Ứng dụng công nghệ thông tin có sử dụng đồ dùng trực quan vào tiết học lịch sử ở bậc THCS A/ PHẦN MỞ ĐẦU: I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Hiện nay ở các cấp học đang đẩy mạnh việc đổi mới nội dung[r]
Trang 1PHÒNG GD - ĐT CÀNG LONG TRƯỜNG THCS TÂN AN
Sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng dụng công nghệ thông tin có
sử dụng đồ dùng trực quan vào tiết
học lịch sử ở bậc THCS
A/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hiện nay ở các cấp học đang đẩy mạnh việc đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bản thân là giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở bậc THCS tôi cho rằng để góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung và chất lượng bộ môn lịch sử nói riêng giáo viên dạy Lịch sử cần xác định khi nói đến Lịch sử là nói đến các sự kiện lịch sử, những sự kiện lịch sử đó diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định Do có nhiều sự kiện nên trong dạy học lịch sử giáo viên cần phải lựa chọn sự kiện cơ bản để khắc sâu cho học sinh Sự kiện cơ bản là các sự kiện đó
đủ vẽ lên một bức tranh quá khứ một cách chân thật làm cho học sinh phân biệt được lịch sử cụ thể qua các thời kỳ cũng như các quốc gia khác nhau, phản ánh được các quy luật phát triển của xã hội
Muốn làm được điều đó người giáo viên dạy Sử phải cung cấp cho học sinh những sự kiện cụ thể, sinh động, có hình ảnh đủ để khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó tồn tại thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy
Trang 2Trước đây, khi dạy học Lịch sử giáo viên còn lơ là, ít quan tâm đến việc
sử dụng đồ dùng trực quan chỉ đơn thuần nêu sự kiện lịch sử, học sinh chỉ nhận thức hoạt động bên ngoài một cách phiếm diện, rời rạc chỉ khái quát lý luận mà không có sự kiện làm cơ sở Trong khi đó đồ dùng trực quan giữ một vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử, nó là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, nó là phương tiện rất có hiệu quả để hình thành các khái niệm lịch
sử quan trọng giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Xuất phát từ những nhận định trên để khắc phục những nhược điểm trong
dạy học lịch sử tôi tiến hành vận dụng đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin
có sử dụng đồ dùng trực quan vào tiết học lịch sử ở bậc THCS” Nhằm từng
bước cho học sinh làm quen với các loại đồ dùng trực quan, tiến đến học sinh có thể đọc và hiểu nội dung của kênh hình, lược đồ, bản đồ,… Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng bộ môn Lịch sử
II/ MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Giúp học sinh hứng thú, thích học môn Lịch sử.
- Giúp học sinh nắm kiến thức nhanh, nhớ lâu, khắc sâu kiến thức
- Giúp giáo viên đánh giá kết quả, chất lượng học tập học sinh dễ dàng, chính xác, từ đó có sự điều chỉnh phù hợp, kịp thời nhằm nâng cao chất lượng lượng đào tạo
III/ PHẠM VI GIỚI HẠN:
- Dựa vào tính tích cực, khả năng quan sát và tư duy của học sinh
- Tham khảo ý kiến đóng góp của đồng nghiệp cùng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS Tân An
- Dựa vào chất lượng giảng dạy nhiều năm qua
IV/ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
-Tiến hành dạy và so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo ở hai khối lớp 9 và
6 mà bản thân phụ trách qua nhiều năm
- Tiến hành khảo sát học sinh qua các tiết học, bài kiểm tra
- Được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của quý đồng nghiệp trong Tổ bộ môn lịch sử, sự tạo điều kiện thuậ lợi của Ban giám hiệu nhà trường
Trang 3B/ NỘI DUNG:
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Đồ dùng trực quan giữ vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử, so với lời nói của giáo viên thì đồ dùng trực quan có phần ưu thế hơn, nó sẽ tạo hình ảnh lịch sử cụ thể sinh động, nội dung bài học thiết thực rõ ràng và chính xác
- Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử sẽ thu hút học sinh chú
ý bài, hạn chế học sinh làm việc riêng tạo không khí lớp học sôi nổi, sinh động
Đồ dùng trực quan giúp học sinh cụ thể hoá những cái trừu tượng, đơn giản hoá những cái phức tạp giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới dễ dàng hơn
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan còn giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy, tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết dạy đồng thời xoáy sâu vào các nội dung trọng tâm, tránh dạy tràn lan không làm rõ mục tiêu của bài dạy
Ngoài ra sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết dạy lịch sử còn kích thích
tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, từng bước thay đổi cách học trong học sinh, cách dạy trong giáo viên
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
- Đồ dùng trực quan hiện vật : Di tích lịch sử, di vật khảo cổ ,…
- Đồ dùng trực quan tạo hình : Các loại phục chế, mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử ,…
- Đồ dùng trực quan quy ước : Bản đồ lịch sử, sơ đồ, đồ thị, niên biểu,…
III/ THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN:
- Phải căn cứ vào nội dung yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp Vì vậy giáo viên cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú phù hợp với các bài học lịch sử
- Có phương pháp thích hợp với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan, phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của học sinh
- Phải phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan
Trang 4- Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan đồng thời rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan
IV/ CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Tiến hành dạy bài: NHẬT BẢN ( Tiết 11 – Tuần 11 – Lịch sử 9 )
* Trước đây chưa áp dụng chuyên đề khi dạy mục I: Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh
Giáo viên chỉ cho học sinh quan sát lược đồ Nhật Bản sau chiến tranh thế
giới thứ hai và yêu cầu học sinh dựa vào lược đồ kể tên các đảo lớn của Nhật Bản
Khi dạy mục II: Nhật Bản khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh Sau khi học sinh nêu thành tựu của Nhật Bản sau chiến tranh, giáo viên cho học sinh quan sát hình 18: Tàu chạy trên đệm từ của Nhật Bản đã đạt tốc độ 400 km/giờ; hình 19: Trồng trọt theo phương pháp sinh học: nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng đều do máy tính kiểm soát; hình 20: Cầu Sê-tô Ô-ha-si nối liền các đảo chính Hôn-xiu và Xi-cô-cư để thấy được sự tiến bộ, phát triển của Nhật Bản sau chiến tranh
* Lúc chuyên đề được áp dụng khi dạy bài 9: NHẬT BẢN ( Tiết 11 – Tuần 11 – Lịch sử 9 ), trước tiên giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ Nhật
Bản sau chiến tranh tranh thế giới thứ hai và trình bày sự hiểu biết của các em
về nước Nhật Bản
( Nhật Bản là quốc gia đảo gồm bốn đảo lớn: Hốc-cai-đô, Hôn-xiu, Xi-cô-cư, Kiu-xiu và hàng nghìn đảo lớn nhỏ khác được mệnh danh là “đất nước mặt trời mọc” với diện tích 374.000 km, với dân số trên 127 triệu người (2006) đứng thứ
9 về dân số thế giới, nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, nằm trong vành đai lửa Thái Bình Dương nên thường xuyên xảy ra động đất và núi lửa)
Khi dạy phần mục I: Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh
Giáo viên chiếu cho học sinh xem các ảnh: Nhật Bản bị Mĩ ném bom nguyên tử
trong chiến tranh thế giới thứ hai ở Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki cùng với ảnh
Trang 5Tặng vật của Mĩ Giáo viên đặt câu hỏi: Sau chiến tranh thế giới thứ hai tình
hình nước Nhật Bản như thế nào? (Học sinh dựa vào sách giáo khoa để trả lời) Sang mục II: Nhật Bản khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh Giáo viên đặt câu hỏi: Nhật Bản đã đạt được những thành tựu gì trong phát triển kinh tế? (Tổng sản phẩm quốc dân 1968 đạt 183 tỉ USD đứng thứ hai thế giới sau Thụy Sĩ, công nghiệp tăng trưởng nhanh, nông nghiệp cung cấp 80% nhu cầu lương thực, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính thế giới
Sau khi học sinh trả lời những thành tựu của Nhật Bản sau chiến tranh thế
giới thứ hai, giáo viên chiếu cho học sinh xem ba trung tâm kinh tế thế giới gồm
Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu
Kế tiếp, giáo viên cho học sinh quan sát hình 18, 19, 20 sách giáo khoa trang
38 ( hình 18: Tàu chạy trên đệm từ của Nhật Bản đã đạt tốc độ 400 km/giờ; hình
19: Trồng trọt theo phương pháp sinh học: nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng đều do máy tính kiểm soát; hình 20: Cầu Sê-tô Ô-ha-si nối liền các đảo chính Hôn-xiu
và Xi-cô-cư ) Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về sự phát triển của Nhật Bản
Tiếp theo, giáo viên cho học sinh xem ảnh về thành tựu khoa học- kĩ thuật
của Nhật Bản sau chiến tranh: máy tính, tủ lạnh, máy chiếu, xe hơi ,máy giặt,
Khi dạy phần nguyên nhân kinh tế Nhật Bản phát triển sau chiến tranh thế
giới thứ hai, giáo viên chiếu cho học sinh xem ảnh nói về sự hiếu học, sự lao
động cần cù của người Nhật Bản, sau đó giáo viên tiếp tục cho học sinh quan sát
ảnh nói về vai trò của nhà nước trong việc đề ra chiến lược đúng đắn ( ảnh Bộ
trưởng ngoại giao Nhật Bản thăm Việt Nam vào 6/ 2005 và ảnh Hội đàm Việt Nam - Nhật vào 7/ 2005 ).
Ngoài ra giáo viên cung cấp thêm thông tin cho học sinh về đất nước, con
người Nhật Bản (ảnh những võ sĩ Sumbo, ảnh lễ hội hoa đào, ảnh món ăn
Su-shi)
2/ Tiến hành dạy bài 24: NƯỚC CHAM-PA TỪ THẾ KỈ II ĐẾN THẾ KỈ
X (Tuần 28-Tiết 27-Lịch sử 6 )
Trang 6* Trước đây chưa áp dụng chuyên đề khi dạy mục1: Nước Cham-pa độc lập
ra đời
Giáo viên cho học sinh quan sát hình 51- Lược đồ: Giao Châu và Cham-pa giữa thế kỉ VI - X ( sách giáo khoa trang 67 ) và cho học sinh xác định nước
Cham-pa trên lược đồ
Khi dạy mục 2: Tình hình kinh tế, văn hóa Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X Sau khi học sinh nêu những thành tựu về nghệ thuật của người Cham-pa,
giáo viên cho học sinh quan sát hình 52 - Khu thánh địa Mĩ Sơn (Quảng Nam)
và Hình 53 - Tháp Chăm (Phang Rang) (sách giáo khoa trang 68, 69 ) để thấy
được nét độc đáo, đặc sắc về kiến trúc của người Cham-pa
* Lúc chuyên đề được áp dụng khi dạy bài 24:NƯỚC CHAM-PA TỪ THẾ
KỈ II ĐẾN THẾ KỈ X (Tuần 28-Tiết 27-Lịch sử 6 ) Giáo viên chiếu cho học
sinh xem ảnh lễ hội Ka-tê và ảnh các vị chức sắc trong lễ hội, sau đó giáo viên
đặt câu hỏi: Dựa vào lễ hội và trang phục cho biết đây là lễ hội của dân tộc nào?
Khi dạy mục 1: Nước Cham-pa độc lập ra đời, giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ Giao Châu và Cham-pa giữa thế kỉ VI - X và yêu cầu học sinh xác
định vị trí, giới hạn lãnh thổ nước Cham-pa trên lược đồ
Sau đó giáo viên cung cấp thông tin cho học sinh: Cham-pa cổ nằm trong quận Nhật Nam từ hoành sơn đến Đại Lãnh của Giao Châu là nơi sinh sống của
bộ lạc Dừa thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh khá phát triển, giáo viên chiếu cho học
sinh xem ba cái nôi văn hóa trên lược đồ (văn hóa Đông Sơn ,văn hóa Sa Huỳnh,văn hóa Óc eo).
Khi dạy mục 2: Tình hình kinh tế, văn hóa Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ
X Giáo viên lần lượt cho học sinh quan sát các bức ảnh về hoạt động của người
Cham-pa: trồng lúa, cho học sinh quan sát các bức ảnh: ảnh sử dụng trâu cày
ruộng, ảnh cấy lúa, ảnh làm ruộng bậc thang, ảnh xe guồng nước; trồng cây
công nghiệp cây ăn quả: cho học sinh quan sát các ảnh: ảnh cây cau, cây dừa,
cây mít; đánh bắt: cho học sinh xem ảnh cư dân Cham-pa đánh bắt cá; nghề
gốm: ảnh những sản phẩm gốm.
Trang 7Qua các bức ảnh giáo viên yêu cầu học sinh so sánh nền kinh tế Cham-pa
và nền kinh tế Đại Việt ( Nền kinh tế Cham-pa ngang với Đại Việt )
Khi dạy về nét văn hóa của người Chăm, đặt biệt là chữ viết: giáo viên cho
học sinh quan sát bức ảnh chữ viết của người Cham-pa và đặt câu hỏi: Chữ viết
của người Cham-pa có nguồn gốc từ đâu?
Lĩnh vực tôn giáo: cho học sinh quan sát bức ảnh Đạo Bà-la-môn và Đạo
Phật và đặt câu hỏi: Người Cham-pa theo những tôn giáo nào?
Khi dạy phần nghệ thuật: cho học sinh quan sát các bức ảnh: ảnh Tháp
Chăm Pô-sha-nư, Tháp Phú Lốc (Bình Định), Tháp Dương Long (Bình Định), Thánh địa Mĩ Sơn (Quảng Nam).
V/ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG:
- Thời điểm chuyên đề chưa được áp dụng thì chất lượng bộ môn lịch sử
ở các lớp đảm nhiệm rất thấp dưới 87%, tỉ lệ học sinh khá giỏi ít, tỉ lệ học sinh trung bình nhiều, có cả học sinh yếu kém Bởi do học sinh chưa phát huy tính tích cực, chủ động, chưa phát huy hết khả năng tư duy, sáng tạo của các em, trong giờ dạy giáo viên còn làm việc nhiều
- Khi chuyên đề được áp dụng thì chất lượng bộ môn được nâng cao rõ rệt ( hàng năm chất lượng bộ môn đạt trên 97% ), tỉ lệ học sinh khá giỏi nhiều, tỉ lệ học sinh trung bình ít, không có học sinh yếu kém Trong giờ học
thì học sinh hứng thú, làm việc tích cực, lớp học sinh động
*****
C/ KẾT LUẬN:
Trang 8I/ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIẢNG DẠY, HỌC
TẬP.
Có thể nói đổi mới phương pháp dạy học trong đó đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử: ứng dụng công nghệ thông tin có sử dụng đồ dùng trực quan vào tiết học lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Việc vận dụng các phương pháp, phương tiện, đồ dùng dạy học vào trong bài học là cần thiết để giúp học sinh có cái nhìn trực quan về lịch sử, hiểu
rõ, hiểu đúng, hiểu sâu về lịch sử
- Đối với giáo viên có được phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng
bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng bộ môn giảng dạy
- Đối với các em học sinh đã tạo cho các em hứng thú trong học tập, thích tìm hiểu, khám phá, đặc biệt giúp các em có thái độ học tập đúng đắn
II/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM, HƯỚNG PHÁT TRIỂN:
- Đồ dùng trực quan cỡ lớn như: tranh ảnh, bản đồ treo tường, mô hình,
sa bàn, nên dùng chung cho cả lớp
- Đồ dùng trực quan cỡ nhỏ như: album, tranh ảnh lịch sử, ảnh trên báo, tài liệu,…nên đặt ở bàn học sinh
- Các loại đồ dùng trực quan được dùng phổ biến trong dạy học lịch sử như: bản đồ, tranh ảnh, mô hình, sơ đồ, niên biểu,…trước khi sử dụng chúng giáo viên nên chuẩn bị kĩ về nội dung và ý nghĩa
- Trong tiết dạy cần xác định thời điểm để treo bản đồ, sơ đồ, đồ thị,… phải treo chỗ cao, nơi có đủ ánh sáng, giáo viên đứng bên phải bản đồ dùng viết chỉ cho thật chính xác Khi xác định vị trí phải nói rõ phía Tây hay phía Bắc, phía Đông hay phía Nam, chỉ một con sông phải chỉ từ thượng lưu đến hạ lưu…
- Về các loại tranh ảnh, chân dung các nhân vật lịch sử giáo viên phải chú ý phân tích nội tâm, tài đức, quan điểm thể hiện ở hành động nhân vật Trên đây chỉ là ý kiến chủ quan của tôi, xin đưa ra để góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp giáo dục môn lịch sử ở bậc THCS Trong quá
Trang 9trình trình bày đề tài khơng tránh khỏi sai sĩt rất mong được sự đĩng gĩp chân thành từ phía đồng nghiệp để đề tài hồn chỉnh hơn, từ đĩ thực thi cĩ hiệu quả hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tân An, ngày 12 tháng 11 năm 2012
Người viết
Lê Cơng Thọ