1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm môn thi hành án dân sự BẢN ÁN 9072018HNGĐPT NGÀY 08102018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

10 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 20,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 9072018HNGĐPT NGÀY 08102018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN Trong ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 712018TLPTHNGĐ, ngày 06 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 2042018HNGĐST ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 36032018QĐPT ngày1482018 và Quyết định hoãn phiên tòa 73292018QĐPT ngày 1192018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1978 (có mặt) 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (vắng mặt) Cùng địa chỉ thường trú: Ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N ngày 1462018. NỘI DUNG VỤ ÁN Trong đơn khởi kiện ngày 09012018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Phan Thanh T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị L tự nguyện sống chung từ năm 2008, đến năm 2010 thì đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 0642010. Ông và bà L chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau do tính tình, quan điểm sống và cách sống giữa các bên không phù hợp. Bà L thường bỏ nhà đi về nhà mẹ của bà ở Hậu Giang sinh sống. Đến năm 2013, thì bà L tự sống ly thân và bỏ nhà đi không rõ ở đâu. Ông không còn tình cảm với bà L, ông

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

KHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ KIỂM SÁT DÂN SỰ

BÀI TẬP NHÓM LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

NHÓM 06-LỚP VB2-K1

THÁNG 09 NĂM 2020

Trang 2

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 907/2018/HNGĐ-PT NGÀY 08/10/2018 VỀ TRANH

CHẤP LY HÔN

Trong ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2018/TLPT-HNGĐ, ngày 06 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn”

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 204/2018/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng nghị Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3603/2018/QĐ-PT ngày14/8/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa 7329/2018/QĐ-PT ngày 11/9/2018, giữa các đương sự:

1 Nguyên đơn: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1978 (có mặt)

2 Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ thường trú: Ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N ngày 14/6/2018

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 09/01/2018 và các lời khai trong quá trình

tố tụng, nguyên đơn là ông Phan Thanh T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị

L tự nguyện sống chung từ năm 2008, đến năm 2010 thì đăng ký kết hôn và

đã được Ủy ban nhân dân xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 06/4/2010

Ông và bà L chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau do tính tình, quan điểm sống và cách sống giữa các bên không phù hợp Bà L thường bỏ nhà đi về nhà mẹ của bà

Trang 3

ở Hậu Giang sinh sống Đến năm 2013, thì bà L tự sống ly thân và bỏ nhà đi không rõ ở đâu Ông không còn tình cảm với bà L, ông yêu cầu ly hôn bà L

để ổn định cuộc sống

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Phan Thanh Anh D (nam), sinh ngày 24/01/2009, hiện nay bà L đang trực tiếp nuôi dưỡng, ông đề nghị giao trẻ D cho bà L nuôi dưỡng và tạm thời, ông không cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T khai không có

Bị đơn là bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt hợp

lệ nhưng bà L vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên không rõ yêu cầu của bà L

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 204/2018/HNGĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35 và Điều 39; khoản 3 Điều 228 và Điều 266, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 ;

Áp dụng: Các Điều 55, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều

119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ;

Áp dụng: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Về quan hệ vợ chồng: Ông Phan Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị L

Trang 4

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Phan Thanh Anh D (nam), sinh ngày 24/01/2009, giao cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục

Về cấp dưỡng nuôi con nếu sau này bà L có yêu cầu sẽ được xem xét giải

Về tài sản chung, nợ chung: Không có Nếu sau này, bà L có yêu cầu

sẽ được giải quyết trong vụ án khác

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên những vấn đề liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của ông T, bà L đối với trẻ D… quyền thỏa thuận thi hành án, người chịu án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 14/6/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-DS, kháng nghị bản án sơ thẩm trên với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, vì cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không áp dụng Điều 180 của BLTTDS năm 2015 (không thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo quyền cho đương sự) trong vụ

án này là không đúng Bởi lẽ: Văn phòng Thừa phát lại tống đạt các giấy triệu tập cho bị đơn là bà L tại nơi bị đơn cư trú thì nhà đã bị giải tỏa, không

rõ bà L đang ở đâu? không có người đủ điều kiện đồng ý nhận thay, việc tống đạt không thành

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N nêu trên và đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Nguyên đơn là ông Phan Thanh T đề nghị y án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trang 5

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Bị đơn là bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng bà L vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo thủ tục chung

[2] Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 06/4/2010 của Ủy ban nhân dân xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè cấp cho ông Phan Thanh T và

bà Nguyễn Thị L thì đủ cơ sở khẳng định hôn nhân giữa ông T và bà L là hôn nhân hợp pháp

[3] Xét, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Theo lời khai của ông T: Sau khi ông và bà L đăng ký kết hôn năm 2010 thì ông và bà L thường phát sinh mâu thuẫn và bà L thường bỏ nhà đi về nhà mẹ của bà ở Hậu Giang sinh sống Đến năm 2013, thì bà L bỏ nhà đi không rõ ở đâu và năm 2017 căn nhà Ấp A, xã H bị giải tỏa Ông T có gửi đơn và được Công an xã H, huyện N xác nhận ngày 02/4/2018, với nội dung: Ông T và bà L và trẻ D thường trú tại địa chỉ Ấp A, xã H, huyện N Từ năm 2013, bà L dẫn trẻ D bỏ nơi cư trú trên đi đâu không rõ cho đến nay

[3.2] Tại biên bản tống đạt và niêm yết trong các ngày 25/01/2018, ngày 14/3/2018, ngày 13/4/2018, ngày 11/5/2018 và ngày 08/6/2018, Văn phòng Thừa phát lại huyện Bình Chánh đã tống đạt các giấy triệu tập cho bị đơn là bà L tại địa chỉ nơi bị đơn cư trú Ấp A, xã H, huyện N có ghi: Căn nhà trên đã bị giải tỏa, không rõ bà L đang ở đâu? không có người đủ điều kiện đồng ý nhận thay, việc tống đạt không thành

[4] Xét thấy: Trong vụ án này, cấp sơ thẩm phải áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Điều này mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự,

Trang 6

vì có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo

Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được Do đó, cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm

và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N và lời

đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Xử:

1 Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh

2 Hủy bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 204/2018/HNGĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh

3 Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm

4 Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án

Trang 7

BÀI LÀM

1 Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Theo điểm g khoản 1 Điều 27 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về thẩm quyền kháng nghị của VKSND như sau: “Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật” Điều 278 BLTTDS năm 2015 quy định về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”

Tại các Điều 331 và Điều 354 của BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng VKSND như sau:

- Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa

án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ

Thực tiễn hoạt động xét xử vụ việc dân sự cho thấy, thiết chế VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là hết sức cần thiết, góp phần to lớn trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân Có thể khẳng định VKSND chính là “Tấm lá chắn bằng thép vững chắc” bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng

Trang 8

Cụ thể tại bản án nêu trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện

N, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-DS, kháng nghị bản án sơ thẩm trên với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, vì cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không áp dụng Điều 180 của BLTTDS năm 2015 (không thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo quyền cho đương sự) trong vụ án này là không đúng Bởi lẽ: Văn phòng Thừa phát lại tống đạt các giấy triệu tập cho bị đơn là bà L tại nơi bị đơn cư trú thì nhà đã bị giải tỏa, không rõ bà L đang ở đâu? không có người đủ điều kiện đồng ý nhận thay, việc tống đạt không thành

Tại bản án phúc thẩm, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N và lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh được chấp nhận

2 Ý nghĩa của việc quy định quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Kháng nghị là quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Thực hiện tốt nhiệm

vụ này nhằm phát hiện những vi phạm trong hoạt động tư pháp, yêu cầu cơ quan vi phạm khắc phục bảo đảm cho hoạt động tư pháp được thực hiện nghiêm minh, công bằng, dân chủ và khách quan, bảo vệ quyền con người, các quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, của các tổ chức và công dân

đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận; ngoài ra góp phần quan trọng trong việc khẳng định và nâng cao vị thế của Ngành Kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp

Trong vụ án này, cấp sơ thẩm phải áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Điều này mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự, vì có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp,

Trang 9

tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo

Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được Do đó, cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm

và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N và lời

đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được chấp nhận đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực hiện nghiêm minh, công bằng, dân chủ và khách quan, bảo vệ quyền con người Cụ thể trong vụ

án nêu trên, bản án sơ thẩm bị hủy bỏ đảm bảo được quyền lợi cho bà bà Nguyễn Thị L

3 Bình luận về việc kháng nghị và đưa ra hướng giải quyết của nhóm đối với vụ án nêu trên

Việc kháng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện N yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, vì cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không áp dụng Điều 180 của BLTTDS năm 2015 (không thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo quyền cho đương sự) trong vụ án này là không đúng Bởi lẽ: Văn phòng Thừa phát lại tống đạt các giấy triệu tập cho bị đơn là bà L tại nơi bị đơn cư trú thì nhà đã

bị giải tỏa, không rõ bà L đang ở đâu? không có người đủ điều kiện đồng ý nhận thay, việc tống đạt không thành là đúng với quy định của pháp luật

Tại biên bản tống đạt và niêm yết trong các ngày 25/01/2018, ngày 14/3/2018, ngày 13/4/2018, ngày 11/5/2018 và ngày 08/6/2018, Văn phòng Thừa phát lại huyện Bình Chánh đã xác định rõ việc tống đạt không thành

Như vây, cấp sơ thẩm phải áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Điều này mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự, vì có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông

Trang 10

báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo Cấp

sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được

Việc vị phạm thủ tục tố tụng nêu trên dẫn đến cấp phúc thẩm không thể khác phục, do vậy cần phải hủy bản án sơ thẩm và thực hiện đầy đủ quy trình thu tục Đặc biệt, việ thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của BLTTDS và phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp

Ngày đăng: 17/06/2021, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w