 2008
19. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc (2011), Báo cáo tổng kết thi hành Luật đất đai 2003 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành Luật đất đai 2003 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2011
20. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo khó khăn vướng mắc trong công tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng và xử lý tình trạng lấn, chiếm đất xây dựng công trình trái phép trên địa bàn tỉnh, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khó khăn vướng mắc trong công tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng và xử lý tình trạng lấn, chiếm đất xây dựng công trình trái phép trên địa bàn tỉnh
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2013
21. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2012), Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23/4/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác bảo vệ tài nguyên trên địa bàn, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23/4/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác bảo vệ tài nguyên trên địa bàn
Tác giả: Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
Năm: 2012
22. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh xử lý VPHC-Hệ thống hóa các quy định pháp luật về xử phạt VPHC (2007), Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh xử lý VPHC-Hệ thống hóa các quy định pháp luật về xử phạt VPHC (2007)
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh xử lý VPHC-Hệ thống hóa các quy định pháp luật về xử phạt VPHC
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
23. UBND huyện Vĩnh Tường (2007), Hướng dẫn một số nội dung về trình tự, thủ tục lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Vĩnh Tường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn một số nội dung về trình tự, thủ tục lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: UBND huyện Vĩnh Tường
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w