Một bộ phận không nhỏ sinh viên còn có những biểu hiện đáng lo ngại như giảm sút về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, không có ước mơ, hoài bão, kém chủ động trong tiếp thu kiến thức, tinh t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Cấu trúc của luận văn 7
10 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 7
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HIỆN NAY 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 9
1.1.2 Tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Đặc điểm của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội 32
1.2.2 Các yếu tố tác động tới việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp đối với sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay 40
Tiết kết chương 1 49
Chương 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 50
Trang 22.1 Thực trạng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay 50
2.1.1 Những kết quả đạt được 50
2.1.2 Những hạn chế 71
2.1.3 Nguyên nhân hạn chế của công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội 73
2.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay 78
2.2.1 Về phía sinh viên 78
2.2.2 Về phía gia đình, nhà trường và xã hội 83
Tiểu kết chương 2 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
CB - GV : Cán bộ - Giáo viên CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CT - XH : Chính trị - xã hội
GD - ĐT : Giáo dục - đào tạo KTCN : Kinh tế công nghiệp KTTT : Kinh tế thị trường XHCN : Xã hội chủ nghĩa YTXH : Ý thức xã hội
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả điều tra giáo viên về các nội dunggiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 51 Bảng 2.2: Khảo sát về xác định các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần có của sinh viên trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 53 Bảng 2.3: Khảo sát nhận thức của sinh viên trường Cao đẳng KTCN Hà Nội về các giá trị đạo đức cần thiết trên 438 sinh viên 57 Bảng 2.4: Khảo sát những biểu hiện tích cực về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 58 Bảng 2.5: Khảo sát những biểu hiện tiêu cực về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 59 Bảng 2.6: Khảo sát nguyên nhân dẫn tới những biểu hiện tiêu cực về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 60 Bảng 2.7: Khảo sát tầm quan trọng của nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 61 Bảng 2.8: Khảo sát hiệu quả phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội qua các hình thức sau 62 Bảng 2.9: Thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp tại Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội 68
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp GD - ĐT con người mới cho dân tộc Việt Nam Người coi GD - ĐT là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Suốt cả cuộc đời mình, Người đã dành biết bao tâm trí cho sự nghiệp giáo dục Trong xã hội mới, bản chất của nền giáo dục đã khác trước, Người chỉ rõ: “Thời trước, giáo dục là gõ đầu trẻ để kiếm cơm ăn Bây giờ nhiệm vụ của giáo dục khác trước Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán
bộ mới” [34;183] Theo Người, trong quá trình giáo dục phải chú trọng kết hợp và phát triển hài hòa giữa tài năng và đạo đức Bởi nếu đạo đức tốt mà không có tài năng thì khó lòng giúp ích được, ngược lại có tài năng mà không
có đạo đức là điều đáng ngại hơn cả Như vậy, đức và tài là hai nội dung quan trọng giáo dục con người mới trong nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều coi giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu Cho nên, ở Hội nghị trung ương Đảng lần thứ II khóa VIII (12/1996), Đảng ta đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” Đảng chỉ rõ: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa phải phát triển giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người Đây là yếu tố cơ bản của sự phát triển”
Tuy nhiên, ngày 5/3/2009, Bộ chính trị (Khóa X) đã họp và nhận định bên cạnh những chuyển biến tích cực thì GD - ĐT chưa thực sự là quốc sách hàng đầu Việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp; giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến dạy kỹ năng sống, đến “dạy người” và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên Cho
Trang 6nên hiện nay GD - ĐT vẫn đang là nhiệm vụ cấp bách, bên cạnh phát triển khoa học - công nghệ thì GD - ĐT vẫn được coi là quốc sách hàng đầu
Mặt khác, trong bối cảnh đất nước ta hiện nay đang trong quá trình hội nhập quốc tế trên mọi mặt, việc phát triển KTTT theo định hướng XHCN và thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đã có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh mặt tích cực thì cũng tồn tại song song những mặt tiêu cực, đó là một bộ phận người dân Việt Nam trong đó có không ít học sinh sinh viên đã có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, đi ngược lại với những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của người dân Việt Nam
Gần đây, trường Cao đẳng KTCN Hà Nội đã đào tạo thêm một số ngành nghề như: Luật kinh tế, may thời trang, thư kí văn phòng bên cạnh những ngành nghề trước như công nghệ thông tin, kế toán, kinh tế, quản trị kinh doanh Những ngành nghề này đều cần có sự trung thực, chính xác, tỉ mỉ trong công việc Vì vậy, giáo dục chuyên môn và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, trang bị hành trang cho các em sau khi ra trường có đạo đức nghề nghiệp tốt bên cạnh chuyên môn tốt là vấn đề luôn được nhà trường quan tâm, chú trọng Tuy nhiên, do quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng có tác động lớn đến sinh viên Một bộ phận không nhỏ sinh viên còn có những biểu hiện đáng lo ngại như giảm sút về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, không có ước mơ, hoài bão, kém chủ động trong tiếp thu kiến thức, tinh thần tập thể chưa cao, học tập còn mang tính chống đối, gian lận trong học tâp và thi cử Những biểu hiện tiêu cực này đang tác động hàng ngày, hàng giờ đến công tác giáo dục bồi dưỡng đạo đức và lý tưởng cho sinh viên trong nhà trường Trước thực trạng như vậy, Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên trong nhà trường và nhất là các thầy cô giảng dạy các môn lý luận chính trị cần phải
có định hướng đúng đắn trong công tác đào tạo; khắc phục những định hướng
Trang 7lệch lạc trong nhận thức của sinh viên để sinh viên tự giác trau dồi và hoàn thiện nhân cách, từ đó giúp sinh viên trở thành người vừa có “đức” vừa có
“tài”, vừa “hồng” vừa “chuyên”
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Triết học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Hoạt động lao động sản xuất hay hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống quan trọng và chủ yếu của con người Con người không ngừng lao động và để lao động đạt được hiệu quả cao nhất, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước thì trong quá trình lao động con người ngoài chuyên môn nghề nghiệp thì cần phải có đạo đức nghề nghiệp Để có đạo đức nghề nghiệp, con người phải không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phải tự giác xây dựng, định hướng cho bản thân mình những đức tính tốt trong lao động
Mỗi một ngành nghề đều có những chuẩn mực đạo đức riêng bên cạnh những chuẩn mực đạo đức chung cơ bản của xã hội Vấn đề đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng không phải là vấn đề mới
mẻ mà đã có nhiều công trình nghiên cứu; có thể ở khía cạnh này, khía cạnh khác với những mức độ khác nhau Để hoàn thiện luận văn của mình, tác giả
đã tiếp cận những nguồn tài liệu sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp
- G.Bandzeladze với công trình “Đạo đức học” gồm 2 tập, Nxb Giáo
dục năm 1985 Trong hai tập này, Bandzeladze đã làm rõ được những vấn đề như: đạo đức là gì, nó phát sinh phát triển như thế nào, có những phạm trù đạo đức học nào và nội dung những phạm trù đạo đức học đó là gì?
Trang 8- PGS.TS Nguyễn Xuân Uẩn chủ biên đề tài cấp Bộ, Nhà nước năm
1998 “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại học sư phạm phục
giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên đại học sư phạm trong thời kì CNH - HĐH hóa đất nước
- PGS.TS Trần Quốc Thành, “Thực trạng và giải pháp ngăn ngừa tệ
nạn xã hội trong sinh viên”, 1999 – 2000 Trong tác phẩm này, tác giả đã
nghiên cứu thực trạng đạo đức, lối sống của sinh viên hiện nay, qua đó đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên, phòng chống các tai tệ nạn xã hội trong sinh viên
- La Quốc Kiệt (chủ biên), “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” (sách dịch),
Nxb Chính trị quốc gia dịch năm 2003 Trong cuốn sách này, các tác giả Trung Quốc đã nêu rõ đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức, những nội dung chủ yếu trong việc bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức mới cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở Trung Quốc hiện nay
- Trần Đăng Sinh và Nguyễn Thị Thọ (Đồng chủ biên), “Giáo trình
Đạo đức học”, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008 Công trình đã nghiên
cứu những nội dung về đạo đức học và đưa ra một số vấn đề đạo đức trong điều kiện hiện đại hóa xã hội
Thứ hai, Các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong giai đoạn hiện nay
- Ths Nguyễn Thị Thanh Thương, Học viện Quản lí giáo dục: “Một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay”, Tạp chí lý luận và truyền thông số tháng 11/2012 Trong tác phẩm
này, tác giả đã đưa ra những mặt tích cực và hạn chế của sinh viên Việt Nam,
Trang 9qua đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm mục tiêu giáo dục sinh viên phát triển toàn diện, trong đó quan trọng nhất là giáo dục đạo đức.
- Ngoài ra còn có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ nghiên cứu nội dung giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh
viên hiện nay như: “Giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên Trường Cao
đẳng Công nghiệp – Dệt may thời trang Hà Nội hiện nay”, Nguyễn Bá Hùng,
luận án tiến sỹ, Học viện Chính trị - Bộ quốc phòng, 2010; “Bồi dưỡng đạo
đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng nghề giao thông vận tải trung ương II hiện nay”, Nguyễn Tuấn Bảy, Luận văn thạc sỹ, Trường
Đại học sư phạm Hà Nội, 2015; “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội hiện nay”, Nguyễn
Thị Diệu Khánh, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2017 Các công trình nghiên cứu này chính là những tài liệu quý giá, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận văn triển khai đề tài nghiên cứu của mình ở khía cạnh nghiên cứu những nội dung của giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên gắn với mỗi môi trường đào tạo cụ thể, với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, vùng miền của đất nước
Tóm lại, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên lại chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội Đây cũng chính là
khoảng trống để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay” Thông qua việc vận dụng những thành quả nghiên cứu trên và dựa vào
những đóng góp của các tác giả đi trước, tác giả hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên đã, đang và sẽ học tập tại Trường Cao đẳng KTCN Hà
Trang 10Nội nói riêng và cho sinh viên Việt Nam nói chung, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của ngành nghề, của đất nước trong giai đoạn CNH - HĐH hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc giáo dục đạo đức và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng KTCN Hà Nội Luận văn phân tích làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đối tượng này
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là đạo đức nghề nghiệp
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Đạo đức nghề nghiệp là một phần không thể thiếu trong quá trình làm việc của mỗi người Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho thế hệ trẻ trong
đó có sinh viên là một vấn đề quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Từ ý nghĩa đó luận văn chỉ ra thực trạng, đánh giá những mặc tích cực và hạn chế, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
Trang 11- Phân tích thực trạng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp đối với sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội trong thời gian từ năm 2013 đến nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp phân tích
- tổng hợp, phương pháp phỏng vấn, phương pháp hệ thống hóa và điều tra xã hội học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văngồm 2 chương, 4 tiết
10 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1 Luận điểm cơ bản
- Lí luận chung về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp ở nước ta hiện nay
- Những yêu cầu đạo đức đối với sinh viên Trường Cao đẳng KTCN
Hà Nội
- Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
Trang 12- Phương hướng và giải pháp chủ yếu để giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
10.2 Những đóng góp mới của luận văn
- Trên phương diện lý luận: Luận văn khái quát và phân tích những đặc
điểm cơ bản của sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng KTCN Hà Nội hiện nay
- Trên phương diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy cho những đối tượng quan tâm đến đề tài
Trang 131.1.1 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm “đạo đức” và vai trò của đạo đức trong đời sống
xã hội
Thứ nhất, khái niệm “đạo đức”
“Đạo đức” là một trong những hình thái sớm nhất của YTXH, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử xã hội Nhờ có đạo đức mà con người biết tự điều chỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp nhất với lợi ích của chính họ và xã hội Mọi giai cấp, mọi thời đại, đạo đức luôn có chỗ đứng không thể bị thay thế
Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng Latin là - mos - có nghĩa là “lề thói” Bên cạnh đó, còn từ - ethicos (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp) cũng có nghĩa là “lề thói” “tập tục” Cả hai từ trên đều gắn với thói quen, lề thói trong quan hệ hàng ngày giữa con người với con người
Ở phương Đông, trong Triết học Trung Quốc, đạo đức được coi là một trong những phạm trù quan trọng nhất “Đạo đức” được bắt nguồn từ cách hiểu về hai chữ “đạo” và “đức” Khái niệm “đạo đức” xuất hiện lần đầu tiên
trong Kim Văn đời nhà Chu và được người Trung Hoa cổ đại sử dụng phổ
biến “Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi; trong lĩnh vực đời sống xã hội,
“đạo” có nghĩa là lối sống, cách sống của con người trong xã hội Còn “Đức”
là đức tính, là những phẩm chất tốt đẹp, giá trị cao quý là biểu hiện của Đạo Sau này khái niệm “đạo đức” được vận dụng trong triết học để chỉ con đường
Trang 14của tự nhiên Tóm lại, “đạo đức” của người Trung Hoa cổ đại chính là những nguyên tắc, những yêu cầu, những chuẩn mực mà xã hội đặt ra buộc con người phải tuân theo
Trong Phật giáo ở Ấn Độ cũng bàn rất nhiều về đạo đức Giáo lý nhà Phật dạy rằng: “Nhất thuyết pháp nhân duyên sinh” để trả lời cho câu hỏi con người phải làm gì để thoát khỏi bể khổ Để thoát khỏi bể khổ, Phật giáo xây dựng mẫu người đạo đức đó là con người từ bi, hỉ, xả, vô ngã, vị tha, tạo nghiệp thiện, tránh nghiệp ác mà thâu tóm đứng vững trên hai chân: từ bi và trí tuệ Có như vậy mới thoát được khỏi vòng luân hồi, nhân quả đạt đến cảnh giới Niết bàn
Ở phương Tây, nhiều nhà tư tưởng lớn cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức Trong đó có đại diện tiêu biểu nhất là Xôcrat (469 – 399 TCN) – Ông được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức Triết học của ông hướng con người sống có đạo đức Xôcrat quan niệm rằng: “nguyên nhân sâu xa của hành vi có hay không có đạo đức là do nhận thức của mỗi người” Còn Arixtốt (384 – 322 TCN) là người đầu tiên đã viết bộ sách “Đạo đức học” gồm 10 cuốn, trong bộ sách đó, ông chú trọng đặc biệt đến đạo đức của con người Theo ông, một con người có đạo đức là con người có định hướng đúng đắn và biết làm việc thiện
Như vậy, ngay từ thời cổ đại đến nay với bao thay đổi của lịch sử nhưng
cả ở phương Đông và phương Tây vấn đề đạo đức vẫn luôn được nhân loại quan tâm và không ngừng bổ sung, làm phong phú thêm các phạm trù, giá trị
Để đạo đức ngày càng đi sâu, thấm nhuần vào từng hành động, lời ăn tiếng nói của mỗi người Giúp con người ngày càng hướng thiện, sống thiện hơn
Quan điểm đạo đức hoàn toàn khác nhau khi xã hội xuất hiện giai cấp
và đấu tranh giai cấp Quan niệm duy vật lịch sử về đạo đức của chủ nghĩa Mác đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Theo quan niệm của
Trang 15Cơ Đốc giáo, toàn thể vũ trụ, trái đất và con người đều do Thiên Chúa tạo ra Con người là sinh thể duy nhất được Chúa ban cho các năng lực: nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ Như vậy, Cơ Đốc giáo cho đạo đức của con người có nguồn gốc từ Thiên Chúa Thiên Chúa là hiện thân của cái thiện và đức hạnh; còn cái ác và những thói xấu khác thì xuất phát từ “tội tổ tông” của con người Còn các nhà duy tâm khách quan, về thực chất cũng có cách nhìn nhận về bản chất và nguồn gốc của đạo đức tương tự quan điểm tôn giáo, có điều cách nhìn nhận của họ được lý luận hóa bằng những học thuyết triết học Theo G.Hêghen: “đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Đạo đức tuy là một hiện tượng xã hội, biểu hiện trong các quan hệ gia đình, xã hội, quốc gia, nhưng về bản chất lại là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, có nguồn gốc từ ý niệm tuyệt đối” [23; 64,65] Các nhà duy tâm chủ quan thì coi đạo đức như là những năng lực bẩm sinh của con người Theo I.Cantơ, lý tính là cội nguồn sinh ra các nguyên lý, các chuẩn mực đạo đức Vì vậy, theo ông ý chí đạo đức hay là thiện ý là năng lực hành động phù hợp với quy luật đạo đức phổ biến, nghĩa là phù hợp với cái gọi là mệnh lệnh tuyệt đối Mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi con người hành động theo pháp chế phổ biến Nhưng trong xã hội có đối kháng giai cấp thì mỗi giai cấp khác nhau sẽ có quan niệm khác nhau về lý tưởng của một pháp chế phổ biến Vì vậy, trên thực tế, mệnh lệnh tuyệt đối không thể trở thành một pháp chế phổ biến được
Khác với các nhà triết học duy tâm, những nhà triết học duy vật trước Mác không đi tìm bản chất, nguồn gốc của đạo đức ở những sức mạnh siêu nhân nào đó bên ngoài thế giới con người và xã hội loài người L.Phoiơbắc cho rằng, đạo đức chỉ tồn tại ở đâu đó mối quan hệ giữa người với người, hay nói như cách nói của ông, ở đâu có mối quan hệ giữa “tôi với anh” Nhưng ông quy mọi mối quan hệ người vào quan hệ đạo đức và cho rằng, nguyên tắc
Trang 16cơ bản của đạo đức là sự thương yêu lẫn nhau giữa mọi người Từ đó, ông tuyên truyền cho một tình yêu phổ biến và kêu gọi mọi người phải biết “hạn chế mình một cách phổ biến” Đối với ông, vươn tới một thứ “đạo đức tình yêu như vậy”, con người có thể khắc phục được mọi bất công, mọi đau khổ với tính cách là những ngẫu nhiên đi chệch khỏi bản chất đích thực của con người Mặc dù thấy được đạo đức trong quan hệ người nhưng ông không nhìn thấy được tính quy định của quan hệ kinh tế - xã hội đối với đạo đức Vì thế, rốt cuộc, đạo đức đối với Phoiơbắc cũng chỉ là một năng lực bẩm sinh, trừu tượng, bất biến và xét tới cùng cũng chỉ là một sức mạnh từ bên ngoài gán vào cho xã hội và con người
Những người theo quan điểm của học thuyết Đácuyn đã tầm thường hóa quan điểm duy vật khi cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người
là đồng nhất với bản chất bầy đàn của động vật Biến đạo đức thành bản năng tức là gán cho đạo đức bản chất sinh học
Như vậy, cho dù có những khác biệt về lập trường và các cách thức lý giải, tất cả những quan điểm trước Mác và ngoài mácxít đều nhìn nhận đạo đức như là một sức mạnh có trước, tồn tại bên ngoài quan hệ xã hội của con người
Theo C.Mác: “Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện” Xét theo nghĩa hẹp, “đạo đức” là chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người Theo nghĩa rộng, “đạo đức” có quan
hệ chặt chẽ, hữu cơ với các phạm trù, pháp luật, chính trị, đời sống C.Mác còn cho rằng: “Đạo đức có nguồn gốc từ lao động và các hoạt động sống của con người” Đạo đức xuất hiện như một phương thức đặc thù giúp điều chỉnh hành vi của con người Sự điều chỉnh đó dựa trên cơ sở tự nguyện, tự giác và
ưu tiên cho lợi ích của đại đa số người trong xã hội
Trang 17Giáo trình triết học Mác – Lênin đã định nghĩa “đạo đức” như sau:
“Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng và về những quy tắc, đánh giá, điều chỉnh hành
vi ứng xử giữa các cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” [7; 444]
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội” [50; 290]
Với quan điểm của Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng cho rằng:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ
xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [13; 6]
Tác giả Trần Đăng Sinh và Nguyễn Thị Thọ cho rằng: đạo đức là
“những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau” [43; 5]
Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khái niệm đạo đức nhưng do căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài mà tác giả luận văn nhất trí với khái niệm “đạo đức” sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội” [43; 6]
Thứ hai, vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội Tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà sự tác động của đạo đức đến các cá
Trang 18nhân và xã hội lại khác nhau Ngày nay, đạo đức lại ngày càng chứng minh tầm quan trọng của nó khi một bộ phận không nhỏ người dân đánh mất đạo đức, đánh mất lương tâm, chạy theo lợi ích mù quáng Vai trò của đạo đức được thể hiện như sau:
1 “Đạo đức là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, một sự điều chỉnh hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không vụ lợi trong một phạm vi rộng lớn” [53] Trước khi có luật pháp, trong xã hội chủ yếu dùng đạo đức để điều chỉnh hành vi con người Điều chỉnh hành vi con người là chức năng quan trọng nhất của đạo đức Nếu như sức mạnh của pháp luật là sự bắt buộc, cưỡng chế thì sức mạnh của đạo đức là dư luận xã hội, niềm tin, ý thức của cá nhân, truyền thống dân tộc Phạm vi điều chỉnh hành vi của đạo đức lớn hơn rất nhiều so với phạm vi điều chỉnh của pháp luật, bởi trong đời sống xã hội, có một số hành vi tuy không vi phạm pháp luật thế nhưng vẫn bị đạo đức lên tiếng Ví dụ như: con cái không chăm lo phụng dưỡng bố mẹ về già; anh chị em vì tranh giành của cải mà đánh chửi nhau; vợ chồng không chung thủy với nhau
2 “Đạo đức góp phần nhân đạo hóa con người và xã hội loài người, giúp con người sống thiện, sống có ích” [53] Đạo đức là nhu cầu, là cội nguồn của hạnh phúc Sự phát triển của đạo đức là thước đo sự phát triển của con người, của xã hội loài người Chỉ khi con người sống có đạo đức, dùng đạo đức để học tập, sinh hoạt và làm việc thì con người mới thực sự được hạnh phúc Đạo đức tự nguyện được nảy sinh trong mỗi con người, giúp con người hướng thiện, làm việc thiện, sống có ích cho xã hội Đạo đức trở thành động lực, thành sức mạnh để chống lại cái ác, cái phi đạo đức, góp phần lớn vào việc thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội
3 “Đạo đức thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ quốc tế, là cơ sở để
mở rộng giao lưu giữa các giá trị văn hóa của dân tộc, quốc gia với các dân tộc, quốc gia khác” [53]
Trang 19Những giá trị đạo đức truyền thống của cha ông ta từ ngàn xưa truyền lại cho thế hệ con cháu cộng thêm giá trị đạo đức mới - đạo đức cách mạng chính là sự vượt trội để đất nước ta mở rộng giao lưu, hợp tác, tuyên truyền những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc với bạn bè quốc tế Chính vì thế, hiện nay, Việt Nam đang trở thành điểm du lịch, đầu tư lý tưởng Bởi con người Việt Nam thân thiện, dễ gần, chăm chỉ, chịu khó, ham học hỏi, biết giúp đỡ mọi người
4 “Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [53] Pháp luật dù nghiêm khắc đến mấy nhưng nếu mỗi người dân không có ý thức đạo đức thì đất nước đó cũng khó
có thể giữ vững được ổn định CT - XH Thực tế đã cho thấy điều đó, mặc dù Việt Nam, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, vẫn còn đang được bổ sung hoàn thiện nhưng Việt Nam lại chưa từng xuất hiện những sự việc như khủng
bố, ám sát chính khách, mà ngược lại, Việt Nam luôn tự hào là đất nước ổn định về CT - XH Chính vì vậy, những chính khách khi sang Việt Nam đều có thể hòa mình vào đời sống, có thể đi bộ, dạo phố, ăn hàng quán bình dân mà không sợ bị ám sát, khủng bố hay có bất cứ hành động nguy hại nào Mà thay vào đó, họ được an nhàn hưởng thụ cuộc sống như một người dân bình thường, được chứng kiến sự đón tiếp thân tình, cởi mở của mọi người dân Việt Nam
Như vậy, đạo đức là một hình thái YTXH, nó xuất hiện từ rất sớm và
có vai trò vô cùng quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội Hiểu được tầm quan trọng của đạo đức, con người sẽ tự ý thức và điều chỉnh hành vi của mình để trở thành con người “vừa có đức vừa có tài”, “vừa hồng vừa chuyên”
1.1.1.2 Nghề nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cuộc đời” [50; 698] Trong quá trình con người lao động
Trang 20nghề nghiệp thì chính nghề nghiệp đó không những đảm bảo cho cuộc sống của họ, gia đình họ mà còn tôn vinh những con người có thành tích lao động nghề nghiệp xuất sắc, góp một phần vào xây dựng và phát triển xã hội Bởi xã hội có được như ngày nay, chính là dựa vào những người lao động hăng say, cần cù, tìm tòi sáng tạo Và xã hội càng có nhiều người như vậy thì không có lí
do gì có thể kìm hãm được sự phát triển mãnh liệt của xã hội đó, đất nước đó
Nghề nghiệp là những tri thức và những kĩ năng mà người lao động có được thông qua quá trình học tập, thực hành, cho phép người lao động đó có thể thực hiện một loại hoạt động nhất định trong hệ thống phân công lao động
xã hội Đó có thể là một ngành nghề không cần những tri thức và kĩ năng phức tạp, cũng có thể là ngành nghề đòi hỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Tuy nhiên, dù là ngành nghề nào người lao động cũng không thể coi nhẹ việc nâng cao kỹ năng lao động Kỹ năng lao động có được chính từ sự trau dồi, tích lũy thông qua môi trường hoạt động thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhất là một số nghề nghiệp đòi hỏi khéo léo, cẩn thận, tỉ mỉ như một số ngành nghề thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật
Bất cứ một loại hình nghề nghiệp nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp với nó Dựa trên đặc điểm này người ta chia nghề nghiệp thành 4 loại sau:
- Nghề quan hệ với kỹ thuật: thợ lắp máy, sửa chữa máy móc, thợ gia công
- Nghề quan hệ với tín hiệu: thợ đánh máy, mật mã, sửa bản in
- Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên: Chăn nuôi, thú y, khai khoáng, địa chất
- Nghề quan hệ trực tiếp với con người: Nghề giáo, Nghề Y, Hướng dẫn viên du lịch, nghề dịch vụ
Dựa theo bản chất nghề nghiệp, người ta chia nghề nghiệp thành những loại sau:
Trang 21- Nghề không chuyên môn hóa: Nghề bốc vác, dỡ, vận chuyển hàng hóa nguyên vật liệu Những nghề này chủ yếu sử dụng sức cơ bắp hoặc có sự trợ giúp của một số vật dụng cho việc mang vác trực tiếp hàng hóa hoặc nhờ các phương tiện nửa cơ giới Nghề này chỉ hoạt động trong khoảng thời gian ngắn với những người có sức khỏe tốt, có ít kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, không cần qua trường lớp đào tạo
- Các nghề nửa chuyên môn hóa: Là những nghề nghiệp đòi hỏi một trình độ chuyên môn hạn chế, các tri thức, kĩ xảo nghề nghiệp chỉ đủ để thực hiện được những thao tác đơn giản hay những thao tác được chuyên biệt hóa một cách chặt chẽ
- Các nghề chuyên môn hóa: Là những nghề nghiệp đòi hỏi phải được đào tạo chính quy, cá nhân được nhận chứng chỉ công nhận tay nghề do các
cơ sở đào tạo chính quy cấp Trên cơ sở đó người lao động được nhận vào làm việc thuộc lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng Các chứng chỉ nghề nghiệp
có thể chứng nhận một trình độ chuyên môn ở mức cơ sở, trung cấp, cao đẳng, đại học
Tuy nhiên, người lao động chỉ có thể hăng say làm việc và cống hiến cho công việc khi họ lựa chọn được nghề nghiệp đúng đắn, phù hợp với khả năng, sự yêu thích của bản thân họ Bởi nghề nghiệp không chỉ đơn thuần là một công việc để kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội mà nó còn bao gồm cả việc tận hưởng niềm vui khi làm việc, khiến cho mỗi ngày lao động là một ngày có ý nghĩa cho chính bản thân mình và xã hội Nhưng thực tế không phải sinh viên nào cũng sáng suốt chọn được cho mình một ngành nghề đúng đắn, phù hợp và yêu thích Có thể nguyên nhân do thiếu
kĩ năng, kiến thức trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp; có thể do sức ép gia đình; có thể do muốn chạy theo xu hướng mà không quan tâm đến thực lực của bản thân đó có thể là nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan nhưng dù
Trang 22là nguyên nhân nào đi chăng nữa thì việc lựa chọn không đúng nghề nghiệp sẽ
có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động lao động, sẽ kìm hãm chính người đó khiến cho họ có tâm lí chán nản, lao động không hăng say Có nhiều lao động như vậy sẽ khiến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không cao ảnh hưởng đến công ty, xí nghiệp và xã hội Vì vậy, gia đình và nhà trường phải có định hướng rõ ràng nghề nghiệp cho con em mình, cho con theo nghề nghiệp mà con yêu thích, phù hợp với khả năng của con
Nghề nghiệp không cố định, bất biến, mà nó luôn có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh và tùy theo nhu cầu của mỗi người Máy móc công nghệ hiện đại ra đời đã thủ tiêu một số ngành nghề thủ công, hoặc thúc đẩy ngành thủ công cũng phải cơ giới hóa, điện khí hóa Ví dụ như nghề dệt, ngày trước chỉ hoàn toàn thủ công bằng tay, nhưng hiện nay, chỉ có một số khâu còn dùng tay còn hầu như đều có sự tham gia của máy móc
Trong những năm gần đây, do sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT định hướng XHCN, thực hiện CNH - HĐH đất nước, bước đầu đưa đất nước bước vào thời đại 4.0 Chính vì vậy, ngay lúc này đây, hàng hóa sức lao động ngày càng tập trung vào chất, vào trình độ tay nghề cũng như đạo đức nghề nghiệp Người lao động phải có đủ cả trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, vừa hồng vừa chuyên thì mới đáp ứng được yêu cầu về lao động của thời đại mới – thời đại 4.0
Đào tạo nghề nghiệp có thể hiểu là toàn bộ quá trình học tập, lĩnh hội của con người về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các đặc điểm tâm lý Có thể đào tạo nghề nghiệp cho từng cá nhân hoặc đào tạo cho một tập thể; có thể đào tạo ngẫu nhiên trong quá trình sinh sống hoặc đào tạo có tổ chức thông qua các trường lớp Đào tạo nghề nghiệp được tiến hành thông qua các hình thức sau: “dạy nghề (có thể đào tạo trực tiếp hoặc đào tạo từ xa), hoàn thiện
Trang 23nghề nghiệp, chuyên môn hóa nghề nghiệp, đào tạo bằng kinh nghiệm, thông tin nghề nghiệp”[55] Hình thức “Dạy nghề, hoàn thiện nghề nghiệp, chuyên môn hóa nghề nghiệp” là ba giai đoạn của quá trình đào tạo nghề nghiệp chính quy Hình thức “Đào tạo bằng kinh nghiệm, thông tin nghề nghiệp” có thể gặp trong đào tạo nghề nghiệp chính quy và đào tạo nghề nghiệp phi chính quy Trong đó thì dạy nghề là hình thức quan trọng nhất, nó trang bị cho người học những kiến thức ban đầu, các kỹ năng, kỹ xảo tối thiểu và những phẩm chất đạo đức cần có của nghề nghiệp đó Sau đó, trong quá trình làm việc, người lao động cần học tập, trau dồi thêm kiến thức thực tế, kỹ năng, kỹ xảo, đạo đức nghề nghiệp dần hoàn thiện hơn để có thể hoàn thành tốt công việc được giao
Trong tất cả nghề nghiệp, để người lao động có thể thực hiện công việc của mình đạt hiệu quả cao, các cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan phải thiết lập các quy định cho người lao động, trong đó các quy định về đạo đức nghề nghiệp là vô cùng cần thiết Những quy định này không những đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người quản lý lao động mà còn giúp người lao động hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công việc, đối với đồng nghiệp và đối với toàn xã hội Các ngành nghề hiện nay ngày càng mang tính chuyên môn hóa cao, vì lẽ đó các quy định nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp lại càng bộc lộ rõ tầm quan trọng của nó
1.1.1.3 Đạo đức nghề nghiệp
Khi đề cập tới khái niệm đạo đức nghề nghiệp là người ta muốn cụ thể hóa và đặc trưng hóa đạo đức cho từng nghề nghiệp nhất định Đối với mỗi nghề nghiệp nhất định, bên cạnh những quy tắc, chuẩn mực đạo đức chung được xã hội thừa nhận còn có những quy tắc, chuẩn mực đạo đức riêng cần phải có đối với từng nhóm nghề nghiệp hay từng nghề nghiệp nhất định, nó quy định hành vi ứng xử của từng cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nghề
Trang 24nghiệp đó Vì khi những quy tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đó không được thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng thì sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và đến đồng nghiệp cùng tham gia làm việc với mình Như Ph.Ăng-ghen đã nói: “Trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [28; 256] Hay trong bài luận văn tốt nghiệp trung học, C.Mác đã viết: “nếu ta chọn một nghề trong đó ta có thể làm việc được nhiều hơn cho nhân loại, thì ta không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi
vì đó là sự hi sinh vì mọi người Những việc làm của ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi mãi có hiệu quả, và trên thi hài của chúng ta sẽ nhỏ xuống những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quý” [27;4]
Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội Trong xã hội
có bao nhiêu nghề thì sẽ có bấy nhiều đạo đức nghề nghiệp Mỗi lĩnh vực nghề nghiệp đều có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung Ví dụ khi nói đến lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức nghề nghiệp họ phải đạt chuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:
“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính
Với đồng nghiệp phải thân ái giúp đỡ
Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành
Với nhân dân phải kính trọng lễ phép
Với công việc phải tận tụy
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo”
Đối với cán bộ, Đảng viên, Bác Hồ răn dạy phải: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”
Phương châm: “Lương y như từ mẫu” được coi là đạo đức của ngành
y “Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là chuẩn mực đạo đức của các ngành dịch vụ “Tất cả vì học sinh thân yêu” là đạo đức nghề nghiệp của nghề giáo Tựu chung lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và
Trang 25qua phân tích một số đặc trưng về đạo đức của một số nghề nghiệp có trong
xã hội, ta có thể hiểu:
“Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ của mình với kết quả cao nhất” [48; 27]
Hoạt động nghề nghiệp luôn gắn liền với một kiểu quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định cho nên đạo đức nghề nghiệp luôn mang tính giai cấp và tính dân tộc Với mỗi kiểu quan hệ sản xuất khác nhau thì đạo đức nghề nghiệp cũng có sự thay đổi, phát triển phù hợp
Thời kì phong kiến, trong “bách nghệ” thì “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao” tạm dịch là “mọi việc đều thấp kém, chỉ có đọc sách là cao thượng” Nghĩa là, có rất nhiều nghề nghiệp trong xã hội nhưng xã hội phong kiến chỉ đề cao người đọc sách, còn đại đa số quần chúng nhân dân, những người lao động sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội thì lại bị coi
là “dân ngu” Nhưng chính người dân lao động trong xã hội phong kiến cũng
có những quan điểm sai lầm về lao động, về nghề nghiệp Đối với họ, học nghề, khổ luyện nghề là để “vinh thân”, “phì gia”, nghĩa là, luyện nghề cho giỏi để phục vụ cho lợi ích cá nhân chứ không phải để giúp ích cho xã hội Chính vì thế, nhiều người làm việc chỉ nhằm thoả mãn lợi ích của cá nhân mà xem nhẹ, thậm chí bất chấp cả lợi ích của người khác, của xã hội
Đến chế độ tư bản chủ nghĩa, chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận xét
trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng: “giai cấp tư sản không để lại giữa
người với người một mối quan hệ nào khác, ngoài mối lợi lạnh lùng, và lối trả tiền ngay không tình nghĩa Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, tinh thần hứng khởi nghĩa hiệp, mối thương cảm tiểu
tư sản vào trong lòng nước giá ngắt của lối tính toán vị kỉ Nó đã biến phẩm
Trang 26cách con người thành một giá trị trao đổi đơn thuần” Trong xã hội tư bản, lao động chỉ là phương tiện làm ra lợi nhuận và sức lao động của giai cấp vô sản
là hàng hoá mà giai cấp tư sản có thể mua bán, đổi chác Trong xã hội đó, nghề nghiệp làm cho giai cấp vô sản chỉ giống như một bộ phận của máy móc, năng lực phát triển một cách què quặt do họ chỉ tham gia một khâu đoạn của quá trình sản xuất Hơn nữa, thời gian lao động thì dài mà tiền lương lại luôn bị tư sản cắt xén Khiến giai cấp vô sản cảm thấy mình là người trong hoạt động bản năng của loài vật, còn khi làm việc của con người thì lại thấy mình là con vật
Trong xã hội XHCN, đạo đức nghề nghiệp có vai trò xã hội to lớn Nó
là một bộ phận đặc sắc của đạo đức xã hội đã được thực tiễn hóa Hiện nay, những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần có là: sự yêu nghề, trung thực, chăm chỉ, tận tụy những mong được đóng góp sức lực, trí tuệ của mình cống hiến cho đất nước Họ lao động vì sự yêu thích, hứng thú với công việc, mong đóng góp một phần sức lực của mình cho sự phát triển của Tổ quốc, làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh sánh vai với các nước anh em
Rất nhiều người trong chúng ta dành một nửa thời gian cho hoạt động nghề nghiệp, đặc biệt có những người hoạt động nghề nghiệp trong suốt cuộc đời Chính vì lẽ đó, vinh quang hay thất bại, danh dự hay tủi nhục cũng bắt nguồn từ quá trình chúng ta hoạt động nghề nghiệp Những người gương mẫu, say mê lao động lại có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt luôn được xã hội tôn trọng và biểu dương Ngược lại, những người lười lao động, yếu kém về đạo đức nghề nghiệp sẽ bị xã hội lên án Có thể nói, hoạt động nghề nghiệp làm bộc lộ rõ nhất bản chất của con người Một người có trách nhiệm, lương tâm, tốt hay xấu, thiện hay ác đều được thể hiện tập trung qua hoạt động nghề nghiệp
Trang 27Hiện nay, giáo dục đạo đức cho sinh viên học nghề là giáo dục cho họ ý thức trách nhiệm đối với bản thân, với công việc và với sự nghiệp của mình,
và cao hơn nữa là trách nhiệm với cộng đồng, với tổ quốc, giúp họ tự giác điều chỉnh hành vi của mình, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, sáng tạo,
có năng suất, chất lượng và hiệu quả, tuân thủ kỷ luật lao động, không cẩu thả, bớt xén, đút lót, lãng phí trong quá trình lao động Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và phát huy đạo đức nghề nghiệp
là góp phần làm rõ được vai trò của ý thức xã hội đối với sự phát triển của tồn tại xã hội
1.1.1.4 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Để người lao động có thể hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định thì trường đào tạo nghề phải thực hiện được ba nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trang bị về kiến thức nghề nghiệp cần thiết;
Thứ hai, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo mà nghề nghiệp đòi hỏi; Thứ ba, giáo dục để học sinh, sinh viên có đủ những tri thức cơ bản và
những phẩm chất đạo đức đặc thù của lĩnh vực nghề nghiệp
Cả ba nhiệm vụ trên đều có tầm quan trọng như nhau nên các cơ sở đào tạo nghề không được coi nhiệm vụ này quan trọng hơn nhiệm vụ kia Nhưng thực tế cho thấy, hai nhiệm vụ đầu luôn được coi trọng hơn nhiệm vụ thứ ba
Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần thay đổi chương trình đào tạo của mình để không
đề cao hay coi nhẹ bất cứ một nhiệm vụ nào Bởi giáo dục đạo đức nghề nghiệp còn khó khăn hơn giáo dục kiến thức, kĩ năng tay nghề rất nhiều lần
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của giáo dục nói chung Giáo dục đạo đức nghề nghiệp có mục đích nhằm đào tạo, bồi dưỡng con người hoàn thiện trên cả “đức” và “tài” Như Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm gì được cho xã hội mà
Trang 28còn hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người” [35; 172].
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp được hiểu là sự tác động hữu cơ giữa các hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp với người học nghề nhằm hình thành ở người học nghề những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết Như vậy, nếu xem xét dưới góc độ lý thuyết thì giáo dục đạo đức nghề nghiệp gồm những thành tố sau: “mục đích và yêu cầu, nội dung và phương pháp, phương tiện, lực lượng tham gia, người học nghề, người dạy nghề và kết quả của quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp” Các thành tố trên có mối quan hệ hữu cơ biện chứng với nhau, thành tố này tác động, quy định đến các thành tố khác tạo nên sự vận động chung của cả hệ thống giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp nhằm để hình thành nhân cách nghề nghiệp cho mỗi chủ thể; hướng con người vươn tới những giá trị “chân, thiện, mỹ” trong hoạt động nghề nghiệp Cái thiện, cái chân lý và cái đẹp luôn đi song hành với nhau Vì thế “chân, thiện, mỹ” là yếu tố căn bản để hiện thực đạo đức tiến bộ Trong đạo đức nghề nghiệp, sự gắn bó của những giá trị
“chân, thiện, mỹ” càng cần thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lao động
là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta Trong
xã hội ta, không có nghề nào kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau” [38; 69] Con người biết nghĩ việc thiện, sẽ làm được việc thiện Phát huy được cái thiện trong mỗi con người sẽ
có điều kiện để phát huy mọi năng lực, trí tuệ để cống hiến cho xã hội Cái thiện hiện thực là cao quý thiêng liêng và vì con người nhất Chính bởi vậy, con người phải sống thiện, hướng thiện lấy cái thiện để chống lại cái ác Chính cái ác là nguyên nhân gây ra bao nỗi bất hạnh và sự thống khổ của con
Trang 29người, phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ cái ác ra khỏi đời sống xã hội nói chung và khỏi hoạt động nghề nghiệp nói riêng
Đạo đức chính là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách, là nền tảng xây dựng thế giới tâm hồn mỗi con người Do đó, ở bất cứ thời đại và quốc gia nào, giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng là trung tâm chú ý của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục và của toàn xã hội
Chính vì những lẽ đó mà việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh sinh viên nói chung và học sinh sinh viên các khối kinh tế công nghiệp nói riêng ngày càng trở nên bức thiết, bởi đây chính là đội ngũ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và quản lí sản xuất trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp Hiểu được, thấm nhuần được đạo đức nghề nghiệp chung và đạo đức nghề nghiệp riêng có của ngành nghề là điều tối quan trọng, nó giúp hình thành lương tâm nghề nghiệp cho mỗi cá nhân Lương tâm nghề nghiệp chính
là ý thức trách nhiệm của chính chủ thể đối với hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp, là cách ứng xử của người làm nghề trước lợi ích của người khác, của xã hội; là sự tự phán xử về các hoạt động, các hành vi nghề nghiệp của mình Nếu trong quá trình hoạt động nghề nghiệp mà người lao động không có lương tâm nghề nghiệp đi song song với đạo đức nghề nghiệp thì đạo đức nghề nghiệp mà họ có chỉ là hời hợt tuân thủ bề ngoài chứ không thực sự thấm nhuần trở thành bản chất, trở thành một phần con người họ
1.1.2 Tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay
1.1.2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên không phải vấn đề mới, nhưng trong giai đoạn hiện nay, nó càng trở nên cấp thiết bởi tầm quan trọng
Trang 30của nó đến sự hình thành nhân cách, đạo đức trong suốt quá trình lao động Tầm quan trọng đó do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Ngày nay, khi nhiều người gọi xã hội này là “xã hội của đồng
tiền” thì phẩm chất đạo đức của một bộ phận người dân ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, trong đó có sự xuống cấp của đạo đức nghề nghiệp
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”, đây cũng chính là lời răn dạy của nhà Phật Hay lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy rằng: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, lời dạy của Người muốn nói rằng hai mặt “tài và đức” trong mỗi con người có tầm quan trong ngang hàng nhau, không được coi trọng hay hạ thấp bất cứ mặt nào
Nhưng thực tế ngày nay cho thấy, dưới sự phát triển như vũ bão của nền KTTT, một mặt, tạo tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội, khoa học – kỹ thuật mặt khác lại gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội
Kinh tế bên cạnh tác động tích cực thì còn có những tác động tiêu cực
đó là, một bộ phận không người dân vì đồng tiền người ta có thể bất chấp cả tình thân, máu mủ, chà đạp lên nhân phẩm, danh dự, lợi ích của người khác
Họ sống theo kiểu: “Người không vì mình trời chu đất diệt” Họ làm mai một giá trị đạo đức truyền thống của cả dân tộc Bởi vậy, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thì cũng phải quan tâm đến gìn giữ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam hiện nay đang phát triển mạnh nền KTTT định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước Chính chủ trương, đường lối đúng đắn này của Đảng và Nhà nước đã giúp cải thiện, thay đổi bộ mặt đất nước, đưa đất nước ta từ nước có nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu sang nền kinh tế phát triển hơn Tỉ lệ người giàu tăng lên, tỉ lệ người nghèo giảm
đi, nhân dân được ấm no, được học hành Tuy nhiên, cũng chính trong quá
Trang 31trình phát triển kinh tế này đã xuất hiện nhiều kiểu cách sống xa lạ, đi ngược lại với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Còn một bộ phận người dân, vì mưu cầu lợi ích cá nhân đã cố tình dẫm đạp lên những chuẩn mực đạo đức dân tộc Sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội ngày càng
rõ rệt, nạn tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính và các tai tệ nạn xã hội đang tràn lan, phổ biến, trở thành mối nguy hiểm cho toàn xã hội Một bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời lý tưởng cách mạng, suy thoái về đạo đức lối sống, vì lợi ích của bản thân mà quên đi lợi ích lớn lao của cả dân tộc Một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay có lối sống thực dụng, suy đồi đạo đức, sống buông thả, không chịu học tập rèn luyện mà chỉ ăn chơi sa đọa, thích văn hóa phẩm đồi trụy, không biết hoặc không quan tâm đến các giá trị đạo đức nên có xu hướng sính ngoại sự suy thoái về đạo đức lối sống sẽ dẫn đến sự suy thoái trong đạo đức nghề nghiệp
Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là đất nước nhận được sự đầu tư lớn của các nước phát triển trên thế giới do có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công lại thấp Nhưng họ lại là những người có yêu cầu rất cao về thái
độ làm việc Đối với họ, thái độ và trình độ phải ngang hàng nhau Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp nói chung hay tác phong, thái độ làm việc, thái độ ứng
xử với lãnh đạo, với đồng nghiệp là vô cùng quan trọng, nó đứng song song, ngang hàng cùng với kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Nếu bạn là người có tài, khả năng nắm bắt và làm việc tốt nhưng lại đi làm muộn về sớm, thái độ kiêu căng, ngạo mạn, không hòa đồng với đồng nghiệp thì chính bạn đã tự đào thải mình Bởi người tài thì không thiếu, không thuê bạn người chủ có thể thuê người khác giỏi như bạn thậm chí giỏi hơn bạn Nên trong thời đại ngày nay, biết mình là ai, đang ở vị trí nào trong xã hội để mà có cách ứng xử cho phù hợp là tối quan trọng Tuy nhiên, không chỉ người làm thuê mới cần có đạo đức nghề nghiệp mà chính người làm chủ cũng rất cần Một người chủ có thể
Trang 32giữ được người tài giỏi bên cạnh mình, làm việc, cống hiến cho mình phải là một người chủ công bằng, chính trực, biết quan tâm đến đời sống của nhân viên, biết chăm lo, động viên nhân viên đúng lúc, đúng thời điểm Còn một ông chủ mà khắc nghiệt, bòn rút tiền công của người lao động, không biết quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân viên thì sớm hay muộn ông chủ đó cũng để đánh mất người tài, nhân viên lao động cũng không hăng say, không cống hiến hết mình Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là rất cần thiết, bước đầu trang bị kiến thức làm người, làm việc theo quy tắc, chuẩn mực của nghề nghiệp và của xã hội
Sự tha hóa về đạo đức nghề nghiệp đang ngày càng phổ biến, không chỉ biểu hiện ở đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước mà còn tồn tại ở hầu khắp các nghề Hiện tượng một bộ phận người dân
vì đồng tiền, vì danh lợi địa vị trước mắt mà có thể bán rẻ lương tâm của bản thân, sẵn sàng chà đạp lên người khác miễn là có lợi cho mình Chính họ đã khiến cho những người yêu nghề, thực sự tận tâm với nghề đang cùng phải gánh chịu ô danh với họ
Mấy năm gần đây những chương trình như “nói không với thực phẩm bẩn” “chống buôn lậu hàng giả bảo vệ người tiêu dùng” lên án gay gắt những cơ sở kinh doanh vì muốn lợi nhuận cao nên đã bất chấp sức khỏe và tính mạng của người dân mà làm ra những sản phẩm giả, kém chất lượng, thậm chí có chứa những chất độc hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng Họ là những người kinh doanh không có đạo đức nghề nghiệp, bất chấp cả tính mạng người khác để làm giàu cho bản thân Họ đánh mất đạo đức, lương tri bởi đồng tiền họ thu về được đổi bằng sức khỏe, tính mạng của bao người khác
Trang 33Thực tế xã hội càng cho thấy sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngay từ khi còn học trong nhà trường, bởi nếu để đến khi đi làm các em mới tự trải nghiệm và rút ra đạo đức của nghề nghiệp mình thì có lẽ đã hơi muộn
Tóm lại, đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức nói chung, một mặt nó được quy định bởi các giá trị đạo đức truyền thống, mặt khác nó cũng có tính độc lập tương đối tác động đến đạo đức của các ngành nghề khác trong xã hội Vì vậy, trước thực trạng đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng đang suy thoái nghiêm trọng thì việc giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, bổ sung hoàn thiện hơn đạo đức nghề nghiệp cho thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Trường Cao đẳng KTCN
Hà Nội nói riêng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bình ổn đất nước, lấy lại niểm tin của con người với nhau trong giai đoạn hiện nay
1.1.2.2 Yêu cầu của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội hiện nay
Như mục trên đã trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Để hoạt động đó thực sự có hiệu quả thì cần phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp phải gắn liền với thực tiễn sinh động của xã hội
Sự biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế do sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, các cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ luôn vận động và phát triển không ngừng Chính bởi vậy, người lao động cũng phải luôn luôn
tự thay đổi để hoàn thiện bản thân cả về trình độ chuyên môn, tay nghề lẫn hoàn thiện về đạo đức nghề nghiệp Thế giới đang bước vào thời kỳ 4.0, thời
kỳ mà trí tuệ nhân tạo dần dần thay thế sức lao động của con người Nếu con người không thay đổi nhạy bén cho phù hợp với thời đại mới sẽ bị tụt hậu và
Trang 34tự đào thải mình khỏi đội ngũ lao động Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong thời kì mới này đòi hỏi hoạt động giáo dục cho sinh viên nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói riêng phải
có nội dung, cách thức mới cho phù hợp với thực tiễn của xã hội, phải đưa thực tiễn vào trong quá trình đào tạo; lý thuyết, thực hành phải đi đôi với nhau, không được quá nặng nề về mặt lý thuyết mà hạ thấp mặt thực hành, bởi xã hội ngày nay cần những người ra trường là có thể bắt tay ngay vào làm việc chứ không cần những người chỉ có lý thuyết suông, khi đi làm lại phải đào tạo lại từ đầu Thực tiễn xã hội luôn luôn vận động và con người cũng phải vận động, thay đổi không ngừng cho phù hợp nếu không sẽ trở thành con người tụt hậu
Thứ hai, Lý luận phải gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành
Ngày nay, khi máy móc dần dần thay thế một phần sức lao động của con người thì người lao động lại càng phải khẳng định được tầm quan trọng của mình mà không máy móc nào có thể thay thế được Chính vì lẽ đó, ngay
từ khi ngồi trên ghế nhà trường, ngoài việc trên lớp với những bài giảng thì sinh viên còn cần được thực hành, va chạm với công việc Chính việc bắt tay vào công việc thực tế sẽ giúp sinh viên trải nghiệm về tay nghề và tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp cần có trong quá trình làm việc, có niềm tin vững chắc vào những phẩm chất đạo đức mà mình đang được giáo dục Vừa học vừa hành giúp sinh viên cập nhật tri thức và hình thành các kỹ năng cần thiết để sau khi ra trường có thể bắt tay ngay vào công việc mà không bị bỡ ngỡ hay phải đào tạo lại từ đầu Mặt khác, chính quá trình vừa học vừa thực hành thực tiễn này sẽ giúp sinh viên định hướng lại một lần nữa về nghề nghiệp mình đã chọn có thực sự phù hợp với mình hay mình phải thay đổi nghề nghiệp khác để phù hợp với khả năng, sự yêu thích của mình hơn Thực tiễn xã hội luôn vận động và phát triển như vũ bão, cho nên việc cho sinh viên
Trang 35va chạm với công việc ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường vừa giúp học sinh, sinh viên cập nhật được những kỹ năng, xu hướng ứng với từng hoàn cảnh, từng giai đoạn nhất định vừa giúp sinh viên nhuần nhuyễn tay nghề vì theo kinh nghiệm cha ông ngày xưa truyền lại rằng “trăm hay không bằng tay quen” Xã hội càng hiện đại thì sinh viên cũng phải là những người lao động của thời đại mới – học tập, thực hành, nắm bắt, trải nghiệm thực tiễn, hình thành những đạo đức nghề nghiệp đáng quý
Thứ ba, Giáo dục nhà trường phải kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội
Khi chúng ta còn nhỏ, chủ yếu nhận được sự giáo dục từ gia đình, đến khi đi học sẽ có thêm sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội Chính việc phối kết hợp chặt chẽ của ba môi trường này với nhau sẽ đảm bảo sự thống nhất về nội dung, cách thức, phương pháp chuẩn nhất giúp các em hiện thực hóa mục tiêu, ước mơ của mình, giúp hình thành nhân cách, định hướng nghề nghiệp cho các em sớm nhất, tránh tình trạng không thống nhất thậm chí trái ngược nhau trong cách giáo dục Mỗi môi trường đều có những ưu thế riêng, gia đình có ưu thế trong việc giáo dục định hướng nghề nghiệp, thói quen lao động và các quan hệ ứng xử Nhà trường có ưu thế trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên, đặc biệt là tri thức văn hóa, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, các phẩm chất đạo đức chuẩn mực, ý thức công dân Xã hội giúp các
em trải nghiệm những gì được học ở trong gia đình và nhà trường, giúp các
em va vấp và trưởng thành Trong quá trình phối kết hợp các môi trường giáo dục đòi hỏi phải có tiếng nói chung, có phương pháp, hình thức thống nhất, tạo mối liên hệ khăng khít, biện chứng với nhau bởi mỗi môi trường có vai trò khác nhau trong việc giáo dục nhân cách cho người học
Trang 36Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển trường đã nhiều lần đổi tên
cơ quan chủ quản: “Trường Trung cấp nghiệp vụ, trường Trung học Kinh tế II (trực thuộc Bộ công nghiệp nặng), trường Trung học kinh tế Điện Than (thuộc
Bộ Điện và Than), trường Trung học Kinh tế Mỏ và Than (trực thuộc Bộ Mỏ
và Than), trường Trung học Kinh tế Năng lượng (trực thuộc Bộ Năng lượng), trường Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ (trực thuộc Tổng công ty Than Việt Nam), trường Trung học Kinh tế (trực thuộc Bộ Công nghiệp) và nay là trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội (trực thuộc Bộ Công thương)” [45; 5]
Có thể nói, Nhà trường đã trải qua 8 giai đoạn xây dựng và phát triển theo cùng lịch sử xây dựng và phát triển của đất nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo và của ngành Công thương Việt Nam
Nhiệm vụ cơ bản của nhà trường gồm:
“Thứ nhất, Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và thấp hơn
trong các lĩnh vực kinh doanh và quản lý;
Trang 37Thứ hai, Đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
quản lý kinh tế, kỹ thuật chuyên ngành;
Thứ ba, Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập
đối với ngành nghề được phép đào tạo;
Thứ tư, Thực hiện công tác tuyển sinh, quản lý đào tạo và cấp bằng
theo quy định của luật giáo dục;
Thứ năm, Xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên theo quy
định của Nhà nước;
Thứ sáu, Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chuyên
ngành; thực hiện gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học lao động sản xuất;
Thứ bảy, Thực hiện các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật, chuyển
giao công nghệ, thực nghiệm sản xuất, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo;
Thứ tám, Tổ chức các hoạt động in ấn tài liệu, giáo trình phục vụ đào
tạo và nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật;
Thứ chín, Phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, liên kết, liên thông về đào
tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ chuyên ngành với các cơ quan, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước;
Thứ mười, Các nhiệm vụ khác được Bộ giao theo quy định của pháp
luật” [45; 5]
Mục tiêu của nhà trường:
“Thứ nhất, trở thành cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo nhiều ngành nghề, nhiều trình độ, đạt chuẩn trường chất lượng cao vào năm 2025;
Thứ hai, trường hoạt động theo mô hình cơ sở giáo dục nghề nghiệp
công lập, tự chủ” [54]
Trang 38Sứ mệnh:
“Cung cấp dịch vụ giáo dục nghề nghiệp các trình độ; cung cấp dịch vụ khoa học - công nghệ; cung cấp dịch vụ khác phù hợp khả năng của nhà trường và nhu cầu của xã hội” [54]
Để thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu, sứ mệnh trên, Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên Tính đến tháng 12/2015, tổng số Cán bộ, giáo viên, công nhân viên là 378 người, trong đó có 279 giảng viên cơ hữu với 76.8% giảng viên có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ (1 phó giáo sư, 5 tiến sỹ) Số còn lại có trình độ Đại học, trong
đó có trên 20% giảng viên có 2 bằng đại học trở lên, 100% giảng viên đạt trình độ ngoại ngữ và tin học B trở lên Với tất cả tấm lòng yêu nghề, đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên nhà trường đang ra sức lao động giảng dạy
để nâng cao chất lượng đào tạo; phấn đấu mở rộng quy mô tuyển sinh và đào tạo; tích lũy các điều kiện vật chất và đội ngũ chuẩn bị cho những bước phát triển mới, ở tầm cao mới trong những năm tới để phát triển nhà trường
Tính đến nay, nhà trường đã cơ bản đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ
đề ra Bên cạnh việc liên kết đào tạo với các cơ sở trong nước, nhà trường còn liên kết đào tạo với các cơ sở nước ngoài Sinh viên khi học tập tại trường vừa được học lý thuyết vừa được thực hành Học và hành luôn đi đôi song song với nhau nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên, giúp sinh viên sau khi ra trường có thể tự tin bắt tay ngay vào công việc Ngoài ra, các em sinh viên trong suốt quá trình học tập còn được nhà trường giúp đỡ, giới thiệu việc làm thêm để trang trải cuộc sống cũng như được rèn luyện tay nghề, khả năng giao tiếp, ứng xử Các em sinh viên cuối khóa, trong ngày bế giảng và trao bằng tốt nghiệp còn được dự ngày hội tuyển dụng của các công ty lớn Có rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã được tuyển dụng ngay với mức lương cao
Trang 39Năm 2017 là năm bản lề để nhà trường thay đổi phương pháp đào tạo, các em sinh viên có thể làm việc ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cụ thể ngay khi sinh viên bắt đầu nhập học các em sẽ được dành ra 6 tháng đầu tiên để học nghề và ngay lúc này sinh viên sẽ được trang bị các kỹ năng, kiến thức cần có để hành nghề được ngay sau khi học Việc học nghề này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đây là cơ sở để giúp các em bắt đầu học thêm bằng chính nghề nghiệp chuyên môn của mình trong suốt quãng thời gian theo học tại trường Lộ trình của sinh viên khi theo học tại trường gồm ba phần Đầu tiên là học các kỹ năng nghề để làm việc trong sáu tháng đầu tiên, 1-2 năm tiếp theo sinh viên sẽ đi học một buổi và một buổi còn lại sinh viên
sẽ được bố trí đi làm thêm tại các doanh nghiệp Sáu tháng cuối trước khi tốt nghiệp sinh viên sẽ được làm việc thực tế tại các doanh nghiệp Việc đi làm thêm sẽ được trường tổ chức giới thiệu đến các doanh nghiệp bởi thế mạnh của trường là thuộc Bộ Công Thương Việt Nam, dễ dàng kết nối sinh viên với các doanh nghiệp Ngoài ra vị trí của trường nằm ở ngay trung tâm quận Cầu Giấy và Huyện Thanh Trì là nơi có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam hội tụ Đây là điều kiện tuyệt vời để sinh viên có thể tỏa đi các nơi để làm thêm mà vẫn đảm bảo được quãng thời gian đi lại phù hợp, giúp các em sinh viên vừa có kinh nghiệm đi làm trong ba năm học, vừa giữ gìn được sức khỏe và vừa học tập được một cách hiệu quả chương trình của Bộ Giáo dục Đào tạo Với chương trình đào tạo theo phương pháp mới này, sau ba năm học sinh viên sẽ có ba năm kinh nghiệm làm việc thực tiễn, có bằng cấp cao đẳng chính quy và nếu có nhu cầu có thể liên thông tiếp lên Đại học, giúp các
em mở rộng cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp trong Bộ Công Thương cũng như tự tin tham gia làm mọi công việc trong các doanh nghiệp trong và nước ngoài
Trang 40Đến nay với gần 60 năm thành lập trường đã đào tạo được hơn 100.000 lượt cán bộ nghiệp vụ, cán bộ quản lý có trình độ và tay nghề cao Trường có hai cơ sở đào tạo, cơ sở chính đặt tại số 143 Nguyễn Ngọc Vũ – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội; cơ sở hai đặt tại số 106 Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội Ngoài ra, cơ sở vật chất của trường như phòng học, phòng máy tính, phòng thư viện, phòng ngoại ngữ, phòng thực hành may còn được đầu tư nâng cấp liên tục để xứng với một ngôi trường chiến lược của bộ công thương Trường đang đào tạo đa ngành nghề và đây là cơ hội tuyệt vời để các
em học sinh trung học phổ thông có thể lựa chọn ngành nghề phù hợp với mình nhất như: ngành quản trị kinh doanh, ngành quản trị văn phòng, ngành tin học ứng dụng, ngành công nghiệp may thời trang, ngành kỹ thuật điện tử, ngành kế toán, ngành tài chính, ngành dịch vụ pháp lý, ngành du lịch lữ hành
Những đóng góp trên của toàn trường đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận tặng nhiều giải thưởng cao quý như: Huân chương lao động hạnh Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; nhiều bằng khen, phần thưởng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ban ngành và địa phương cho toàn trường nói chung và cho các phòng, khoa nói riêng; 02 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 04 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú Nhà trường thường xuyên được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ
về thăm hỏi, động viên, giúp đỡ Chính những tình cảm, những phần thưởng cao quý này đã góp phần thúc đẩy tinh thần phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên nhà trường, nhằm xây dựng nhà trường vững mạnh, đào tạo thêm nhiều nguồn nhân lực có tay nghề cao, có đạo đức tốt góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, xây dựng đất nước giàu đẹp, vững mạnh