1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận tố tụng hành chính chương 5

10 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 33,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thảo luận tố tụng hành chính chương 5 Câu 1: Người thực hiện việc khởi kiện VAHC phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTHC. Trả lời: Nhận định này là SAI. Giải thích: + Trong một số trường hợp người khởi kiện không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà họ phải thực hiện thông qua một chủ thể khác.

Trang 1

BÀI TẬP THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG 5 PHẦN MỘT: NHẬN ĐỊNH

Câu 1: Người thực hiện việc khởi kiện VAHC phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTHC.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích:

+ Trong một số trường hợp người khởi kiện không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà họ phải thực hiện thông qua một chủ thể khác

+ Căn cứ Điều 117 Luật TTHC 2015, quy định:

Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của cá nhân; ở phần cuối đơn cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ.

+ Tuy nhiên, trong những trường hợp sau quyền khởi kiện được thực hiện thông qua chủ thể khác Cụ thể:

Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án

Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp

đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Cá nhân là người không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình làm đơn khởi kiện, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ làm chứng, ký xác nhận vào đơn khởi kiện.

Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án

Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Như vậy, trong một số trường hợp, người khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi Thì quyền khởi kiện được thực hiện thông quan chủ thể khác

CSPL: Điều 117 Luật TTHC 2015, Điều 54

Câu 2: Chỉ có cá nhận mới được quyền khởi kiện VAHC .

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

Trang 2

- Giải thích: Điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án hành chính như sau:

1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

2 Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.

3 Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.

Theo đó, người khởi kiện VAHC có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức

CSPL: Điều 115 Luật TTHC 2015

Câu 3: Trong trường hợp cá nhân khiếu nại QĐKLBTV theo đúng quy định của pháp luật đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện, thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐKLBTV đó không là căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Vì thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐKLBTV là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

CSPL: Khoản 3 Điều 116 Luật TTHC

Câu 4: Nếu tổ chức, cá nhân khởi kiện QĐGQKN về QĐXLVVCT, thời hiệu luôn là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN đó.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: “Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a

và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.”

CSPL: Khoản 4 Điều 116 Luật TTHC

Câu 5: Nếu vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn theo quy định của pháp luật thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác luôn không được tính vào thời hiệu khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện trong thời hạn 1 năm QĐHC, BTV hoặc 30 ngày kể

từ nhận đc quyết định kiếu nại về vụ việc cạnh tranh tại mục a,b Khoản 2 Điều này thì

Trang 3

thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không được tính vào thời hiệu khởi kiện

CSPL: Khoản 4 Điều 116 Luật TTHC

Câu 6: Sau khi khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cá nhân chỉ có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐKLBTV trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Vì sau khi khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó thì không chỉ có cá nhân có quyền khởi kiện VAHC mà còn có cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC

CSPL: Khoản 1 Điều 115 Luật TTHC

Câu 7: Trong trường hợp cá nhân, tổ chức khiếu nại đối với QĐXLVVCT nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện VAHC.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Vì theo Khoản 2 Điều 115 Luật TTHC 2015

2 Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.

Như vậy ta thấy khi ta không đồng ý với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì

ta có quyền khởi kiện VAHC Trong nhận định trên nêu 1 trường hợp khi đi khiếu nại nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện VAHC là đúng

CSPL: Khoản 2 Điều 115 Luật TTHC 2015.

Câu 8: Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại QĐHC theo quy định của pháp luật khiếu nại thì ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày khiếu nại được thụ lí, cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền khởi kiện VAHC

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Vì: theo Khoản 1 Điều 115 Luật TTHC 2015 quy định:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

Ta thấy quyền khởi kiện vụ án Hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân đi khiếu nại QĐHC nào đó và dù pháp luật khiếu nại có quy định “ ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày khiếu nại được thụ lí, cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền khởi kiện VAHC”thì ta không quan tâm Ta chỉ quan tâm đến luật TTHC quy định “Quyền khởi kiện vụ án” của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi đã khiếu nại với người có thẩm quyền

Trang 4

giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó thì có quyền khởi kiện VAHC

CSPL: Khoản 1 Điều 115 Luật TTHC 2015

Câu 9: Người khởi kiện VAHC không thể khởi kiện bằng hình thức trực tiếp trình bày nội dung khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Theo quy định của khoản 1 Điều 117 Luật TTHC:“Khi khởi kiện vụ

án hành chính thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm đơn khởi kiện theo quy định”.

Người khởi kiện không thể khởi kiện bằng hình thức trực tiếp trình bày nội dung khởi kiện với Tòa án có thẩm quyền

CSPL: Khoản 1 Điều 117 Luật TTHC.

Câu 10 : Người ký tên vào đơn khởi kiện có thể không phải người khởi kiện trong VAHC.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Người đại diện hợp pháp có thể ký vào đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 5 Điều 117 Luật TTHC

CSPL: Khoản 5 Điều 117 Luật TTHC.

Câu 11: Cá nhân, tổ chức có thể ủy quyền khởi kiện VAHC

Trả lời:

- Nhận định này là đúng

- Giải thích: Đối với cá nhân: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, do họ không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng và họ cũng không có khả năng ủy quyền cho người khác nên việc khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật, qui định tại Khoản 4 Điều 54 Những người được coi là đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 60 , gồm: cha,

mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ

Đối với cơ quan, tổ chức: Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính phải thông qua người đại diện theo pháp luật, quy định tại Khoản 5 Điều 54 Luật TTHC Những người được coi là đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay người được người đứng đầu cơ quan, tổ chức ủy quyền nhân danh mình tham gia tố tụng

CSPL: Điều 54, 60 Luật TTHC 2015

Câu 12: Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, nếu người khởi kiện không nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ này, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm

2015 về trả lợi đơn khởi kiện thì không có quy định về trường hợp trả lại đơn khởi

Trang 5

kiện nếu người khởi kiện không gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm

Đối với trường hợp người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đầy đủ kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì được xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm

2015 Thẩm phán không được căn cứ quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện Bởi vì, Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, nếu:

“… g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này“

Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm kèm theo đơn khởi kiện, Tòa án vẫn phải xem xét, thụ lý vụ án theo quy định

CSPL: K hoản 1 Điều 123 Luật T THC 2015

Câu 13: Thẩm phán chỉ được tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau khi các đương sự trong vụ án có yêu cầu.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Thẩm phán sẽ tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau trong hai trường hợp: Khi có yêu cầu của đương sự hoặc là khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng

CSPL: Khoản 1 Điều 87 Luật TTHC 2015.

Câu 14: Trách nhiệm bảo quản chứng cứ thuộc về Tòa án và những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Trách nhiệm về việc bảo quản chứng cứ cũng có thể thuộc về người thứ ba khi Tòa án xét thấy cần giao chứng cứ cho người thứ ba bảo quản và được Thẩm phán ra quyết định, lập biên bản giao cho người đó bảo quản

CSPL: Khoản 3 Điều 94 Luật TTHC 2015.

Câu 15: Trường hợp người khởi kiện gửi đơn đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính, ngày có dấu của tổ chúc dịch vụ bưu chính nơi đến cũng có thể được xác định là ngày khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Theo Khoản 2 Điều 120 Luật TTHC 2015 thì trường hợp đương sự không chứng minh được ngày gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính thì ngày khởi kiện

là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do dịch vụ bưu chính chuyển đến

CSPL: Khoản 2 Điều 120 Luật TTHC 2015.

Câu 16: Khi xem xét đơn khởi kiện, nếu phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết, Thẩm phán được phân công xem xét đơn phải trả lại đơn kiện cho người khởi kiện.

Trả lời:

Trang 6

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Theo Khoản 1 Điều 123 Luật TTHC 2015 không đề cập đến vấn đề trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện Nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án có quyền đình chỉ vụ án theo Điểm g Khoản 1 Điều 143 Luật TTHC 2105 quy định

CSPL: Khoản 1 Điều 123 Luật TTHC 2015

Câu 17: Trong quá trình xem xét đơn khởi kiện, nếu thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Căn cứ vào Điểm c Khoản 3 Điều 121 Luật TTHC thì Thẩm phán được phân công chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác

CSPL: Điểm c Khoản 3 Điều 121 Luật TTHC

Câu 18: Chánh án TANDTC không có quyền giải quyết khiếu nại văn bản trả lại đơn khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Căn cứ vào Điều 124 Luật TTHC thì Chánh án TANDTC có quyền giải quyết khiếu nại văn bản trả lại đơn khởi kiện

CSPL: Điều 124 Luật TTHC

Câu 19: Trong trường hợp người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án thụ lý vụ án vào thời điểm người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí.

Trả lời:

- Nhận định này là ĐÚNG

- Giải thích: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 125 Luật TTHC thì Thẩm phán thụ lý vụ

án vào thời điểm người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí

CSPL: Khoản 2 Điều 125 Luật TTHC

Câu 20: Trong trường hợp người khởi kiện từ đủ 60 tuổi trở lên, Tòa án phải thụ lý VAHC ngay sau khi nhận đơn khởi kiện.

Trả lời:

- Nhận định này là SAI

- Giải thích: Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Khoản 2 Điều 125 Luật TTHC thì trong trường hợp này người khởi kiện từ đủ 60 tuổi trở lên được miễn giảm tiền tạm ứng án phí Vì vậy, trường hợp người khởi kiện được miền nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng

án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý

CSPL: Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Khoản 2 Điều 125 Luật TTHC

PHẦN HAI: BÀI TẬP

Trang 7

Bài tập 1: Ngày 12/11/2017, ông T.T.L gửi đơn đề nghị UBND Thành phố

HA, tỉnh QN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.051m 2 , thuộc một phần diện tích thửa đất số 103, tờ bản đồ số 2, tại khối An Phong, phường Tân An, thành phố HA, tỉnh QN Ngày 08/4/2018, UBND thành phố HA ban hành Công văn số 970/UBND trả lời đơn ông L với nội dung không có cơ sở giải quyết việc xin cấp Giấy chứng nhận của ông Không đồng ý, ngày 25/5/2018, ông L khiếu nại đối với Công văn trên Ngày 23/6/2018, UBND thành phố HA có thông báo thụ lý giải quyết đơn khiếu nại lần đầu của ông L Đến ngày 10/8/2019, Chủ tịch UBND thành phố HA ban hành Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND giải quyết khiếu nại cho ông L với nội dung không công nhận quyền sử dụng đất và nhà trên diện tích đã mà ông đã đề nghị công nhận Cùng ngày, ông L nhận được quyết định trên.

a Xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án trên.

- Đối tượng khởi kiện trong vụ án trên là quyết định hành chính của Chủ tịch UBND thành phố HA

b Xác định thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện của ông T.T.L đối với công văn số 970/UBND của UBND là ngày 08/4/2018

c Ngày 05/8/2020, tỉnh QN có một trận bão lớn làm cho Tòa án phải tạm dừng hoạt động trong 15 ngày để khắc phục hậu quả Ngày 20/08/2020 ông L khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND thì vụ việc có được thụ lý hay không? Vì sao?

Được thụ lý Vì tỉnh QN bị cản trở khách quan làm cho người khởi kiện không khởi kiện được, đến ngày 20/8/2020 ông L khởi kiện VAHC đối với quyết định số 1707/QĐ-CTUBND thì thời gian trở ngại khách quan khác luôn không được tính vào thơi hiệu khởi kiện, được quy định thời hạn theo mục a,b khoản 2 Điều 116

d Vì nhận thấy ông L tuổi già, sức yếu nên Ông T.T.M là cháu ruột của ông

L đã làm đơn, ký tên trong đơn khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND và gửi đến TAND có thẩm quyền Việc khởi kiện như trên có phù hợp theo quy định của Luật TTHC năm 2015 hay không? Vì sao?

- Việc cháu ruột của ông L đã làm đơn khởi kiện VAHC thay ông L và nộp lên TA

có thẩm quyền là không phù hợp với quy định của pháp luật

Vì: theo quy định Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định về người khởi kiện

Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với

quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu

cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách

cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri)

Ta thấy: NKK phải là người bị tác động trục tiếp bởi khiếu kiện đó Cho nên ông

L phải tự mình làm đơn khởi kiện QĐHC của CTUBND

Bài tập 2: Ngày 14/01/2016 UBND thành phố B (tỉnh B) ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND thu hồi 295,6m 2 đất của ông D Ngày 15/02/2016 UBND thành phố B ban hành Quyết định số 265/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ gia đình ông D Ngày 25/9/2016, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất Ông D có

Trang 8

đơn khiếu nại đối với Quyết định số 2252/QĐ-UBND Ngày 24/4/2017 ông D nhận được Quyết định số 1713/QĐ-UBND ngày 19/4/2017 của Chủ tịch UBND thành phố B có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông Không đồng ý, ngày 22/4/2018 ông D khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy Quyết định số 1713/QĐ-UBND và Quyết định số 2252/QĐ-UBND.

a Ngày 25/4/2018 đơn khởi kiện được xem xét Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện sẽ xử lý như thế nào nếu ông D nộp đơn khởi kiện (qua dịch vụ bưu chính) đến TAND thành phố B

Nếu ông D nộp đơn khởi kiện qua dịch vụ bưu chính đến TAND thành phố B thì Tòa án sẽ xử lý theo khoản 1 Điều 121 LTTHC Sau đó Thẩm phán sẽ xử lý theo Khoản 3 Điều 121 Luật TTHC

b Tòa án có thẩm quyền giải quyết đã ra Thông báo số 132/TB-TA trả lại đơn khởi kiện do cho rằng thời hiệu khởi kiện của ông D đã hết Anh (chị) có nhận xét gì về Thông báo trên của Tòa án Nếu không đồng ý, ông D có thể thực hiện thủ tục gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Không đồng ý Ngày 24/04/2017 ông D nhận được Quyết định số 1713/QĐ-UBND ngày 19/04/2017 của Chủ tịch 1713/QĐ-UBND có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông D

Ngày 22/04/2018 ông D khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy Quyết định số 1713/QĐ-UBND và Quyết định 2252/QĐ-UBND

Tòa án ra thông báo số 132/TB-TA trả lại đơn khởi kiện vì cho rằng thời hiệu khởi kiện của ông D đã hết

Theo điểm a Khoản 3 Điều 116 Luật TTHC qui định về thời hiệu khởi kiện:

“Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai”

Ông D nhận được Quyết định số 1713/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND về việc không chấp nhận đơn vào ngày 24/04/2017 Ngày 22/04/2018 ông D khởi kiện ra Tòa

án có thẩm quyền là vẫn còn nằm trong thời hiệu khởi kiện là 1 năm Vì vậy Tòa án ra thông báo số 132/TB-TA trả lại đơn khởi kiện vì cho rằng thời hiệu khởi kiện của ông

D đã hết là sai

c Ngày 12/5/2018 Tòa án có thẩm quyền ra Thông báo số 140/TB-TA về việc nộp tiền tạm ứng án phí nhưng đến ngày 24/5/2018 ông D vẫn không nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án nên Tòa án đã ra Thông báo trả lại đơn khởi kiện Giả sử vào ngày 30/5/2018 ông D xuất trình chứng cứ chứng minh đã nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 15/5/2018 nhưng do bị tai nạn nên không thể đến Tòa nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Hãy nêu cách thức xử lý của Tòa án trong trường hợp trên Nếu ông D chưa đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án sẽ xử lý như thế nào?

- Trong trường hợp D đã xuất trình chứng cứ chứng minh mình đã nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 15/5/2018 thì áp dụng Điểm a, b Khoản 3 Điều 125 Luật TTHC 2015:

“ a) Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;

Trang 9

b) Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp biên lại thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo

và tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;”

- Nếu D chưa đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ không nộp tiền tạm ứng án phí theo Khoản 4 Điều

125 Luật TTHC 2015

3 Tình tiết bổ sung: Biên bản lấy lời khai của người khởi kiện được công bố tại phiên tòa sơ thẩm có nội dung như sau: “Ngày 08/9/2019, bà M có quá giang

xe của bà Phạm Thị V để đi thăm con đang học tại Cần Thơ Khi tới Cần Thơ, bà

V rủ bà M đi Sóc Trăng chơi luôn rồi khi nào về hãy ghé thăm con, thấy bà V nói mấy lần nên bà M cũng đồng ý Khi xe tới địa phận ST thì bị lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh ST chặn xe lại kiểm tra, lúc này bà M mới biết trên xe bà V

có chở thuốc lá, Cảnh sát kinh tế mời bà M và bà V đến trụ sở làm việc Bà M không liên quan gì đến đồ đạc trên xe của bà V nhưng Công an lập biên bản yêu cầu bà M ký tên và cho rằng bà M có liên quan đến vấn đề chở thuốc lá của bà V.

Bà M không đồng ý ký biên bản nhưng do bà không biết, cán bộ lập biên bản không đọc lại biên bản cho bà nghe và yêu cầu bà ký tên vào rồi cho bà về” Sau khi Thẩm phán công bố công bố đoạn video trích xuất từ camera BOT TP CT thể hiện bà M, bà V thường xuyên đi cùng nhau trên phương tiện 83C-040.XX chứ không phải ngẫu nhiên quá giang xe như bà M trình bày.

Theo Anh (Chị) đoạn video mà Thẩm phán công bố tại phiên tòa có giá trị

hỗ trợ chứng minh cho những tình tiết, sự kiện nào cần làm sáng tỏ trong vụ án? Trả lời:

Đoạn video mà Thẩm phán công bố tại phiên tòa có giá trị hỗ trợ chứng minh lời khai của bà M là sai sự thật Bà M cho rằng chỉ quá giang xe của bà V để đi thăm con, sau đó được bà V rủ đi Sóc Trăng chơi và không liên quan gì đến số thuốc lá trên xe của bà V Trong khi đó video được trích xuất chứng tỏ việc bà M với bà V cùng đi trên

xe không phải là một lần và tình cờ mà đã có sự bàn bạc với nhau trước đó nhằm thực hiện mục đích chung

Ngày đăng: 17/06/2021, 13:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w