Người dạy văn cần nghiên cứu phần Đọc - hiểu văn bản cần xem xét tận dụng những câu hỏi hay hợp lý, xây dựng hệ thống câu hỏi trong giáo án sao cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa nh[r]
Trang 1PHÒNG GD-ĐT THĂNG BÌNH
TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN
*************
Đề tài:
GIÚP HỌC SINH HỌC VĂN BẢN- NGỮ VĂN 7
ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ái Diễm
Tháng 02năm 2010
A TÊN ĐỀ TÀI: GIÚP HỌC SINH HỌC VĂN BẢN- NGỮ VĂN 7 ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
Trang 2B ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Đặc trưng của con người trong thời đại mới là tính năng động và sáng tạo mà trường THCS đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho tương lai của những chủ nhân trẻ tuổi ấy
Do đó nội dung dạy - học không chỉ chú trọng cho học sinh học cái gì mà quan trọng hơn là học như thế nào? Môn Ngữ văn vừa không coi nhẹ việc cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh, đồng thời thông qua kiến thức cụ thể để hình thành rèn luyện cho học sinh cách học, đọc, cách ghi một vấn đề và vươn tới tự giải quyết một cách sáng tạo các vấn đề gần gũi tương tự
Được học bồi dưỡng và dạy chương trình thay sách giáo khoa (SGK), qua tám năm giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi dần dần tiếp cận và nắm vững phương pháp mới theo quan điểm tích cực và tích hợp Hơn nữa nhiệm vụ cải cách giáo dục là việc vận dụng Công nghệ thông tin vào dạy học thì cái mới trong việc dạy văn có thể được bắt đầu từ hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản Để từ hệ thống này, ta dễ dàng tạo ra nhiều Slide trong một giáo án điện tử Power Point Làm thế nào để sử dụng nó một cách có hiệu quả trong giờ dạy - học văn mà người thầy luôn đóng vai trò chủ đạo dẫn dắt trò chủ động khám phá chiếm lĩnh tác phẩm
Trong quá trình dạy môn Ngữ Văn 7 tôi đã có sự nghiên cứu tìm tòi và xây
dựng hệ thống câu hỏi văn bản cho từng bài dạy nhằm Giúp học sinh học Văn
bản- Ngữ văn 7 đạt hiệu quả cao Từ đó, rút ra được những vấn đề mang tính
kinh nghiệm và cũng là những gợi ý mong được quí thầy cô góp ý kiến xây dựng
C CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Nét nổi bật cần chú ý trong phương pháp dạy học văn theo tinh thần đổi mới là tích hợp và tích cực Để đảm bảo tính tích cực tiết dạy văn bản không chỉ cho học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương còn là dạy cách học - hiểu (cách giải mã, tiếp cận, phân tích, cảm nhận) một văn bản để khi tiếp xúc với một tác phẩm văn chương (bất kỳ) các em không lúng túng mà chủ động phân tích, bình giảng, khám phá Để đạt được điều đó SGK mới môn Ngữ Văn đã
có sự thay đổi, mục hướng dẫn học bài thành mục Đọc - Hiểu văn bản
Nội dung và cách thức nêu câu hỏi cho phần Đọc - Hiểu văn bản quan tâm đến yếu tố làm cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu tác phẩm Do đó có thể nói rằng: Phần Đọc - Hiểu văn bản trong SGK Ngữ văn khẳng định công việc lao động của trò vì sách muốn hướng tới người đọc Điều đó không có nghĩa là thủ tiêu vai trò của người thầy, bởi người thầy đóng vai trò chủ đạo bằng cách tổ chức các hoạt động cho học sinh khám khá, lĩnh hội tác phẩm Trong đó việc xây dựng hệ thống câu hỏi Đọc - Hiểu văn bản là việc làm mang tính thiết thực góp phần quan trọng
để có được những tiết dạy văn hiệu quả, giúp học sinh học phần Văn bản tốt hơn
Trang 3D CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ:
Qua tám năm thực thi chương trình giảng dạy SGK mới môn Ngữ văn
6, 7, 8, 9 việc nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 7 được nhiều giáo viên quan tâm vì đây là khối lớp có chương trình khá nặng với trình độ học sinh Bản thân tôi đã quan tâm khi dạy năm đầu của thay SGK Ngữ văn 7(2003-2004) tại Trường THPT Khâm Đức- Phước Sơn
Và thời gian qua, các tiết dạy qua băng hình, các giáo án dự thi, những cách thiết kế bài dạy về phân môn cho thấy người dạy rất chú trọng xây dựng hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 7
So với hệ thống câu hỏi Đọc - Hiểu văn bản sách giáo khoa thì câu hỏi trong các tiết dạy giáo án… nói trên có sự vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo của người giáo viên dạy văn
Song hệ thống Đọc - Hiểu văn bản chỉ là kết quả của vấn đề Vậy làm sao
có được kết quả đó thì lại là cả một sự học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu trong thực tế giảng dạy
Trong thực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn huyện Thăng Bình (Trường THCS Ngô Quyền & Lê Quý Đôn) cơ sở vật chất của nhà trường tuy khá đủ nhưng chưa có điều kiện để học sinh học tốt môn Ngữ văn, kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của các em còn chậm Việc nghe, hiểu câu hỏi để suy nghĩ, trả lời là việc không dễ, nhất là đối với những em trung bình, yếu kém, và hỏi như thế nào
để nêu được vấn đề cho các em động não, hứng thú tham gia phát biểu cũng là một việc không đơn giản Có hiện tượng giáo viên hỏi học sinh im lặng không trả lời Thầy đưa ra cách hiểu của mình một cách áp đặt trò chỉ việc ghi chép tiếp thu một cách thụ động Những gì học sinh chuẩn bị ở nhà không được cọ xát, trao đổi trong tiết học, giờ dạy học văn trở thành nhàm chán, đơn điệu, kém hiệu quả
Từ vấn đề trên tôi nghĩ rằng hệ thống câu hỏi trong SGK chỉ có tính định hướng, hướng dẫn học sinh tìm hiểu những kĩ năng cơ bản bài học, còn câu hỏi trong giờ học trên lớp là sự vận dụng cụ thể của mỗi giáo viên trong thực tế giảng dạy Câu hỏi trong SGK có tính chất tương đối ổn định, còn câu hỏi trong mỗi giờ học rộng hơn, linh hoạt hơn và cần phải phù hợp với đối tượng học sinh mỗi nơi, mỗi lớp, mỗi cá nhân Người dạy văn cần nghiên cứu phần Đọc - hiểu văn bản cần xem xét tận dụng những câu hỏi hay hợp lý, xây dựng hệ thống câu hỏi trong giáo án sao cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa những gì mình đã chuẩn bị ở nhà với câu hỏi cuả thầy buộc các em phải suy nghĩ và làm sáng tỏ thêm những gì các em đã hiểu, đã nhận thức về tác phẩm và nhận thức những điều chưa hiểu đúng
Qua nhiều năm giảng dạy Ngữ văn 7 ở các địa bàn khác nhau( Trường THPT Khâm Đức-Phước Sơn, Trường THCS NGô Quyền,Trường THCS Lê Quí
Trang 4Đôn- Thăng Bình), với sự cố gắng nổ lực của bản thân tôi luôn tìm hiểu để có một hệ thống câu hỏi Đọc - Hiểu văn bản và vận dụng thích ứng ở từng bài dạy nhằm giúp học sinh học Văn bản Ngữ văn 7 đạt hiệu quả cao Chính vì vậy trong
điều kiện cho phép tôi xin được đi vào mảng đề tài: “Giúp học sinh học Văn bản
Ngữ văn 7 đạt hiệu quả cao ”.
E NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
I XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN PHÙ HỢP VỚI BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
Bản chất của hoạt động Đọc - hiểu văn bản trong bài học Ngữ văn là hoạt động tìm tòi, phân tích để cảm và hiểu văn bản theo mục tiêu cụ thể của phần văn trong mục tiêu chung của bài học Theo quan điểm đổi mới của chương trình thay sách Ngữ văn là câu hỏi đọc - hiểu văn bản phải kích thích, khơi dậy năng lực cảm và hiểu văn ở mỗi học sinh Do đó giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu
1 Phù hợp với đối tượng học sinh:
Cùng một lúc nội dung hỏi nhưng với những câu hỏi có nhiều vế câu hoặc nhiều từ ngữ yêu cầu cao về khả năng phân tích và tổng hợp thì học sinh khó trả lời Do đó cần sử dụng câu hỏi nhỏ dẫn dắt gợi mở
Ví dụ 1: Ở văn bản ca dao - dân ca những câu hát về tình cảm gia đình
(Ngữ văn 7 - Tập 1) có câu hỏi 2 ở phần Đọc - hiểu văn bản hướng dẫn cho học
sinh tìm hiểu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, nhớ về quê mẹ ruột đau chín
chiều” như sau:
Bài 2 là tâm trạng một phụ nữ lấy chồng xa quê, hãy nói rõ tâm trạng qua việc phân tích các hình ảnh thời gian, không gian hành động và nỗi đau của nhân vật
Đây là câu hỏi khó đòi hỏi một sự đảm nhận vừa rộng vừa sâu về cả nội dung và nghệ thuật của bài ca dao, cần có tư duy mạch lạc và trình bày có hệ thống mới trả lời được Do đó, khó có thể sử dụng cho mọi đối tượng học sinh Vậy có thể xây dựng những câu hỏi nhỏ sau:
Trước hết là câu hỏi phân tích hình ảnh thời gian:
a Mô típ chiều chiều thường gặp trong ca dao trữ tình Tại sao bài ca dao
không dùng từ “sáng sáng”, “trưa trưa” mà là “chiều chiều” Thời gian này có ý nghĩa như thế nào?
(Gợi ý trả lời: Đây là thời gian nghệ thuật không phải một chiều mà là chiều chiều, chiều chiều gợi nhớ, gợi buồn là thời điểm của sự trở về, sự đoàn tụ
mà người con gái cảm thấy bơ vơ nơi đất lạ quê chồng)
Trang 5Tiếp theo là câu hỏi phân tích hình ảnh không gian.
b Chọn nơi đứng là ngõ sau vắng lặng khuất nẻo nói lên điều gì trong tâm trạng người con gái?
(Nỗi buồn cô đơn, nỗi niềm riêng không biết bày tỏ cùng ai)
Tiếp theo là những câu hỏi cảm, hiểu về hành động nhân vật
c Hãy phân biệt chiều chiều với chín chiều (chín chiều là chín bề, chín hướng Hướng thứ chín là hướng vào nội tâm người con gái xa quê với nỗi đau trong tận sâu cõi lòng)
d Động tác “Trông về” thể hiện nỗi niềm gì của nhân vật? (mong mỏi, buồn thương, nhớ mẹ, nhớ quê)
Bốn câu hỏi trên giúp học sinh từng bước cảm nhận một cách sâu sắc về câu ca dao mà cảm thấy không bị dồn ép, kiến thức hay mơ hồ áp đặt
Câu a: Là câu hỏi nêu vấn đề có thể giành cho học sinh khá giỏi
Các câu b, c, d dùng cho mọi đối tượng
Ví dụ 2: Ở văn bản “Sống chết mặc bay” (Ngữ văn 7 tập 2) phần Đọc
-hiểu văn bản có câu hỏi 4 tổng kết về giá trị nội dung, nghệ thuật của truyện như sau:
Hãy phát biểu chung về giá trị hiện thực, nhân đạo và nghệ thuật của truyện “Sống chết mặc bay” Học sinh chưa hiểu gì về các từ hiện thực nhân đạo vẫn có thể dựa vào ghi nhớ trả lời một cách dễ dàng Đối với những học sinh yếu kém thì đây là câu hỏi khó và khi nghe các bạn trả lời vẫn còn mơ hồ trong cách hiểu? Có thể dùng những câu hỏi với những từ gần gũi dễ hiểu hơn
a Em có nhận xét gì về lời văn và việc sử dụng phối hợp các biện pháp nghệ thuật trong truyện?
(Lời văn cụ thể, sinh động vận dụng khéo léo hai biện pháp tương phản và tăng cấp)
b Nỗi khổ của người dân trong truyện là do đâu? (do thiên tai và quan lại
vô trách nhiệm với bản chất phi nhân tính)
c Qua truyện em nhận ra thái độ gì của tác giả đối với người dân?
(Niềm thương cảm của tác giả trước cảnh muôn sầu nghìn thảm của nhân dân)
Giáo viên giải thích các cụm từ giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực và hỏi
d Trong hai nội dung trả lời ở câu b và c (bảng phụ) đâu là giá trị nhân đạo, đâu là giá trị hiện thực của truyện?
Trang 6Bốn câu hỏi sẽ giúp cho học sinh đánh giá lần lượt các giá trị của tác phẩm một cách dễ dàng và khắc sâu kiến thức
Tóm lại: Một tiết dạy văn bản đạt hiệu quả trước hết là đa số học sinh cảm,
hiểu tác phẩm Vì vậy việc xây dựng hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản phải phù hợp với nhiều đối tượng học sinh là cần thiết
2 Bám sát mục tiêu bài học:
- Mục tiêu của từng bài học Ngữ văn là định hướng cơ bản cho người giáo viên trong việc thiết kế bài dạy qua hệ thống câu hỏi và kiến thức truyền thụ cũng như nội dung, kỹ năng cần truyền đạt cho học sinh Hệ thống câu hỏi (SGK) phần đọc - hiểu văn bản luôn bám sát mục tiêu bài học nói chung và văn bản nói riêng, nên khi xây dựng các câu hỏi nhỏ, câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở, câu hỏi liên hệ, đối chiếu phải chú ý đến trọng tâm của bài dạy Với lượng sách phong phú, hỗ trợ cho việc soạn giáo án như hiện nay, nếu tham lam, ôm đồm có thể dẫn đến xây dựng câu hỏi dàn trải thiếu tính tập trung
- Căn cứ vào câu hỏi Đọc - hiểu văn bản và vận dụng có chọn lọc, câu hỏi
ở sách tham khảo xây dựng các câu hỏi nhỏ luôn hướng tới mục tiêu bài học và điều luôn được chú ý để tiết dạy có định hướng rõ rãng
- Khi dạy những bài thơ Đường giáo viên có rất nhiều vấn đề để hỏi, nếu như có tham vọng học sinh hiểu rộng, hiểu sâu về mọi mặt của tác phẩm (thể thơ,
bố cục, nội dung, nghệ thuật) Song yêu cầu của bài học có khi chỉ nghiên về khai thác giá trị nội dung thì những vấn đề khác nên ít đi sâu vào
- Ví dụ: “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch (Ngữ văn 7 - tập 1) là bài thơ thuộc thời
nhà Đường nhưng không phải là thơ Đường mà là thơ cổ thể
Mục tiêu bài học không đề cập đến việc tìm hiểu thể thơ Sách giáo viên cũng định hướng là chỉ cần giới thiệu sơ lược: đây là bài thơ viết theo thể thơ tứ tuyệt cổ phong không bị những quy tắc chặt chẽ về niêm đối ràng buộc Giáo viên không cần phải nêu câu hỏi tìm hiểu về chữ, thanh trong bài thơ để đối chiếu với luật thơ Đường sẽ mất nhiều thời gian
- Về nội dung: Ánh trăng trong bài thơ chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình
quê Khi phân tích cảm nhận của Lý Bạch về ánh trăng, sách giáo viên đã so sánh với cảm nhận của Tiêu Cương nhằm nhấn mạnh ý: Ở Lý Bạch ông không chủ động ngắm trăng mà chỉ là một khoảnh khắc suy nghĩ của chủ thể; mặt khác câu hỏi của Lý Bạch “Nghi thị địa phương sương” và câu thơ của Tiêu Cương: “Dạ nguyệt tự thu sương” có điểm tương đồng là đều cảm nhận trăng như sương Cách so sánh, đối chiếu theo sách giáo viên là hợp lý dễ làm nổi vật nội dung cần hướng tới của bài thơ: Ánh trăng chỉ là cái cớ để bộc lộ tình quê thường trực sâu nặng Vậy bám sát mục tiêu bài học giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi sau:
Trang 7a Sự cảm nhận của Lý Bạch có gì khác so với Tiêu Cương?
(Tiêu Cương cảm nhận về trăng dựa trên phép so sánh để miêu tả, còn Lý Bạch chỉ là khoảnh khắc suy nghĩ)
b Em có cảm nhận gì về ánh trăng ở hai câu đầu? Có phải tác giả chỉ thuần
tả cảnh không? (Ánh trăng đẹp, sáng giàn giụa Tác giả không chỉ nhuần tả cảnh
mà ẩn bên trong là tình nên không ngủ được mới nhận xét cảm nghĩ về trăng)
Những câu hỏi trên nhằm gợi cho học sinh định hướng: Vì nhớ quê mà không ngủ, không ngủ mới nhìn trăng, cảm nghĩ về trăng
- Khi dạy bài này có người cho rằng cần so sánh với ánh trăng trong thơ
Hồ Chủ Tịch ở bài Vọng Nguyệt, Cảnh Rừng Việt Bắc, Nguyên Tiêu qua một số câu hỏi để học sinh thấy được nội dung trên Trăng trong thơ Bác biểu hiện một phong thái ung dung tự tại của người chiến sĩ cách mạng trong mọi hoàn cảnh Hoàn cảnh ra đời bối cảnh lịch sử của hai bài thơ có một khoảng cách quá xa khó
có thể đem chi tiết thơ nào ở thơ Bác để đối chiếu với câu: “Nhi thi địa phương suơng” trong bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch cho thật sát hợp Nếu có thời gian, thiết nghĩ giáo viên có thể liên hệ nhẹ nhàng chứ không nên nêu câu hỏi vì học sinh sẽ rất khó phân tích để làm nổi bật ý thơ của chủ thể trữ tình Mặt khác trong thời gian 45 phút cho một tiết dạy với một bài thơ dịch, sự tham lam mở rộng kiến thức nhiều có thể làm ảnh hưởng đến việc phân bố thời gian hoặc làm phân tán kiến thức trọng tâm hoặc gây cho học sinh lúng túng khi cảm nhận tác phẩm
- Tóm lại, xây dựng câu hỏi mở rộng không có nghĩa là cho học sinh liên
hệ quá rộng, quá xa vấn đề cần khám, phá lĩnh hội mà nội dung hỏi cần tập trung bám sát mục tiêu bài học để tiết dạy có chiều sâu học sinh dễ nắm vững kiến thức
và tiếp cận tác phẩm
3 Đảm bảo tính tích cực và tích hợp:
Để xây dựng câu hỏi đảm bảo tính tích cực giáo viên ít sử dụng câu hỏi phát hiện và tăng cường câu hỏi mở, câu hỏi nêu vấn đề nhằm gợi sự động não, suy nghĩ ở học sinh để giải quyết những mâu thuẫn trong tình huống có vấn đề
Để xây dựng câu hỏi đảm bảo tính tích hợp giáo viên cần tận dụng thời điểm tích hợp ngang hoặc dọc để sử dụng những câu hỏi cho học sinh vận dụng các kiến thức liên quan giải mã những nội dung tiềm ẩn trong tác phẩm văn chương
- Sau đây là một số ví dụ về việc xây dựng câu hỏi mang tính tích cực và tích hợp
Dạy bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến (Ngữ văn 7 - tập 1) giáo viên có thể sử dụng nguyên câu hỏi trong phần đọc - hiểu văn bản của SGK:
Trang 8câu thơ thứ 8 và riêng cụm từ “Ta với ta” nói lên điều gì? Câu thơ này có vai trò khẳng định điều gì về tình bạn của nhà thơ?
Song cả hai câu hỏi trên có hình thức hỏi giống nhau, thiếu linh hoạt gây cảm giác đơn điệu
Để kích thích tư duy liên tưởng phân tích đánh giá để học sinh khám phá được cái hay trong cách dùng từ cũng như trong ý nghĩa của câu kết giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi
a Trong câu thơ cuối có cụm từ “Ta với ta” đại từ “Ta” ở đây chỉo ai và có
ý nghĩa gì? (ta là tác giả và ta là bạn khách cả hai không còn quan hệ tách rời mà gắn bó hoà hợp)
b Theo em, có gì khác nhau trong cụm từ “Ta với ta” ở bài thơ này so với bài Qua Đèo Ngang đã học?
(Bài Bạn đã đến chơi nhà: Chỉ sự hoà hợp của một tình bạn chan hoà của hai tâm hồn đồng điệu, bài Qua Đèo Ngang: Chỉ sự lặp lại trong nỗi cô đơn, nỗi buồn)
c Em tưởng tượng gì về thái độ của Nguyễn Khuyến ở câu kết và qua đó tác giả khẳng định điều gì về tình bạn?
(Nụ cười hóm hỉnh ẩn chứa niềm tự hào, khẳng định tình bạn đẹp, chân thành vượt lên mọi lễ nghi vật chất)
Với 3 câu hỏi vừa hỏi vừa gợi như trên các em sẽ có sự liên hệ với cách sử dụng đại từ rất độc đáo ở cả hai nhà thơ đồng thời cảm hiểu về tình bạn của Nguyễn Khuyến dựa trên sự đối chiếu, tưởng tượng đánh giá một cách sâu sắc
- Một thứ quà của lúa non: Cốm (Ngữ văn 7/1 là bài tuỳ bút).
Hướng dẫn phân tích đoạn 1-SGK có câu hỏi: Tác giả mở đầu bài viết bằng những hình ảnh chi tiết nào? Những cảm giác ấn tượng nào của tác giả đã tạo nên tính biểu cảm của đoạn văn?
Cả hai câu hỏi trên đều mang tính phát hiện và nội dung câu hỏi muốn hướng đến là tính biểu cảm của thể văn tuỳ bút Cũng nội dung hỏi đó giáo viên
có thể xây dựng các câu hỏi gợi mở dần dần gắn với quan điểm tích cực và tích hợp như sau:
a Đoạn văn này tác giả kể hay tả? (tả) Cội nguồn của cốm là hạt thóc nếp
ở đồng quê Điều đó được tả bằng những chi tiết nào (hạt thóc nếp…làm trĩu thân lúa còn tươi, mùi thơm ngát của bông lúa non, trong cái vở xanh kia có một giọt sữa thắng thơm phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ; giọt sữa dần dần đông lại, bông lúa ngày càng cong xuống nặng vì các chất quý trong sạch của trời)
Trang 9b Cách miêu tả có gì đặc sắc? Nhằm ý nghĩa gì? (Dùng cảm giác và sự tưởng tượng, dùng câu hỏi tu từ, khêu gợi cảm giác ở người đọc)
Ở câu hỏi a có sự tích hợp với bài tập làm văn về phương thức biểu đạt, câu hỏi 2 kích thích sự cảm hiểu phân tích ở học sinh
- Tóm lại, khi có điều kiện cần có đủ để tích cực cho cách thức hỏi phong phú linh hoạt; đồng thời phát huy tính tích cực là một trong những cách giáo viên
áp dụng tốt việc dạy văn theo quan điểm mới
4 Gắn với quan điểm thực hành và ứng dụng:
- Trong chương trình thay sách Ngữ văn 7, quan điểm thực hành và ứng dụng thể hiện trong việc đưa các văn bản nhật dụng vào dạy như: Cổng trường
mở ra (Lí Lan) Mẹ tôi – trích Những tấm lòng cao cả (Et môn đô đơ Amixi) Cuộc chia tay của những con búp bê (Khánh Hoài) Ca Huế trên sông Hương (Hà Ánh Minh) Các vấn đề về nhà trường, phụ nữ, quyền trẻ em, văn hoá, giáo dục… Trong các văn bản trên gần gũi với cuộc sống hiện tại sẽ giúp học sinh quan tâm nhiều đến những vấn đề diễn ra ở cuộc sống xung quanh
Song tính thực hành và ứng dụng còn cần phải được giáo viên quan tâm và
áp dụng vào việc dạy các văn bản không phải là nhật dụng mà bằng phương pháp dạy tích hợp Trong đó việc xây dựng hệ thống câu hỏi liên quan đến những vấn
đề xảy ra trong cuộc sống thực tại để học sinh liên hệ đối chiếu, đánh giá tìm cách giải quyết…
- Ví dụ: Văn bản tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất (Ngữ văn 7 tập 2) có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
Sau khi cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa, giá trị của câu tục ngữ giáo viên có thể hỏi liên hệ với thực tế
Từ thực tế trồng lúa của nông dân them em các thứ tự và mối quan hệ của các yếu tố: Nước, phân, cần, giống như kinh nghiệm của người xưa có còn ý nghĩa hay không? vì sao?
Ngày nay, thuỷ lợi phát triển, giống mới đủ loại Các loại phân vô cơ cung cấp đầy đủ và nông nghiệp dần dần được cơ giới hoá, ít phải dùng sức lực để làm; từ sự liên hệ với cuộc sống hiện tại học sinh có những lý giải khác nhau cho lập luận của mình Những ý kiến của các em qua việc trả lời câu hỏi trên đã thể hiện sự hiệu quả trong việc gắn dạy học với quan điểm thực hành và ứng dụng (Đối với một số học sinh có gia đình làm nông)
- Dạy văn bản Sài Gòn tôi yêu (Ngữ văn 7 tập 2), sau khi cho học sinh tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm – giáo viên nêu câu hỏi để các
em trình bày những hiểu biết về thành phố Sài Gòn hiện nay
Trang 10a Em biết gì về Sài Gòn hiện nay? (tên Thành phố, sự phát triển, thiên nhiên, khí hậu, con người…)
b Sự thay đổi có làm mất đi nét đặc trưng của Sài Gòn không?
Hai câu hỏi trên nhằm cho học sinh huy động vốn hiểu biết về sự học khi thấy những vấn đề trong tác phẩm rất gần với cuộc sống quanh mình
Dạy văn bản Tục ngữ về con người và xã hội (Ngữ văn 7 tập 2) với câu:
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” giáo viên có thể nêu trên câu hỏi.
Từ bài học về lòng biết ơn em cảm thấy cần phải thực hiện lời khuyên trong câu tục ngữ như thế nào? (thái độ gì?, hành động gì?)
Từ việc cho trả lời câu hỏi trên, giáo viên định hướng thái độ và hành động đúng cho các em cũng là cách bồi dưỡng tư tưởng tình cảm lối sống đẹp và có thể nói rằng: những gì các em sẽ va chạm, sống và quan hệ đã được chuẩn bị từ những tiết dạy văn học
Vậy, dạy tác phẩm văn chương là dạy cho các em làm người; bởi sự vận dụng những điều hiểu biết từ tác phẩm vào cuộc sống Cho nên câu hỏi cần có những tình huống đầy ắp hơi thở của cuộc sống và phải để cuộc sống ùa vào trang sách để học sinh cảm thấy mình đang sống trong cuộc đời thực Từ đó những vấn đề trong tác phẩm mới được chiếm lĩnh, khám phá một cách dễ dàng nhất, đạt yêu cầu cao nhất
II XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN LÀ
SỰ TIẾP THU SỬ DỤNG MỘT CÁCH LINH HOẠT, SÁNG TẠO CÂU HỎI ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN SÁCH GIÁO KHOA.
Câu hỏi Đọc – hiểu văn bản ở SGK đã dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nội dung phương pháp dạy học mới; song chỉ mang tính định hướng đại trà Người soạn không thể soạn một cách tỉ mỉ các câu hỏi cho một giờ lên lớp cụ thể
- cho nên người giáo viên dạy văn nhất thiết phải xây dựng hệ thống câu hỏi Đọc – hiểu văn bản cho phù hợp với đối tượng học sinh mình dạy
- Nói như vậy không có nghĩa là lúc nào cũng cố gắng tìm ra câu hỏi khác với câu hỏi trong SKG Những câu hỏi hay, hợp lý cần được giữ nguyên và chỉ xây dựng câu hỏi khi cảm thấy cần và nên hoặc cần và đủ
- Mặt khác, cũng cần chú ý đến số lượng câu hỏi; nếu sử dụng quá nhiều dẫn đến thời gian để trả lời sẽ quá ít, tiết học thiếu độ lắng, sâu mà chỉ có sự căng thẳng Học sinh cảm thấy mệt mởi và phải làm việc quá tải
- Và cũng phải tính đến chất lượng và tính cần thiết của câu hỏi Không phải câu hỏi nào cũng phải phù hợp với mọi đối tượng học sinh; vẫn có những câu hỏi khó giành riêng cho học sinh khá, giỏi Việc sử dụng câu hỏi có tính tích hợp không nên tham lam Chỉ tích hợp khi có thời cơ để tích hợp; loại câu hỏi