1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG

112 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm khỏa sát thực trạng và đánh giá hoạt động hiệu quả của hỗ trợ phục hồi chức năng về y tế và phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho các bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

NGUYỄN XUÂN HÀ

HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN

TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

NGUYỄN XUÂN HÀ

HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN

TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG

Ngành: Công tác xã hội

Mã số: 876 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học:

TS HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI - 2021

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thị Thư

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn

này hoàn toàn trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ

Nguyễn Xuân Hà

Trang 6

và kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học Viện Khoa học xã hội, Phòng Quản lý Đào tạo và các thầy cô giáo trong Khoa Công tác xã hội – Học viện Khoa học xã hội đã chỉ dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho em suốt quá trình gian học tập và thực hiện luận văn tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, các cán bộ, nhân viên của các khoa, phòng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, tháng 5 năm 2021

HỌC VIÊN

Nguyễn Xuân Hà

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN 20

1.1.Bệnh nhân và đặc điểm của bệnh nhân 20

1.2.Hoạt động phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu 31

1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu 41

Chương 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG 44

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 44

2.2 Thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân 47

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng đối với bệnh nhân 69

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG 77

3.1 Định hướng của Bệnh viện trong việc phục hồi chức năng 77

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân 77

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

Danh mục ảnh

Hình 1: Hình ảnh bệnh nhân xem tivi tại sảnh khoa Đột quỵ - Phục hồi chức năng 60

Hình 2: Chương trình “ Tủ sách Ước mơ” 61

Hình 3: Hoạt động vui chơi, giải trí của các bé khoa Nhi 62

Hình 4: Chương trình văn nghệ đêm Trung thu tại Bệnh viện 62

Danh mục bảng Bảng 2 1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu 45

Bảng 2 2: Đánh giá của khách thể về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng 47

Bảng 2 3: Mức độ nắm bắt thông tin của khách thể 49

Bảng 2 4: Đánh giá của khách thể về việc đảm bảo hoạt động chăm sóc y tế 51

Bảng 2 5: Đánh giá hoạt động chăm sóc y tế của bệnh viện 52

Bảng 2 6: Thực trạng các thiết bị hỗ trợ mà bệnh nhân nhận được 54

Bảng 2 7: Đánh giá về chất lượng các thiết bị hỗ trợ 55

Bảng 2 8: Đánh giá của khách thể về việc dễ dàng tiếp cận các thiết bị hỗ trợ 57 Bảng 2 9: Mức độ tham gia một số hoạt động vui chơi giải trí của bệnh nhân 59 Bảng 2 10: Đánh giá của khách thể về hoạt động vui chơi giải trí 63

Bảng 2 11:Đánh giá sự phù hợp của hoạt động vui chơi giải trí với bệnh nhân64 Bảng 2 12: Kết quả hoạt động vận động nguồn lực năm 2020 65

Bảng 2 13:Các hỗ trợ mà bệnh nhân được nhận 66

Bảng 2 14: Cảm xúc của bệnh nhân khi được nhận hỗ trợ 68

Bảng 2 15: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 69

Bảng 2 16: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 71

Bảng 2 17: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng 73

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, của gia đình và toàn xã hội Chính vì thế, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nội dung quan trọng nhất trong kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia Muốn đạt được mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn diện, mỗi quốc gia cần chú trọng đến

cả 4 lĩnh vực mà Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra, bao gồm nâng cao sức khỏe, phòng bệnh, điều trị bệnh và phục hồi chức năng Ở Việt Nam, trước đây do nhận thức còn hạn chế và điều kiện kinh tế khó khăn, người dân mới chỉ quan tâm đến điều trị bệnh Ngày nay, khi đời sống người dân được nâng cao, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe được quan tâm nhiều và toàn diện hơn, đặc biệt lĩnh vực phục hồi chức năng được chú trọng

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề phục hồi chức năng cho người khuyết tật cũng như các bệnh nhân cần phục hồi chức năng Từ năm 1999, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 963/1999/QĐ-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng thuộc các Sở Y tế trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương [7][1].[5] Ngày 31/12/2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư số

46/2013/TT-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ sở phục hồi chức năng [5] Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa XII

về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đưa

ra nhiệm vụ “Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng hoàn chỉnh ở từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…”, “Xây dựng và thực hiện chương trình phát triển y học cổ truyền, tăng cường kết hợp với y học hiện đại trong phòng bệnh, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng…”, “Bảo đảm thuốc đủ về số lượng, tốt về chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng, chữa bệnh, phục hồi chức năng,…” [1] Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về công tác phục hồi chức năng cho bệnh nhân và người khuyết tật, các

cơ sở phục hồi chức năng ngày càng gia tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các bệnh nhân Bệnh viện Châm cứu Trung ương là một trong những cơ sở có uy tín về phục hồi chức

năng cho người khuyết tật cũng như những người cần phục hồi chức năng

Trang 10

Bệnh viện Châm cứu Trung ương (tiền thân là Viện Châm cứu Trung ương) là bệnh viện chuyên khoa Hạng 1 chuyên về châm cứu, trực thuộc Bộ

Y tế Bệnh viện được thành lập ngày 24/4/1982 theo Quyết định số 369/QĐ– BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế Chức năng và nhiệm vụ chính của bệnh viện là khám, cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng cho bệnh nhân ở tuyến cao nhất bằng phương pháp không dùng thuốc, như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh,… dựa trên các nghiên cứu lý thuyết và kỹ thuật y học cổ truyền dân tộc[1].[8] Bệnh nhân tới bệnh viện điều trị các thể bệnh khó chữa như liệt nửa người, liệt tứ chi, tai biến mạch máu não hoặc chấn thương cột sống gây

ra ở người lớn; các bệnh tự kỷ, bại não, chậm nói, liệt do di chứng viêm não ở trẻ em… Đây là những bệnh lý cần được điều trị, phục hồi chức năng nếu không được điều trị sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân sau này

Hiện nay, có một số nghiên cứu về hoạt động phục hồi chức năng Tuy nhiên, các nghiên cứu thường tập trung vào việc phục hồi chức năng đối với bệnh nhân về mặt y học, hướng tới đối tượng là bệnh nhân hoặc người khuyết tật ngoài cộng đồng Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, nghiên cứu về hỗ trợ phục hồi chức năng cho các bệnh nhân còn là hướng nghiên cứu mới

Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hỗ trợ phục hồi chức năng đối

với bệnh nhân tại bệnh viện Châm cứu Trung ương” Nghiên cứu nhằm

khỏa sát thực trạng và đánh giá hoạt động hiệu quả của hỗ trợ phục hồi chức năng về y tế và phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho các bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện, từ đó tìm ra giải pháp tăng cường và phát huy hiệu quả hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với các bệnh nhân tại Bệnh viện nói chung và Bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Châm cứu Trung ương nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ngành Công tác xã hội trên thế giới đã được biết đến từ rất lâu và đã trải qua nhiểu thời kỳ Thời kỳ thứ nhất là phát triển từ trợ giúp từ thiện đến

từ thiện khoa học Giai đoạn tiền khoa học của CTXH bắt đầu từ xã hội cổ xưa ở những văn bản đề cập đến về sự quan tâm của nhà nước với công dân cần được trợ giúp từ năm 911 trong Hiệp ước giữa Nga ký kết với người Hy Lạp Cho đến những năm 30 của thế kỷ XVI, ở Anh những đạo luật quy định

về hoạt động cứu tế những người nghèo, bệnh tật ra đời là dấu hiệu sự cần

Trang 11

thiết về mặt chính sách, luật pháp liên quan đến trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội Cho đến những năm giữa và cuối của thế kỷ XVI, đã có nhiều các tổ chức từ thiện được thành lập trợ giúp những nhóm người yếu thế như người nghèo, trẻ em mồ côi, người khuyết tật tại nhiều nước như Anh, Mỹ Tuy nhiên cuối thời kỳ này đã xuất hiện những mô hình từ thiện khoa học Các hoạt động giúp đỡ không chỉ đơn thuần là ban phát mà đã có những hoạt động thăm hỏi, đánh giá nhu cầu cần giúp đỡ Thời kỳ thứ hai là thời kỳ hình thành, trở một khoa học độc lập, và đi vào hoạt động chuyên nghiệp từ cuối thế kỷ XIX đến nay Do nhu cầu lúc này của xã hội cần phải có một nghề giúp đỡ, hỗ trợ những đối tượng yếu thế đảm bảo tính khoa học và chuyên nghiệp, CTXH đã xây dựng cho mình những kho tàng kiến thức và lý luận, phát triển các hoạt động đào tạo, phát triển thử nghiệm các mô hình thực hành, thành lập các hiệp hội nghề nghiệp

Ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển Công tác xã hội cũng không nằm ngoài quy luật hình thành và phát triển Công tác xã hội trên thế giới Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định phê duyệt Đề

án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 (Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg), đánh dấu một mốc mới quan trọng của ngành CTXH tại Việt Nam [22] Ngày 25/8/2010, Bộ Nội vụ cũng đã ban hành mã nghề đối với nghề Công tác xã hội (Thông tư số 08/2010/TT-BNV) [3]

Cho đến nay, các lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực Hoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong phục hồi chức năng cũng là một lĩnh vực được ngành công tác xã hội trong bệnh viện thực hiện

Xuất phát từ thực tế ở Việt Nam, hoạt động phục hồi chức năng chủ yếu được xem xét dưới góc độ y học Từ thực tiễn, để phục hồi tốt cho bệnh nhân thì một thành tố quan trọng trong việc hỗ trợ đó là đội ngũ những người làm công tác xã hội, một lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình tiếp đón, điều trị, tư vấn và cùng giải quyết cả thể chất, vấn đề tinh thần với bệnh nhân,

từ đó giúp họ nâng cao hiệu quả của phục hồi chức năng

Để có một cái nhìn tổng quát hơn, luận văn tiến hành tổng quan các nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới theo hai hướng Đó là:

1 Hướng nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện;

2 Hướng nghiên cứu hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân

Trang 12

2.1 Hướng nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Công tác xã hội trong bệnh viện có một lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới, từ cuối thế kỷ 19, từ những năm 1880 ở Anh (dẫn theo Gehlert, 2012) khi có một nhóm tình nguyện viên làm việc tại một nhà thương điên của Anh

đã có những cuộc thăm viếng thân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ bệnh nhân sau khi xuất viện trở lại trạng thái cân bằng trong điều kiện nhà ở hiện tại của họ[36] Sau đó, công tác xã hội trong bệnh viện được hình thành ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1900 khi những người y tá đã đến thăm bệnh nhân sau khi xuất viện và họ đã cho thấy được tầm quan trọng của việc hiểu rõ các vấn đề

xã hội của bệnh nhân [36] Từ những ngày đầu tiên của lịch sử ra đời ngành công tác xã hội trong bệnh viện đến nay đã trải qua hơn một thế kỷ, công tác

xã hội trong bệnh viện đã càng ngày càng chứng tỏ là một nghề không thể thiếu được trong bệnh viện ở các nước phát triển, ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, Chính vì vậy, các nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực này rất được quan tâm

Công tác xã hội lần đầu tiên được nghiên cứu triển khai trong các bệnh viện vào năm 1905 tại Boston, Mỹ [41] Đến nay, hầu hết các bệnh viện ở Mỹ đều có phòng công tác xã hội và đã trở thành một trong những điều kiện bắt buộc để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Nghiên cứu tại Mỹ mở ra nhiều hướng mới cho mô hình công tác xã hội trong bệnh viện Tác giả Kadushin, Berger, Gilbert (2009) đã đề cập đến vai trò giám sát của công tác xã hội trong bệnh viện và tác giả cho rằng mô hình công tác xã hội trong bệnh viện cần có thêm hoạt động giám sát để mang lại hiệu suất cao hơn trong các cơ sở y tế [39] Cũng tại Mỹ, tác giả Jennifer Zimmerman, Holly

I Dabelko (2007) lại đưa ra mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân Tác giả chỉ

ra rằng những mô hình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ bậc

mà ở đó các bác sỹ được coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay vào đó là việc kết hợp chăm sóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo sự thân thiện hơn, cởi mở hơn và xóa bỏ ranh giới phân cấp giữa bác sỹ với bệnh nhân với mục đích tạo tâm lý thoải mái cho bệnh nhân [44]

Nghiên cứu của Boyce và Stockton (1983) mô tả cách nhân viên công tác xã hội chăm sóc sức khỏe bệnh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưới

Trang 13

sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội, hiệu quả khám chữa bệnh của bệnh nhân được tăng lên, bệnh nhân dễ dàng, nhanh chóng tiếp cận được với các dịch vụ y tế hơn thông qua việc nhân viên công tác xã hội sử dụng hệ thống thông tin bệnh nhân, từ đó giúp giảm tải được chi phí điều trị [31]

Một nghiên cứu khác của Cowles và Lefcowitz thực hiện vào năm 1992

về kỳ vọng của chính bác sỹ đối với những hoạt động liên quan đến chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện Gần

500 bác sỹ, y tá và nhân viên xã hội của bốn bệnh viện đa khoa đã tham gia vào một cuộc khảo sát bằng bảng hỏi qua thư Kết quả nghiên cứu cho thấy, các bác sỹ và y tá có mức độ hài lòng với các hoạt động trợ giúp bệnh nhân của nhân viên Công tác xã hội cao hơn sự hài lòng của chính nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, gia đình bệnh nhân, các vấn đề thuộc về xã hội – môi trường, năng lực của nhân viên công tác xã hội, sự công nhận về vai trò của nhân viên công tác xã hội của người nhà bệnh nhân là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện công việc hỗ trợ bệnh nhân của nhân viên công tác xã hội Trong nghiên cứu này, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện được mô tả với việc họ thực hiện hai hoạt động là tăng cường hỗ trợ, trợ giúp của môi trường xã hội và các nguồn lực cho bệnh nhân (vận động nguồn lực), và hoạt động giúp bệnh nhân thụ hưởng sự hỗ trợ đó Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ các bác sỹ, y tá không hiểu hoặc không chấp nhận vai trò quan trọng của nhân viên công tác

xã hội đối với bệnh nhân trong việc điều trị bệnh [32] Tiếp tục hướng nghiên cứu này, năm 1995, hai tác giả cho biết, dịch vụ tư vấn là công việc được nhân viên công tác xã hội ưu tiên thực hiện hơn khi khách hàng là người nhà của bệnh nhân, thay vì bệnh nhân, và khi mục tiêu là giúp thay đổi các vấn đề

xã hội - môi trường hơn là để hỗ trợ hoặc chăm sóc bệnh nhân Ngoài ra, các bác sỹ và y tá, có khả năng nhận thức các vấn đề về môi trường của bệnh nhân, hơn là những vấn đề về cảm xúc hoặc hành vi - như một lĩnh vực đặc biệt của công tác xã hội Trái ngược với kết quả nghiên cứu trước đó, các bác

sỹ và y tá không muốn loại trừ công việc các nhân viên xã hội trong bệnh viện

là tư vấn cho bệnh nhân và giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội mà họ chỉ không coi những hoạt động này là đặc trưng của công tác xã hội [33]

Trang 14

Trong nghiên cứu của Egan và Kadushin (1995) thì lĩnh vực của công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe chưa rõ ràng, cũng như không độc quyền Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xem xét vai trò của nhân viên xã hội trong bệnh viện, đặc biệt là ở các bệnh viện nông thôn, đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi các chính sách kinh tế và chính sách pháp luật Bài báo này thảo luận về kết quả của một nghiên cứu về nhận thức của y tá bệnh viện nông thôn và nhân viên xã hội về lĩnh vực của nhân viên xã hội y tế Các phân tích

về nghề được xác định là có đủ điều kiện tốt nhất để thực hiện 15 nhiệm vụ dịch vụ xã hội của bệnh viện rõ ràng và hợp tác Nghiên cứu chỉ ra rằng, để hoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong bệnh viện đạt hiệu quả cao cần phải nâng cao vai trò và kỹ năng của nhân viên xã hội y tế thông qua việc sử dụng các giải pháp can thiệp đa hệ thống và hợp tác đa ngành [34] Một nghiên cứu khác của hai tác giả này về hoạt động công tác xã hội ở các bệnh viện nông thôn được thực hiện trong hai năm sau đó Bởi đa số các bệnh viện nông thôn đều gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính nên hoạt động công tác xã hội cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các bệnh viện thành thị Nghiên cứu này chỉ ra nhân viên công tác xã hội đóng vai trò to lớn, là đội ngũ không thể thiếu để hợp tác hiệu quả và cung cấp dịch vụ xã hội tốt nhất, nhất là đối với các bệnh viện nông thôn và đối với những bệnh nhân mắc bệnh mạn tính [35]

Tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền và Trần Thị Trân Châu đã cho biết công tác xã hội trong bệnh viện lần đầu xuất hiện tại ở Anh vào cuối thế kỷ 19, năm

1895 và sau đó xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1905 Lúc đầu, nhân viên xã hội trong bệnh viện chỉ có vai trò là “nhân viên phát chẩn”, sau đó là phòng dịch vụ xã hội với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho bệnh nhân (vào năm 1905 – 1913) Sau này, nhân viên xã hội trong bệnh viện đã được chuyên nghiệp hóa và được gọi là nhân viên xã hội y tế Nhân viên xã hội y tế có 6 hoạt động chủ yếu: Quản lý trường hợp về mảng y tế - xã hội, ghi chép dữ liệu giảng dạy về sức khoẻ, theo dõi bệnh nhân, điều chỉnh mức phí và mở rộng dịch vụ y tế bằng cách chuyển bệnh nhân đến các nhà dưỡng bệnh, cơ quan phúc lợi xã hội hay các cơ sở y tế khác Tác giả cho rằng xem lại lịch sử phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện cho thấy có sự tương đồng với quá trình hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong

Trang 15

bệnh viện ở Việt Nam về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong bệnh viện [28], [10]

2.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” ban hành kèm theo Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế Đề án với mục tiêu phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [6]

Công tác xã hội trong ngành y tế cũng đã được hình thành ngay sau đó khi mà Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” Và gần đây nhất là Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày 15/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết định lấy ngày 25 tháng 03 hàng năm là “Ngày Công tác xã hội Việt Nam”, như vậy chúng ta có thể thấy, công tác xã hội trong bệnh viện ngày càng phát triển thực sự có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, góp phần giải quyết những nhu cầu bức thiết trong chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như làm gia tăng sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ y tế

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh về Mô hình công tác xã hội trong bệnh viện từ thực tiễn tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Nội tiết Trung ương làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc điều trị bệnh Theo đó, nhân viên CTXH trong bệnh viện có thể tham gia nhiều khâu trong khám chữa bệnh, từ khâu đón tiếp bệnh nhân đến khâu chuẩn bị cho bệnh nhân xuất viện [18]

Nghiên cứu về thực trạng các hoạt động công tác xã hội đang diễn ra ở các bệnh viện, tác giả Lê Minh Hiển và Nguyễn Thị Thùy Dương với bài viết:

"Kết quả các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Chợ Rẫy" đã cho thấy

Tổ Y xã hội được thành lập ở Bệnh viện Chợ Rẫy cách đây trên 15 năm (năm 2004) và có nhiều đóng góp cho việc hỗ trợ bệnh nhân nghèo và hoạt động của Tổ Y xã hội chủ yếu mang tính chất từ thiện Đơn vị Y xã hội chỉ mới

Trang 16

được kiện toàn lại tổ chức và thành lập phòng Công tác xã hội từ 8/2015 [13] Tương tự như Bệnh viện Chợ Rẫy, tác giả Đoàn Thị Thùy Loan với bài viết:

"Thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa" và tác giả Huỳnh Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Kim Long với bài viết: "Thực trạng và giải pháp phát triển nghề công tác xã hội Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bến Tre" đã cho thấy thực trạng hoạt động CTXH trong các bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bến Tre [14], [27]

Nghiên cứu về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về công tác

xã hội trong bệnh viện và ứng dụng kết quả đó thì phải kể đến nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thị Kim Ngọc và Phạm Ngọc Thanh với bài viết: "Dự án cuộc sống sau khi xuất viện - Một nghiên cứu về công tác xã hội bệnh viện" Đây là nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của trường Đại học Oxford ở Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích hỗ trợ bệnh nhân/thân nhân nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương và nhân viên y tế qua việc điều phối, tư vấn và sự kết nối với các dịch vụ y tế, các nhà nghiên cứu

để cải thiện các nghiên cứu y sinh và kết quả chăm sóc sức khỏe Kết quả dự

án “Cuộc sống sau khi xuất viện” cung cấp cho các nhà nghiên cứu, nhân viên công tác xã hội cái nhìn thực tế về những khó khăn của bệnh nhân sau khi xuất viện và trở về nhà Khó khăn đó có thể đến với bệnh nhân, người thân, từ chăm sóc bệnh nhân lúc nhập viện, điều trị bệnh, sau khi xuất viện hay việc tiếp cận các thông tin, dịch vụ cần thiết của bệnh nhân Từ những khó khăn

mà bệnh nhân phải đối diện trên thực tế, nhân viên công tác xã hội bệnh viện biết được rõ mình sẽ lên kế hoạch hỗ trợ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, để việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân được cải thiện tốt hơn và mang tính toàn diện Dự án này cũng cung cấp thông tin hoạt động cho đơn vị đào tạo có định hướng đào tạo công tác xã hội bệnh viện có thể bồi dưỡng, hướng dẫn, đào tạo chuyên sâu cho các cử nhân công tác xã hội định hình công việc trong tương lai [17]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các bệnh viện ở tỉnh Bến Tre của các tác giả Huỳnh Văn Chẩn và Nguyễn Thị Hồng với mục đích tìm hiểu nhu cầu phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện Kết quả nghiên cứu

Trang 17

cho thấy các bệnh viện đều có nhu cầu rất cao trong việc tuyển dụng nhân viên xã hội vào làm việc [9]

Các nghiên cứu của Cao Liên Hương, Nguyễn Thị Thanh Tùng, Phạm Thị Tâm, Tạ Thị Thanh Thủy, Phan Thành Phúc Phạm Thị Oanh, Đỗ Thị Thu Phương dành cho các nhóm bệnh nhân khác nhau trong bệnh viện (bệnh nhân nghiện chất, bệnh nhân là người cao tuổi bị Alzheimer, bệnh nhân nhiễm HIV) nhằm chỉ ra những đặc điểm tâm lý xã hội của các nhóm bệnh nhân và những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà nhân viên xã hội cần phải có khi làm việc với những nhóm bệnh nhân khác nhau [dẫn theo tài liệu tham khảo số [26]

Tập bài giảng “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần” của Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thuộc chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề cho cán bộ tuyến cơ sở theo Đề án 32 Tập tài liệu nêu khá rõ những nội dung chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng và vai trò của công tác xã hội Những kết quả của tập bài giảng này nhằm hỗ trợ viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội tuyến cơ sở (thôn, ấp, bản) hiểu sâu và hình dung cụ thể hướng thực hành những hoạt động trợ giúp bệnh nhân tâm thần trong trung tâm và cộng đồng; Trang bị và nâng cao nhận thức, kỹ năng, thái độ cho họ về công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng [11]

Đối với công trình nghiên cứu của Lương Thị Đào với đề tài: Công tác

xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn tại bệnh viện Nhi Trung ương, kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù là một mô hình thí điểm đầu tiên về công tác xã hội trong bệnh viện của Bộ Y tế tuy vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả tốt nhất và còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhưng Phòng Công tác xã hội của Bệnh viện Nhi Trung ương đã làm tốt vai trò của mình trong hỗ trợ bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn [12]

Đỗ Hạnh Nga (2016), trong báo cáo đề dẫn “Hệ thống khung pháp lý -

cơ sở cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề

lý luận và thực tiễn thực hành đã trình bày hệ thống khung pháp lý với các văn bản được cấp quản lý ban hành để tạo tiền đề cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong y tế Trong đó, ba văn bản quan trọng nhất là Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2020 ( gọi là Đề án 32 ),

Đề án Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020

Trang 18

và Thông tư số 43 của Bộ Y tế Đề án 32 là định hướng xây dựng nguồn nhân lực công tác xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở của Đề án 32, Đề án Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020 đã ra đời với những mục tiêu và hoạt động phát triển nghề công tác xã hội trong y tế Cùng với đó là Thông tư số 03 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện Trên cơ sở của các văn bản pháp lý này, nghề công tác xã hội đã và đang được triển khai nhanh chóng [1].[16]

Vũ Thị Thu Phương, (2016) với đề tài “Công tác xã hội trong bệnh viện

từ thực tiễn Trung tâm Hemophilia, Viện Huyết học Truyền máu Trung ương”

đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng về công tác xã hội trong bệnh viện, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả để thực hiện hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện nói chung và tại Trung tâm Hemophilia Đề tài đã tổng hợp những chính sách trợ giúp của Nhà nước, Bộ Y tế và các ban ngành liên quan trong công tác xã hội đối với các bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Hemophilia Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cộng đồng có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, tích cực trong công tác tuyên truyền, tổ chức giúp đỡ bệnh nhân đang điều trị về vật chất, tinh thần và tâm lý [19]

Dương Thị Thùy (2019), nghiên cứu “Hoạt động công tác xã hội trong

hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”

Đề tài đã đánh giá được hiệu quả của hoạt động công tác xã hội đối với người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức hiện nay cũng như vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy Đề tài luận văn cũng đề xuất hoạt động công tác

xã hội chuyên nghiệp hơn với vai trò nhân viên công tác xã hội nhằm giúp người chấn thương cột sống liệt tủy vượt qua những khó khăn, mặc cảm Phát huy được các nguồn lực từ đó giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng [1].[23]

Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy được vai trò của hoạt động công tác xã hội trong giải quyết các vấn nảy sinh, trợ giúp các đối tượng yếu thế, tăng cường và phục hồi các chức năng xã hội Đối với đối tượng là bệnh nhân của Bệnh viện Châm cứu Trung ương, đề tài luận văn sẽ phân tích, đánh giá, làm nổi bật thực trạng những hoạt động công tác xã hội hỗ trợ phục hồi chức

Trang 19

năng đối với các bệnh nhân, từ đó các giải pháp tăng cường hoạt động công tác

xã hội theo hướng chuyên nghiệp hơn và gia tăng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện nhằm giúp người bệnh tại bệnh viện vượt qua được những khó khăn trong quá trình điều trị bệnh tại bệnh viện

2.2 Hướng nghiên cứu hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân

2.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu của Laima và cộng sự (2003) giới thiệu một khái niệm mới về vai trò nhân viên xã hội trong nhóm phục hồi chức năng ở Lithuania

và trình bày cách tiếp cận phương pháp luận để điều tra về vấn đề này Mục tiêu của nghiên cứu này là thiết lập một phương pháp tiêu chuẩn hóa để đánh giá vai trò của nhân viên xã hội, ý nghĩa của người khuyết tật trong môi trường phục hồi chức năng tại nhà và đánh giá các vai trò hữu ích nhất của nhân viên xã hội theo nhu cầu của người khuyết tật Phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu này được thiết kế dựa trên việc xem xét các tài liệu nước ngoài của Lithuaniana và các tài liệu khác Năm mươi người khuyết tật (25 nam, 25 nữ), những người được nhận các dịch vụ phục hồi chức năng tại nhà,

đã được quan sát và thẩm vấn theo phương pháp này Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng các vai trò quan trọng nhất của nhân viên xã hội trong việc phục hồi chức năng tại nhà là của một người môi giới, một người dẫn dắt và một giáo viên Nghiên cứu phát hiện ra rằng cần có các nhân viên xã hội có trình độ theo chương trình trong nhóm phục hồi chức năng để phát triển các kỹ năng bổ sung tương ứng với các vai trò của một giáo viên, một người ban hành và một nhà môi giới, với việc áp dụng phương pháp này để phục hồi chức năng tại nhà của những người khuyết tật [40]

Năm 1959, Shover và Oscar Kurren đã thực hiện nghiên cứu về công tác xã hội trong phục hồi chức năng Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò và tầm quan trọng của nhân viên xã hội trong phục hồi chức năng liên quan đến việc mang lại sự đặc biệt năng lực và kỹ năng hướng tới (1) phát triển hiểu rõ hơn về bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến sự thành công hoặc thất bại của việc phục hồi chức năng; (2) giải thích kiến thức mới này một cách rõ ràng và hiệu quả cho các thành viên khác của nhóm bác sỹ, y tá,… phục hồi chức năng để thống nhất giữa mục đích và hành động; và (3) đánh giá cộng đồng và tổng nguồn lực của cộng đồng và

Trang 20

chọn dịch vụ thích hợp để đảm bảo và bảo vệ những lợi ích mà bệnh nhân đạt được [42]

Gần đây, Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Ottawa (Canada)

đã thực hiện nghiên cứu khẳng định mục đích của công tác xã hội trong phục hồi thể chất là nhân viên công tác xã hội tạo điều kiện cho quá trình phục hồi chức năng để hỗ trợ bệnh nhân tối đa hóa tính độc lập và tự chủ trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của họ Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra những hoạt động mà nhân viên công tác xã hội có thể thực hiện nhằm hỗ trợ bệnh nhân phục hồi chức năng là làm việc với bệnh nhân, với gia đình của họ, với nhóm bác sỹ, y tá… phục hồi chức năng và với cộng đồng Thông qua đánh giá và can thiệp trong các lĩnh vực hoạt động tâm lý - xã hội nhân viên công tác xã hội giúp bệnh nhân và gia đình chuyển từ tình trạng không chắc chắn,

lo lắng và phụ thuộc sang tăng cường niềm tin, hy vọng và tự chủ [38]

Nghiên cứu của Vilka và Pelse (2009) đã chỉ ra những thách thức và khó khăn của công tác xã hội trong phục hồi chức năng của các bệnh viện ở Latvia Theo đó, tác giả chỉ ra khó khăn mà nhân viên công tác xã hội gặp phải trong việc phục hồi chức năng của bệnh nhân chủ yếu là thiếu các dịch vụ xã hội thích hợp Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu khó khăn trên [43]

Tài liệu “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Cẩm nang hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” của Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra những hướng dẫn chung nhất về phục hồi chức năng đối với bệnh nhân bị khuyết tật Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra những dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng, các chính sách y tế trong phục hồi chức năng của bệnh nhân [1].[29]

2.2.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, ngành Công tác xã hội được phát triển từ cuối thập kỷ 40 với sự ra đời của các trường đào tạo chuyên về công tác xã hội đầu tiên tại miền Bắc Một số tác giả đã biên soạn các giáo trình về Công tác xã hội và Công tác xã hội trong bệnh viện nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của nhiều tổ chức cá nhân trong lĩnh vực y tế

Phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Việt Nam đã có nhiều đề tài, tài liệu nghiên cứu nhưng phần lớn mới tập trung ở vấn đề phục hồi chức năng mang tính chuyên sâu ở lĩnh vực, góc độ nào đó

Trang 21

Bộ Tài liệu “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” là sản phẩm chương trình hợp tác “Tăng cường năng lực Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” giữa Bộ Y tế Việt Nam và Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam Bộ tài liệu này gồm các tài liệu hướng dẫn cách phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với bệnh nhân dành cho nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội Bộ tài liệu này cung cấp thông tin, kiến thức cơ bản nhất về phương pháp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trong việc phục hồi chức năng cho bệnh nhân [4]

Tạ Thị Thanh Thủy và cộng sự đã tìm hiểu các hoạt động công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi hiện nay nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong chăm sóc, giảm thiểu và phục hồi chức năng cho người cao tuổi Nghiên cứu chỉ ra yêu cầu đối với người làm công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi

là phải nắm vững các tiến trình chăm sóc, từ dự phòng đến can thiệp, phục hồi chức năng,… Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhân viên công tác xã hội phải là những người công tác xã hội chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản chuyên ngành về chăm sóc sức khỏe tâm thần [24]

Nghiên cứu của Trần Văn Lý và cộng sự năm 2012 về công tác xã hội phục hồi chức năng cho trẻ bại não đã phân tích về khái niệm, đặc điểm, thực trạng trẻ khuyết tật bại não ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, ngiên cứu cũng đưa ra được những hoạt động công tác xã hội đối với đối tượng này [15]

Đề tài “Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động (Trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam)” của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang phân tích và chỉ ra thực trạng đời sống cũng như khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội của trẻ em khuyết tật vận động với mục đích kết nối, điều phối

và duy trì các dịch vụ dành cho các em một cách hiệu quả [25]

Tác giả Đặng Thị Ngọc Vân với đề tài “Hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” nghiên cứu thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc trẻ

em khuyết tật vận động tại huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó

đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác

xã hội với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng tại địa phương [1].[30]

Trang 22

Như vậy, có thể thấy, hoạt động hỗ trợ phục hồi bệnh nhân của nhân viên công tác xã hội chủ yếu được diễn ra trong môi trường bệnh viện Hoạt động hỗ trợ này ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của nhân viên công tác xã hội, đó là giúp cho bệnh nhân mau chóng phục hồi không những chỉ về thể chất mà còn về mặt tinh thần Bên cạnh đó, thông qua hoạt động công tác xã hội tại một số bệnh viện, nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo, có hoàn cảnh khó khăn đã được “ hồi sinh” nhờ sự giúp đỡ kịp thời cả về tinh thần và vật chất từ cộng đồng Hoạt động công tác xã hội của một số bệnh viện đã tiếp thêm động lực cho nhiều bệnh nhân, giúp họ yên tâm điều trị bệnh Những cán

bộ, nhân viên làm công tác xã hội thực hiện các công việc như: tiếp đón, hướng dẫn, giúp đỡ bệnh nhân từ khâu làm thủ tục khám, chữa bệnh, giúp bệnh nhân nặng đi lại, vệ sinh cá nhân, lắng nghe tâm tư của bệnh nhân cũng khiến bệnh nhân tăng thêm sự hài lòng, có thêm niềm tin về việc phục hồi sức khỏe của bản thân Hoạt động này đã giảm bớt gánh nặng đối với nhân viên y tế, giúp họ có thêm thời gian để tập trung vào các hoạt động chuyên môn, nghiên cứu để nâng cao tay nghề, chăm sóc và điều trị bệnh nhân hiệu quả hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân, đề tài đề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả của hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại các bệnh viện nói chung và tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về phục hồi chức năng và các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng trong bệnh viện

Khảo sát thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Châm cứu Trung ương

Trang 23

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

4.2 Khách thể nghiên cứu

Nhằm đánh giá một cách khách quan về hoạt động hỗ trợ bệnh nhân phục hồi chức năng tại bệnh viện, nghiên cứu tiến hành trên 2 nhóm đối tượng :

Nhóm thứ nhất là các bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương Đối với nhóm đối tượng là những bệnh nhân nhi (trẻ

từ 0 đến 6 tuổi) hoặc những người bệnh mắc bệnh nặng không thể tham gia phỏng vấn, khảo sát, đề tài lựa chọn người nhà chăm sóc để phỏng vấn Những người này luôn ở bên chăm sóc bệnh nhân nên sẽ hiểu rất rõ thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho các bệnh nhân tại Bệnh viện

Nhóm thứ hai là các cán bộ y tế đang điều trị, phục hồi chức năng cho các bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

- Phạm vi địa bàn, thời gian và khách thể: nghiên cứu tiến hành khảo sát bằng phiếu là 120 người bệnh, người nhà của bệnh nhân (đối với những bệnh nhân nhi dưới 6 tuổi hoặc những bệnh nhân bị bệnh nặng không thể trả lời câu hỏi) đang điều trị nội trú tại bệnh viện; phỏng vấn sâu 20 bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và 20 cán bộ y tế tại bệnh viện Nghiên cứu trên bệnh nhân là một nhóm đối tượng rất khó tiếp cận bởi họ đang trong tình trạng bệnh tật, thời gian đau yếu và sử dụng các biện pháp phục hồi khác nhau, tâm

Trang 24

lý của người có bệnh cũng có những khó khan trong tiếp xúc, còn các y bác sĩ

và nhân viên công tác xã hội thì luôn phải tiếp xúc với bệnh nhân Do đó đề tài tiến chọn mẫu theo cách chọn mẫu tiện lợi để thuận lợi cho việc lấy số liệu

- Thời gian: nghiên cứu thực hiện trong năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Chăm sóc sức khỏe là vấn đề đa dạng và phức tạp liên quan đến nhiều

cá nhân, nhiều yếu tố, thành phần xã hội, liên quan đến điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội khác nhau Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả đã vận dụng quan điểm của Triết học Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho đề tài Phương pháp duy vật biện chứng coi một sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong các mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác Nghiên cứu về tình hình chăm sóc sức khỏe bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cần đặt trong mối tương quan giữa các bệnh viện, trong mối quan hệ con người, điều kiện xã hội của bệnh nhân Cùng với đó các yếu tố sức khỏe, tâm lý, điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa của bệnh nhân được quan tâm nghiên cứu để đưa ra được những giải pháp, những mô hình cụ thể, phù hợp với từng đặc trưng riêng của từng bệnh viện Chính vì thế, đề tài sử dụng các cách tiếp cận sau:

Tiếp cận chức năng: Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng ở bệnh nhân

cần dựa trên các chức năng cơ bản của bệnh viện và của hoạt động chăm sóc của bộ phận công tác xã hội trong phạm vi bệnh viện Đó là: Hoạt động hỗ trợ phục hồi, tổ chức hỗ trợ, vận dụng các giải pháp hỗ trợ trong hoạt động hỗ trợ Chức năng của bệnh viện và mối tương quan giữa các thành tố Các chức năng này cần phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình hỗ trợ bệnh nhân phục hồi trong suốt thời gian điều trị tại bệnh viện

Tiếp cận tích hợp: Hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh

nhân là hoạt động tương tác, tìm kiếm và trợ giúp để bệnh nhân nâng cao khả năng phục hồi, để hỗ trợ được bệnh nhân trong quá trình điều trị, nhân viên y

tế, nhân viên công tác xã hội cần tổng hợp các giải pháp, kiến thức, kỹ năng,

Trang 25

nguồn lực, phương thức hỗ trợ thuộc tổ chức, đơn vị để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong điều trị và trong cuộc sống

5.2 Quy trình nghiên cứu

Để nghiên cứu diễn ra thuận lợi, tác giả đã xây dựng quy trình nghiên cứu Quy trình nghiên cứu của luận văn sẽ được tóm lược trong sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 1: Quy trình nghiên cứu luận văn

5.3 Phương pháp nghiên cứu

5.3.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Các tài liệu hiện có tại cơ sở nghiên cứu, chính sách, đề án phát triển hoạt động phục hồi chức năng trong ngành Y tế, các tài liệu có liên quan đến phục hồi chức năng trong bệnh viện Phân tích các báo cáo, tạp chí, các thông tin đã thu thập từ các nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét, đánh giá Sử dụng phương pháp này giúp tác giả xây dựng cơ sở lý luận cho

đề tài nghiên cứu, qua đó tác giả xác định được một số khái niệm chính của đề tài như: Phục hồi chức năng, Phục hồi chức năng trong bệnh viện Những nội dung này sẽ được trình bày cụ thể ở chương 1 của luận văn Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp này để tìm hiểu số liệu về quy mô, cơ cấu, và thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương thông qua các báo cáo tổng hợp của phòng ban trong Bệnh viện

Châm cứu Trung ương

Tổ chức khảo sát điều tra nhằm thu thập dữ liệu về các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trương ương

Đề xuất các giải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trương ương

Xây dựng tổng quan lý

thuyết hỗ trợ phục hồi

chức năng tại Bệnh viện

Châm cứu Trương ương

Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân ở Bệnh viện Châm cứu Trung ương

Trang 26

5.3.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Tiếp cận người bệnh là vấn đề khó bởi họ đang trong tình trạng bệnh tật, đau yếu, tâm lý của người có bệnh và người nhà cũng không được thoải mái,

e ngại, các y bác sĩ và nhân viên công tác xã hội thì luôn phải tiếp xúc với bệnh nhân Do đó, để thuận lợi cho việc lấy số liệu để tài chọn mẫu theo cách chọn mẫu thuận tiện, đề tài tiến hành khảo sát 120 bệnh nhân, người nhà bệnh nhân nhằm thu thập các thông tin, số liệu về hoàn cảnh gia đình; tình trạng bệnh của bệnh nhân thông qua người nhà bệnh nhân và bác sĩ, cán bộ y tế, những vấn đề khó khăn mà người bệnh đang gặp phải

5.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 40 người trong đó gồm 20 bệnh nhân và người nhà bệnh nhân; 20 bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên công tác xã hội tại bệnh viện nhằm làm rõ và cụ thể hơn những khó khăn về tình trạng bệnh, điều kiện kinh tế, các yếu tố tâm lý và nhu cầu, mong muốn của bệnh nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện Đồng thời, qua việc phỏng vấn sâu, tác giả có minh chứng để hiểu sâu sắc hơn thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân và lý giải nguyên nhân của những thực trạng ấy

5.3.4 Phương pháp quan sát

Tác giả luận văn đã trực tiếp đến các khoa, phòng trong bệnh viện quan sát về tình trạng bệnh tật, quá trình chăm sóc và điều trị bệnh hàng ngày của bệnh nhân Đồng thời trực tiếp tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối bệnh nhân, cụ thể là các hoạt động của phòng Công tác xã hội như các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về các dịch vụ khám chữa bênh khi đến bệnh viện; hỗ trợ bệnh nhân về các thủ tục hành chính để khám, chữa bệnh; tham gia các hoạt động văn nghệ, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho bệnh nhân; phối hợp các hoạt động phát cơm, cháo miễn phí với các câu lạc bộ thiện nguyện; vận động nguồn lực, kết nối các tổ chức thiện nguyện với các bệnh nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…với mục đích nắm được các hoạt động hỗ trợ và các dịch

vụ chăm sóc y tế, phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại bệnh viện

Trang 27

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn tổng quan tài liệu và xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Trong đó làm sáng tỏ khái niệm, phạm trù lý thuyết, phương pháp hỗ trợ bệnh nhân phục hồi chức năng trong bệnh viện cũng như việc ứng dụng lý thuyết, phương pháp công tác xã hội vào đánh giá hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần cụ thể hóa những hoạt động phục hồi chức năng, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số giải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng của bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cung cấp cơ sở khoa học về các giải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng giúp các nhà quản lý và cộng đồng có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, tích cực trong công tác tuyên truyền, tổ chức giúp đỡ bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện Châm cứu Trung ương về vật chất, tinh thần và tâm lý nói riêng và các bệnh viện có chức năng phục hồi chức năng nói chung Bên cạnh đó giúp người dân và các ngành khác hiểu biết thêm về các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân

Chương 2: Thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại bệnh viện Châm cứu Trung ương

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ phục hồi chức năng đối với bệnh nhân tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

Trang 28

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN

1.1 Bệnh nhân và đặc điểm của bệnh nhân

1.1.1 Một số khái niệm

Khái niệm bệnh nhân

Theo Luật Khám, chữa bệnh Việt Nam (2009), người bệnh ( ở một số tài liệu còn gọi là bệnh nhân) là người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh [1].[21] Trong phạm vi đề tài chúng tôi dung cả hai khái niệm bệnh nhân và người bệnh

Bệnh nhân là những người gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất hoặc tinh thần và cần được điều trị bởi bác sỹ, y tá, nhà tâm lý học, nha sỹ hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác

Khái niệm bệnh nhân nội trú

Khoản 1 Điều 58 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã chỉ rõ các trường hợp phải điều trị nội trú như sau:

- Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Có giấy chuyển đến cơ quan, cơ sở khám bệnh từ cơ sở khám chữa bệnh khác

Trong đó, các trường hợp phải chuyển cơ sở khám chữa bệnh được liệt

kê tại khoản 5 Điều này bao gồm:

- Bệnh vượt quá khả năng điều trị và điều kiện vật chất của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

- Bệnh không phù hợp với phân tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

- Theo yêu cầu của bệnh nhân.[1].[21]

Nếu bệnh nhân thuộc một trong các trường hợp điều trị nội trú, cơ sở KCB phải có trách nhiệm nhận bệnh nhân vào cơ sở mình và hướng dẫn họ đến khoa sẽ điều trị nội trú

Như vậy, có thể hiểu, bệnh nhân điều trị nội trú là bệnh nhân phải tiến hành nhập viện để thực hiện điều trị khi có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ hoặc có giấy chuyển tuyến từ cơ sở KCB khác

Khái niệm châm cứu và bệnh nhân châm cứu

Trang 29

Châm cứu là một cách chữa bệnh có từ lâu đời, thường được thực hiện bởi các thầy thuốc Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Châu Á, sử dụng những cây kim rất nhỏ để châm vào những huyệt đạo trên cơ thể Châm cứu thường được dùng để giảm đau nhưng cũng có thể dùng để chữa bệnh Châm cứu về bản chất là hiện tượng giải phóng các nguồn năng lượng của cơ thể bằng cách kích thích vào các huyệt đạo nằm trên 14 đường kinh mạch của cơ thể Các nhà khoa học cho rằng, các đầu kim làm cơ thể giải phóng hooc-môn endorphin - một loại hooc-môn được coi như thuốc giảm đau tự nhiên và có thể làm tăng lưu lượng máu, thay đổi hoạt động của não bộ, do vậy thường có tác dụng giảm đau

Các cây kim dùng để châm cứu thường rất mảnh nên mọi người thường không cảm thấy đau hoặc đau rất ít Họ thường cảm thấy tràn đầy năng lượng

và thoải mái sau khi được châm cứu Bởi vì châm cứu thường ít có tác dụng không mong muốn nên được coi là phương pháp tiềm năng để thay thế cho thuốc giảm đau hoặc điều trị steroid Châm cứu cũng được coi như một giải pháp hỗ trợ cho những điều trị khác

Bệnh nhân châm cứu là những bệnh nhân sử dụng các dịch vụ chăm sóc

y tế, điều trị, phục hồi chức năng về châm cứu để điều trị hoặc làm giảm tác động của bệnh tới cơ thể tại bệnh viện Châm cứu Trung ương

1.1.2 Phân loại bệnh nhân châm cứu

Dựa trên cơ sở các nhóm bệnh mà luận văn chia bệnh nhân châm cứu thành những nhóm bệnh sau:

Nhóm thần kinh: Là những bệnh nhân mắc các chứng bệnh về thần

kinh như: đau đầu, mất ngủ; hội chứng tiền đình; thiểu năng toàn hoàn não; stress; bại liệt; đột quỵ, liệt dây thần kinh số VII ngoại biên (liệt mặt); đau thần kinh liên sườn; hỗ trợ cai nghiện rượu, bia, ma túy và các chất hướng thần; mất ngủ; rối loạn lo âu; trầm cảm, rối loạn vận động (nói khó, nói lắp, chậm nói,…); rối loạn nuốt; rối loạn cơ tròn (đại tiểu tiện khó hoặc không tự chủ); điều trị tự kỷ ở trẻ em; chậm nói ở trẻ em, bại não trẻ em, di chứng viêm não;…

Nhóm cơ xương khớp: Là các bệnh nhân mắc các chứng bệnh về xương,

khớp như: đau vai gáy; viêm quanh khớp vai; tê mỏi tay, chân; đau lưng; đau do thoái hóa cột sống; đau do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ - cột song thắt lưng…

Trang 30

Nhóm vận động: Là các bệnh nhân mắc các chứng bệnh như: liệt nửa

người; liệt tứ chi; chấn thương cột sống; …

Trang 31

1.1.3 Ảnh hưởng nhóm bệnh đến đời sống của bệnh nhân

Nhóm các bệnh về thần kinh

Đau đầu, mất ngủ: Trước đây, mất ngủ ở những người cao tuổi hay do

một số bệnh lý gây ra Nhưng ngày nay, dưới tác động của nhịp sống công nghiệp, lối sống hiện đại, đau đầu và mất ngủ đã trở thành căn bệnh chung của rất nhiều người và thường song hành cùng nhau Khi mất ngủ kéo dài, não tăng tiêu thụ oxy và năng lượng, càng thúc đẩy cơ thể sản sinh vô số gốc

tự do Y học hiện đại đã chứng minh, gốc tự do chính là “thủ phạm” gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm ảnh hưởng trên toàn bộ cơ thể như thoái hóa thần kinh, thoái hóa võng mạc, đục thủy tinh thể, suy giảm hệ miễn dịch, tiểu đường, cao huyết áp, các bệnh lý tim mạch, đột quỵ…

Hội chứng tiền đình: là tình trạng quá trình truyền dẫn và tiếp nhận thông tin

của tiền đình bị rối loạn hoặc tắc nghẽn do dây thần kinh số 8 hoặc động mạch nuôi dưỡng não bị tổn thương hay các tổn thương khác ở khu vực tai trong và não Điều này khiến cho tiền đình mất khả năng giữ thăng bằng, cơ thể loạng choạng, hoa mắt, chóng mặt, quay cuồng, ù tai, buồn nôn Những triệu chứng này lặp đi lặp lại nhiều lần, xuất hiện đột ngột khiến bệnh nhân rất khó chịu, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và khả năng lao động của bệnh nhân

Thiểu năng tuần hoàn máu não: Là tình trạng giảm tuần hoàn máu lên

não, dẫn đến giảm cung cấp oxy và dưỡng chất, ảnh hưởng tới cầu trúc và chức năng của một phần hoặc nhiều phần trên não Thiếu máu não tác động trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương gây các triệu chứng khó chịu đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng tư duy, giảm trí nhớ và gây ra các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu não

Trẻ bại liệt: là một bệnh nhiễm virus cấp tính lây truyền theo đường

tiêu hóa do virus Polio gây nên, thường từ phân – miệng, có thể lây lan thành dịch Bệnh được nhận biết qua biểu hiện của hội chứng liệt mềm cấp Từ sốt, buồn nôn, táo bón,… bệnh có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, mất nước, viêm phổi, teo cơ, tê liệt, cơ thể trở nên mệt mỏi và kiệt sức, khó thở,… liệt cơ hô hấp dẫn đến tử vong

Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên: là tình trạng bệnh nhân bị mất vận

động một phần hoặc hoàn toàn các cơ của cơ của nửa mặt Liệt dây thần kinh

số VII gây cho bệnh nhân bị mất vị giác, khó nói chuyện bình thường hoặc

Trang 32

khó ăn uống, nhân trung bị lệch sang bên bị liệt, mắt nhắm không kín hay mở lớn ngay cả khi ngủ,…

Đau thần kinh liên sườn: xuất phát từ đoạn tủy ngực (lưng), đốt sống

D1 – D2 Sau tách khỏi rễ chung, dây thần kinh liên sườn cùng với mạch máu tạo thành bó mạch (động mạch và tĩnh mạch) nằm ngay bờ dưới của mỗi xương sườn Đau thần kinh liên sườn chia làm 3 loại: đau thần kinh liên sườn nguyên phát, đau thần kinh liên sườn tiên phát và đau thần kinh liên sườn thứ phát Đau dây thần kinh liên sườn gây nên những biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng tới sinh hoạt và năng suất công việc như: Các cơn đau dai dẳng, tái đi tái lại nhiều lần, đau rát, khó chịu, mất ngủ, suy giảm tinh thần, trí tuệ, trầm cảm, giảm sức đề kháng

Đau thần kinh tọa: là đau dây thần kinh hông to Đây là một trong số

các bệnh có liên quan đến hệ thống thần kinh Bệnh được biểu hiện với những cơn đau nhức âm ỉ tại khu vực thắt lưng Dần dần, các cơn đau lan rộng xuống các chi dưới và gây cản trở tới quá trình đi lại và vận động của con người Khi

bị đau dây thần kinh tọa, bệnh nhân sẽ rất khó khăn trong việc đi lại Ngoài ra, các chi dưới còn mất đi cảm giác và rất dễ bị tê liệt

Tính tự kỷ ở trẻ em: Tự kỷ là tên gọi một hội chứng khi trẻ bị khiếm

khuyết trong giao tiếp, trong tương tác với mọi người, khó khăn trong việc kiểm soát ngôn ngữ, hành vi, cảm xúc, dẫn đến giảm khả năng hòa nhập vào

xã hội Tự kỷ khiến trẻ rất khó hoặc không thể hòa nhập được vào xã hội và cộng đồng xung quanh mình, giảm khả năng giao tiếp, rất ngại khi phải tiếp xúc với người khác, trẻ trở nên thụ động, thu mình lại, dễ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội

Bại não: Bại não là thuật ngữ chỉ một nhóm tình trạng bệnh lý gây nên

bởi tình trạng tổn thương não bộ không tiến triển theo thời gian, gây nên bởi các nguyên nhân trước sinh, trong và sau sinh cho đến dưới 5 tuổi Bại não gây

ra tình trạng đa khuyết tật về vận động, tinh thần, giác quan và hành vi để lại hậu quả nặng nề cho chính bản thân trẻ, gia đình mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội

Nhóm các bệnh cơ xương khớp

Đau vai gáy: là hội chứng rối loạn cơ xương ở vùng cổ - vai - gáy gây

nên các cơn cơ cứng, đau ở vùng cổ vai gáy khiến bệnh nhân hạn chế trong vận động xoay cổ hay quay đầu Những cơn đau vai gáy kéo theo các vấn đề

Trang 33

khác như ù tai, chóng mặt, tê các dây thần kinh qua cổ gáy… gây ảnh hưởng đến cuộc sống, làm việc hằng ngày

Viêm quanh khớp vai: là thuật ngữ dùng chung cho bệnh lý của các cấu

trúc phần mềm cạnh khớp vai: gân, túi thanh dịch, bao khớp; không bao gồm các bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp và mạng hoạt dịch như viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp… Tổn thương hay gặp nhất là gân

cơ trên gai và bó dài gân nhị đầu cánh tay Viêm khớp quanh vai nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng đau dai dẳng, hạn chế vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân Theo thời gian, viêm quanh khớp vai có thể gây tàn phế hoặc liệt bàn tay rất nguy hiểm

Tê mỏi tay, chân: là triệu chứng rất hay gặp và thường xuất hiện vào

thời điểm cuối ngày , ban đêm hay buổi sáng sau khi thức đậy Chân tay tê mỏi khiến cho người mắc bệnh luôn cảm thấy rất mệt mỏi, khó chịu, gây hạn chế vận động

Đau lưng: Người bị đau lưng thường gặp khó khăn trong hầu hết các

chuyển động, bị giới hạn thực hiện những công việc tay chân Những cơn đau thắt lưng vào ban đêm thường gây khó ngủ, về lâu dài sẽ dẫn đến mất tập trung, trí nhớ kém Ngoài ra, theo một số nghiên cứu cho thấy, những người bị đau lưng mạn tính thường có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn gấp 4 lần so với người bình thường Họ thường cảm thấy chán nản, vô vọng, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, cân nặng không ổn định, mất niềm vui hứng thú trong cuộc sống

Đau do thoái hóa cột sống: Thoái hóa đốt sống là tình trạng viêm nhiễm

tại đốt sống, đặc trưng với sự biến đổi hình thái của đĩa đệm, thân đốt và mỏn gai sau Lúc này vùng xương cột sống mất dần cấu trúc và chức năng bình thường, gây ra đau nhức cho bệnh nhân Bệnh thoái hóa cột sống thường xảy ra

ở vùng cổ và thắt lưng – hai vị trí tập trung nhiều dây thần kinh vận động quan trọng Thoái hóa đốt sống không ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân nhưng lại tác động xấu đến chất lượng cuộc sống của họ, gây biến chứng nguy hiểm như: Rối loạn cảm giác tứ chi, gây đau tim đột ngột, rối loạn tiền đình, rối loạn thần kinh thực vật khu cổ, bại liệt một hay hai tay Trong trường hợp bị thoái hóa cột sống nặng hơn bệnh nhân có thể đại tiểu tiện không tự chủ, biến

dạng cột sống, thoát vị đĩa đệm, gù vẹo cột sống, teo cơ, bại liệt, mất khả năng

vận động tự chủ

Trang 34

Thoát vị đĩa đệm:là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi

vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình Thoát vị đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm mất nước, thoát vị đĩa đệm đa tầng, sau bên Thoát vị đĩa đệm là một dạng bệnh lý cột sống có thể gây ra nhiều biến chứng khôn lường nếu không điều trị kịp thời Nhẹ thì tê bì tay chân, đau nhức, ê buốt tay chân, ảnh hưởng tới sinh hoạt và làm việc nặng hơn có thể dẫn đến teo cơ, tê liệt tay chân, bại liệt và tàn phế vĩnh viễn

Nhóm các bệnh vận động

Liệt nửa người: là tình trạng suy yếu ảnh hưởng đến một bên cơ thể

Tình trạng này có thể là liệt nửa người bên phải hoặc liệt nửa người bên trái, phụ thuộc vào bên bị ảnh hưởng Nhìn chung, vùng não tổn thương khi đột quỵ sẽ quyết định phần nào của cơ thể bị liệt Tổn thương não trái sẽ gây ra liệt nửa người phải và ngược lại Người mắc tình trạng này vẫn có thể cử động được bên liệt nhưng sẽ yếu hơn hoặc không thể cử động trong một số trường hợp Liệt nửa người gây mất cân bằng, khó nói, khó đi, khó nuốt, mất cảm giác ở một nửa cơ thể, yếu cơ, khó vận động,… gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống

Liệt tứ chi: là bệnh do tổn thương tủy sống gây ra Khi tủy sống bị tổn

thương, sẽ mất khả năng cảm giác và vận động Liệt tứ chi bao gồm liệt cánh tay, bàn tay, thân, chân và các cơ quan vùng chậu Liệt tứ chi gây mất kiểm soát các hoạt động của ruột và bàng quang; khó tiêu; khó thở; tê và giảm cảm giác; yếu cơ, đặc biệt là ở cánh tay và chân; không có khả năng cử động và cảm giác ở khu vực bị tổn thương,… ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt và vận động

Chấn thương cột sống: Chấn thương cột sống là kết quả của chấn

thương trực tiếp vào dây thần kinh hoặc một thiệt hại gián tiếp đến xương, mô mềm và các mạch máu quanh tủy sống.Hậu quả của chấn thương tủy sống là mất chức năng, chẳng hạn như di chuyển hoặc cảm xúc Chấn thương cột sống là một loại chấn thương vật lý cực kì nghiêm trọng có thể có tác động lâu dài trên hầu hết các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày

Trang 36

1.1.4 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của bệnh nhân châm cứu

* Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân

Khi bị bệnh, tâm lý bệnh nhân cũng bị thay đổi Điều dễ dàng nhận thấy rằng một khi bị bệnh thì bản thân bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân Tuy nhiên sự ảnh hưởng này được diễn ra trên các cấp độ khác nhau

Ở cấp độ cơ thể: Một khi có bộ phận hay cơ quan nào đó bị bệnh thì

hoạt động chung của hệ thống đó cũng bị thay đổi Đến lượt mình, hệ thần kinh cũng phải có sự điều chỉnh trong hoạt động của nó do ảnh hưởng của hệ thống bị bệnh Sự điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh chính là cơ sở dẫn đến

sự thay đổi tâm lý của bệnh nhân Ví dụ: trong trạng thái mệt mỏi, hệ thần kinh trở nên nhạy cảm hơn đối với các kích thích từ bên ngoài Tiếng người nói bình thường như mọi khi đã làm cho bệnh nhân cảm thấy to hơn, khó chịu hơn

Ở cấp độ tâm lý: Khi bị bệnh, tâm lý của bệnh nhân có các thay đổi nhất

định Trạng thái tâm lý thường gặp nhất là trạng thái lo âu Tùy theo mức độ của bệnh và đặc biệt là các đặc điểm nhân cách của cá nhân, phản ứng lo âu của bệnh nhân biểu hiện rất khác nhau, từ thờ ơ coi thường bệnh tật cho đến phản ứng thái quá Có những trường hợp thậm chí còn rơi vào trạng thái bệnh

lý mặc dù có thể bệnh cơ thể không nặng Bên cạnh đó, các hiện tượng tâm lý của con người lại có liên quan mật thiết với nhau Trong trạng thái lo âu hoặc cảm xúc không ổn định, khả năng tư duy, trí nhớ và trí tuệ nói chung cũng đều

bị ảnh hưởng

Ở cấp độ xã hội: Mỗi bệnh nhân không chỉ đơn thuần là một cơ thể bị

bệnh Trên bình diện xã hội, họ là chủ thể của các mối quan hệ và các hoạt động cá nhân, xã hội Họ là thành viên của gia đình (với một số cương vị nhất định như cương vị người chồng và người cha), là thành viên của một nhóm xã hội nào đó (trong cơ sở lao động hoặc trong các tổ chức chính quyền, đoàn thể ) Một khi bị bệnh, các cương vị của họ ít nhiều cũng bị chi phối, bị ảnh hưởng Thêm vào đó còn có thể là các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế: tăng chi phí cho các hoạt động khám, chữa bệnh, giảm thu nhập do nghỉ việc Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý bệnh nhân

Tâm lý bệnh nhân ảnh hưởng trở lại bệnh tật đến mức nào là tùy thuộc vào đời sống tâm lý vốn có của bệnh nhân Mỗi bệnh nhân có những thái độ khác nhau đối với bệnh tật Có người cho bệnh tật là điều bất hạnh không thể tránh được, đành cam chịu, mặc cho bệnh tật hoành hành Có người kiên

Trang 37

quyết đấu tranh, khắc phục bệnh tật Có người không sợ bệnh tật, không quan tâm tới bệnh tật Có người sợ hãi, lo lắng vì bệnh tật Đôi khi chúng ta gặp những người thích thú với bệnh tật, dùng bệnh tật để tô vẽ cho thế giới quan của mình Bên cạnh những người giả vờ mắc bệnh, lại có người giả vờ như không bị bệnh tật Thái độ đối với bệnh tật nói riêng và đời sống tâm lý của bệnh nhân nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động sinh lực bản thân trong phòng và chữa bệnh cũng như trong khắc phục hậu quả bệnh tật của bệnh nhân

Những diễn biến bệnh tật và biến đổi tâm lý của bệnh nhân tác động lẫn nhau theo vòng tròn khép kín: bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân và ngược lại, tâm lý cũng ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của bệnh

Phản ứng của bệnh nhân điều trị nội trú

Với người trưởng thành, hầu như ai cũng đã có một vài lần nằm viện Đối với một số người, việc nằm viên diễn ra thường xuyên Tuy nhiên phần lớn ít khi phải nằm viện Đối với họ, lần nhập viện đầu tiên chính là sự báo hiệu cho những thay đổi lớn

Có rất nhiều thay đổi về mặt xã hội đối với mỗi cá nhân khi phải nhập viện Trước hết họ “có” thêm một vai trò mới, vai trò hầu như không mấy ai mong muốn: bệnh nhân Nằm viện kéo theo một loạt các hậu quả: tự do bị hạn chế, không còn được ăn, uống, đọc sách, thức đêm tùy ý Mặc dù biết là cần thiết song nhiều người vẫn cảm thấy ngần ngại khi phải cởi bỏ quần áo ngoài của mình để mặc bộ quần áo bệnh nhân Nhiều người, đặc biệt là phụ

nữ, cảm thấy không dễ chịu chút nào khi có tay người lạ đặt lên cơ thể mình Mặt khác việc thích nghi với chế độ, các qui định trong bệnh viện với nhiều người không thể diễn ra một cách nhanh chóng

Các dạng phản ứng của bệnh nhân với bệnh

Khi bị bệnh, đặc biệt là khi phải vào điều trị nội trú, cá nhân đều có các phản ứng đối với bệnh cũng như đối với quá trình điều trị Có thể phân chia ra

4 dạng phản ứng chính: 1/ Trầm cảm - lo âu; 2/ Ám ảnh – nghi bệnh; 3/ Phản ứng phân li; 4/ Phản ứng phủ định bệnh

* Nhu cầu của bệnh nhân châm cứu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát

Trang 38

triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh

lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Tuy nhiên, theo Maslow,

về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cẩu bậc cao Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn đầy đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi,… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên

họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hằng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như đòi hỏi sự công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,

Theo Maslow, nhu cầu con người chia thành năm bậc từ thấp đến cao:

Nhu cầu cơ bản/sinh lý: còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu

sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí

để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, đầy là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản chưa đạt được

Nhu cầu an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản,

các nhu cầu an toàn sẽ bắt đầu được kích hoạt, thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình tránh khỏi các nguy hiểm đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ, bệnh tật,…Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về

Nhu cầu về xã hội: Còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một

bộ phận, một nhóm hoặc nhu cầu thuộc về tình cảm, tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình., tham gia cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnc, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh

Nhu cầu về được tôn trọng/ tự trọng: thể hiện ở hai cấp độ: Nhu cầu

được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và

Trang 39

nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này

có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn Chúng ta thường thấy trong công việc cũng như cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này xếp sau nhu cầu

xã hội phía trên

Nhu cầu được thể hiện mình: là nhu cầu của một cá nhân mong muốn

được là chính mình , được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc , đạt thành quả trong xã hội

Các bệnh nhân khi điều trị phục hồi chức năng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương cũng cần được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi giải trí; nhu cầu an toàn: được điều trị, phục hồi chức năng, được chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe, ; nhu cầu xã hội: giao lưu, kết bạn với những người xung quanh…

1.2 Hoạt động phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu

1.2.1 Khái niệm và mục đích phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu

1.2.1.1 Khái niệm phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phục hồi chức năng là một quá trình nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và duy trì những cảm giác, tình trạng thân thể, trí tuệ tâm lý và các chức năng xã hội của họ một cách tối ưu Phục hồi chức năng cung cấp cho người khuyết tật công cụ cần thiết để đạt được sự độc lập và tự quyết

Phục hồi chức năng cũng được hiểu là dùng các biện pháp y học, xã hội, hướng nghiệp, giáo dục nhằm hạn chế ảnh hưởng của khuyết tật, giảm chức năng do khuyết tật tạo điều kiện cho bệnh nhân, người khuyết tật phục hồi tối đa về thể chất, tâm lý và xã hội, qua đó hội nhập, tái hội nhập xã hội,

có cơ hội bình đẳng tham gia vào các hoạt động trong cộng đồng” Hay nói cách khác, là “Sự khôi phục đầy đủ nhất những cái bị mất đi do bệnh tật, tổn hại hoặc khuyết tật bẩm sinh” Sự phục hồi của cá nhân liên quan rất nhiều đến sinh thái môi trường và các mối quan hệ trong xã hội

Trang 40

Phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu là hoạt động sử dụng các biện pháp y học, xã hội nhằm hạn chế ảnh hưởng của các bệnh gây suy giảm chức năng, tạo điều kiện cho bệnh nhân phục hồi cả về thể chất, tâm lý và xã hội, giúp bệnh nhân tái hòa nhập trở lại cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

1.2.1.2 Mục đích của phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu

Phục hồi chức năng giúp cho bệnh nhân có khả năng tự chăm sóc, giao tiếp, vận động, có thể thực hiện các công việc hay các hoạt động sinh hoạt hằng ngày; phục hồi tối đa giảm khả năng thể chất, tâm lý, xã hội; ngăn ngừa các thương tật thứ cấp; hạn chế hậu quả bệnh tật; cung cấp thông tin, thay đổi suy nghĩ, nhận thức của bệnh nhân, người thân của bệnh nhân và mọi người xung quanh về bệnh tật; tạo điều kiện thuận lợi để bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt hơn

1.2.2 Nguyên tắc và các hình thức phục hồi chức năng cho bệnh nhân châm cứu

1.2.2.1 Nguyên tắc của phục hồi chức năng

Phục hồi chức năng đánh giá cao vai trò của người khuyết tật, gia đình

họ và cộng đồng Phục hồi chức năng tối đa các khả năng bị giảm hoặc bị mất

để giảm hậu quả của bệnh tật đối với bệnh nhân, giảm áp lực đối với gia đình

và xã hội Phục hồi chức năng dự phòng là nguyên tắc chiến lược trong phát triển ngành phục hồi chức năng

1.2.2.2 Các hình thức phục hồi chức năng

Căn cứ theo địa điểm phục hồi chức năng thì phục hồi chức năng có ba hình thức là phục hồi chức năng tại viện, tại trung tâm; phục hồi chức năng ngoài viện, ngoài trung tâm; phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Phục hồi chức năng tại viện, tại trung tâm: Người khuyết tật, bệnh

nhân từ các nơi xa đến các trung tâm, các viện để được điều trị phục hồi chức năng Ưu điểm của hình thức này là có nhiều phương tiện, trang thiết bị, có nhiều cán bộ được đào tạo chuyên khoa sâu, có khả năng phục hồi được những trường hợp khó Tuy nhiên cũng có hạn chế: Bệnh nhân phải đi xa, số lượng người khuyết tật được phục hồi ít, giá thành cao, chỉ phục hồi được về mặt y học không đạt được mục tiêu hòa nhập xã hội

Phục hồi chức năng ngoài viện, ngoài trung tâm: Là hình thức phục hồi

mà cán bộ chuyên khoa đưa phương tiện đến nơi người khuyết tật để phục hồi

Ngày đăng: 17/06/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w