Tác giả đã phân tích các nguyên nhân có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ của Dự án và tập trung giải quyết tình trạng không ổn định về thời gian để rút ra được những kết luận đáng tin cậy v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
TRẦN KIM TUYẾN
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ MẠNG PERT TRONG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG CÁC THÀNH PHỐ DUYÊN
HẢI – TIỂU DỰ ÁN NHA TRANG
Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng công trình Dân dụng và Công nghiệp
Mã số: 60.58.02.08
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG CÔNG THUẬT
Đà Nẵng, Năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Kim Tuyến
Trang 3Tên đề tài:
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ MẠNG PERT TRONG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH
TIẾN ĐỘ THI CÔNG DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG CÁC THÀNH PHỐ
DUYÊN HẢI – TIỂU DỰ ÁN NHA TRANG
Học viên: Trần Kim Tuyến Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng công trình Dân dụng và Công nghiệp
Mã số: 60.58.02.08 Khóa: K34 KH - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt: Để dự án đầu tư xây dựng công trình đạt được hiệu quả cao, chúng ta
không thể không quan tâm đến nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong
suốt quá trình triển khai chúng, trong đó cần đặc biệt chú ý đến việc lập, thực hiện tiến độ
thi công để dự án đạt được hiệu quả, chất lượng Tác giả đã phân tích các nguyên nhân có
thể gây ảnh hưởng đến tiến độ của Dự án và tập trung giải quyết tình trạng không ổn định
về thời gian để rút ra được những kết luận đáng tin cậy và có thể sử dụng được trong thực
tế thi công, đặc biệt là phải đánh giá được khả năng (xác suất) hoàn thành đúng tiến độ thi
công của dự án để có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý để đảm bảo tiến độ theo
kế hoạch
Để giải quyết vấn đề này, tác giả vận dụng phương pháp Monte Carlo trong sơ đồ
mạng PERT để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ thi công
các gói thầu NT-1.1 và NT-1.2 của Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải -
Tiểu dự án Nha Trang
Từ khóa – Sơ đồ mạng PERT, phương pháp mô phỏng Monte Carlo, quản lý rủi ro tiến
độ các dự án xây dựng, xác suất hoàn thành tiến độ thi công
APPLICATION OF PERT NETWORK DIAGRAM IN ASSESSING THE
ABILITY TO COMPLETE CONSTRUCTION PROGRESS OF SUSTAINABLE
ENVIRONMENTAL PROJECTS IN DUYÊN HẢI CITIES
- NHA TRANG SUB-PROJECT
Abstract: In order for the investment project to be highly efficient, we can not ignore
the content of management of investment projects during construction especially establish
– compliance construction schedule in order to achieve efficiency and quality for project
The author has analyzed the causes that may affect the project progress and has focused to
solve instability of works completion time so that we can issue reliable conclusions which
can apply during actual construction and especially can assess the completion ability of
project schedule in order to have a basis for proposing the management solutions
To solve this problem, the author has applied Monte Carlo methods in PERT
network diagrams (Program Evaluation and Review Technique) to analyze and calculate
risk factors of the construction progress of package NT-1.1 and NT-1.2 under Coastal
Cities Sustainable Environment Projects – Nha Trang Subproject
Key word - PERT network diagram, Monte Carlo simulation method, risk
management of schedule construction project, probability of completing construction
progress
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
3 Đối tượng nghiên cứu: 4
4 Phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Bố cục đề tài 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG VIỆC LẬP KẾ HOẠCH THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 8
1.1 SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 8
1.1.1 Nội dung của công tác tổ chức thi công 8
1.1.2 Các phương pháp tổ chức thi công 9
1.2 Các phương pháp lập tiến độ thi công công trình 10
1.2.1 Phương pháp sơ đồ ngang (Gantt) 12
1.2.2 Phương pháp sơ đồ xiên 13
1.2.3 Phương pháp sơ đồ mạng 14
1.3 CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRONG LẬP KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ THI CÔNG 18
1.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu 18
1.3.2 Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường 18
1.3.3 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật 18
1.3.4 Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công 19
1.3.5 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao 20
1.3.6 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ các quy định pháp lý và các thủ tục hành chính 20
1.4 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG BỀNVỮNG CÁC THÀNH PHỐ DUYÊN HẢI – TIỂU DỰ ÁN NHA TRANG VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG Ở KHÁNH HÒA 20
1.4.1 Tổng quan dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải – Tiểu dự án Nha Trang 20 1.4.2 Thực trạng về tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa21
Trang 51.4.3 Thực trạng về quản lý tiến độ thi công của dự án tương tự với Dự án Môi
trường bền vững các thành phố duyên hải trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 22
1.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ MẠNG PERT VÀO ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÔNG TRÌNH 25
2.1 SƠ ĐỒ MẠNG CPM VÀ PERT DÙNG ĐỂ LẬP TIẾN ĐỘ THI CÔNG 25
2.1.1 Phương pháp sơ đồ mạng CPM (Critical Path Methodology) 25
2.1.2 Phương pháp sơ đồ mạng xác suất 32
2.2 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTE CARLO VÀO SƠ ĐỒ MẠNG PERT 34 2.2.1 Giới thiệu tóm tắt về mô phỏng Monte Carlo 35
2.2.2 Tính toán tiến độ theo phương pháp mô phỏng Monte Carlo 37
2.2.3 Các bước thực hiện phương pháp Monte Carlo 38
2.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG CÁC THÀNH PHỐ DUYÊN HẢI – TIỂU DỰ ÁN NHA TRANG 41
3.1 MÔ TẢ CÁC GÓI THẦU DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG CÁC THÀNH PHỐ DUYÊN HẢI – TIỂU DỰ ÁN NHA TRANG 41
3.1.1 Gói thầu NT-1.1 Xây dựng tuyến cống cấp 3 và thay thế hố ga ngăn mùi 41 3.1.2 Gói thầu NT-1.2 Xây dựng các tuyến cống thoát nước mưa 48
3.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG GÓI THẦU NT-1.1 55
3.2.1 Khảo sát chuyên gia về thời gian hoàn thành các công việc 55
3.2.2 Kết quả phân tích khả năng hoàn thành tiến độ thi công 66
3.2.3 Kết quả xác suất hoàn thành tiến độ thi công 68
3.3 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG GÓI THẦU NT-1.2 69
3.3.1 Khảo sát chuyên gia về thời gian hoàn thành các công việc 69
3.3.2 Kết quả phân tích khả năng hoàn thành tiến độ thi công 73
3.2.3 Kết quả xác suất hoàn thành tiến độ thi công 75
3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢO SAO)
PHỤ LỤC
BẢN SAO KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG, BẢN SAO NHẬN XÉT CỦA CÁC PHẢN BIỆN
Trang 6PERT : (Program Evaluation and Review Technique, có nghĩa là Kỹ thuật ước
lượng và kiểm tra dự án)
CPM : (Critical Path Method): Phương pháp Đường găng
MLE : (maximum likelihood estimation): Phương pháp ước lượng hợp lý cực đại
CCESP : (Coastal Cities Environment Sanitation Project): Dự án Vệ sinh môi
trường các thành phố duyên hải
CCSEP : (Coastal Cities Substanable Environment Project): Dự án Môi trường bền
vững các thành phố duyên hải
NT-1.1: Gói thầu NT-1.1 _ Xây dựng tuyến cống cấp 3 và thay thế hố ga ngăn mùi
thuộc Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải
NT-1.2: Gói thầu NT-1.2 _ Xây dựng các tuyến cống thoát nước mưa thuộc Dự án
Môi trường bền vững các thành phố duyên hải
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh mục các công việc và thời gian hoàn thành Công trình NT-1.1: Xây
dựng tuyến cống cấp 3 và thay thể hố ga ngăn mùi thuộc Dự án CCSEP 46Bảng 3.2 Danh mục các công việc và thời gian hoàn thành Công trình NT-1.2: Xây
dựng các tuyến cống thoát nước mưa thuộc Dự án CCSEP 54Bảng 3.3 Kết quả khảo sát của 30 kỹ sư thời gian dự thầu và thời gian chậm trễ
(hay rút ngắn) so với đề xuất của gói thầu NT-1.1: Xây dựng tuyến cống cấp 3 và thay thế hố ga ngăn mùi 58Bảng 3.4 Bảng biến thiên của hàm hợp lý 62Bảng 3.5 Quy luật phân phối xác suất thời gian hoàn thành các công việc của gói
thầu NT-1.1 Xây dựng tuyến cống cấp 3 và thay thế hố ga ngăn mùi 65Bảng 3.6 Xác suất hoàn thành gói thầu NT-1.1 68Bảng 3.7 Kết quả khảo sát của 30 kỹ sư thời gian dự thầu và thời gian chậm trễ
(hay rút ngắn) so với đề xuất của gói thầu NT-1.2: Xây dựng các tuyến cống thoát nước mưa 70Bảng 3.8 Quy luật phân phối xác suất thời gian hoàn thành các công việc của gói
thầu NT-1.2: Xây dựng các tuyến cống thoát nước mưa 72Bảng 3.9 Xác suất hoàn thành gói thầu NT-1.2 75
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tiến độ công trình thể hiện theo sơ đồ ngang 12
Hình 1.2 Tiến độ công trình thể hiện theo sơ đồ xiên 14
Hình 1.3 Tiến độ công trình thể hiện theo sơ đồ mạng 16
Hình 2.1 Quy trình mô phỏng theo phương pháp Monte Carlo 35
Hình 2.2 Phân phối thời gian thực hiện dạng tam giác 38
Hình 2.3 Sơ đồ khối của phương pháp Monte Carlo 39
Hinh 3.1 Tiến độ thi công gói thầu NT-1.1 theo sơ đồ ngang 43
Hinh 3.2 Đấu nối nước đen, nước xám của hộ gia đình vào hệ thống cống riêng 45
Hinh 3.3 Đấu nối nước đen, nước xám của hộ gia đình vào hệ thống cống chung 46 Hinh 3.4 Tiến độ thi công gói thầu NT-1.2 theo sơ đồ ngang 53
Hinh 3.5 Nhận diện quy luật phân phối xác suất hoàn thành công việc lắp đặt ống và hố ga phường Lộc Thọ của gói thầu NT-1.1 64
Hinh 3.6 Sơ đồ mạng gói thầu NT-1.1 67
Hinh 3.7 Khảo sát khả năng hoàn thành gói thầu NT-1.1 theo thời gian tham
chiếu Ts 68
Hinh 3.8 Sơ đồ mạng gói thầu NT-1.2 74
Hinh 3.9 Khảo sát khả năng hoàn thành gói thầu NT-1.2 theo thời gian tham
chiếu Ts 75
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Kế hoạch tiến độ là một bộ phận quan trọng của công tác thiết kế tổ chức thi công Nhằm vạch ra kế hoạch chỉ đạo thi công giúp cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật làm nghiệp vụ theo dõi chỉ đạo mọi công tác trên công trường, công trình được thuận lợi, chủ động đảm bảo thời gian và an toàn lao động Mặt khác kế hoạch yêu cầu cung cấp khác như: vật tư, nhân lực, thiết bị máy móc, tiền vốn v.v… Nhằm huy động mọi khả năng phục vụ cho thi công công trình hoặc công trường đảm bảo điều hoà và cân đối mọi mặt đạt hiệu quả kinh tế cao
- Kế hoạch tiến độ thi công công trình là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thành công của một dự án Một kế hoạch sơ sài, tùy tiện, bố trí nhân sự lộn xộn, không khoa học, không tính toán và có phương án dự phòng trước được những sự cố phát sinh, công tác quản lý yếu kém sẽ làm giảm năng suất lao động và trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao dự án/công trình, chưa kể chất lượng công trình/dự án cũng bị ảnh hưởng và chi phí bị đội lên do chậm tiến độ, thất thoát, hư hao,…Bên cạnh đó, sản phẩm xây dựng là những công trình/dự án lớn, thời gian tồn tại lâu dài, nên nếu công tác lập kế hoạch không tốt, quản lý yếu kém, thì khi có sự cố, sai lầm trong công tác xây dựng xảy ra, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ngoài việc lãng phí lớn về tiền của, thời gian, công sức để sửa chữa sai lầm đó Do đó, có thể thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch tiến độ thi công công trình với sự thành công của dự án/công trình
đó
- Trong thực tế thi công xây dựng công trình, chúng ta thường gặp rất nhiều yếu
tố ngẫu nhiên tác động (thời tiết, việc cung cấp vật liệu, thiết bị…) có thể gây ra rủi ro khiến cho việc thi công không thực hiện đúng như kế hoạch đã được lập, qua đó ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành cũng như chất lượng công trình Những rủi ro có thể ảnh hưởng đến tiến độ thi công có thể kể đến như sau:
+ Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu: do đặc điểm của xây dựng là thi công, sản xuất ngoài trời trong thời gian dài nên các yếu tố về thời tiết, khi hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện cũng như chất lượng và chi phí của
dự án
+ Rủi ro do biến động bất ngờ của thị trường: những ngành kinh tế quan trọng chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân Những biến động lớn và bất ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
+ Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật: rủi ro này liên quan đến việc đầu tư các
Trang 10trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng các thiết bị máy móc đó
+ Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công: khả năng huy động nhân lực nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động, ý thức kỷ luật của người công nhân chưa đạt yêu cầu trong thời gian sử dụng Vì vậy, thời gian hoàn thành các công việc nhiều lúc không cố định như tiến độ đã đề ra
- Vấn đề đặt ra ở đây là: phải giải quyết tình trạng không ổn định về thời gian như thế nào để rút ra được những kết luận đáng tin cậy và có thể sử dụng được trong thực tế thi công, đặc biệt là phải đánh giá được khả năng (xác suất) hoàn thành đúng tiến độ thi công của dự án để có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý
Muốn giải quyết vấn đề này có thể vận dụng các phương pháp của lý thuyết xác suất thống kê để nghiên cứu sơ đồ mạng PERT (Program Evaluation and Review Technique, có nghĩa là kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự án) Đây cũng chính là hướng nghiên cứu cần thiết và có giá trị thực tiễn mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu cho Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang – Tiểu dự án Nha Trang
- Tóm tắt quá trình hình thành Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang (Viết tắt CCSEP)
Nha Trang, thành phố du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế với bãi biển dài và đẹp, đặc biệt năm 2004 vịnh Nha Trang được xếp vào một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, cũng như nhiều đô thị khác trong cả nước, thành phố Nha Trang phải giải quyết nhiều vấn đề bất cập về vệ sinh môi trường Việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật của thành phố Nha Trang còn rất nhỏ so với nhu cầu, đặc biệt là hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn chưa được ưu tiên
Vì thế đã ảnh hưởng đến điều kiện sống của người dân, hạn chế khả năng phát triển, chất lượng môi trường tự nhiên ngày càng giảm Hệ thống thoát nước trong thành phố
đa số đã bị xuống cấp, nước thải không được xử lý xả trực tiếp ra môi trường, thu gom rác thải còn nhiều bất cập Điều này không những đã gây ô nhiễm nặng nề cho tầng nước ngầm cũng như các khu vực sông, biển mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan thành phố
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nêu trên, Dự án Vệ sinh Môi trường các thành
phố huyên hải (viết tắt CCESP) được hình thành dựa trên sự tài trợ và hợp tác giữa
Ngân hàng Thế giới với Chính phủ Việt Nam Mục tiêu chung của Dự án là giảm thiểu ngập lụt, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường xanh sạch đẹp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các thành phố thực hiện dự án, trong đó có thành phố Nha Trang Tiểu dự án Nha Trang với tổng nguồn vốn đầu tư là 93,6 triệu USD, có hiệu lực từ
Trang 11tháng 6/2007 và kết thúc vào tháng 11/2014
Các công trình thoát nước của Dự án này được thi công trong điều kiện hết sức khó khăn như mặt bằng thi công nằm trong các tuyến phố chính với mật độ giao thông đông đúc, vừa phải đảm bảo tiến độ thi công vừa phải đảm bảo hạn chế ít nhất ảnh hưởng sinh hoạt của người dân, du khách; nhiều khu vực thi công rất chật hẹp, hố đào sâu, lại vướng nhiều hạ tầng kỹ thuật khác như hệ thống điện, cấp nước, cáp quang, v.v ; một số tuyến cống nằm trong khu vực đất yếu phải bổ sung xử lý nền Trong suốt quá trình thực hiện Dự án, có lúc tiến độ không đáp ứng yêu cầu, Dự án đã bị Ngân hàng Thế giới cũng như UBND tỉnh Khánh Hòa khiển trách, nhưng với sự nỗ lực rất lớn của tất cả các bên tham gia, dự án đã hoàn thành đáp ứng tiến độ theo Hiệp định đã ký kết
Để đạt được tiến độ theo Hiệp định đã ký kết với Ngân hàng Thế giới thì công tác quản lý hợp đồng, kiểm soát tiến độ thi công đã được Ban QLDA, Tư vấn thực hiện tăng cường thường xuyên hơn, chặt chẽ hơn; nhờ vậy các bên đã sớm cảnh báo được các gói thầu có nguy cơ chậm tiến độ và phải có những xử lý, chấn chỉnh hết sức nghiêm túc và quyết liệt
- Để duy trì hiệu quả đầu tư của dự án CCESP và tiếp tục khai thác có hiệu quả các công trình được đầu tư, tăng cường cải cách thể chế lĩnh vực vệ sinh môi trường của các thành phố thuộc dự án, Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã ký kết
Hiệp định vay cho dự án mới tên là Dự án Môi trường bền vững các thành phố
duyên hải (CCSEP) sẽ được thực hiện tại 4 thành phố: Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình),
Quy Nhơn (tỉnh Bình Định), Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) và Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận) Dự án có tổng số vốn là 273,6 triệu Đô la Mỹ, trong đó vốn vay IDA là 190 triệu Đô la Mỹ và 46 triệu Đô la Mỹ từ nguồn vốn IBRD
Khoản vay đề xuất cho Tiểu dự án thành phố Nha Trang là 72 triệu đô la Mỹ Để thực hiện tiếp tục mở rộng mạng lưới cống thu gom nước thải đối với khu vực trung tâm và phía Nam và dẫn về nhà máy xử lý nước thải phía Nam đã xây dựng trong dự
án CCESP, đồng thời tiếp tục đầu tư xây dựng/ nâng cấp hệ thống thoát nước khu vực phía Bắc thành phố Nha Trang; bên cạnh đó là một số hạng mục xây dựng phát triển
hạ tầng đường đô thị và kè sông Cái
Quy mô dự án gồm 4 hợp phần:
Hợp phần 1: Hạ tầng vệ sinh, bao gồm: i)Thoát nước mưa và thu gom nước thải; ii)Chương trình vệ sinh trường học; iii)Trạm xử lý nước thải; và iv)Tư vấn giám sát và hỗ trợ Dự án Hợp phần 1
Hợp phần 2: cải thiện hạ tầng môi trường, bao gồm: i)Đê và kè bảo vệ sông Cái bờ phía Nam và bờ phía Bắc; ii)Đường giao thông bờ phía Nam và bờ phía Bắc
Trang 12sông Cái; iii)Đường số 4 (dọc đường sắt); iv)Đường Chử Đồng Tử; và v) Tư vấn giám sát và hỗ trợ Dự án Hợp phần 2
Hợp phần 3: Tái định cư và giải phóng mặt bằng
Hợp phần 4: Hỗ trợ triển khai, nâng cao năng lực và cải cách thể chế
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a) Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu ứng dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo vào sơ đồ mạng PERT để phân tích, đánh giá rủi ro tiến độ thi công xây dựng Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang – Tiểu dự án Nha Trang (giai đoạn 1) được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới tại các phường phía bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Tổng hợp các ưu, nhược điểm của các mô hình tiến độ, trong đó tập trung phân tích phương pháp sơ đồ mạng CPM (Critical Path Methodology) và PERT (Program Evaluation and Review Technique)
- Ứng dụng được thuật toán mô phỏng Monte Carlo trong phương pháp sơ đồ mạng PERT để đánh giá khả năng hoàn thành dự án đúng tiến độ thi công
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Cơ sở lý thuyết sơ đồ mạng
- Yếu tố rủi ro trong tổ chức tiến độ thi công
- Ứng dụng mô phỏng Monte Carlo trong việc phân tích các yếu tố rủi ro trong quá trình thi công
4 Phạm vi nghiên cứu:
Các gói thầu NT-1.1: Xây dựng các tuyến cống cấp 3 và thay thế hố ga ngăn mùi, NT-1.2: các tuyến cống thoát nước mưa thuộc Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang – Tiểu dự án Nha Trang
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Thu thập tài liệu, tìm hiểu lý thuyết về sơ đồ mạng và việc lập tiến độ thi công bằng sơ đồ mạng, so sánh ưu nhược điểm với các mô hình tiến độ khác
+ Phân tích các yếu tố tác động đến vấn đề rủi ro trong thi công
- Phương pháp mô phỏng:
+ ứng dụng Monte Carlo để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ thi công
- Phân tích kết quả thu được và đưa ra kiến nghị
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn này dùng phương pháp Monte Carlo trong sơ đồ mạng PERT để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ thi công các công trình thuộc Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang nhằm mục đích xác định chính xác khả năng hoàn thành dự án trong bối cảnh thời gian cho mỗi công việc dễ bị thay đổi và mang tính ngẫu nhiên Phương pháp này có thể cung cấp cơ sở khoa học định lượng và các thông tin cho công tác quản lý dự án Ở một chừng mực nào đó, nó cũng sẽ giúp các nhà quản lý dự án dễ dàng kiểm soát rủi
ro về thời gian và đưa ra các quyết định phù hợp và đúng đắn để đảm bảo tiến độ theo
kế hoạch
7 Bố cục đề tài
Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong tổ chức thi công xây dựng công trình
1.1 Sơ lược về tổ chức thi công công trình xây dựng
1.1.1 Nội dung của công tác tổ chức thi công
1.1.2 Các phương pháp tổ chức thi công
1.2 Các phương pháp lập tiến độ thi công công trình xây dựng
1.2.1 Phương pháp sơ đồ ngang (Grant)
1.2.2 Phương pháp sơ đồ xiên
1.2.3 Phương pháp sơ đồ mạng
1.3 Các yếu tố rủi ro trong tổ chức tiến độ thi công
1.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu
1.3.2 Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường
1.3.3 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật
Trang 141.3.4 Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công
1.3.5 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao
1.3.6 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ các quy định pháp lý và các thủ tục hành chính
1.4 Tổng quan về dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải – Tiểu dự
án Nha Trang và thực trạng công tác quản lý tiến độ thi công ở tỉnh Khánh Hòa
1.4.1 Tổng quan dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải – Tiểu
dự án Nha Trang
1.4.2 Thực trạng tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 1.4.3 Thực trạng quản lý tiến độ thi công dự án tương tự với dự án CCSEP trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
1.3.4 Nhận xét
1.5 Kết luận chương 1
Chương 2: Cơ sở khoa học của việc ứng dụng sơ đồ mạng PERT vào đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ thi công công trình
2.1 Sơ đồ mạng CPM và PERT dùng để lập tiến độ thi công
2.2.1 Phương pháp sơ đồ mạng CPM (Critical Path Methodology)
2.2.2 Phương pháp sơ đồ mạng xác suất
2.2 Ứng dụng phương pháp Monte Carlo vào sơ đồ mạng PERT
2.4.1 Giới thiệu tóm tắt về mô phỏng Monte Carlo
2.4.2 Tính toán tiến độ theo phương pháp mô phỏng Monte Carlo
2.4.2 Các bước thực hiện phương pháp Monte Carlo
3.2 Đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ thi công của gói thầu NT-1.1
3.2.1 Khảo sát chuyên gia về thời gian hoàn thành các công việc
Trang 153.2.2 Kết quả phân tích khả năng hoàn thành tiến độ thi công 3.2.3 Kết quả xác suất hoàn thành tiến độ thi công
3.3 Đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ thi công của gói thầu NT-1.2
3.3.1 Khảo sát chuyên gia về thời gian hoàn thành các công việc 3.3.2 Kết quả phân tích khả năng hoàn thành tiến độ thi công 3.3.3 Kết quả xác suất hoàn thành tiến độ thi công
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG VIỆC LẬP KẾ HOẠCH
THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1 Sơ lược về tổ chức thi công xây dựng công trình [8,9]
Một công trình xây dựng bao gồm nhiều công việc Muốn thực hiện công trình một cách khoa học, đúng tiến độ và đạt chất lượng cao, đòi hỏi phải biết chính xác: dự
án cần bao nhiêu thời gian để hoàn thành, vào lúc nào có thể bắt đầu hoặc kết thúc công việc; nếu công việc bị kéo dài thì có thể kéo dài bao nhiêu ngày, để vẫn đảm bảo hoàn thành kế hoạch, những công việc nào là trọng tâm, cần sự tập trung chỉ đạo…
Do vậy việc lập “tiến độ thi công” là một khâu quan trọng trong việc thi công xây dựng công trình, giúp việc thi công được diễn ra một cách liên tục, nhịp nhàng, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình và tránh phát sinh những chi phí không cần thiết Tuy nhiên trong thực tế xây dựng thường gặp rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên tác động (điều kiện về thời tiết, việc cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị…) có thể gây ra rủi
ro khiến cho việc thi công không thực hiện đúng như kế hoạch đã được lập qua đó ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, chất lượng của công trình cũng như làm phát sinh thêm chi phí không cần thiết
Tính chất của một dự án xây dựng là thời gian thi công dài, quy trình, kỹ thuật phức tạp, môi trường ô nhiểm, cơ cấu tổ chức năng động sẽ tạo ra những rủi ro rất lớn
Vì vậy, việc lập tiến độ thi công là rất cần thiết để thực hiện thành công dự án Do có một vai trò quan trọng nên công tác lập tiến độ thi công ngày càng được quan tâm tìm hiểu và phát triển nhiều hơn
1.1.1 Nội dung của công tác tổ chức thi công
Lựa chọn biện pháp kỹ thuật, công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế của công trình
Đề xuất và lựa chọn được mô hình tổ chức thi công cho các bộ phận, công trình đơn vị phù hợp với kế hoạch tiến độ thi công
Trên cơ sở thời gian thi công đã xác định, tổ chức thi công sao cho đảm bảo kế hoạch thời gian và hài hòa được điều kiện cung cấp vật tư thiết bị tiêu hao vốn
Nguyên tắc cơ bản khi lập biện pháp tổ chức thi công xây dựng công trình, đó là:
• Tuân thủ công nghệ thi công để đảm bảo chất lượng công trình
• Bảo đảm thời hạn thi công theo hợp đồng đã ký kết
• Tối ưu hóa chi phí xây dựng công trình
• Đảm bảo an toàn lao động, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường
Trang 171.1.2 Các phương pháp tổ chức thi công [9]
a Phương pháp tổ chức thi công tuần tự
* Khái niệm:
Tổ chức thi công theo phương pháp tuần tự là việc chia công trình thành từng đoạn có khối lượng thi công xấp xỉ nhau, một đơn vị thi công sẽ lần lượt hoàn thành các tất cả các hạng mục công tác trong từng đoạn, hết đoạn này đến đoạn khác theo một thứ tự đã xác định
* Ưu điểm: Do thi công từng đoạn và hoàn thành từng đoạn nên phương pháp tổ chức thi công tuần tự có ưu điểm sau:
- Không yêu cầu tập trung nhiều máy móc, thiết bị, nhân lực
- Yêu cầu lượng vốn lưu động nhỏ
- Dễ điều hành, quản lý, kiểm tra
- Ít chịu ảnh hưởng xấu của điều kiện khí hậu, thời tiết
* Nhược điểm:
- Thời gian thi công bị kéo dài
- Máy móc nhân lực làm việc gián đoạn do phải chờ đợi nhau, làm tăng chi phí
sử dụng máy móc, thiết bị do vậy làm tăng giá thành xây dựng công trình
- Phải di chuyển cơ sở sản xuất, chỗ ăn ở của cán bộ công nhân nhiều lần (đối với công trình theo tuyến)
- Không có điều kiện chuyên môn hóa
* Phạm vi áp dụng của phương pháp:
- Các công trình xây dựng theo tuyến có chiều dài ngắn và có khối lượng nhỏ
- Khi không bị khống chế về thời gian thi công
- Khi bị hạn chế về điều kiện cung cấp máy móc, thiết bị, nhân lực, cán bộ kỹ thuật, nguồn vốn lưu động, vật liệu
- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng, chuẩn bị diện thi công khó khăn
- Địa hình hiểm trở, chật hẹp, không hoặc khó mở đường tạm, không cho phép tập trung số lượng lớn máy móc thiết bị, nhân lực và vật liệu
b Phương pháp thi công song song
* Khái niệm: Là phương pháp tổ chức thi công các hạng mục công trình, các quá trình chuyên nghiệp trên công trình được tiến hành đồng thời trên tất cả khu vực trong cùng một thời gian
Trang 18* Ưu điểm:
Theo phương pháp này thì thời gian xây dựng công trình bằng thời gian thi công các hạng mục công việc, và thời gian thi công là ngắn nhất, do đó thích hợp với những công trình bị khống chế về thời gian
* Nhược điểm:
- Vì có nhiều công việc thi công trong cùng một thời điểm trên cùng một mặt bằng nên phương pháp tổ chức thi công song song đòi hỏi tập trung một lượng tài nguyên lớn trong cùng một thời gian làm cho công tác chỉ đạo / quản lý trở nên căng thẳng, chất lượng công trình dễ bị vi phạm, dễ dẫn tới lãng phí
- Tập trung đúng mức lực lượng cán bộ chỉ đạo, công nhân đủ khả năng giải quyết công việc kịp thời
- Nảy sinh nhiều vấn đề phải giải quyết trong thi công, bố trí mặt bằng thi công khó khan
* Phạm vi áp dụng của phương pháp:
Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ngắn thời gian thi công và tài nguyên huy động không hạn chế trong điều kiện mặt bằng thi công cho phép
c Phương pháp thi công dây chuyền
Là sự kết hợp một cách logic phương pháp tuần tự và phương pháp song song
Để thi công theo phương pháp xây dựng dây chuyền, chia quá trình kỹ thuật thi công
một sản phẩm xây dựng thành n quá trình thành phần và quy định thời hạn tiến hành
các quá trình đó cho một sản phẩm là như nhau, đồng thời phối hợp các quá trình này một cách nhịp nhàng về không gian và thời gian theo nguyên tắc:
- Thực hiện tuần tự các quá trình thành phần cùng loại từ sản phẩm này sang sản phẩm khác
- Thực hiện song song các quá trình thành phần khác loại trên các sản phẩm khác nhau
1.2 Các phương pháp lập tiến độ thi công công trình [9]
Mỗi dự án xây dựng đều có một hay nhiều tiến độ thi công Tiến độ thi công là tài liệu vô cùng quan trọng để nhà thầu tổ chức và quản lý mọi hoạt động thi công ngoài công trường, tiến độ thi công mô tả công tác thi công công trình tại từng thời điểm Mỗi công tác trong tiến độ thi công chứa đựng các thông số về thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc, dạng và số lượng tài nguyên tương ứng cần thiết cho công tác Mỗi công tác có mối liên hệ với với một hoặc nhiều công tác khác trong tiến độ thi công Thời lượng và tài nguyên cần thiết cho công tác được tính toán dựa trên các khối
Trang 19lượng của các bộ phận cấu thành công trình tương ứng Mối liên hệ giữa các công tác trong tiến độ dựa trên tính logic của quy trình hình thành các bộ phận công trình Thời điểm bắt đầu của từng công tác phục thuộc vào mối liên hệ này
Để lập được một kế hoạch tiến độ thi công hoàn chỉnh, hợp lý thì cần phải chú ý đến những yếu tố sau:
- Xác lập công việc và trình tự thực hiện công việc
Để lập một kế hoạch tiến độ thi công công trình thì việc đầu tiên là phải xác định các công việc cần thực hiện để hoàn thành dự án/công trình đó Dựa trên kinh nghiệm những dự án đã triển khai, yêu cầu thực tế của dự án, ý kiến của bộ phận/cán bộ chuyên môn, dựa trên sự phụ thuộc của các công việc,…mà phân chia công việc và xác định công việc cần thực hiện một cách chi tiết để sắp xếp lộ trình thực hiện chúng theo một cách hợp lý nhất
Công việc trong tiến độ thi công là một “đầu việc” đi kèm khối lượng công tác và quỹ thời gian để thực hiện công tác đó
Xác định khối lượng/phạm vi công việc cần phải căn cứ vào các loại tiến độ (phân chia dựa theo đối tượng lập và cấp bậc quản lý tiến độ) được xác lập cho việc quản lý thi công dự án nhiều hạng mục, một hạng mục công trình hoàn chỉnh hay tiến
độ để thi công một bộ phận hoàn chỉnh của công trình Với mỗi loại tiến độ khác nhau
sẽ có đầu việc khác nhau đi kèm phạm vi khối lượng công việc và thời gian thực hiện công việc khác nhau
Với đầu việc khi lập tiến độ thi công một hạng mục công trình hoàn chỉnh sẽ là những công việc chi tiết, cụ thể hơn như: đào đất, đổ bê tông,…thời gian thực hiện đầu việc được xác định căn cứ vào khối lượng công việc, định mức chi tiết và số lượng lực lượng tham gia vào công việc
Sau khi xác định được công việc với các đầu việc cụ thể thì ta cần sắp xếp chúng theo một thứ tự hợp lý, khoa học nhất phù hợp với nguồn lực, tình hình thực hiện triển khai dự án/công trình: thời gian của tổng tiến độ, yêu cầu của dự án, giải pháp công nghệ thi công, điều kiện giải phóng mặt bằng theo từng giai đoạn,…Do đó, dựa theo mức độ phụ thuộc vào công nghệ và mặt bằng thi công mà lựa chọn thực hiện công việc song song hay theo tuần tự, gối đầu, dây chuyền
Khi sắp xếp công việc ta cần lưu ý các vấn đề sau: công việc nào được bắt đầu khi có lệnh khởi công? Công việc có gián đoạn công nghệ hay gián đoạn tổ chức không? Có phải là công việc chủ đạo không? Có thi công dây chuyền không? Công việc tiếp trước nó là những công việc nào? Tiếp sau nó là công việc nào? Hai công công việc có thể thực hiện gối đầu được không? Thời gian gối đầu là bao nhiêu? Thời gian có thể bắt đầu và thời gian muộn nhất phải hoàn thành là bao giờ? Trả lời một
Trang 20loạt những câu hỏi này sẽ cho bạn cái nhìn cụ thể logic các cơng việc mà bạn cần phải làm theo một thứ tự hợp lý nhất
- Dự trù thời gian và nguồn lực để thực hiện cơng trình/dự án
Xác lập cơng việc và trình tự thực hiện cơng việc một cách đầy đủ, logic là bước đầu tiên quan trọng nhất để cĩ một kế hoạch tiến độ thi cơng hợp lý Để cĩ một kế hoạch tiến độ hồn chỉnh thì cần phải nghiên cứu và phân tích thêm để đưa ra dự trù thời gian thực hiện và nguồn lực để triển khai thi cơng dự án/cơng trình
Dự trù thời gian cho từng đầu việc đã được xác lập ở bước trên và phải căn cứ vào tổng thời gian thi cơng dự án/cơng trình và các mốc thời gian phải hồn thành và bàn giao trong từng thời kì; phù hợp với biện pháp thi cơng đã được lựa chọn và các nguồn lực đã được bố trí thi cơng trên cơng trường sao cho đảm bảo an tồn lao động cho những người tham gia thi cơng
Dự trù nguồn lực chính là việc xác định nhu cầu nhân lực, nguyên vật tư, máy thi cơng cho từng cơng việc, theo tiến độ thi cơng cơng trình/dự án Trên cơ sở đĩ, lấy căn
cứ để ước lượng được nhu cầu về vốn cần chuẩn bị cho quá trình thi cơng dự án/cơng trình và cĩ kế hoạch chuẩn bị, điều động, bố trí cơng việc sao cho phù hợp với dịng tiền trong các thời kì/giai đoạn thực hiện dự án
Cĩ một sự chuẩn bị tốt, biết rõ mình phải làm gì, làm như thế nào, đĩ chính là
sự khởi đầu thuận lợi cho việc thành cơng Và với việc xác định được những cơng việc phải làm, trình tự thực hiện cùng với thời gian và nguồn lực thực hiện cơng việc đĩ chính là bước khởi đầu để người lập kế hoạch tiến độ cĩ thể lập một kế hoạch tiến độ chi tiết, hợp lý, khoa học tạo điều kiện cho việc tổ chức, quản lý thực hiện thi cơng cơng trình/dự án được diễn ra suơn sẻ, đảm bảo tiến độ đã kí kết trong hợp đồng với chủ đầu tư
Để lập ra kế hoạch và thể hiện tiến độ thi cơng, các nhà khoa học đã nghiên cứu
ra các phương pháp sau: Phương pháp sơ đồ ngang (Gantt), Phương pháp sơ đồ xiên, Phương pháp sơ đồ mạng
1.2.1 Phương pháp sơ đồ ngang (Gantt)
Hình 1.1 Tiến độ cơng trình thể hiện theo sơ đồ ngang
Biểu đồ Gantt là một trong những cơng cụ cổ điển nhất hiện vẫn được sử dụng phổ biến trong cơng tác lập và quản lý tiến độ dự án, được xây dựng bởi Henry
THỜI GIAN THI CÔNG
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 ĐÀO BẰNG MÁY
TÊN CÔNG TÁC
ĐÀO VÀ SỬA HỐ MÓNG
BẰNG THỦ CÔNG
Trang 21L.Gantt vào đầu thế kỷ 19 Trong biểu đồ Gantt, các công tác được biểu diễn trên trục tung bằng thanh ngang, thời gian tương ứng được thể hiện trên trục hoành Ngoài ra, biểu đồ Gantt còn có thể được biểu diễn dưới dạng liên kết giữa các công việc hay dưới dạng để kiểm soát tiến độ Phương pháp lập tiến độ theo sơ đồ ngang (Gantt) có các ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Biểu đồ Gantt dễ đọc, dễ nhận biết hiện trạng thực tế của từng nhiệm vụ cũng như tình hình chung của toàn bộ dự án
+ Biểu đồ Gantt dễ xây dựng do đó được sử dụng phổ biến
+ Thông qua biểu đồ có thể thấy được tình hình nhanh chậm của các công việc
và tính liên tục của chúng Trên cơ sở đó có biện pháp đẩy nhanh tiến trình, tái sắp xếp công việc để đảm bảo tính liên tục và tái phân phối lại nguồn lực cho từng công việc nhằm đảm bảo tính hợp lý
+ Thể hiện một phần tương đối tuần tự thực hiện các công việc và một phần mối liên hệ giữa các công việc
+ Thể hiện được những thông tin cần thiết của quá trình quản lý
- Hạn chế của biểu đồ Gantt:
+ Biểu đồ Gantt không thể hiện được những dự án phức tạp, không thấy rõ được mối liên hệ của các công việc thuộc dự án Đối với những dự án phức tạp gồm hàng trăm công việc cần phải thực hiện thì biểu đồ Gantt không thể chỉ ra đủ sự tương tác
và mối tương quan giữa các loại công việc
+ Trong nhiều trường hợp, nếu phải điều chỉnh lại biểu đồ thì thực hiện rất khó khăn và phức tạp Khó có thể nhận biết công việc nào tiếp theo công việc nào khi biểu
đồ phản ánh quá nhiều công việc liên tiếp nhau
+ Biểu đồ Gantt cũng không thể hiện mối liên hệ giữa chi phí hay tài nguyên (nhân công, máy móc, ) với thời gian - những yếu tố cực kỳ quan trọng trong một dự
án thi công xây dựng
1.2.2 Phương pháp sơ đồ xiên
Về cơ bản phương pháp lập tiến độ theo mô hình kế hoạch tiến độ xiên chỉ khác
mô hình kế hoạch tiến độ ngang ở phần đồ thị tiến độ nhiệm vụ, thay vì biểu diễn các công việc bằng các đoạn thẳng nằm ngang người ta dùng các đường thẳng xiên để chỉ
sự phát triển của các quá trình thi công theo cả thời gian (trục hoành) và không gian (trục tung) Mô hình kế hoach tiến độ xiên, còn gọi là sơ đồ xiên hay sơ đồ chu trình (Xyklogram) Trục không gian mô tả các bộ phận phân nhỏ của đối tượng xây lắp (khu vực, đợt, phân đoạn công tác…), trục hoành là thời gian, mỗi công việc được biểu diễn
Trang 22bằng một đường xiên riêng biệt Hình dạng các đường xiên cĩ thể khác nhau, phụ thuộc vào tính chất cơng việc và sơ đồ tổ chức thi cơng, sự khác nhau này gây ra bởi phương_chiều_nhịp độ của quá trình Về nguyên tắc các đường xiên này khơng được phép cắt nhau trừ trường hợp đĩ là những cơng việc độc lập với nhau về cơng nghệ
Hình 1.2 Tiến độ cơng trình thể hiện theo sơ đồ xiên
+ Chỉ thích hợp với các cơng trình cĩ nhiều hạng mục khác nhau, mức độ lắp lại của các cơng việc cao
1.2.3 Phương pháp sơ đồ mạng
Sơ đồ mạng là một mơ hình tốn học động, thể hiện tồn bộ dự án thành một thể thống nhất, chặt chẽ, trong đĩ thấy rõ vị trí từng cơng việc đối với mục tiêu chung và
sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cơng việc Các loại sơ đồ mạng:
- Sơ đồ mạng CPM (Phương pháp Đường găng): là phương pháp mà cốt lõi của
nĩ là dùng lý thuyết đồ thị cĩ hướng để xác định đường đi trong mạng, từ thời điểm khởi cơng dự án đến thời điểm kết thúc dự án, qua một số các cơng việc và các mối quan hệ giữa các cơng việc này, cĩ chiều dài lớn nhất Chiều dài đường găng cũng chính là tổng thời gian thực hiện tồn bộ dự án
- Sơ đồ mạng PERT (Kỹ thuật ước lượng và đánh giá chương trình, hay Kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự án): là phương pháp áp dụng kết hợp giữa lý thuyết xác
PHÂN ĐOẠN
THỜI GIAN THI CÔNG
1 2 3 4
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
1 44
2 16
3 27
4 13
Trang 23suất thống kê (để ước tính thời lượng công việc trong các dự án mà công việc có thời lượng không xác định trước), với dạng sơ đồ mạng đường găng sử dụng lý thuyết đồ thị Phương pháp này do người Hoa Kỳ phát triển vào năm 1958
- Sơ đồ mạng ADM (Phương pháp sơ đồ mạng thể hiện bằng mũi tên): là phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng mũi tên
- Sơ đồ mạng MPM (Metra potential method - Sơ đồ mạng nút công việc): là phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, quan hệ bằng mũi tên (cũng là lý thuyết mạng đồ thị có hướng), được phát triển độc lập bởi người Pháp vào năm 1958 cùng lúc với PERT
- Sơ đồ mạng PDM (tức là Phương pháp sơ đồ mạng theo quan hệ, hay Phương pháp sơ đồ mạng nút): là phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, được người Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở cải tiến các phương pháp CPM của Hoa Kỳ
và phương pháp sơ đồ mạng MPM của người Pháp Phương pháp này chú trọng việc thể hiện được tất cả các kiểu mối quan hệ trong thực tế giữa các công việc mà phương pháp sơ đồ mạng ADM không thể hiện được (phương pháp ADM chỉ thể hiện được một loại mối quan hệ duy nhất là mối quan hệ tuần tự FS (Finish to Start), với các loại quan hệ khác ADM phải dùng các cách đặc biệt trong đó có việc dùng công việc ảo) Phương pháp PDM này là cơ sở thuật toán cho phần mềm Microsoft Project
- Sơ đồ mạng CCPM (Sơ đồ mạng Chuỗi găng, hay Sơ đồ mạng dây chuyền công tác găng CCM (Critical Chain Method), hoặc Quản lý dự án theo dây chuyền găng CCPM (Critical Chain Project Management))
Trong các sở đồng mạng nêu trên phổ biến hơn cả là hai loại CPM (Critical Path Method) và PERT (Program Evaluation and Review Technique): hai loại này cơ bản giống nhau về hình thức, về trình tự lập, chỉ khác nhau về phương pháp tính thời gian
Để biểu diễn sơ đồ mạng công việc có hai phương pháp chính:
- Phương pháp “công việc mũi tên” (AOA - Activities on Arrow)
- Phương pháp “công việc trên các nút” (AON - Activities on Nod)
Cả hai phương pháp này đều có chung một nguyên tắc là: trước khi một công việc có thể được bắt đầu thì tất cả các công việc trước đó đều phải được hoàn thành và các mũi tên được vẽ theo chiều từ trái sang phải phải ánh mối quan hệ logic trước sau giữa các công việc, độ dài mũi tên lại không có ý nghĩa gì
Trang 24Hình 1.3 Tiến độ công trình thể hiện theo sơ đồ mạng
Sơ đồ mạng có tác dụng như sau:
- Phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các nhiệm vụ, các công việc của dự án
- Xác định ngày bắt đầu, ngày kết thúc, thời hạn hoàn thành, trên cơ sở đó xác định các công việc găng và đường găng của dự án
- Là cơ sở để tính toán thời gian dự trữ các công việc, các sự kiện
- Cho phép xác định những công việc nào cần phải thực hiện nhằm kết hợp tiết kiệm thời gian và nguồn lực, các công việc nào có thể thực hiện đồng thời nhằm đạt được mục tiêu về ngày hoàn thành của dự án
- Là cơ sở để lập kế hoạch kiểm soát, theo dõi kế hoạch tiến độ và điều hành dự
án
* Nguyên tắc xây dựng sơ đồ mạng AON
Xây dựng mạng công việc theo phương pháp AON cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Các công việc được trình bày trong một nút Những thông tin trong nút gồm tên công việc, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và độ dài thời gian thực hiện công việc
- Các mũi tên xác định quan hệ trước saucủa công việc Có 4 kiểu quan hệ là: FS (Kết thúc - Bắt đầu), SS (Bắt đầu - Bắt đầu), FF (Kết thúc - Kết thúc), SF (Bắt đầu - Kết thúc)
- Tất cả các điểm, trừ một điểm kết thúc đều có ít nhất một điểm đứng sau, tất cả các điểm trừ điểm bắt đầu đều có điểm đứng trước
- Trong mạng chỉ có một điểm đầu tiên và điểm cuối cùng
* Xây dựng sơ đồ mạng AOA: Trong sơ đồ mạng AOA có các phần tử:
- Sự kiện: Là mốc đánh dấu sự bắt đầu hay kết thúc của một số công việc
- Công việc: Là một cách gọi quy ước để chỉ một quá trình hay một tập hợp các
Trang 25quá trình sản xuất nào đó có tiêu hao về thời gian và nguồn lực, có công việc đang xét, công việc tiếp trước và công việc tiếp sau
- Đường găng: Đường trong sơ đồ mạng bao giờ cũng đi từ sự kiện khởi công đến sự kiện hoàn thành, do đó trong sơ đồ mạng có thể có nhiều đường Đường có độ dài lớn nhất gọi là đường găng Một sơ đồ mạng có thể có nhiều đường găng
- Nguồn lực: Nguồn lực trong sơ đồ mạng được hiểu là thời gian và các vật chất cần thiết khác để thực hiện dự án
- Thời gian công việc: Là thời gian để hoàn thành công việc theo ước lượng, được ấn định hay tính toán
* Quy tắc cơ bản khi lập sơ đồ mạng:
- Sơ đồ mạng là một mô hình thống nhất có bắt đầu bằng sự khởi công và kết thúc bằng sự hoàn thành
- Mũi tên ký hiệu công việc đi từ trái sang phải
- Những công việc riêng biệt không có cùng sự kiện tiếp đầu và sự kiện tiếp cuối, nghĩa là mỗi công việc phải ký hiệu bằng 2 chỉ số riêng biệt
- Sắp xếp công nghệ phải theo trình tự hoặc công nghệ tổ chức
- Có công việc có thể bắt đầu khi công việc khác chưa kết thúc
- Khi tổ chức sản xuất theo phương pháp dây chuyền, có nhiều công việc vừa làm tuần tự vừa làm song song
- Trong sơ đồ mạng có thể thay đổi một đoạn mạng nhỏ bằng một công việc đơn giản hóa và ngược lại thay đổi một công việc phức tạp thành một mạng nhỏ
- Sơ đồ mạng cần thể hiện một cách đơn giản nhất có thể, không nên có các công việc giao cắt
- Không cho phép tồn tại một chu trình kín trong mạng, không vẽ mũi tên ngược
- Lập và quản lý tiến độ bằng sơ đồ mạng
* Trình tự lập tiến độ bằng sơ đồ mạng
Bước 1: Xác định công việc và mối liên hệ giữa chúng, tức là xem xét công việc nào làm trước công việc nào làm sau những công việc nào có thể làm đồng thời với việc đang xét
Bước 2: Lập sơ đồ mạng, có 3 phương pháp:
+ Đi từ đầu đến cuối dự án
+ Đi ngược từ cuối lên đầu dự án
Trang 26+ Làm từng cụm
Bước 3: Hoàn thiện sơ đồ mạng
Bước 4: Tính toán các yếu tố của sơ đồ mạng
Bước 5: Chuyển sơ đồ mạng lên lịch tiến độ
Bước 6: Tối ưu hóa sơ đồ mạng
1.3 Các yếu tố rủi ro trong lập kế hoạch tiến độ thi công [1,5,6,10]
Triển khai thi công xây dựng công trình là một giai đoạn quan trọng để hiện thực hóa một dự án từ trên giấy tờ, bản vẽ Quá trình này xảy ra trong một thời gian dài và đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Do đó, sẽ có rất nhiều tình huống rủi ro phát sinh xảy ra trong quá trình thi công xây dựng và đòi hỏi người quản lý phải lường trước được để có phương án đề phòng, xử lý khi có vấn đề xảy ra Các rủi ro thường xảy ra như sau:
1.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu
Các công trình thi công xây dựng có đến 99% là các công trình được xây dựng tại không gian tự nhiên (ngoài trời), nơi ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố thời tiết / khí hậu Do đó, việc thời tiết không ủng hộ hoặc nhiều khi trở nên khắc nghiệt thì việc ảnh hưởng tiến độ, chất lượng và chi phí của dự án là điều không thể tránh khỏi
1.3.2 Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường
Xây dựng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân Những biến động lớn và bất ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng đến tiến
độ thực hiện dự án
Trong các công trình xây dựng, giá nguyên vật liệu xây dựng (cát, đá, thép, xi măng, nhiên liệu…) biến động tăng đã và đang khiến không ít nhà thầu điêu đứng trong việc thực hiện các hợp đồng trọn gói đã ký kết
1.3.3 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật
Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật thường liên quan đến việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng/vận hành các máy móc thiết bị đó Cụ thể như sau:
- Rủi ro trong đầu tư mua sắm máy móc thiết bị:
+ Khả năng thu hồi vốn đầu tư thấp
+ Rủi ro do hao mòn vô hình: Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật gây ra
Trang 27+ Rủi ro do đầu tư mua sắm thiết bị không đồng bộ dẫn đến việc làm chậm quá trình đưa máy móc thết bị vào sử dụng, gây ứ đọng vốn đầu tư và kéo theo các ảnh hưởng lớn khác đến dự án
+ Rủi ro do thiếu thông tin, kinh nghiệm trong việc đầu tư mua sắm trang thiết bị nên phải sử dụng công nghệ lạc hậu
- Rủi ro trong việc sử dụng máy móc thiết bị:
+ Không có sự phù hợp giữa trình độ của người sử dụng và máy móc công nghệ mới: máy móc thiết bị hiện đại trong khi người công nhân chưa được đào tạo, chưa biết cách thao tác hoặc chưa thành thạo, các điều kiện bảo trì chưa đảm bảo
+ Khả năng thực tế của máy móc thiết bị và người sử dụng: công suất hoạt động của máy móc thiết bị mới nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động của người công nhân hay kỹ thuật viên điều khiển các máy móc thiết bị mới đó chưa đạt yêu cầu trong thời gian đầu sử dụng
+ Người công nhân thiếu kinh nghiệm khi sử dụng các thiết bị
+ Ý thức kỷ luật của người công nhân khi sử dụng thiết bị thấp
+ Điều kiện khí hậu ở Việt Nam có thể đem đến các rủi ro làm cho máy móc thiết
bị dễ hư hỏng nên không thực hiện đúng chế độ bảo quản
1.3.4 Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công
- Con người chính là nhân tố chính trong việc xây dựng một công trình dù lớn hay nhỏ, đối với nhà thầu xây dựng thì việc quản lý nhân công không tốt dẫn đến việc không kiểm soát được số lượng nhân công ổn định trong quá trình thi công Đó là nguyên nhân dẫn đến việc bị chậm tiến độ trong quá trình thi công Trình độ tay nghề của công nhân quyết định đến tiến độ thi công xây dựng công trình Nếu trình độ tay nghề thấp, thiếu kinh nghiệm sẽ gây làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình Ngược lại, trình độ tay nghề cao sẽ đảm bảo thực hiện đúng tiến bộ và chất lượng công trình được đảm bảo Do vậy, nhà thầu cần có khâu kiểm tra trình độ trước khi tuyển dụng công nhân để tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng công việc
- Khả năng huy động nhân lực nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động, ý thức kỷ luật của người công nhân chưa đạt yêu cầu trong thời gian sử dụng
- Trình độ tay nghề của công nhân thấp
- Công nhân tham gia thi công trong các công trình xây dựng còn tham gia sản xuất nông nghiệp của gia đình nên cũng ảnh hưởng đến công việc thi công khi đến mùa vụ thu hoạch
Trang 28- Số lượng công nhân thuộc biên chế của công ty, đơn vị thi công không nhiều và chủ yếu là huy động làm theo mùa vụ
1.3.5 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao
- Do khâu kiểm tra giám sát thường xuyên không được coi trọng theo đúng quy chế
- Do các hiện tượng tiêu cực giữa giám sát thi công của chủ đầu tư và điều hành thi công của tổ chức xây dựng
1.3.6 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ các quy định pháp lý và các thủ tục hành chính
- Rủi ro do sự thay đổi chính sách thuế làm thay đổi các khoản thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Rủi ro do sự thay đổi hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác
- Rủi ro do sự thay đổi các quy định về quản lý và tuyển dụng lao động như thay đổi quy định mức lương tối thiểu, thay đổi chế độ làm việc (như thời gian làm việc trong ca, số ngày làm việc trong tuần )
- Rủi ro do sự thay đổi chính sách tiền tệ
- Trong thời gian thực hiện dự án, Chính phủ có thể đưa ra nhiều biện pháp sử dụng lãi suất để quản lý và kiểm soát lạm phát và vấn đề này có thể làm phát sinh rủi
ro đối với các tổ chức tham gia thực hiện dự án
1.4 Tổng quan về dự án Môi trường bềnvững các thành phố duyên hải – Tiểu dự
án Nha Trang và thực trạng công tác quản lý tiến độ thi công ở Khánh Hòa
1.4.1 Tổng quan dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải – Tiểu dự án Nha Trang
Sau khi môi trường tại phía Nam và trung tâm thành phố Nha Trang được cải thiện đáng kể nhờ đầu tư hệ thống xử lý nước thải qua dự án CCESP được triển khai từ năm 2007 đến 2014, UBND tỉnh Khánh Hòa quyết tâm giải quyết tiếp vấn đề ô nhiễm môi trường tại khu vực phía Bắc thành phố với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới
thông qua Dự án Môi trường bền vững các thành phố huyên hải (viết tắt CCSEP)
với tổng nguồn vốn đầu tư là 72 triệu USD sẽ được triển khai từ năm 2019 đến năm
2023, quy mô dự án gồm 4 hợp phần:
Hợp phần 1: Hạ tầng vệ sinh, bao gồm: i)Thoát nước mưa và thu gom nước thải; ii)Chương trình vệ sinh trường học; iii)Trạm xử lý nước thải; và iv)Tư vấn giám sát và hỗ trợ Dự án Hợp phần 1
Hợp phần 2: cải thiện hạ tầng môi trường, bao gồm: i)Đê và kè bảo vệ sông
Trang 29Cái bờ phía Nam và bờ phía Bắc; ii)Đường giao thông bờ phía Nam và bờ phía Bắc sông Cái; iii)Đường số 4 (dọc đường sắt); iv)Đường Chử Đồng Tử; và v) Tư vấn giám sát và hỗ trợ Dự án Hợp phần 2
Hợp phần 3: Tái định cư và giải phóng mặt bằng
Hợp phần 4: Hỗ trợ triển khai, nâng cao năng lực và cải cách thể chế
1.4.2 Thực trạng về tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Như thực trạng chung tại Việt Nam, các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa luôn đối diện với vấn đề chậm tiến độ hoàn thành so với kế hoạch Vì vậy, mục tiêu hiện nay của các nghiên cứu là xây dựng mô hình về các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện, giảm biến động tiến độ hoàn thành dự án, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng
Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có rất nhiều dự án đã và đang được đầu tư xây dựng từ các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực điện, lĩnh vực xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp, lĩnh vực giao thông Trong giai đoạn
2014 - 2018, toàn Tỉnh đã bàn giao đưa vào sử dụng 334 dự án với tổng vốn do tỉnh quản lý 16.555,23 tỷ đồng (năm 2014: bàn giao đưa vào sử dụng 39 dự án, với tổng vốn do tỉnh quản lý 2.500 tỷ đồng; năm 2015: bàn giao đưa vào sử dụng 105 dự án, với tổng vốn do tỉnh quản lý 3.063,23 tỷ đồng; năm 2016: bàn giao đưa vào sử dụng
125 dự án, với tổng vốn do tỉnh quản lý 3.128,8 tỷ đồng)
Các dự án thực hiện trong năm 2015 và 2016 được thực hiện tuân theo quy định của Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 Trên cơ sở Quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, UBND tỉnh bố trí kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư và giao cho các chủ đầu tư triển khai thực hiện Các chủ đầu tư tổ chức lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư trình Sở
Kế hoạch và Đầu tư thẩm định (thông qua Hội đồng thẩm định chủ trương đầu tư) và trình UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư dự án
Các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh thường chậm trễ tiến độ do các nguyên nhân sau:
- Cơ chế chính sách
- Chậm trễ trong việc bố trí nguồn vốn
- Chậm trễ trong công tác giải phóng mặt bằng
- Trình độ, năng lực quản lý dự án của Chủ đầu tư còn hạn chế
- Nền kinh tế biến động dẫn đến việc giá cả nguyên vật liệu, tỷ giá tăng cao, lương nhân công điều chỉnh liên tục khiến các rủi ro phát sinh từ quá trình chuẩn bị dự
Trang 30án đến khi triển khai dự án khó có thể kiểm soát hiệu quả
1.4.3 Thực trạng về quản lý tiến độ thi công của dự án tương tự với Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Nha Trang, thành phố du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế với bãi biển dài và đẹp, đặc biệt năm 2004 vịnh Nha Trang được xếp vào một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, cũng như nhiều đô thị khác trong cả nước, thành phố Nha Trang phải giải quyết nhiều vấn đề bất cập về vệ sinh môi trường Việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật của thành phố Nha Trang còn rất nhỏ so với nhu cầu, đặc biệt là hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn chưa được ưu tiên
Vì thế đã ảnh hưởng đến điều kiện sống của người dân, hạn chế khả năng phát triển, chất lượng môi trường tự nhiên ngày càng giảm Hệ thống thoát nước trong thành phố
đa số đã bị xuống cấp, nước thải không được xử lý xả trực tiếp ra môi trường, thu gom rác thải còn nhiều bất cập Điều này không những đã gây ô nhiễm nặng nề cho tầng nước ngầm cũng như các khu vực sông, biển mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan thành phố
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nêu trên, Dự án Vệ sinh Môi trường các thành
phố huyên hải (viết tắt CCESP) được hình thành dựa trên sự tài trợ và hợp tác giữa
Ngân hàng Thế giới với Chính phủ Việt Nam Mục tiêu chung của Dự án là giảm thiểu ngập lụt, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường xanh sạch đẹp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các thành phố thực hiện dự án, trong đó có thành phố Nha Trang Tiểu dự án Nha Trang với tổng nguồn vốn đầu tư là 93,6 triệu USD, có hiệu lực từ tháng 6/2007 và kết thúc vào tháng 11/2014 Dự án bao gồm 06 hạng mục sau:
- Hạng mục 1: Kiểm soát ngập lụt, thoát nước và thu gom nước thải
- Hạng mục 2: Nhà máy xử lý nước thải tại phía Nam thành phố Nha Trang
- Hạng mục 3: Quản lý chất thải rắn
- Hạng mục 4: Tái định cư và giải phóng mặt bằng
- Hạng mục 5: Quỹ quay vòng vốn và chương trình vệ sinh trường học
- Hạng mục 6: Tăng cường năng lực và hỗ trợ thực hiện dự án
a Kết quả đạt được của Dự án
- Hạng mục 1 đã xây dựng được hệ thống thu gom nước mưa và nước thải của khu vực trung tâm và phía Nam thành phố Nha Trang
- Hạng mục 2 đã xây dựng được Nhà máy xử lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang, đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ, chất lượng nước biển, nước sông tại khu trung tâm và khu vực phía Nam thành phố Nha Trang
Trang 31- Hạng mục 3 đã xây dựng được trạm xử lý nước rỉ rác và bãi chôn lấp chất thải rắn mới tại Lương Hòa, đóng góp đáng kể vào việc cải thiện điều kiện vệ sinh và ô nhiễm môi trường tại khu vực bãi chôn lấp
- Hạng mục 4 đã giải quyết được nhu cầu tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án
- Hạng mục 5 đã đầu tư xây dựng khu vệ sinh tại 17 trường học và cho 2.144 hộ gia đình vay vốn để cải thiện điều kiện vệ sinh hộ gia đình
- Hạng mục 6 đã tăng cường năng lực và phát triển thể chế cho các đơn vị cung cấp dịch vụ và Ban QLDA
b Các yếu tố ảnh hưởng chính đến tiến độ thực hiện dự án
- Các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của cơ quan chức năng của tỉnh và đơn vị thực hiện dự án
Lạm phát cao trong giai đoạn 2007 và 2008 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 dẫn đến sự trượt giá cao của vật liệu xây dựng tại Việt Nam Tại thời điểm thẩm định dự án (2006), tỷ giá VND/USD là 15.969 nhưng đến tháng 10/2014 tỷ giá VND/USD đã giảm xuống 21.245 Điều này đã dẫn đến sự giảm giá trị thực đáng kể của các khoản tín dụng IDA và phải tăng vốn đối ứng cho các hợp đồng được ký kết bằng Việt Nam đồng
Hai yếu tố này đã dẫn đến sự thiếu hụt kinh phí lớn Vì vậy, việc bổ sung kinh phí 14,36 triệu USD cho Nha Trang cùng với việc giảm phạm vi của một số hạng mục
dự án là cần thiết để xử lý chi phí phát sinh trong giai đoạn đầu của dự án Việc phát sinh chi phí ngoài dự kiến đã gây khó khăn cho đơn vị thực hiện dự án và cản trợ việc thanh toán cho nhà thầu đối với hợp đồng được ký kết không bằng USD
Việc chậm xử lý những khác biệt về thủ tục giữa Việt Nam và WB (dự toán chi phí chỉ mang tính dự toán nhưng quy định của Chính phủ yêu cầu đấu thầu lại hoặc thay đổi chính thức dự toán chi phí nếu hồ sơ dự thầu được đề xuất trao thầu vượt dự toán và cả hai trường hợp đều gây chậm trễ) Việc tuyển chọn chuyên gia tư vấn và đấu thầu các hợp đồng thi công tỏ ra khó khăn do có khác biệt giữa quy trình của WB
và Chính phủ, mà mặc dù được cán bộ Ban QLDA hiểu rõ, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh tham gia lại chưa có được hiểu biết như vậy
- Các yếu tố chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng của tỉnh Khánh Hòa
Tiến độ trong giai đoạn đầu của tiểu dự án Nha Trang bị chậm trễ, dẫn đến chi phí tăng lên do tiến độ thi công chậm và trượt giá Tiến độ thi công chậm là nguyên nhân dẫn đến một hợp đồng vượt dự toán phê duyệt và Sở KH-ĐT và Sở Xây dựng phải thẩm định và trình UBND tỉnh giải quyết Tiến độ thi công khu tái định cư cũng
Trang 32bị chậm vì UBND thành phố Nha Trang chưa thanh toán tiền cho nhà thầu đã thi công trước đây nên mặt bằng thi công khu tái định cư chưa bàn giao cho nhà thầu trúng thầu của Tiểu dự án Nha Trang Nhiều cuộc họp với UBND tỉnh được tổ chức để hỗ trợ phê duyệt, quy định của Chính phủ/hướng dẫn của WB và lập thủ tục xem xét kịp thời và thông qua các vấn đề của dự án cần phê duyệt của các Sở ngành liên quan để tránh bị chậm trễ trong tương lai
- Chậm trễ trong việc xây dựng khu tái định cư để bố trí tái định cư theo nguyên vọng của các hộ bị ảnh hưởng do cũng là nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ
- Vướng mắc các hạ tầng kỹ thuật ngầm khác trong quá trình thi công và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan để giải quyết di dời các hạ tầng ngầm không cao
Tuy tiến độ dự án CCESP trong giai đoạn đầu có bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân nêu trên nhưng với sự quyết tâm nỗ lực vượt bậc từ UBND tỉnh, từ các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, từ đội ngũ cán bộ của Ban QLDA, từ các đơn vị Tư vấn
và của các Nhà thầu thi công ở giai đoạn sau thì cuối cùng dự án cũng đã hoàn thành đúng thời gian tiến độ
1.5 Kết luận chương 1
Rủi ro là một trong những yếu tố không thể tránh khỏi trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và đặc biệt là trong quá trình thi công xây dựng công trình thì rủi ro là những điều không thể tránh khỏi Do đó việc nhận diện được rủi ro sớm, kịp thời và tìm ra được phương án giải quyết rủi ro đó là một việc làm vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của một dự án/công trình Trong quá trình tổ chức thi công xây dựng thì nhà thầu thường chịu các rủi ro như: Chủ đầu tư thay đổi thiết kế, công nghệ, đòi rút ngắn thời gian thực hiện, công tác giải phóng mặt bằng không đảm bảo chất lượng, biến động về giá cả các yếu tố đầu vào, nhà thầu thiếu vốn, bỏ giá thầu thấp nên nhà thầu bị lỗ,…tất cả những rủi ro này sẽ đều ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thi công công trình,…
Trong giới hạn luận văn này, tác giả tập trung vào việc đánh giá mức độ (khả năng) hoàn thành tiến độ thi công của Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải - Tiểu dự án Nha Trang sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới dựa vào
sơ đồ mạng PERT và phương pháp mô phỏng Monte Carlo được trình bày ở các Chương sau
Trang 33CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ MẠNG PERT VÀO ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ
THI CÔNG CÔNG TRÌNH
Chương 2 của luận văn sẽ trình bày một số kiến thức đại cương của xác suất để làm cơ sở cho việc giới thiệu phương pháp sơ đồ mạng PERT (được phát triển dựa vào
lý thuyết xác suất) Bên cạnh đó, phương pháp Monte Carlo sẽ được áp dụng vào tính toán sơ đồ mạng PERT
2.1 Sơ đồ mạng CPM và PERT dùng để lập tiến độ thi công [8,9]
2.1.1 Phương pháp sơ đồ mạng CPM (Critical Path Methodology)
Khi mô hình của mạng đã được thiết lập, người ta sẽ tính được thời gian của từng công việc trên cơ sở các định mức về lao động Tuy nhiên, thời gian hoàn thành dự án
là bao nhiêu, thì cần phải có một phương pháp tính toán để xác định Muốn tính được điều đó, cần phải biết được các thông số thời gian sau:
- Thời điểm sớm và muộn của từng sự kiện (hay thời gian sớm nhất và muộn nhất đạt tới các sự kiện)
- Thời điểm bắt đầu sớm nhất và muộn nhất của từng công việc
- Thời điểm kết thúc sớm nhất và muộn nhất của từng công việc
- Đường Găng
Về hình thức, các thông số thời gian trong CPM và PERT là như nhau Do đó trong phần này sẽ giới thiệu cách phân tích và tính toán các chỉ tiêu thời gian, cũng như cách lập và điều khiển tiến độ bằng sơ đồ mạng, coi đó là những cái chung mà phương pháp PERT có thể áp dụng được
Về phương pháp thực hiện, có 6 bước cơ bản được áp dụng chung cho cả PERT
và CPM:
- Xác định các công việc (nhiệm vụ ) cần thực hiện của dự án
- Xác định mối quan hệ và trình tự thực hiện các công việc
- Vẽ sơ đồ mạng công việc
- Tính toán thời gian và chi phí cho từng công việc dự án
- Xác định thời gian dự trữ của các công việc và sự kiện
- Xác định đường Găng
a Các nguyên tắc bắt buộc khi lập sơ đồ mạng lưới
- Tất cả mỗi tên công việc từ trái đến phải về phái sơ đồ phát triển đến sự kiện
Trang 34cuối cùng
- Trong sơ đồ mạng lưới không có chu trình khép kín hay chỗ giao nhau
- Sự đánh số các sự kiện từ trên xuống dưới, từ trái qua phải và theo thứ tự liên tiếp từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện cuối cùng Sự kiện ở đầu mũi tên mang số lớn hơn
sự kiện ở đuôi mũi tên Chỉ đánh số các sự kiện có nhiều mũi tên cùng đến khi các sự kiện ở đuôi những mũi tên này đã được đánh số
- Trong sơ đồ lớn nếu một nhóm công việc có liên hệ với nhau mà khi biểu diễn trong sơ đồ mạng nó trở thành một mạng con gộp lại thành dạng công việc thời gian thực hiện một công việc gộp lại lấy bằng khoảng thời gian dài nhất từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện cuối cùng
- Nếu một nhóm có công việc tính chất như nhau cùng làm song song thì làm gộp chúng lại thành một việc duy nhất biểu thị bằng một cung
- Nếu công việc có tính chất khác nhau cùng làm song song có chung sự kiện khởi công và kết thúc thì phải thêm các sự kiện phụ thuộc và công việc giả(sự phụ thuộc)
- Khi áp dụng phương pháp thi công dây chuyền và chia công tác để thi công thì cần chi nhỏ công việc thành những công việc độc lập
Ví dụ: Giả sử có 3 công việc a, b, c khi công việc a hoàn thành một công việc nhỏ
a1 thì b bắt dần sau c việc a hoàn thành a1 + a2 thì công việc c khi đó có thể biến diển như sau
- Cách thể hiện quy trình công nghệ vè sự liên quan giữa các sơ đồ mạng lưới Người ta dùng công việc giả để chi mối liên hệ giữa các công việc có sự ràng buộc về quá trình công nghệ
Giả sử có 5 công việc a, b, c, d, e:
+ Với công việc d làm sau công viêc a &b Công việc e làm sau công việc a,b,c biểu diễn như sau
Trang 35+ Khi d sau a &b; e sau a &c
+ Khi d sau a &b; d sau a; e sau a
- Trên sơ đồ mạng cần phải thể hiện được mối liên hệ giữa công trường bên ngoài
+ Trường hợp 3 công việc a, c cần vật liệu thì thêm một sự kiện đặc biệt công việc k
+ Trường hợp bên ngoài chỉ liên quan công việc b thì thêm sự kiện và công việc
Trang 36Xét một sơ đồ mạng với thông số thời gian của từng công việc đã được ghi trên
Trên thực tế, đường Găng đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến độ quản lý
dự án vì: Trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, nhất là trong ngành điều khiển tự động, nguyên tắc quan trọng để giải quyết tốt nhiệm vụ phức tạp là phải nắm vững những công việc chủ yếu, quan trọng Đường Găng bao gồm những công việc chủ yếu, quan trọng đó Trên thực tế, người có kinh nghiệm thường biết được các công việc chủ yếu nhưng đó là những nhận biết cảm tính Còn với những dự án lớn, phức tạp, mới mẻ thì
Trang 37ngay cả chuyên gia nhiều kinh nghiệm cũng không thể biết hết được Trong quản lý dự
án, xác định đường Găng trên cơ sở tính toán, tức là tìm ra trong số những công việc phải hoàn thành, những công việc nào quan trọng, là then chốt mà nếu hoàn thành được nó thì toàn bộ kế hoạch dự án cũng được hoàn thành
c Thời gian sớm nhất, muộn nhất đạt tới các sự kiện và thời gian dự trữ của sự kiện
Kí hiệu:
tij: Độ dài cung ij hay thời gian thực hiện công việc mà kéo dài từ sự kiện i tới
j (i là sự kiện trước, j là sự kiện sau)
Eij: Thời gian sớm nhất để đạt tới sự kiện j tính từ khi bắt đầu dự án (quãng đường dài nhất tính từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện j)
Lij: Thời gian chậm nhất sự kiện j phải xuất hiện mà không làm chậm trễ việc hoàn thành dự án
Ta có công thức tổng quát như sau:
Ej = Maxi ( Ei + tij ) với E1 = 0
Li = Minj (Lj – tij) với Lcuối cùng = Độ dài thời gian thực hiện dự án
Si: Thời gian dự trữ của một sự kiện: là thời gian sự kiện đó có thể kéo dài
thêm mà không làm ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành của dự án
Như đã biết, một sự kiện có hai thời điểm xuất hiện là sớm và muộn Nó không thể xuất hiện trước thời hạn sớm nhất (Eij) và cũng không thể xuất hiện sau thời hạn muộn nhất ( Lij) Nhưng nó có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào giữa hai thời hạn đó Khoảng thời gian chênh lệch giữa thời hạn sớm và muộn, là thời gian dự trữ của sự kiện Do đó, Si được tính bằng công thức:
Trang 38Dựa vào sơ đồ trên ta có:
đã thu được đường Găng Vì vậy, khi tìm đường Găng ta phải có quy tắc để đảm bảo
Thời gian dự trữ toàn phần của một công việc nào đó là khoảng thời gian công việc này có thể kéo dài thêm nhưng không làm chậm ngày kết thúc dự án
Thời gian dự trữ tự do là thời gian mà một công việc nào đó có thể kéo dài thêm nhưng không làm chậm ngày bắt đầu của công việc tiếp sau
Kí hiệu:
ES(a): Thời gian bắt đầu sớm của công việc a
EF(a): Thời gian kết thúc sớm của công việc a
LS(a): Thời gian bắt đầu muộn của công việc a
LF(a): Thời gian kết thúc muộn của công việc a
LFcc: Thời gian kết thúc muộn của công việc cuối cùng
t(a): Độ dài thời gian thực hiện công việc a
Ta có:
Trang 39LF (a) = Min (LS (j) ) (j là các công việc sau a )
Thời gian dự trữ tự do của công việc a = Min ( ES của tất cả các công việc sau a)
Thời gian kết thúc sớm (EF)
Thời gian kết thúc muộn (LF)
Thời gian bắt đầu muộn (LS)
Thời gian
dự trữ toàn phần
và kết đúng thời điểm đã được xác định Nếu vì lý do nào đó, mà một công việc Găng
bị chậm trễ thì đường Găng sẽ bị kéo dài thêm, tức là thời hạn hoàn thành tiến độ cũng
bị kéo dài Trong khi đó các công việc không Găng lại có thể kéo dài thêm thời gian (tij) hoặc thay đổi thời điểm khởi hoặc kết của công việc trong giới hạn thời gian dự trữ của công việc mà không làm ảnh hưởng tiến độ thực hiện của dự án Điều đó có nghĩa là: nếu muốn rút ngắn thời hạn tiến độ thì phải rút ngắn thời gian của các công việc Găng Có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Tăng nhân công lao động để rút ngắn thời gian;
- Chuyển công nghệ từ lao động thủ công sang cơ giới;
- Tăng máy móc, thiết bị xây dựng;
- Dùng công nghệ mới để rút ngắn thời gian;
- Tổ chức lại sản xuất: phân chia thành các phân đoạn để có thể thi công theo dây chuyền
Trang 402.1.2 Phương pháp sơ đồ mạng xác suất [2,4]
a Ước lượng thời gian hoàn thành công việc
Có hai phương pháp chính để dự tính: phương pháp tất định và phương pháp ngẫu nhiên Phương pháp tất định bỏ qua những yếu tố bất định trong khi phương pháp ngẫu nhiên tính đến sự tác động của các nhân tố ngẫu nhiên khi dự tính thời hạn thực hiện các công việc
Trên thực tế, có rất nhiều dự án mà công việc chưa có định mức hoặc định mức chưa phù hợp với thực tiễn Theo như phương pháp ngẫu nhiên mà cụ thể là áp dụng trong sơ đồ PERT, khi lập kế hoạch thi công, người ta dựa trên kinh nghiệm để ước lượng thời gian hoàn thành công việc Vì vậy, thời gian đó không xác định, ta phải lấy thời gian trung bình mong muốn (Te) kèm theo một đại lượng đo sự không xác định của thời gian này làm thời gian thực hiện công việc Sự không xác định đó có thể biểu thị bằng độ lệch tiêu chuẩn ( ) hoặc phương sai (V) của thời gian Ta phải dùng hàm phân phối xác suất để xác định số liệu mỗi công việc
Có 3 ước lượng thời gian được đặt ra và được nằm trong đường cong lý thuyết: Thời gian lạc quan (a) là thời gian ước lượng ít nhất để hoàn thành công việc trong những điều kiện thuận lợi nhất;
Thời gian bi quan (b) là thời gian ước lượng lớn nhất để hoàn thành công việc trong điều kiện khó khăn nhất;
Thời gian hiện thực (m) là thời gian ước lượng để hoàn thành công việc có nhiều khả năng xảy ra nhất (với xác suất lớn nhất), còn gọi là mốt (mode)
Thời gian trung bình mong muốn Te (trong toán học gọi là “kỳ vọng”) được tính theo công thức thực nghiệm: