87 Bảng 4.2: Tổng hợp những biểu hiện chính trong hoạt động chia sẻ giá trị ở các tình huống nghiên cứu...90 Bảng 4.3: Tổng hợp những biểu hiện của hoạt động bảo tồn nguồn gốc giá trị ở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Lã Thị Bích Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án tiến sĩ là một quá trình nghiên cứu dài và đặc biệt gian khó.Tôi đã luôn cố gắng và tập trung cao độ để thực hiện Tuy nhiên, tôi sẽ vẫn không thểhoàn thành luận án nếu không nhận được sự giúp đỡ của các Thầy Cô và mọi người.Xin trân trọng cảm ơn vì sự giúp đỡ đó
Trước hết, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới người hướng dẫn khoa họcthứ nhất - GS.TS Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng Viện Phát triển Bền vững, trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân Cảm ơn Thầy đã nhận tôi làm NCS, Thầy đã luôn lặng lẽ truyềncảm hứng nghiên cứu khoa học và giúp tôi tiếp cận với nghiên cứu định tính bằng cách đểtôi được tham gia công việc nghiên cứu của Thầy Tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn tới TS.Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch - người hướng dẫnkhoa học thứ 2 đã luôn động viên tôi kiên trì theo đuổi định hướng nghiên cứu, đưa ra lờikhuyên hữu ích phù hợp với thực tế, với mong muốn có thể mang lại đóng góp có giá trịcho quá trình phát triển du lịch cộng đồng bền vững của Việt Nam
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới những người dân, hộ kinh doanh, khách du lịch, tất
cả các cán bộ thuộc các tổ chức, cơ quan, ban ngành và mạng lưới cựu học viên, sinh viênNEU tại tỉnh Hà Giang, Hoà Bình, Lào Cai đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sátthực địa, trả lời phỏng vấn và cung cấp tài liệu về phát triển du lịch tại địa phương
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Banlãnh đạo Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa Du lịch và Khách sạn, các đồng nghiệp vàbạn bè tôi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và động viên tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tình yêu và sự hy sinh của gia đình đãdành cho tôi trong cả một chặng đường nghiên cứu dài Tôi không thể đi tới đích nếukhông có sự ủng hộ, động viên chia sẻ của bố, mẹ, chồng, con gái và các anh chị em,người thân trong gia đình, họ đã luôn khích lệ và mang đến cho tôi nhiều năng lượngtốt để tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin trân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của tất cả mọi người !
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Lã Thị Bích Quang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Cách tiếp cận nghiên cứu 4
1.5 Những đóng góp mới của luận án 5
1.6 Cấu trúc của luận án 6
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Tổng quan nghiên cứu 7
2.1.1 Phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững 7
2.1.2 Du lịch cộng đồng 15
2.1.3 Các hoạt động hướng tới phát triển du lịch cộng đồng bền vững 19
2.2 Cơ sở lý thuyết 22
2.2.1 Lý thuyết các bên liên quan 22
2.2.2 Lý thuyết các bên liên quan với phát triển du lịch bền vững 24
2.3 Khoảng trống nghiên cứu 36
2.4 Khung phân tích các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững 37
Trang 6CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC TÌNH HUỐNG NGHIÊN
CỨU 40
3.1 Phương pháp nghiên cứu 40
3.1.1 Địa bàn nghiên cứu 40
3.1.2 Thiết kế nghiên cứu 44
3.1.3 Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu 46
3.2 Các tình huống nghiên cứu tại Tây Bắc 55
3.2.1 Du lịch cộng đồng ở bản Lác 55
3.2.2 Du lịch cộng đồng ở Mai Hịch 62
3.2.3 Du lịch cộng đồng ở Tả Van 68
3.2.4 Du lịch cộng đồng ở bản Nậm Đăm 74
Tiểu kết chương 3 82
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 83
4.1 Các hoạt động chính để phát triển du lịch cộng đồng bền vững 83
4.1.1 Sáng tạo giá trị 85
4.1.2 Chia sẻ giá trị 88
4.1.3 Hoạt động bảo tồn nguồn gốc giá trị 92
4.2 Vai trò của các bên liên quan trong các hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bền vững 95
4.2.1 Chính quyền địa phương 95
4.2.2 Doanh nghiệp 100
4.2.3 Cộng đồng địa phương 104
4.2.4 Tổ chức phi Chính phủ (NGOs) 109
4.3 Vai trò hoạt động của các bên liên quan và sự tác động đến mức độ bền vững của điểm đến 113
Tiểu kết chương 4 121
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 122
5.1 Luận bàn kết quả nghiên cứu 122
5.1.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 122
5.1.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 126
5.2 Ý nghĩa nghiên cứu 128
Trang 75.2.1 Về lý thuyết 128
5.2.2 Về thực tiễn 129
5.3 Một số đề xuất, khuyến nghị về phát triển và và nâng cao tính bền vững tại điểm đến cho mô hình du lịch cộng đồng 131
5.3.1 Đối với chính quyền địa phương 131
5.3.2 Đối với cộng đồng địa phương 136
5.3.3 Đối với doanh nghiệp 140
5.3.4 Đối với tổ chức NGOs 142
5.4 Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 144
5.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 144
5.4.2 Một số hướng nghiên cứu trong tương lai 145
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
PHỤ LỤC 163
Trang 8Du lịch cộng đồngHội đồng nhân dân
Phát triển du lịch bền vữngThanh niên Cộng sản Hồ Chí MinhTài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên môi trườngChương trình Môi trường Liên Hợp quốcc
Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp quốcVăn hoá thông tin
Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu về các bên liên quan và vai trò của các bên trong
hoạt động chính của phát triển du lịch 32
Bảng 3.1: Số lượng các đối tượng phỏng vấn 48
Bảng 3.2: Bảng điểm trung bình một số tiêu chí của các tình huống nghiên cứu 55
Bảng 3.3: Các giá trị văn hoá truyền thống nổi bật của Bản Lác 59
Bảng 3.4: Tiêu chí đánh giá mức độ bền vững của điểm đến Bản Lác 60
Bảng 3.5: Các giá trị văn hoá truyền thống nổi bật của Mai Hịch 65
Bảng 3.6: Tiêu chí đánh giá mức độ bền vững của điểm đến Mai Hịch 67
Bảng 3.7: Các giá trị văn hoá truyền thống nổi bật của Tả Van 72
Bảng 3.8: Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu trong phát triển DLBV Tả Van 73
Bảng 3.9: Các giá trị văn hoá truyền thống nổi bật của Nậm Đăm 79
Bảng 3.10: Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu trong phát triển DLBV Nậm Đăm 80
Bảng 3.11: Thống kê các nội dung phát triển du lịch cộng đồng bền vững trong các điểm đến nghiên cứu 81
Bảng 4.1: Tổng hợp những hoạt động sáng tạo giá trị điển hình ở các tình huống nghiên cứu 87
Bảng 4.2: Tổng hợp những biểu hiện chính trong hoạt động chia sẻ giá trị ở các tình huống nghiên cứu 90
Bảng 4.3: Tổng hợp những biểu hiện của hoạt động bảo tồn nguồn gốc giá trị ở các tình huống 94 Bảng 4.4: Tổng hợp những hoạt động của chính quyền địa phương trong quá trình phát triển du lịch bền vững 97
Bảng 4.5: Tổng hợp những hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình phát triển du lịch bền vững 102
Bảng 4.6: Tổng hợp những hoạt động của cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch bền vững 106
Bảng 4.7: Tổng hợp những hoạt động của NGOs trong quá trình phát triển du lịch bền vững 111
Bảng 4.8: Tổng hợp những điểm mạnh và hạn chế của các bên liên quan trong quá trình phát triển du lịch bền vững 119
Bảng 5.1: Tổng hợp những hoạt động chính của các bên liên quan trong quá trình phát triển du lịch bền vững 124
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình ba trụ cột phát triển bền vững 8
Hình 2.2: Mô hình phát triển du lịch bền vững 13
Hình 2.3: Các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vững 24
Hình 2.4: Mối quan hệ giữa các bên liên quan và phát triển điểm đến DLBV 26
Hình 2.5: Mối liên hệ giữa các bên liên quan tham gia hoạt động du lịch 27
Hình 2.6: Khung phân tích các bên liên quan trong phát triển DLBV 38
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 45
Hình 4.1: Các hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bền vững 83
Hình 5.1: Mô hình các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững 130
Hình 5.2: Một số đề xuất với Chính quyền địa phương 136
Hình 5.3: Một số đề xuất với Cộng đồng địa phương 139
Hình 5.4 Một số đề xuất với Doanh nghiệp 142
Hình 5.5 Một số đề xuất với NGOs 143
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 3.1: Vòng đời các điểm du lịch nghiên cứu 44
Biểu đồ 3.1: Biến động lượng du khách đến Bản Lác, giai đoạn 2013-2019 57
Biểu đồ 3.2: Doanh thu từ du lịch ở Bản Lác giai đoạn 2013-2019 58
Biểu đồ 3.3: Biến động lượng du khách đến Mai Hịch, giai đoạn 2013-2019 64
Biểu đồ 3.4: Doanh thu từ du lịch ở CBT Mai Hịch giai đoạn 2013-2019 64
Biểu đồ 3.5: Biến động lượng du khách đến Tả Van, giai đoạn 2013-2019 70
Biểu đồ 3.6: Doanh thu từ du lịch ở Tả Van giai đoạn 2013-2019 70
Biểu đồ 3.7: Biến động lượng du khách đến Nậm Đăm giai đoạn 2013-2019 77
Biểu đồ 3.8: Doanh thu từ du lịch ở Nậm Đăm giai đoạn 2013-2019 78
Trang 11có cân nhắc đến các yếu tố và nguyên tắc của phát triển bền vững Các nghiên cứu về dulịch bền vững được các tác giả thực hiện có xu hướng xoay quanh ba trụ cột phát triển bềnvững, đó là phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường Trên thực tế, việc đảmbảo cân đối ba trụ cột trên là mục tiêu và kết quả của phát triển bền vững Làm thế nào đểđạt được mục tiêu đó vẫn còn là câu hỏi chưa được trả lời thống nhất, các nghiên cứu vẫnchưa làm rõ các nhóm hoạt động cần thiết và vai trò của các bên trong việc hướng tới mụctiêu trên.
Trong nhiều năm, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, phát triển dulịch chỉ có thể đạt được bền vững khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên tham gia có lợiích liên quan Tuy nhiên, luôn có những trở ngại trong mối quan hệ này vì tồn tại sự khácbiệt về cách tiếp cận và nhận thức, thậm chí còn có sự xung đột về mặt lợi ích giữa họ(Markwick, 2000; Ioannides, 1995) Trong lĩnh vực du lịch, rào cản của sự hợp tác hay sựxung đột giữa các bên thường được cho là bởi những nguyên nhân sau: (i) Các quyết định
về du lịch trong quy hoạch và phát triển chiến lược thường được xuất phát từ cấp trên ápđặt xuống cấp dưới (top-down), do đó đôi khi không phản ánh đúng
Trang 12lợi ích và ý muốn của cộng đồng người dân địa phương; (ii) Các quyết định thườngđược hình thành và thể hiện lợi ích của một số nhóm nhất định, do vậy thường khôngphản ảnh đúng lợi ích chung của đa số bên liên quan; (iii) Một số bên liên quan cónăng lực hoặc nhận thức có phần hạn chế thường không được tham vấn, thậm chí bịđưa ra ngoài trong suốt quá trình ra quyết định mặc dù họ là những người đóng vai tròquan trọng trong quá trình thực thi các quyết định đó Nghiên cứu các bên liên quan làmột chủ đề quan trọng thu hút được sự quan tâm, tuy nhiên nó vẫn là một “hộp đen”đối với giới nghiên cứu học thuật Làm sao để chính quyền địa phương, doanh nghiệp,cộng đồng địa phương và du khách đều hành động hướng tới mục tiêu phát triển dulịch bền vững vẫn là câu hỏi khó, chưa có lời giải cụ thể, chính xác cho các nhà nghiêncứu và quản lý.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần trả lời câu hỏi về vai trò vàhành động của các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững Du lịchcộng đồng là mô hình du lịch được phát triển hướng đến phát triển du lịch bền vữngvới sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương vào hoạt động du lịch nhằm mụctiêu giảm nghèo và phát triển cộng đồng Bản chất của Du lịch cộng đồng là tạo ra mộtngành du lịch mà cộng đồng có thể kiểm soát được sự phát triển du lịch, tham gia xâydựng sản phẩm du lịch, là nhà cung cấp tài nguyên và nguồn nhân lực con người cho
du lịch (Muhanna, 2007)
Bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 90, DLCĐ đã có mặt tại Việt Nam Sauhơn 20 năm phát triển, hình thức du lịch này đã giúp người dân đạt được nhiều thành tựukinh tế đáng kể (Đỗ Nguyễn Đệ, 2008) Trong đó, khu vực Tây Bắc Việt Nam là nơi đượcđánh giá hội tụ đủ các yếu tố cần thiết để thu hút và phát triển thành công mô hình du lịchcộng đồng (Thành Chí, 2020) Tuy nhiên cũng giống như nhiều mô hình du lịch khác, các
mô hình du lịch cộng đồng tại khu vực Tây Bắc đang xuất hiện ngày càng nhiều các dấuhiệu thiếu bền vững (Vũ Hà, 2017) Thực tiễn quản lý cũng như các nghiên cứu chưa thực
sự làm rõ vai trò của các bên và các nhóm hành động cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu pháttriển bền vững của du lịch cộng đồng Chính vì các lý do trên, tác giả đã thực hiện luận án
với đề tài “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững từ góc nhìn lý thuyết các bên liên quan: Nghiên cứu điển hình ở khu vực Tây Bắc Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án tập trung vào việc xác định vai trò các bên liên quan và các hoạt động chính được thực hiện hướng tới phát triển du lịch bền
Trang 13vững tại các điểm du lịch cộng đồng ở khu vực Tây Bắc, Việt Nam Theo đó, một số nội dung cần phải làm rõ như:
- Nhận diện các hoạt động chính được thực hiện để các điểm du lịch cộng đồng phát triển bền vững
- Xác định các bên liên quan, vai trò của từng bên và đánh giá mức độ tác động của mỗi bên đến sự phát triển bền vững của các điểm du lịch cộng đồng
- Xác định các khía cạnh thiếu bền vững, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch cộng đồng
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, luận án tập trung trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
1 Phát triển du lịch cộng đồng ở khu vực Tây Bắc dựa trên các khía cạnh kinh tế
- xã hội - môi trường được thực hiện như thế nào? Những hoạt động nào được thực hiện thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển bền vững?
2 Các bên liên quan chính bao gồm những chủ thể nào? Vai trò của mỗi bên vàhoạt động của mỗi bên đã thực hiện trong quá trình phát triển bền vững của các điểm dulịch cộng đồng là gì?
3 Đâu là những khía cạnh thiếu bền vững trong các hoạt động phát triển du lịchcộng đồng là gì? Cần phải làm gì để phát triển và nâng cao tính bền vững tại điểm đếncho mô hình du lịch cộng đồng trong tương lai?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là vai trò của các bên liên quan và pháttriển du lịch cộng đồng bền vững
Trang 141.4 Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá và mang lại
sự hiểu biết sâu sắc hơn về phát triển du lịch bền vững, các hoạt động hướng tới sựphát triển du lịch bền vững của các bên liên quan tại các điểm du lịch cộng đồng ởmiền núi Tây Bắc Việt Nam
Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, tác giả xác định khoảng trống, câu hỏi nghiên cứu và phát triển khung phân tích của luận án Dựa
trên kết qủa đó, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính là phương phápnghiên cứu chính để thực hiện luận án
Giai đoạn 2: Khảo sát thực địa lần 1
Đây là cuộc khảo sát thực địa thí điểm được thực hiện vào tháng 12/2016 Cuộckhảo sát này nhằm hiểu rõ hơn các vấn đề trong nội hàm câu hỏi nghiên cứu, trong đóchú trọng tới câu hỏi phỏng vấn, đối tượng và kỹ thuật phỏng vấn; thể loại và các cáchtìm kiếm tài liệu thứ cấp Sau giai đoạn này, tác giả đã có những thay đổi và điềuchỉnh kịp thời để thu nhập tài liệu tốt hơn trong các đợt khảo sát chính thức tiếp theo
Giai đoạn 3: Khảo sát thực địa lần 2, 3 và 4
Đây là giai đoạn khảo sát thực địa chính thức tại huyện Sa Pa (tỉnh Lào cai,tháng 2/2017), Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Hà Giang, tháng 4/2017) và huyện MaiChâu (tỉnh Hoà Bình, tháng 4/2018) Các chuyến đi này, tác giả kết hợp thu thập dữliệu thực địa và dữ liệu thứ cấp từ các cá nhân, tổ chức và đơn vị liên quan phục vụnghiên cứu sau này
Giai đoạn 4: Tổng hợp dữ liệu, mô tả các tình huống
Dựa trên kết quả thu được từ giai đoạn 3, tác giả thực hiện tổng hợp, phân tích
sơ bộ và lựa chọn 4 tình huống nghiên cứu chính thức, đó là Bản Lác, Mai Hịch(huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình), xã Tả Van (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), xã NậmĐăm (huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) Nội dung chi tiết về quá trình phát triển du lịch
và sự tham gia của các bên liên quan tại mỗi điểm đến vào quá trình phát triển du lịchbền vững được tác giả tổng hợp và xây dựng thành từng tình huống nghiên cứu riêngbiệt Trong giai đoạn này, tác giả có sử dụng thêm kết quả khảo sát khách du lịch tạicác điểm nghiên cứu để tăng thêm tính thuyết phục trong quá trình đánh giá mức độbền vững của mỗi điểm đến, phục vụ quá trình phân tích ở giai đoạn 5
Trang 15Giai đoạn 5: Phân tích, hoàn thành luận án.
Giai đoạn này tác giả tiến hành phân tích theo khung phân tích đã được xây dựng
ở giai đoạn 1 dựa trên dữ liệu tương ứng được tổng hợp ở giai đoạn 4 Kết quả thuđược phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đề ra, từ đó tác giả khuyến nghị một số giải phápthực hiện cho các bên liên quan trong lộ trình đạt được sự phát triển du lịch cộng đồngbền vững trong tương lai
Quy trình nghiên cứu được trình bày chi tiết tại mục 3.1.2 của Chương 3
1.5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã có những đóng góp mới về chủ đề phát triển du lịch bền vững trên cả
2 phương diện lý luận và thực tiễn, cụ thể:
Đóng góp về mặt lý luận:
Đề tài luận án là một trong những đề tài đầu tiên thực hiện nghiên cứu định tính
về vai trò và các hoạt động các bên liên quan thực hiện để thúc đẩy phát triển du lịchcộng đồng bền vững tại Việt Nam Những đóng góp mới của đề tài được thể hiện ở cácđiểm sau đây:
Thứ nhất, từ tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây chủ
yếu sử dụng cách tiếp cận dựa trên các khía cạnh phát triển bền vững đơn lẻ để phân tích
về phát triển du lịch bền vững Ngoài ra, các nghiên cứu thường chỉ tập trung phân tíchmục tiêu phát triển bền vững là đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, ổn định xãhội và bảo vệ môi trường mà chưa chỉ rõ các nhóm hoạt động cần thiết để đạt được mụctiêu trên Luận án đánh giá sự bền vững của điểm đến, coi sự gắn kết và cân bằng của cáckhía cạnh phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) là mục tiêu, từ đó đi sâu và xácđịnh ba nhóm hoạt động chính để đạt được phát triển du lịch cộng đồng bền vững, đó làsáng tạo giá trị, chia sẻ giá trị và bảo tồn nguồn gốc giá trị
Thứ hai, luận án chỉ ra rằng, để phát triển du lịch cộng đồng bền vững cần có sự
tham gia hiệu quả của các bên liên quan Sử dụng lý thuyết các bên liên quan, luận án
đã xác định có 4 bên liên quan chính tham gia vào quá trình sáng tạo giá trị, chia sẻ giátrị và bảo tồn nguồn gốc giá trị, bao gồm: chính quyền địa phương, doanh nghiệp,cộng đồng địa phương, và trong một số trường hợp bao gồm cả các tổ chức phi Chínhphủ (NGOs) Ngoài ra, luận án còn xác định được vai trò, sự tác động của từng bênliên quan thể hiện trong các nhóm hoạt động đến mức độ bền vững của điểm đến
Trang 16Đóng góp về mặt thực tiễn:
Dựa vào các nghiên cứu tình huống về du lịch cộng đồng ở khu vực Tây Bắc,luận án đã có đóng góp sâu sắc về thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung vàmiền núi Tây Bắc nói riêng Cụ thể:
Thứ nhất, các hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bền vững được chia thành
ba nhóm chính: i) Các hoạt động sáng tạo giá trị; ii) Các hoạt động chia sẻ giá trị; vàiii) Các hoạt động bảo tồn nguồn gốc giá trị Ba nhóm hoạt động này tương tác chặtchẽ với nhau để tạo nên sự phát triển bền vững Trong đó, hoạt động sáng tạo giá trịhướng nhiều vào mục tiêu phát triển, còn hoạt động chia sẻ giá trị và bảo tồn nguồngốc giá trị thúc đẩy sự phát triển bền vững
Thứ hai, tại 4 điểm nghiên cứu Bản Lác, Mai Hịch, Tả Van, Nậm Đăm, vai trò
của các bên liên quan được thể hiện rất rõ trong cả ba nhóm hoạt động ở trên, đồngthời nghiên cứu đã chỉ ra sự đóng góp, mức độ tham gia cụ thể của từng bên, sự gắnkết giữa các bên trong mỗi giai đoạn phát triển Mức độ tham gia và hiệu quả hoạtđộng của các bên rất khác nhau trong các tình huống nghiên cứu khác nhau
Thứ ba, để phát triển và nâng cao mức bền vững tại điểm đến du lịch cộng đồng,
luận án đã đ ề xuất một số khuyến nghị đối với các bên liên quan trong các hoạt độngchính phát triển du lịch cộng đồng bền vững Trong đó, (i) Chính quy ền địa phương đóngvai trò chủ yếu trong xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển du lịch; đưa ra chínhsách, tạo hành lang kết nối cho các bên cùng tham gia hoạt động du dịch; (ii) Doanhnghiệp đóng vai trò chủ chốt cho sáng tạo giá trị như đề xuất ý tưởng, thiết lập mạng lướihợp tác và tham gia các hoạt động đầu tư phát triển du lịch; (iii) Cộng đồng địa phươngđóng vai trò tham gia tích cực trong cả 3 hoạt động chính, tham gia chuỗi cung ứng dịch
vụ du lịch, xây dựng và thực hiện hương ước để duy trì và bảo tồn nguồn gốc giá trị, gắnliền hoạt động du lịch với phát triển nguồn nhân lực địa phương; (iv) NGOs đóng vai tròkết nối, kích hoạt các hoạt động du lịch ban đầu, thiết lập mạng lưới hoạt động giữa cácbên và khuyến khích hướng dẫn người dân tham gia du lịch
1.6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mục lục và các bảng danh mục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận ánđược cấu trúc thành 5 chương, bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu chung về luận án
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các tình huống nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận, khuyến nghị và đề xuất
Trang 17CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Mục tiêu của chương này nhằm tìm hiểu các khái niệm, nội hàm của phát triển
du lịch bền vững và phát triển du lịch cộng đồng bền vững Dựa trên cơ sở lý thuyếtcác bên liên quan, nghiên cứu đề xuất “khung phân tích các bên liên quan trong pháttriển du lịch cộng đồng bền vững”
2.1 Tổng quan nghiên cứu
2.1.1 Phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững
2.1.1.1 Phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972, trongmột báo cáo mang tên “Các giới hạn tăng trưởng” (Meadows và cộng sự, 1972) và được sựchú ý trên toàn thế giới với hàm ý thúc đẩy phát triển mà không gây nguy hiểm cho môitrường vào năm 1987, tại báo cáo của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (Ủy ban
Brundtland): “Phát triển bền vững là đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng
đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” (WCED, 1987: 43).
Khái niệm này tiếp tục được thảo luận bổ sung tại Chương trình Nghị sự 21 haycòn gọi là Agenda 21 để thống nhất kế hoạch hành động và các nguyên tắc cơ bản vì
sự phát triển bền vững với 8 nội dung chính được coi là các “mục tiêu phát triển thiênniên kỷ” Khái niệm phát triển bền vững tiếp tục được phát triển vượt ra khỏi ý nghĩaban đầu thuộc lĩnh vực sinh thái, mà được được xác định là một quá trình phát triển có
sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: phát triểnkinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, khái niệm được khẳng định tại Hộinghị Rio-92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại hội nghị Johnannesburg năm 2002
Theo quan điểm này, tại Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường 2014 và dự thảosửa đổi năm 2020 (trang 2) đã thống nhất khái niệm phát triển bền vững là “phát triểnđáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhucầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởngkinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”
Từ các quan điểm ở trên, phát triển bền vững tập trung có nội hàm tập trung vào
ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thiết lậpcác nguyên tắc của hội nhập và phát triển Mối quan hệ giữa ba trụ cột được thể hiệnbằng sơ đồ sau:
Trang 18Hình 2.1: Mô hình ba trụ cột phát triển bền vững
Nguồn: UNCED (1992)
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, phát triển bền vững được hiểu
là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đếnkhả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hàihòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường
2.1.1.2 Phát triển du lịch bền vững
Lịch sử phát triển và khái niệm
Du lịch cũng giống như các ngành công nghiệp khác, mang tính động thay đổitheo tiến trình lịch sử và tiếp cận gần với xu hướng phát triển toàn cầu về bảo vệ môitrường và phát triển bền vững Cùng với khái niệm “Du lịch mềm - Soft tourism”(Krippendorf, 1982) còn có một loạt các thuật ngữ liên quan khác quan tâm tới yếu tốmôi trường như “Du lịch tự nhiên” (Durst và Ingram, 1998), “Du lịch có trách nhiệm”(Wheeler, 1991; UNWTO, 1989), “Du lịch sinh thái” (Boo, 1990) và “Du lịch xanh”(Bramwell, 1991) Các loại hình du lịch này được đại diện bởi khái niệm “Du lịch thaythế - Alternative Tourism” - một sự thay thế cho sự phát triển của du lịch đại chúng(Butler, 1999; Clarke, 1997) Tất cả các loại hình này đều có điểm chung là quan tâmchính tới du lịch quy mô nhỏ, cùng áp dụng, quảng bá sẽ về một hình ảnh điểm đếnxanh và sạch (Butler, 1999); dự định hoặc tuyên bố sẽ mang lại lợi ích cho người dânđịa phương, bảo tồn môi trường và đối xử với văn hóa bản địa một cách nhạy cảm, và
hỗ trợ xóa đói giảm nghèo (Cater, 1993; DfID, 1999; Krippendorf, 1982; Weaver,1998; Wheeller, 1991)
Du lịch thay thế có thể được coi là một hình thức sớm công nhận và áp dụng các lýtưởng bền vững (Weaver, 2006) và một số hình thức của du lịch thay thế được một
Trang 19số người coi là đồng nghĩa với du lịch bền vững (Lane, 1994) Do vậy, du lịch bềnvững lần đầu tiên được mô tả là một cực đối nghịch với du lịch đại chúng Du lịch bềnvững được coi là hoạt động ở quy mô nhỏ trong khi du lịch đại chúng hoạt động ở quy
mô lớn, không bền vững (Clarke, 1997; Hardy và Beeton, 2001a; Swarbrooke, 2000)
Tuy nhiên, ở góc độ nào đó không tồn tại sự đối lập về mặt khái niệm giữa du lịchbền vững và du lịch đại chúng Vì ở quy mô phát triển liên tục, khái niệm “mức độ bềnvững” tồn tại giữa 2 thái cực bền vững - không bền vững Do vậy, tính bền vững chỉ đượccoi là một mục tiêu hướng tới chứ không phải là điểm cuối phải xác định Và du lịch bềnvững được xem là một mục tiêu, sẽ áp dụng cho tất cả các hình thức du lịch bất kể quy môlớn hay nhỏ (Clarke, 1997; Hardy và Beeton, 2001a; Swarbrooke, 2000)
Trong hơn hai thập kỷ qua, nhiều tác giả cho rằng vẫn chưa tìm được sự đồngnhất trong bản chất, mục tiêu và khả năng ứng dụng của du lịch bền vững Do vậy,cũng không xác định được định nghĩa du lịch bền vững nào là phổ biến hay duy nhất
“Phát triển du lịch bền vững, nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu cơbản của con người, thúc đẩy công bằng hiện tại và giữa các thế hệ và cải thiện chấtlượng cuộc sống của tất cả mọi người” Đây là khái niệm chung về du lịch bền vữngđược lần đầu tiên sử dụng vào đầu những năm 1990 khi một số tác giả nhận thức đượctiềm năng to lớn của ngành du lịch trong việc tạo ra cả chi phí và lợi ích như (Bull,1992; D’Amore, 1992; Inskeep, 1991; Lane, 1991; Manning, 1991; Pigram, 1990;Dearden, 1991; Zurick, 1992) Inskeep (1991:495) tiếp tục định nghĩa này, ông chorằng "phát triển du lịch bền vững là nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường, đáp ứng cácnhu cầu cơ bản của con người, thúc đẩy sự công bằng trong hiện tại và giữa các thế hệ
và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người” Còn McKercher (1993) lại chorằng, khi du lịch đạt được bền vững thì tài nguyên văn hóa - môi trường, xã hội vàkinh tế của một khu vực sẽ được duy trì mãi mãi
Chú ý hơn tới yếu tố môi trường, Butler (1993) nhận định: “phát triển du lịch bềnvững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định và sựphát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng của môi trường với con người trong khivẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài” Quan điểm nàycũng đồng thời nhận được sự đồng thuận khá cao của các tác giả khác như Murphy(1998), Mowforth và I (2003) Trong báo cáo “Tương lai của chúng ta - Our CommonFuture” của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển: “Hoạt động phát triển du lịchbền vững là hoạt động phát triển ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy
mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, làm ảnhhưởng đến khả năng hỗ trợ của tài nguyênnguyên” (WCED, 1987:43)
Trang 20Tổng quan hơn, năm 1996, Tổ chức Du lịch Thế giới đã định nghĩa: “Du lịch cótính đến các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai, giải quyết cácnhu cầu của du khách, của ngành công nghiệp, môi trường và cộng đồng địa phương”(UNWTO, 1996) Tại Việt Nam, Luật Du lịch năm 2017 cho rằng, “phát triển du lịchbền vững được hiểu là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế -
xã hội - môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động dulịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”(Luật du lịch Việt Nam, 2017, p:2)
Như vậy, khái niệm du lịch bền vững có nhiều giai đo ạn phát triển, sau nhiềunghiên cứu và thảo luận, Tổ chức du lịch thế giới năm 1998 đã chính thức thông qua kháiniệm du lịch bền vững và được công nhận rộng rãi bởi cộng đồng các nhà nghiên cứu, nhàquản lý và thực thi; được áp dụng rộng rãi và được sử dụng làm khuôn mẫu cho cácchương trình phát triển du lịch bền vững đa dạng nhất Trong phạm vi nghiên cứu của
luận án, tác giả cũng thống nhất sử dụng khái niệm này, đó là “Việc phát triển các hoạt
động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển
du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế - xã hội, thẩm mĩ của con người trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người” (UNWTO, 1998).
Mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững nói chung có mục tiêu chung là tối ưu các lợi ích kinh tế, xã hộicho người dân địa phương và gia tăng trải nghiệm của du khách cũng như bảo tồn tàinguyên thiên nhiên Để tập trung phát triển, nhiều chuyên gia du lịch đã biết áp dụng cácnguyên tắc của phát triển bền vững vào quá trình sản xuất sản phẩm du lịch, các chươngtrình xúc tiến, quảng bá và cung cấp dịch vụ cho du khách Du lịch bền vững còn là mộtcông cụ có thể tăng cường cơ hội phát triển cộng đồng (George và Henthorne, 2007).Ngoài ra, du lịch là một ngành kinh tế có tương đối ít rào cản khi tham gia Nhờ có dulịch, kinh tế được phát triển thuận lợi, các khía cạnh văn hoá – xã hội và môi trường đượcđặt ở vị trọng tâm và quan trọng ngang nhau trong quá trình phát triển, từ đó xây dựng đư
ợc các cơ hội phát triển tiềm năng đ ể xóa đói gi ảm nghèo (Weaver, 2006) Theo Inskeep(1991) thì du lịch phát triển bền vững cần phải tập trung vào năm mục tiêu chính, cònUNWTO (1998) khẳng định rằng cần phải giải quyết được sáu mục tiêu chính Trongcuốn “Làm cho du lịch bền vững hơn - sách hướng dẫn cho các nhà làm chínhsách/Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers” do Chương trìnhMôi trường Liên Hợp quốc và Tổ chức Du lịch Thế giới xuất bản năm
Trang 212005 đã nêu lên 12 mục tiêu của du lịch bền vững (UNEP và UNWTO, 2005) Các mụctiêu này quan trọng ngang nhau, không mục tiêu nào được đề cao hơn cả, trong đó nhấnmạnh tới khả năng tăng trưởng kinh tế cho cộng đồng địa phương, tăng thu nhập và giảmnghèo cho người dân; đảm bảo công bằng xã hội, phong phú về văn hoá, tăng khả năngbảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự đa dạng sinh học trong tự nhiên.
Nguyên tắc và mô hình phát triển du lịch bền vững
Trong nhiều năm trở lại đây, một loạt các nguyên tắc và hướng dẫn cụ thể hơn vềphát triển du lịch bền vững đã đư ợc nghiên cứu, phát triển Các nguyên tắc đã đ ạt đượcmức độ đồng thuận đáng kể trong giới học giả, được cắt nghĩa và giải thích rõ ràng trongquá trình áp dụng vào thực tế UNWTO (2004), UNEP và UNWTO (2005) tuyên bố rằng,trong thực tiễn nếu các nguyên tắc áp dụng được trong phát triển và quản lý du lịch bềnvững thì sẽ áp dụng được cho tất cả các loại hình du lịch ở mọi điểm đến
D’Amore (1983) cho rằng, du lịch muốn phát triển được bền vững phải tuân thủ
9 nguyên tắc, trong đó nhấn mạnh tới việc người dân phải tự ý thức được tầm quantrọng của du lịch, phải có sự phối hợp công - tư trong triển khai thực hiện, cộng đồng dân
cư địa phương phải được tham gia và phải giải quyết được các xung đột có khả năng xảy
ra trước khi triển khai các hoạt động phát triển du lịch Năm 1998, Tổ chức Bảo tồnThiên nhiên Thế giới tuyên bố, để phát triển du lịch bền vững cần có 10 nguyên tắc, chủyếu tập trung vào: sử dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển xã hội,bảo tồn văn hoá, lồng ghép các nội dung phát triển du lịch vào chiến lược phát triểnchung của điểm đến, địa phương Và đặc biệt là cho phép người dân địa phương đượctham gia vào việc hoạch định chính sách, thực thi và giám sát quá trình phát triển du lịch.(IUCN, 2008)
Phát triển du lịch bền vững là một nội dung của phát triển bền vững, đây là địnhhướng đang được thúc đẩy trên toàn thế giới như một mục tiêu phát triển trong tương
lai của con người Do vậy, để phát triển du lịch bền vững, UNWTO (2004) và UNEP
và UNWTO (2005) đã đề ra 5 nguyên tắc để tập trung phát triển, đó là sử dụng tối ưutài nguyên và bảo vệ môi trường; tôn trọng và bảo tồn tính chân thực của văn hoá, xãhội cộng đồng; đảm bảo các hoạt động kinh tế dài hạn, khả thi, công bằng cho các bênliên quan; phải có sự tham gia của tất cả các bên liên quan; và duy trì mức độ hài lòngcao của du khách
Trang 22mang lại lợi ích kinh tế ổn định, công bằng cho cộng đồng địa phương và các bên liênquan khác; (ii) Về văn hóa - xã hội, du lịch bền vững gìn giữ và bảo vệ thay cho cáchoạt động gây tiêu cực đến văn hoá cộng đồng và cấu trúc xã hội; (iii) Về môi trường,
du lịch bền vững giảm tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường, không làm hạinguồn lợi tự nhiên và tích cực bảo vệ môi trường
Tổ chức Du lịch Thế giới chỉ ra các tiêu chí của du lịch bền vững: (i) Về kinh
tế, du lịch bền vững đảm bảo hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi íchkinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng,bao gồm cả những nghề nghiệp, cơ hội thu lợi nhuận ổn định, cung cấp các dịch vụ xãhội và đóng góp vào xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng địa phương; (ii) Về xã hội vàvăn hóa, phát triển du lịch găn liền với tôn trọng tính vốn có của cộng đồng địaphương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng, đónggóp vào sự hiểu biết và chia sẻ văn hóa; (iii) Về môi trường, phát triển du lịch trongđiều kiện đảm bảo sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường, duy trì quá trình sinhthái thiết yếu, di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên
Niyaz Kamilevich và cộng sự (2016) cho rằng phát triển du lịch bền vững là mụctiêu hướng tới của ngành du lịch vì sẽ giúp cải thiện cán cân thanh toán, tiếp cận cácnguồn đầu tư mới, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm và các tiện ích công cộngcũng như các dịch vụ khác Sự phát triển du lịch bền vững được xem như một mô hình đangành, bao gồm nhiều vấn đề như chính trị, phát triển kinh tế, vấn đề môi trường, các yếu
tố xã hội, cấu trúc của hệ thống du lịch quốc tế (Holcomb và cộng sự, 2007) Tuy nhiên,việc xuất hiện các vấn đề môi trường và thương mại hóa quá mức cấu trúc của hệ thống
du lịch quốc tế là những vấn đề trở ngại để thực hiện du lịch bền vững
Theo Swarbrooke (1999), phát triển du lịch bền vững có thể được chia thành bakhía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Khía cạnh kinh tế bao gồm dòng tiền đượctruyền vào cộng đồng địa phương và lợi nhuận doanh nghiệp địa phương thu được từhoạt động du lịch Khía cạnh xã hội bao gồm các hành động nội bộ và tương tác giữakhách đến và cộng đồng Khía cạnh môi trường bao gồm các hoạt động bảo tồn môitrường tự nhiên, môi trường nông nghiệp trong cộng đồng
Hall và cộng sự (1997) đã đưa ra mô hình các nguyên tắc và giá trị của du lịchbền vững bao gồm 3 mục tiêu chính như sau: (i) Mục tiêu kinh tế - xã hội: tạo được sựgắn kết lợi ích cộng đồng dựa trên nền tảng kinh tế; (ii) Mục tiêu xã hội - môi trường:tạo được sự công bằng và công tác bảo tồn; (iii) Mục tiêu kinh tế - môi trường: tạo sự
Trang 23hoà hợp giữa kinh tế và môi trường Trạng thái cuối cùng là điểm giao nhau của kinh tế
- xã hội - môi trường là trạng thái đạt được sự bền vững cốt lõi trong phát triển du lịch.Tác giả cho rằng 3 mục tiêu này luôn được tương tác với nhau một cách chắc chắn và cóvai trò ngang bằng nhau thì mới được coi là du lịch bền vững
Hình 2.2: Mô hình phát triển du lịch bền vững
Nguồn: Hall và cộng sự (1997)
Đồng tình với quan điểm này, Swarbrooke (2000) cũng cho rằng phát triển du lịchbền vững được dựa trên ba khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường và được công nhận giátrị ngang nhau, phải có mối quan hệ tương tác giữa chúng thì mới đạt được sự bền vữngtrong phát triển du lịch Hoặc cả ba chiều đóng góp như nhau cho sự phát triển Müller(1994) Còn với Wight (1997), phần quan trọng của du lịch bền vững là nhóm các giá trịtiền ẩn trong việc kết hợp hài hòa của mục tiêu kinh xã hội và văn hóa
Như vậy, về cơ bản, nhiều tác giả cho rằng cả 3 khía cạnh đóng vai trò cân bằngnhư nhau trong phát triển du lịch bền vững nhưng một số lại cho rằng có sự khác biệt
Ví dụ như, Hunter (1997) không đồng ý với ý tưởng cân bằng và coi đó là lý tưởng vàphi thực tế Ông gợi ý rằng phát triển du lịch gồm 4 khía cạnh Đó là (1) mệnh lệnh dulịch - phát triển du lịch và đáp ứng nhu cầu của du khách và ngành du lịch; (2) Sảnphẩm du lịch dẫn đầu - sản phẩm du lịch được ưu tiên hơn tất cả các mối quan tâmkhác; (3) Ưu tiên quan tâm môi trường - cần phải ưu tiên môi trường trong phát triển,tất cả các khía cạnh khác chỉ là thứ yếu; (4) Du lịch tân cổ điển - không khuyến khíchphát triển du lịch ồ ạt ở các khu du lịch sinh thái trên đất liền
Trang 24Như vậy, phát triển bền vững được thể hiện ở nhiều quan điểm khác nhau, songnhìn chung hầu hết các tác giả đều thống nhất ở các nội dung: Phát triển bền vững là
sự phát triển hài hoà, chặt chẽ giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển kinh tế,phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không gây trởngại đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của các thế hệ trong tương lai
Để phát triển du lịch bền vững thì mỗi khía cạnh cần phải được công nhận nhưnhau, mối quan hệ tương tác giữa cả ba khía cạnh phải được thừa nhận (Swarbrooke,1999), các yếu tố xã hội cần phải được tính đến trong phân bổ nguồn lực (Stein vàcộng sự, 1999) Tuy nhiên, trong thực tế, các nghiên cứu về du lịch bền vững chỉ tậptrung chủ yếu ở khía cạnh kinh tế và môi trường (Garrod và Fyall, 1998; Ioannides,1995; Markwick, 2000; McCool, 1995), khía cạnh xã hội ít được đề cập đến nhiều vìđây là một khía cạnh phức tạp, khó phân tích và diễn giải một cách hiệu quả
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững được thực hiện dựatrên kinh nghiệm phát triển thực tiễn và tiếp thu kết quả nghiên cứu của quốc tế gắn vớiđiều kiện thực tế của Việt Nam Phạm Trung Lương (2002) đã thực hiện tổng quan, hệthống hoá các khái niệm cơ bản về phát triển du lịch bền vững như khái niệm, nguyên tắcphát triển, dấu hiệu nhận biết, các mô hình phát triển và kinh nghiệm phát triển của một
số nước trên thế giới và thực trạng phát triển du lịch của Việt Nam Lê Chí Công (2014)dựa trên các yếu tố như mục tiêu, đối tượng, nguồn lực, phương pháp tiếp cận, mức độkiểm soát để thực hiện so sánh giữa phát triển du lịch không bền vững và bền vững, từ
đó, tác giả nhấn mạnh cần phải xây dựng một cách toàn diện về phát triển du lịch bềnvững Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2019) cho biết, để phát triển du lịch bền vững thì
3 mục tiêu (1) phát triển hiệu quả kinh tế, (2) phát triển hài hoà xã hội và (3) bảo vệ môitrường sinh thái cần phải được đồng thời thực hiện
Nguyễn Tư Lương (2016) đã nêu được nội hàm khái niệm, vai trò của phát triển dulịch bền vững trên 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của tỉnh Nghệ An, nhưngchưa đề cập được đến các hoạt động chính của phát triển du lịch bền vững cũng như chưa
dự báo được các vấn đề có liên quan trong dài hạn như liên kết với các địa phương.Nguyễn Đức Tuy (2014) cũng mới nêu được nội hàm khái niệm, các tiêu chí đánh giáphát triển du lịch bền vững và đề cập được đến vấn đề liên kết, hợp tác vùng trong pháttriển du lịch bền vững tại khu vực Tây Nguyên Trần Tiến Dũng (2006) đề cập đến tácđộng, các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, các chỉ số đánh gía bền vững ở PhongNha - Kẻ Bàng nhưng chưa được nghiên cứu sâu về vai trò của các bên liên quan tác độngđến phát triển du lịch bền vững Nguyễn Mạnh Cường (2015) đã đề cập đến vai trò củacác bên liên quan, trong đó phân tích sâu vai trò của chính quyền địa phương cấp
Trang 25tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ
ra sự cần thiết trong phối hợp giữa các bên liên quan như tổ chức kinh doanh, doanhnghiệp, chính quyền các cấp Ngoài ra, còn có các nghiên cứu về các loại hình pháttriển du lịch bền vững tại địa phương, cụ thể là nghiên cứu của Đinh Thị Thanh Mai vàNguyễn Thị Bé Ba (2013) về phát triển du lịch bền vững ở Phú Quốc và Dương HoàngHương (2017) về phát triển du lịch bền vững ở Phú Thọ
2.1.2 Du lịch cộng đồng
Lịch sử phát triển và khái niệm
Thuật ngữ du lịch dựa vào cộng đồng (Community Based Tourism - CBT) xuấthiện vào giữa những năm 70 khi mà chính phủ các nước và một số học giả tạo ra mốiliên hệ giữa du lịch và giảm nghèo ở các nước đang phát triển đặc biệt thông qua cácchiến lược như du lịch bền vững (Ashley và Mitchell, 2009) Các phong trào du lịchbền vững và sự ra đời của các sản phẩm du lịch sinh thái, quy mô nhỏ được cho là giảipháp thay thế cho loại hình du lịch đại chúng không bền vững, mở đường cho sự pháttriển của du lịch cộng đồng và đây thường là công cụ do các NGOs thiết lập nhằm giảiquyết các vấn đề xã hội (Pawson và cộng sự, 2017)
Trên phạm vi quốc tế, có nhiều thuật ngữ mô tả hoạt động du lịch này, như “Dulịch cộng đồng (Community Tourism - CT)”, “Du lịch dựa vào cộng đồng(Community Based Tourism - CBT)”, “Du lịch sinh thái dựa vào cộng đ ồng(Community Based Ecotourism - CBET)” và “Sự tham gia của cộng đ ồng trong dulịch (Community Participation in Tourism - CPT)” Tại Việt Nam, Tổng cục Du lịchnăm 2017 xác định là “Du lịch cộng đồng (Community Tourism - CT)” Và tác giảcũng thống nhất sử dụng thuật ngữ “Du lịch cộng đồng - Community Tourism” trongtoàn luận án khi trình bày đến loại hình du lịch này
Khái niệm du lịch cộng đồng đã được đề cập bởi nhiều tổ chức, cá nhân trên toànthế giới Tổ chức Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bảnđịa khu vực Châu Mỹ) đưa ra khái niệm rất cơ bản: “Du lịch cộng đồng là loại hình dulịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục,lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương” (Pachamama, 2019) Đề cậptới vai trò của cộng đồng, Hall (1996) cho rằng: “Du lịch cộng đồng là hình thức du lịchtrong đó tập trung vào sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc lập kế hoạch vàduy trì sự phát triển du lịch nhằm tạo ra một ngành công nghiệp bền vững hơn” Và "Dulịch cộng đồng là một loại hình du lịch, trong đó cộng đồng địa phương được tham giaquản lý, có quyền kiểm soát đáng kể quá trình phát triển và lợi ích kinh
Trang 26tế từ du lịch phần lớn đọng lại trong cộng đồng”, Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới(WWF, 2001: 2).
Đề cập tới mục tiêu phát triển, Choi và Sirakaya (2006) đề xuất khái niệm dulịch cộng đồng bền vững Họ cho rằng, du lịch cộng đồng để đạt được bền vững cầnchú trọng đến mục tiêu tối đa hoá lợi ích kinh tế, ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân
cư và bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu hình, vô hình của cộng đồng và cung cấp trảinghiệm giáo dục chất lượng cao cho du khách
Du lịch cộng đồng có vai trò rất quan trọng với người nghèo, Tổ chức mạng
lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của du lịch cộng đồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của du lịch cộng đồng còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên”.
Đối với công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác giả Võ Quế
(2006) cho rằng, “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong
đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch; tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường văn hoá; được hưởng quyền lợi về vật chất, tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”.
Luật Du lịch năm 2017 chỉ rõ, du lịch cộng đồng “là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý,
tổ chức khai thác và hưởng lợi” Như vậy, theo mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận án, du lịch cộng đồng được hiểu là “là loại hình du lịch được phát triển trên nền tảng các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi, đồng thời chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương”.
Trang 27Sự tham gia của cộng đồng địa phương được xem là yếu tố trung tâm trong pháttriển du lịch cộng đồng bền vững (Timothy và Tosun, 2003) Swarbrooke (1999) cho rằngcộng đồng địa phương nên tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch, quản lý và các hoạtđộng khác có liên quan trong quá trình phát triển du lịch tại địa phương Theo quan điểmnày, cộng đồng địa phương cần được thúc đẩy tham gia vì sẽ (i) hỗ trợ cho quá trình raquyết định phù hợp hơn, gia tăng động lực phát triển kinh tế cho địa phương (Hall, 1999),(ii) gắn chặt trách nhiệm của địa phương với các hoạt động bảo tồn tài nguyên và bảo vệmôi trường, (iii) gia tăng sự hài lòng của du khách khi có sự tham gia của người dân trongcác hoạt động du lịch với niềm tự hào, nhiệt huyết (Hall, 1999).
Cộng đồng địa phương cần được tham gia với vai trò là bên liên quan tham giatích cực, nơi văn hóa và di sản địa phương đang được thiết lập trong hoạt động du lịchcộng đồng (Milne và Ewing, 2004) Sự tham gia của cộng đồng cũng đảm bảo tính dânchủ vì những người địa phương bị ảnh hưởng nhiều nhất từ du lịch được tiếp cận, sửdụng giá trị địa phương đ ối với việc phát triển du lịch trong giới hạn cho phép(Swarbrooke, 1999; Pavlovich, 2001) Tosun (2000a) đã cho rằng, sự tham gia củacộng đồng địa phương là một mô hình phù hợp với các điểm du lịch có mức độ pháttriển khác nhau Mô hình này cho phép người dân được tham gia vào quá trình chia sẻlợi ích, xác định loại hình du lịch và quy mô phát triển du lịch của địa phương Sựtham gia của cộng đồng không chỉ thể hiện qua các quá trình lập kế hoạch, mà cònhướng đến việc đạt lợi ích chung, trong đó có sự tham gia của các bên vào một hoạtđộng và mang lại hiệu quả cao Arai và Pedlar (2003) Đồng quan điểm đó, Wilson vàBaldassare (1996) cho rằng, việc có sự tham gia tích cực của người dân địa phương đãcung cấp cho các bên nhận thức về việc sống trong một cộng đồng thống nhất và chia
sẻ cùng một mục tiêu chung Bên cạnh sự tham gia tích cực của người dân địa phương,tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) cho rằng còn có sự hợp tác chặt chẽ của bên liên quannhư các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, của chính quyền địa phương các cấp,trong đó phần lớn lợi nhuận thu được từ du lịch được dành cho phát triển cộng đồng vàbảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu trải nghiệm chất lượng cao của du khách
Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương gắn liền với đặc điểm riêng của mỗiđiểm đến Arnstein (1969) cho rằng, người dân được tham gia ở 3 mức độ: ít tham gia,tham gia và tham gia hiệu quả Tại mức “ít tham gia”, cộng đồng địa phương chỉ giữ vaitrò được tiếp cận và tham gia ở giai đoạn được các bên liên quan chỉ định, từ đó có thểđược đào tạo, hiểu biết thêm về du lịch cộng đồng Ở mức “tham gia”, cộng đồng địaphương được cung cấp thông tin, được ưu tiên trong các quyết định về phát triển du lịch
và được tham vấn về một số vấn đề liên quan Ở mức độ cao nhất “tham gia hiệu
Trang 28quả”, cộng đồng địa phương có quyền lực, chủ động hoàn toàn trong xây dựng cácquan hệ đối tác và cùng với các bên liên quan đưa ra quyết định then chốt về phát triển
du lịch tại đ ịa phương Pretty (1995) đề xuất hai mức đ ộ tham gia của cộng đ ồng đ ịaphương, đó là tham gia thụ động và tham gia chủ động Ở mức độ cao nhất, cộng đồngđịa phương tham gia có tính mức độ ảnh hưởng đến các tổ chức bên ngoài, đến cácnguồn lực địa phương vì người dân được phép đưa ra các sáng kiến một cách độc lậptrong quá trình thực hiện
Du lịch cộng đồng được xem là sự phối hợp thực hiện của các bên liên quan, làcông cụ phát triển được thực hiện bởi một nhóm bên trong và bên ngoài, tuy nhiên,cộng đồng địa phương thường bị loại ra khỏi giai đoạn đầu lập kế hoạch du lịch vì tính
dễ bị tổn thương và thiếu kinh nghiệm thực tiễn Do vậy, cộng đồng cần phải đóng vaitrò kiểm soát du lịch, đây là chìa khóa để thực hiện thành công du lịch cộng đồng(Buccus và cộng sự, 2008; Manyara và Jones, 2007)
Cộng đồng địa phương tham gia tích cực sẽ được nhận lợi ích nhất định, lợi íchnày được tạo ra từ quá trình phát triển du lịch, quá trình đó bao gồm sự hoà nhập củangười dân địa phương, sự ra quyết định trong khai thác vào bảo tồn tài nguyên du lịch
Bên cạnh các điểm tích cực, sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển dulịch cũng có những hạn chế Một trong số những hạn chế được nhắc đến bao gồm: vấn đềthiếu chuyên môn và đào tạo của các cơ quan quản lý quy hoạch du lịch; thiếu kinh phí,thiếu sự quan tâm hoặc cam kết của các bên liên quan; có sự cạnh tranh trong sử dụng cácnguồn lực; thiếu kế hoạch dài hạn hoặc chiến lược và thiếu sự thống nhất về các cấu trúc,quy trình cụ thể (Butler, 1999; Milne, 1998; Selin và Beason, 1991; Timothy, 2002)
Sản phẩm phù hợp với mô hình phát triển du lịch cộng đồng thường đi kèmvới việc sử dụng tài nguyên phi tự nhiên như di sản văn hoá, văn hoá truyền thống Tàinguyên này cần phải được bảo vệ, bảo tồn, tạo nên môi trường sống lành mạnh cho cưdân, giúp giảm ô nhiễm môi trường từ đó mang lại lợi ích cho xã hội địa phương.Như vậy, du lịch cộng đồng giúp bảo tồn các tài sản văn hóa thông qua việc định giáchúng về mặt tài sản du lịch (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2016)
Nghiên cứu về du lịch cộng đồng tại vùng Tây Bắc
Các nghiên cứu về phát triển du lịch cộng đồng hướng tới bền vững tại vùngTây Bắc trong những năm gần đây nói chung đều cho rằng, cộng đồng địa phương cầnđược trao quyền trong các hoạt động quản lý du lịch để có thể mang lại sự thịnh vượngcho nguời dân Khả năng thích ứng của cộng đồng địa phương được thể hiện rõ trongquá trình phát triển du lịch cộng đồng ở vùng này, ví dụ được thể hiện qua việc tham
Trang 29gia, truyền tải bản sắc (quan hệ và ảnh hưởng) của cộng đồng người Thái trong mối giaolưu đa văn hoá với các dân tộc khác ở vùng Tây Bắc, từ đó, phát huy vai trò của cộngđồng dân tộc Thái, đảm bảo phát triển bền vững trong mối quan hệ với các cộng đồngcùng sinh sống trong vùng (Phạm Văn Lợi, 2017) Tuy nhiên, trong điều kiện trình độphát triển kinh tế xã hội của một số tỉnh Tây Bắc còn thấp, còn gặp nhiều khó khăn thìviệc tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch còn gặp nhiều hạn chế, từ đó có ảnhhưởng đến việc đạt mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương trong phát triển dulịch bền vững Trong quá trình phát triển, du lịch cộng đồng phát triển không chỉ liên quanđến sự mối quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp và cộng đồng để mang lại lợi ích cho cả haibên, mà còn liên quan đến sự hỗ trợ của người dân trong và ngoài cộng đồng đối với cácdoanh nghiệp có quy mô nhỏ Dựa trên tinh thần đó, các doanh nghiệp sẽ cam kết hỗ trợphát triển cho các dự án của cộng đồng địa phương (Trần Thị Bích Hằng, 2015) Từ đó sẽxác lập cho du lịch cộng đồng phát triển theo hướng bền vững dựa trên điều kiện tự nhiên
và các di sản phù hợp của vùng Tây Bắc mang tính đặc thù gắn với bảo tồn các giá trị disản và xóa đói giảm nghèo của địa phương (Tô Ngọc Thanh, 2016)
2.1.3 Các hoạt động hướng tới phát triển du lịch cộng đồng bền vững
Các thuật ngữ sáng tạo giá trị, chia sẻ giá trị, và bảo tồn nguồn gốc giá trị chưađược sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về du lịch bền vững Tuy nhiên, nội dung và
ý nghĩa đã từng được đề cập ở một số nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực liên quan, ví dụnhư tinh thần doanh nhân (entrepreneurship), phát triển bền vững, hay phát triển du lịch.Các tác giả có thể sử dụng các thuật ngữ gần với các thuật ngữ trên Do vậy, phần này tácgiả sẽ tổng quan một số nghiên cứu có sử dụng các thuật ngữ có ý nghĩa gần với cácthuật ngữ ở trên
2.1.3.1 Sáng tạo giá trị
Sáng tạo giá trị là khái niệm đã được đề cập đến trong các nghiên cứu về pháttriển nói chung và phát triển du lịch hướng tới bền vững trước đây nhưng thể hiện ởcác khía cạnh và nội dung khác nhau Cụ thể,
Bowman và Ambrosini (2000) cho rằng, sáng tạo giá trị là những đề xuất mớiđược khách hàng đánh giá cao và trao đổi dưới hình thức đầu tư và sử dụng dịch vụ Sángtạo giá trị còn được biểu hiện thông qua các hoạt động giới thiệu sản phẩm mới hoặcphương thức sản xuất mới, tạo ra thị trường mới và khám phá các nguồn cung cấp mới(Schumpeter, 1934) Sáng tạo giá trị là kết quả hoặc lợi ích khách hàng cảm nhận liênquan đến tổng chi phí đã sử dụng, thể hiện năng lực của sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhucầu hoặc cung cấp lợi ích cho khách hàng trong quá trình sử dụng (Baier, 1966)
Trang 30Sáng tạo giá trị trong phát triển du lịch được biểu hiện qua việc gia tăng số lượtkhách đến, thời gian lưu trú và chi tiêu bình quân của khách du lịch; từ đó dẫn đếntăng tổng chi tiêu của du khách tại điểm đến hay tăng doanh thu từ hoạt động du lịchcho địa phương (Ceron và Dubois, 2003) Trọng tâm của sáng tạo giá trị trong pháttriển du lịch là để đảm bảo các hoạt động phát triển du lịch dựa trên mục tiêu phát triểncủa cộng đồng, lợi ích chính của sản phẩm du lịch đảm bảo tính bền vững lâu dài(Timmer và Juma, 2005) Sáng tạo giá trị của hoạt động du lịch còn biểu hiện qua việcquy hoạch phát triển du lịch theo khu vực, mở rộng thị trường cho du lịch và tăngtrưởng số lượng khách qua các năm (Kelly và Moles, 2000); (Ying và Zhou, 2007).
Sự phát triển du lịch gắn liền với hoạt động sáng tạo giá trị trong phát triển du lịchđược ghi nhận trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương để tăng cường cơ hội việclàm, đa dạng hóa các nguồn thu nhập cho người dân và giảm bớt sự di cư tìm việc làm(Naipinit và Maneenetr, 2010; Schneider và Vaught, 1993) Sự đa dạng về văn hóa trong cộngđồng là một thách thức đối với giao tiếp và hợp tác, nhưng nó giúp tăng chất lượng và cải tạochất lượng của sản phẩm du lịch (Cottrell và cộng sự, 2007; Suntikul và cộng sự, 2010).Sáng tạo giá trị của hoạt động du lịch bền vững dựa trên việc sử dụng các nguồn lựchiện có để tạo ra một sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng và hướng đến phát triển cộngđồng (Choi và Sirakaya, 2005) Một số nghiên cứu cho rằng, số lượng khách tăng sẽ làmtăng lưu lượng và hao mòn môi trường, điều này sẽ ảnh hưởng đến tiện nghi môi trườngsống cho cư dân, cũng như trải nghiệm du lịch (Johnston và Tyrrell, 2007) Đối với dulịch cộng đồng, sự thay đổi là không thể tránh khỏi khi có sự thúc đẩy từ phát triển dulịch, hoạt động sáng tạo giá trị được duy trì và mục tiêu phát triển tiếp tục hỗ trợ đảm bảotính bền vững của hoạt động du lịch (Shaw và Ismail, 2006)
2.1.3.2 Chia sẻ giá trị
Trong các nghiên cứu về phát triển du lịch hướng tới bền vững, hoạt động chia
sẻ giá trị thường đề cập đến sự tham gia của các bên liên quan và phân bổ lợi ích đạtđược từ quá trình phát triển và duy trì hoạt động du lịch Như vậy, chia sẻ giá trị gắnliền với sự tham gia trong các hoạt động sáng tạo giá trị - hay nói cách khác là chia sẻcông việc và trách nhiệm trong phát triển du lịch bền vững
George và Henthorne (2007) cho rằng, chia sẻ giá trị trong phát triển du lịch làhoạt động gắn kết cộng đồng và chia sẻ nguồn thu từ hoạt động du lịch cho các bên liênquan Sự chia sẻ giá trị của cộng đồng rất quan trọng và là một phần của sự bền vữngtrong phát triển du lịch cộng đồng, nâng cao sản phẩm du lịch Sự gắn kết và chia sẻ giá
Trang 31trị cũng giảm thiểu rủi ro về tác động tiêu cực đến việc thực hiện du lịch cộng đồng(Briedenhann và Wickens, 2004).
Việc triển khai hoạt động chia sẻ giá trị từ du lịch cộng đồng nhằm sử dụngcách tiếp cận từ dưới lên, xuất phát từ việc phân chia trách nhiệm và phân bổ lợi ích từhoạt động du lịch, tạo đi ều kiện cho cộng đ ồng kiểm soát du lịch (Ayala-carcedo vàGonzález-Barros, 2005) Thực tế cho thấy rằng các tổ chức phi chính phủ hoặc chínhquyền địa phương thường chiếm vị trí quan trọng và định hướng việc phân chia tráchnhiệm các bên liên quan đối với các điểm du lịch cộng đồng nhỏ (Arthur và Mensah,2006; Byrd và Gustke, 2007) Lợi ích kinh tế thu được từ du lịch sẽ được sử dụng đểđóng góp và tái tạo sản phẩm, để đạt được các mục tiêu phát triển bằng hành động tăngthu nhập cho cộng đồng (Arthur và Mensah, 2006; Byrd và Gustke, 2007)
Phát triển du lịch cung cấp cơ hội cho lợi ích kinh tế nhờ bổ sung thu nhập chính chongười tham gia du lịch (Kusakabe, 2006) Lợi thế của việc thực hiện du lịch cộng đồng baogồm lập kế hoạch và quảng cáo du lịch khu vực tốt hơn Ngoài ra, vai trò của chính quyền địaphương cho phép các cộng đồng được hưởng lợi từ việc tiếp cận các nguồn lực tự nhiên vàphân chia lợi ích công bằng hơn, bên cạnh những thách thức về kỹ năng người lao động vànguồn lực hạn chế (Carbone, 2005; Tak-chuen, 2005; Van Fossen và Lafferty, 2001)
Du lịch đã cung c ấp cơ hội gia tăng cho giáo dục, tăng nhận thức trong cộngđồng, thông qua trao đổi văn hóa, tương tác với khách du lịch và văn hóa của các bênliên quan (Suntikul và cộng sự, 2010) Du lịch đã mang lại lợi ích cho người dân địaphương trong việc đa dạng hóa các lựa chọn sinh kế và xóa đói giảm nghèo ở các nướcnghèo (Nicolau, 2008) Lợi ích này được thể hiện thông qua bốn lĩnh vực chính: lợinhuận kiếm được và phân phối cho các bên có liên quan; thu và nộp thuế, tiền lương
và việc làm được tạo ra; và mua vật tư và nguyên liệu sản vật địa phương
2.1.3.3 Hoạt động bảo tồn nguồn tài nguyên tạo ra giá trị
Phát triển du lịch gắn liền với hoạt động bảo tồn nguồn tài nguyên tạo ra giá trịđược đề cập đến trong một số nghiên cứu trước đây, trong đó, bảo tồn được xác địnhtrên 2 khía cạnh là bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn tài nguyên văn hóa
Choi và Sirakaya (2005) xác định các thành phần chính của du lịch bền vững lànhu cầu cung cấp một số lợi ích từ du lịch không gây hại cho hệ thống xã hội, văn hóa vàsinh thái Bảo tồn nguồn tài nguyên tạo ra giá trị trong phát triển du lịch là hoạt động gắnkết giữa phát triển du lịch với trách nhiệm bảo tồn tài nguyên tự nhiên, bảo tồn môitrường, duy trì sự thịnh vượng của người dân địa phương (Amanda L Stronza và cộng sự,2019) Bảo tồn nguồn gốc giá trị cho hoạt động du lịch là sự hợp nhất của du lịch
Trang 32sinh thái, du lịch cộng đồng, theo đó các hoạt động khai thác tài nguyên để phát triển
du lịch gắn liền với hoạt động gìn giữ, tái tạo trên nền tảng các giá trị vốn có (Cousins
và cộng sự, 2009)
Phát triển du lịch là một công cụ quan trọng để bảo tồn văn hóa và tập quán truyềnthống thể hiện qua sự hiện diện của các khía cạnh văn hóa độc đáo trong quá trình pháttriển du lịch và đời sống hàng ngày của người dân địa phương (Mbaiwa, 2004) Giá trịkinh tế liên quan đến việc bảo tồn các tài sản văn hóa này làm tăng giá trị của cộng đồng,trao quyền cho cộng đồng, cho phép cộng đồng tương tác với các bên liên quan trong cáchoạt động du lịch (Mbaiwa, 2011; Ruiz-Ballesteros và Hernández-Ramírez, 2010) Dulịch góp phần bảo vệ và tôn tạo môi trường; Lợi tức thu được trong các hoạt động du lịch(thuế, phí, khoản hỗ trợ, ) sẽ được tái đầu tư, sử dụng để cho công tác bảo vệ môi trường
và cải thiện cơ sở vật chất du lịch (UNEP, 1999)
Hoạt động bảo tồn nguồn tài nguyên tạo ra giá trị hướng đến việc ưu tiên bảo vệmôi trường trong sự phát triển của du lịch cộng đồng (Gilmore và Simmons, 2007).Môi trường đại diện cho một phần lớn của văn hóa, của giá trị và niềm tự hào đượcgán cho tài sản văn hóa, là giống nhau đối với tài sản môi trường Việc bảo tồn môitrường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là trung tâm của văn hóa cộng đồng cũng như sựbền vững của du lịch (Binns và Nel, 2002; Gössling và cộng sự, 2004) Lợi ích củaphát triển du lịch cộng đồng đối với bảo tồn môi trường và văn hóa có tác động tíchcực đến tính bền vững của sản phẩm du lịch, cũng như mang lại lợi ích cho cộng đồng.Trường hợp cộng đồng sử dụng các tài nguyên tự nhiên và văn hóa truyền thống cho
du lịch, việc bảo tồn các tài sản này là bảo vệ tài nguyên của cộng đồng cũng như bảo
vệ sản phẩm du lịch và nâng cao niềm tự hào cộng đồng (Mbaiwa, 2011; Liu, 2012).Vai trò của nhận thức về hoạt động du lịch và bảo tồn nguồn gốc giá trị có ảnh hưởngmột cách ý nghĩa đối với nhận thức về du lịch, vì các cá nhân sử dụng sự kết hợp giữakinh nghiệm tích cực và tiêu cực cá nhân và hiểu biết về du lịch để thể hiện thái độchung đối với du lịch (Suntikul và cộng sự, 2010)
2.2 Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan được áp dụng trong phát triển du lịch bền vữngthông qua việc xác định các bên liên quan và vai trò của các bên trong phát triển dulịch Cụ thể như sau
Trang 33Lý thuyết các bên liên quan bắt đầu sử dụng vào thế kỷ 19, xuất phát từ tài liệukinh doanh và quản lý do Viện nghiên cứu Stanford (SRI) giới thiệu vào năm 1963,cho rằng bên liên quan là bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà nếu không có sự hỗ trợ của
họ thì tổ chức sẽ không thể tồn tại “Một bên liên quan là bất kỳ nhóm hoặc cá nhânnào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi thành tích của các mục tiêu của tổ chức”Freeman (984:30-31) cũng đồng với quan đi ểm đó Lý thuyết các bên liên quan đã đư
ợc hình thành để sử dụng cho việc giải thích và hướng dẫn cấu trúc hoạt động của một
tổ chức, bao gồm chủ sở hữu, chủ lao động, khách hàng, nhà cung cấp, người cho vay
và xã hội (Donaldson và Preston, 1995) Donaldson và Preston (1995) làm rõ quanđiểm đó, ông cho rằng, để được xác định là một bên liên quan, nhóm hoặc cá nhânphải có lợi ích hợp pháp trong tổ chức Khái niệm các bên liên quan được các nhànghiên cứu đồng thuận chung ở mức cao, tuy nhiên vẫn có nhiều định nghĩa khác nhaubởi các tác giả khác nhau Năm 2004, Freeman và cộng sự đã tiếp tục sửa đổi kháiniệm phù hợp với thực tiễn cho rằng “bên liên quan là những nhóm người quan trọngđối với sự tồn tại và thành công của tổ chức”
Lý thuyết này được đưa vào nghiên cứu, mô tả các tình huống và ý tưởng hiện có
về trách nhiệm, đạo đức, mà còn khuyến nghị thái độ, cấu trúc và cùng nhau quản lý cácbên liên quan Donaldson và Preston (1995) cho rằng lý thuyết các bên liên quan bao gồm
ba khía cạnh: (1) Khía cạnh mô tả/thực nghiệm nhằm mô tả sự hình thành và mối quan hệcủa bên liên quan với tổ chức hoặc cơ quan bên ngoài; (2) Khía cạnh công cụ nhằm dựđoán kết quả đạt được nếu xây dựng được các nhiệm vụ cụ thể; (3) Khía cạnh quy phạmcho rằng các bên liên quan có giá trị nội tại trong quá trình hoạt động, cần phải được thamgia vào quá trình xây dựng chiến lược và là yếu tố nền tảng, cốt lõi của lý thuyết các bênliên quan Từ ba khía cạnh này cho thấy, các bên liên quan không cần phải được tham gianhư nhau trong quá trình ra quyết định nhưng đòi hỏi phải được xác định lợi ích và giá trịcủa từng bên (Donaldson và Preston, 1995) Việc không xác định được lợi ích của bất kỳbên nào trong các bên liên quan cũng có thể dẫn đến sự thất bại của quy trình quản lý(Clarkson, 1995) Lý thuyết cũng chỉ rõ, đánh giá sự tham gia thành công của các bên liênquan cần phải dựa trên 5 yếu tố: công bằng, hiệu quả, kiến thức, khôn ngoan và ổn định(Nicodemus, 2004; Susskind và Cruikshank, 1987) Trong đó, sự công bằng là chủ quanđối với mỗi bên liên quan, tuy nhiên, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tính hiệu quả có thể quantrọng hơn sự công bằng hoặc ngược lại (Susskind và Cruikshank, 1987) Bổ sung cho điều
đó, Nicodemus (2004) cho rằng, nên tạo điều kiện cho các bên liên quan có cùng trình độhiểu biết về các chủ đề khác nhau được tham gia, khi đó quyết định đưa ra dựa trên trí tuệtập thể các bên liên quan sẽ công bằng và hiệu quả hơn
Trang 342.2.2 Lý thuyết các bên liên quan với phát triển du lịch bền vững
Lý thuyết về các bên liên quan đã đư ợc sử dụng rộng rãi trong du lịch khi các bên
liên quan phụ thuộc vào nhau và khả năng của họ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của
điểm đến du lịch (Jamal, 1995; Jamal và Getz, 1995) Du lịch phát triển luôn đi kèm với
nhóm các bên liên quan phức tạp, có mối quan tâm và suy nghĩ khác nhau nên lý thuyết
các bên liên quan được xem như là công cụ được chấp nhận trong quản lý và quá trình
hoạch định chính sách phát triển du lịch Báo cáo Brudtland cũng đồng ý với vấn đề đó
Inskeep (1991) cũng cho rằng, các bên liên quan quan tâm hoặc bị ảnh hưởng bởi
các hoạt động du lịch trong cộng đồng thì nên tham gia vào quá trình quản lý hệ thống du
lịch chung Tuy nhiên, các bên liên quan thường có quan điểm khác nhau vì họ có mối
quan tâm về lợi ích khác nhau, lợi ích này thay đổi theo thời gian, do vậy các nhà lập kế
hoạch nên xem xét lợi ích của tất cả các bên và có những đánh giá đầy đủ về họ trước khi
tiến hành những nỗ lực phát triển du lịch (Sautter E.T & Leisen B, 1999) Mô hình dưới
đây sẽ chỉ rõ hơn về các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vững
Ban quản lý cao
Các điểm đến cạnh tranh khác điểm du lịch
Chính quyền địa
Doanh nghiệp
du lịch phương
Hình 2.3: Các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vững
Nguồn: Sautter E.T & Leisen B (1999)
Trong phát triển du lịch bền vững, tất cả các mục tiêu đều có tầm quan trọng như
nhau, nếu lợi ích một người không được đáp ứng, tính bền vững của sự phát triển sẽ gặp
nguy hiểm Mặt khác, sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình phát triển là một
trong những yêu cầu cần thiết để đạt được sự bền vững trong du lịch Sự tham gia thể hiện
Trang 36ra quyết định kế hoạch nào sẽ thực hiện và xác định được các rào cản tiềm năng đốivới sự phát triển theo kế hoạch (Hunt L & Haider W, 2001; Manning E T &Dougherty D, 2000).
Thực tế cho thấy, các bên liên quan tham gia ở một số cấp độ, phổ biến nhất là sựtham gia vào việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ du lịch riêng lẻ; tiếp đến là tham gia vàohoạch định chính sách, lập kế hoạch, định hướng chiến lược phát triển du lịch khu vực vàđiểm đến Sự hợp tác ngang - dọc giữa các bên liên quan là cấp độ tham gia tiếp theo Cấp
độ cao nhất là sự hợp tác giữa các bên liên quan trong sự phối hợp giữa các cơ quan quản
lý nhà nước và các tổ chức quản lý điểm đến để tạo thành một mạng lưới chiến lược, trong
đó mỗi bên liên quan có thể phát huy vai trò của mình để đạt được lợi ích riêng của họ, màkhông xung đột với nhau, không xung đột với mục tiêu chung của điểm đến
Về vấn đề này, năm 2006, Tổ chức Du lịch Thế giới đặt ra vấn đề và nhận được
sự đồng thuận cao: “Sự phát triển của du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia có hiểu biết của tất cả các bên liên quan, cũng như sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ để đảm bảo
sự tham gia rộng rãi xây dựng sự đồng thuận giữa các bên Để đạt được du lịch bền vững đòi hỏi một quá trình liên tục, phải theo dõi liên tục các tác động, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và / hoặc khắc phục bất cứ khi nào cần thiết” (UNTWO, 2006).2.2.2.1 Vai trò của việc quản lý các bên liên quan
Markwich (2000) đã chứng minh đư ợc sự cần thiết phải quản lý các bên liên quan,ông cho rằng xung đột được nảy sinh từ nhóm các bên liên quan quan tâm đến chi phí, lợiích phát triển khác nhau Sự tham gia của các bên liên quan đã trở nên ngày càng quantrọng hơn trong các cuộc thảo luận về du lịch bền vững, đặc biệt là cộng đồng địa phương.Ioannides (1995) đã chứng minh được rằng, vấn đề sẽ phát sinh nếu cộng đồng địaphương không được tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển du lịch Sự pháttriển không thể đạt được sự bền vững nếu có sự áp đặt, bỏ qua sự tham gia và lợi ích của
cư dân bản địa Do đó, chìa khoá trong phối hợp hiệu quả giữa cộng đồng địa phương vàcác nhà lập kế hoạch là thông qua giáo dục kết hợp hai chiều trên - dưới
Các bên liên quan sau khi đã xác định được vai trò cụ thể thì có thể tiến hànhphân công hoặc xác định trách nhiệm đối với từng công việc Trong thực tế triển khai,
có sự khác biệt về nhu cầu, kỳ vọng về sự phát triển du lịch tại điểm đến nên đã làmtăng làm xung đột giữa các bên liên quan Sự xung đột này có thể là điều bất lợi chokhả năng cạnh tranh của điểm đến, do vậy rất cần thiết phải quản lý các bên liên quan
để giải quyết hoặc giảm xung đ ột và cân bằng quyền lực giữa các bên liên quan(Theobald, 2005)
Trang 372.2.2.2 Xác định các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vững
Freeman (1984) cũng cho rằng để thực hiện lý thuyết về các bên liên quan, cầnphải đánh giá đầy đủ tất cả những người hoặc nhóm người có lợi ích trong việc lập kếhoạch, xử lý, giao hàng hoặc kết quả của sản phẩm hoặc dịch vụ Như vậy, việc xácđịnh các bên liên quan và lợi ích quan tâm của họ là nhiệm vụ đầu tiên trong quy trìnhdẫn tới đạt được sự phát triển bền vững đó
UNWTO (2007) đưa ra mô hình VICE nhằm giải thích mối quan hệ giữa cácbên liên quan và điểm đến phát triển điểm đến bền vững, các bên liên quan bao gồm:(i) Khách du lịch, (ii) Các tổ chức tham gia vào hoạt động du lịch và (iii) cộng đồngđịa phương Các bên liên quan này mong muốn đạt được lợi ích và hợp tác hướng cáchoạt động du lịch và kinh doanh du lịch tới việc tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ tàinguyên thiên nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá bản địa
Hình 2.4: Mối quan hệ giữa các bên liên quan và phát triển điểm đến DLBV
Trang 38Hình 2.5: Mối liên hệ giữa các bên liên quan tham gia hoạt động du lịch
Nguồn: Trần Thị Minh Hoà (2013)
Swarbrooke J (2001) đã chia các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vữngthành 5 nhóm chính, bao gồm chính phủ, khách du lịch, cộng đồng địa phương, cơ sở kinhdoanh du lịch và các lĩnh vực khác Trong nghiên cứu của Kim (2013) xác định có
7 nhóm liên quan chính: nhóm chính quyền (chính phủ, chính quyền các cấp); ngườidân địa phương; các công ty du lịch; NGOs; cơ quan truyền thông; các hộ kinh doanh địaphương và các chuyên gia Tương tự, Burcin và cộng sự (2012) cũng chỉ ra có 7 nhómliên quan chính trong phát triển du lịch bền vững dựa vào cộng đồng bao gồm: Chínhphủ, chính quyền địa phương, NGOs, hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp địa phương,trường đại học và các tổ chức giáo dục tương đương, các phương tiện truyền thông vàcảnh sát
Ngoài ra, các bên liên quan tiếp tục được nghiên cứu xác định theo nhóm giữacác bên liên quan chính và phụ Các bên liên quan chính là nhóm có mối quan hệchính thức hoặc hợp đồng với một tổ chức (Clarkson, 1995; Freeman, 1984), bao gồmcác cổ đông hoặc chủ sở hữu, nhà quản lý, nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng và nhàcung cấp (Savage và cộng sự, 1991; Hill và Jones, 1992) Các bên liên quan phụ lànhóm có mối quan hệ thứ cấp (Carrol, 1993; Carroll và Buchholtz, 2014), bao gồm cácNGOs, các nhà hoạt động du lịch, cộng đồng, các phương tiện truyền thông và chínhquyền công (Garriga và Melé, 2004) Tương tự với quan điểm đó, Ellis (2014) đã chỉ
ra có các bên liên quan bên ngoài và các bên liên quan bên trong Các bên liên quanbên trong bao gồm: các NGOs (hỗ trợ trực tiếp), du khách, các tổ chức hoạt động dulịch tại địa phương, cộng đồng và chính quyền địa phương Các bên liên quan bênngoài được hiểu là các cơ quan không trực tiếp tác động đến du lịch bao gồm: cácNGOs, các tổ chức siêu quốc gia, các lý thuyết học thuật phục vụ cho nghiên cứu vềphát triển du lịch bền vững và chính phủ
Trang 39Từ các phân tích ở trên, tác giả nhận thấy có năm bên liên quan chính được nhiềutác giả nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững, đó là: Chính quyền địa phương, Doanhnghiệp, Cộng đồng địa phương, Tổ chức chính trị và NGOs, Khách du lịch.
Mỗi bên liên quan là một thành phần quan trọng của điểm đến du lịch Sự tham giacủa các bên liên quan hiệu quả sẽ làm giảm các xung đột tiềm ẩn giữa khách du lịch vàcộng đồng địa phương Tuy nhiên, kết quả từ bảng trên cho thấy, nhóm các bên liên quanchính là khác nhau theo quan điểm của từng tác giả và mục tiêu hoạt động riêng của từng
tổ chức Các bên liên quan chính không phải tất cả đều có cùng mối quan tâm, cùng mức
độ tham gia mà mỗi bên có mối quan tâm riêng, khác nhau Mỗi bên liên quan mặc dù đềuđóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch nhưng một số bên liên quan lại có vai tròquan trọng hơn trong mỗi nhóm hoạt động nhất định (Dabphet và cộng sự, 2012) Nhưvậy, hiệu quả của hoạt động du lịch cũng như khả năng phát triển bền vững tại một điểmđến phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa các bên liên quan
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu bốn bênliên quan chính có vai trò quan trọng trong việc tác động đến quá trình phát triển dulịch bền vững, bao gồm: Chính quyền đ ịa phương, Doanh nghiệp, Cộng đ ồng đ ịaphương và NGOs Khách du lịch cũng là một bên liên quan chính có vai trò quantrọng, quyết định sự phát triển, tồn vong của đi ểm đến Tuy nhiên đối tượng, số lượng
và hành vi của khách du lịch phụ thuộc cơ bản vào hoạt động của bốn bên liên quantrên Nói cách khác, số lượng, đối tượng, hành vi của khách du lịch là kết quả của quátrình quản lý du lịch bền vững của các bên liên quan ở trên Do đó, trong nghiên cứunày tác giả chỉ chú trọng vào vai trò phản hồi của khách du lịch và tiến hành khảo sátkhách du lịch để thu nhận đánh giá của họ về chất lượng và sự bền vững của điểm đến
2.2.2.3 Các bên liên quan chính và các hoạt động phát triển du lịch bền vững
Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển du lịchbền vững, gắn kết các hoạt động phát triển du lịch với các mục tiêu của xã hội và tối đahóa lợi ích cộng đồng (Murphy, 1985) Chính quyền địa phương tham gia vào hoạt độngphát triển du lịch từ các cấp tỉnh, huyện, xã, đồng thời định hướng và hỗ trợ tư vấn chocộng đồng thành lập Ban quản lý du lịch cộng đồng nhằm điều tiết các hoạt động du lịch,gắn kết lợi ích và giảm thiểu tiêu cực trong toàn bộ quá trình phát triển du lịch
Vai trò của chính quyền địa phương tham gia phát triển du lịch trong hoạt độngsáng tạo giá trị thông qua nhiều hoạt động như xây dựng quy hoạch, điều tiết, cung cấp
và bảo trì cơ sở hạ tầng, tài chính; xây dựng năng lực thể chế, kiểm soát phát triển và
Trang 40kiểm soát lưu lượng khách du lịch và tạo ra các khu vực được bảo vệ (De Oliveira,2003) (Ryan, 2002) Vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển du lịch giúpđịnh hướng chiến lược tại điểm đến và làm cho ngành phát triển mạnh mẽ, bền vữnghơn; cụ thể: (1) Tạo ra bối cảnh và kích thích hành động để đảm bảo du lịch được pháttriển bền vững hơn trong tương lai (Brokaj, 2014); (2) Điều phối chương trình nghị sựphát triển bền vững điểm đến; (3) Xây dựng và cung cấp môi trường mà ở đó cho phép
và khuyến khích khu vực tư nhân, cộng đồng địa phương, khách du lịch và các bênliên quan khác thực hiện các hoạt động đáp ứng các vấn đề bền vững; (3) Giữ vai tròtiên phong trong phát triển du lịch bền vững (Bramwell và Lane, 2011) Các tổ chứcchính quyền tham gia phát triển du lịch thông qua việc hợp nhất quy hoạch, nghiêncứu về những ảnh hưởng của môi trường, văn hoá và kinh tế; xây dựng các tiêu chuẩn
và quy tắc cho việc đánh giá tác động môi trường và văn hoá; giám sát và kiểm soátcác hoạt động du lịch trong hiện tại và tương lai (IUCN, 1998)
Đối với hoạt động chia sẻ giá trị, sự tham gia của chính quyền địa phương được thểhiện ở những lợi ích do du lịch mang lại từ việc đa dạng hóa các lựa chọn sinh kế và xóađói giảm nghèo tại địa phương (Nicolau, 2008) và đặc biệt, các ý tưởng và kế hoạch thựchiện hoạt động du lịch cần phải dựa trên sự cân nhắc lợi ích của tất cả các bên liên quan(Meethan, 2001) thì quá trình thực hiện du lịch bền vững mới thành công
Vai trò của chính quyền địa phương tham gia phát triển du lịch trong hoạt độngbảo tồn nguồn gốc giá trị thông qua nhiều hoạt động: chính quyền tham gia vào quản lýphát triển du lịch nhằm cân bằng giá trị sử dụng của nguồn tài nguyên và thực hiện tốtcông tác bảo tồn, nếu phát triển du lịch không được kiểm soát thì có thể làm suy yếu vàphá hủy các tài nguyên vốn là nền tảng của nó (Briassoulis, 2002; De Oliveira, 2003) Sựtham gia của chính quyền địa phương là trung tâm của sự phát triển bền vững, giúp địnhhướng chiến lược và quá trình triển được mạnh mẽ, bền vững hơn cho điểm đến(Southgate C & Sharpley R, 2002) Chính quyền địa phương lập ra các tiêu chuẩn chothiết kế và xây dựng để đảm bảo cho các dự án du lịch phát triển sẽ phù hợp với văn hoáđịa phương và môi trường tự nhiên; giúp công nhận di sản tại điểm đến và thực thi đượccác quy định ngăn ngừa buôn bán bất hợp pháp cổ vật hoặc các sản phẩm thủ công dângian Chính quyền địa phương lập nên các ban tư vấn về du lịch, gồm có đại diện củangười dân địa phương, ngành du lịch và các tổ chức phi Chính phủ (IUCN, 1998)
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, doanh nghiệp được đề cập để phân tích
là các doanh nghiệp du lịch Đây là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, vận