Như vậy tôi đã tập hợp được lực lượng cơ bản giúp tôi nhận xét sửa chữa, giúp đỡ các em học chưa tốt trong giờ luyện đọc buổi chiều “Đội xung kích” này cùng với các bạn nhóm trưởng trong[r]
Trang 1PHÒNG GD-ĐT THĂNG BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TH TRƯNG VƯƠNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Đề tài:
GióP HäC SINH VIÕT §óng lçi chÝnh t¶
Tác giả : phan thÞ nga Chức vụ : Giáo viên Đơn vị : Trường TH Trưng Vương Năm học : 2010 – 2011
I TÊN ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH VIẾT ĐÚNG LỖI CHÍNH TẢ
II ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trang 21 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay tình trạng sai chính tả ở học sinh tiểu học xảy ra khá phổ biến Đặc biệt, đối với học sinh ở nông thôn, do đặc điểm phát âm của vùng phương ngữ: nói sao viết vậy càng làm cho tình trạng sai chính tả thêm nghiêm trọng Một thực tế đáng buồn hơn nữa là những đối tượng học sinh học môn toán rất tốt Thế nhưng hiện tượng sai chính tả ở những đối tượng này diễn ra không phải là ít
Là giáo viên đứng lớp tôi đã trăn trở rất nhiều Bởi lẽ, hiện tượng sai chính tả, đem lại nhiều tai hại Với riêng bộ môn Tiếng Việt, sai chính tả làm giảm đi nhiều hiệu quả thẩm mỹ, làm sai lệch thông tin cần truyền đạt, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau với cùng một văn bản, hạn chế mức độ cảm thụ của người đọc, thậm chí nội dung bị xuyên tạc do có những lỗi về chính tả…
và còn nhiều hậu quả khác nữa
Viết sai chính tả có thể coi là một kĩ xảo cũ đã có và tương đối khó mất Việc hình thành một kĩ xảo mới, kĩ xảo viết đúng chính tả đòi hỏi người học phải có ý thức, ý chí trong luyện tập và đó là việc khó nhưng cần thiết và
có thể làm được
Xuất phát từ thực tiễn trên, để khắc phục tình trạng viết sai chính tả ở học sinh, tôi nghĩ cần phải có phương pháp rèn luyện và sửa chữa cho học sinh qua những giờ học nhất là môn Tiếng Việt Đó là lý do tôi chọn đề tài
“Giúp học sinh viết đúng lỗi chính tả”.
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu:
Giúp học sinh nắm vững qui tắc viết chính tả
Củng cố bài học dưới hình thức “Học mà chơi, chơi mà học”
Rèn luyện trí nhớ, tính năng động sáng tạo
3 Phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 5 – Trường Tiểu học Trưng
Vương
b Phạm vi nghiên cứu: Giúp học sinh viết đúng chính tả.
4 Phương pháp hỗ trợ:
Phương pháp trò chuyện nhằm tìm hiểu:
+ Kết quả học tập
+ Phối hợp với cán bộ thư viện để tìm dụng cụ học tập
III CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Theo tình hình phát triển của xã hội, của việc đổi mới phương pháp dạy học, việc giúp học sinh hứng thú học tốt để nâng cao chất lượng học tập
Trang 3IV CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trải qua nhiều năm giảng dạy tại trường tiểu học Trưng Vương, bản thân chủ nhiệm lớp 5, tôi nhận thấy kĩ năng viết chính tả của học sinh chưa đạt kết quả cao, do nhiều yếu tố:
+ Học sinh đa số là ở vùng nông thôn, nói sao viết vậy
+ Ý thức, ý chí trong luyện tập của học sinh còn hạn chế
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Muốn sửa sai thì điều đầu tiên phải biết chỗ sai Vì vậy, trước khi tiến hành rèn luyện, sửa chữa tôi đã tiến hành khảo sát tất cả học sinh của lớp 5/3 qua một bài chính tả nghe – viết cụ thể Tôi đã cho các em nêu lại những yêu cầu khi viết đúng, phân biệt những âm đầu có: V – D, S – X, Gi – D, những vần Ao – Ô, UA – OI, những từ có âm cuối N – NG, CH – T, T – C, NH – N, thanh hỏi và thanh ngã, viết đúng cấu trúc ngữ pháp, viết hoa phù hợp, ngồi viết đúng khoảng cách
Sau khi khảo sát thực tế tôi nắm được kết quả như sau:
Tổng số học sinh được khảo sát : 18 học sinh
Số học sinh không mắc lỗi chính tả : 5 em
Số học sinh mắc lỗi về âm đầu : 3 em
Số học sinh mắc lỗi về phần vần : 3 em
Số học sinh mắc lỗi về âm cuối : 2 em
Số học sinh mắc lỗi về thanh điệu: (?, ~) : 3 em
Số học sinh mắc lỗi về biết hoa : 2 em
* Biện pháp tiến hành:
Ở tiểu học, thậm chí ở các lớp vở lòng, hầu hết các em đều được học cách tạo từ, sự hoà phối âm thanh, tính chuẩn mực về chính tả Song do thiếu
ý thức tự rèn luyện để viết đúng chính tả, sự cẩu thả, lười tìm tòi nghiên cứu kết hợp với việc phát âm khác lệch chuẩn đã dần dần dẫn đến hiện tượng sai chính tả ở học sinh tiểu học
Qua những điều chuẩn bị nghiên cứu tôi tiến hành những biện pháp:
1 Cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, mẹo viết chính tả:
Sai chính tả do nhiều nguyên nhân Song một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng là chưa nắm được qui tắc chính tả, viết sai hoàn toàn từ Trong quá trình giảng dạy, kiểm tra tôi nhận thấy những lỗi thường mắc về qui tắc chính tả ở các em là lúng túng khi dùng NG – NGH,
K – C- Q, G – Gi, dấu ? / ~
Ví dụ: Ngành giáo dục các em viết là ngành giáo dục.
Trang 4Con lợn kêu các em viết là con lợn cêu Giữ gìn các em viết là giữ gìn
Sẵn sàng các em viết là sẳn sàn
Đã quên thì phải nhắc Thế nhưng cách thức nhắc như thế nào cho hợp
lí Dành một số tiết để cung cấp kiến thức cho các em là điều không thể được
vì điều kiện thời gian Vả lại, nó sẽ gây sự nhàn chán cho các em có học lực khá, giỏi Vì vậy, để góp phần khắc phục tình trạng này tôi lồng ghép vào trong tất cả những giờ dạy Tiếng Việt (Nhất là những tiết buổi chiều) phần chú thích Tôi cung cấp cho các em qui tắc ngữ pháp
- NG đi với A, U, O, Ô, Ơ, Ư, …
NGH đi với Ê, E, I
Gi khi gặp I lượt bỏ I sẽ thành Gi
C: A, O
K Q: U
K: I, H
* Nội dung của luật hỏi, ngã trong từ láy
- Khi một chữ của từ láy đã viết dấu huyền, nặng, ngã, thì chữ kia phải viết dấu ngã
Ví dụ: Sẵn sàng
Dữ dội Đẹp đẽ
Kỹ càng
- Khi một chữ của từ láy đã viết dấu sắc, không dấu hoặc dấu hỏi thì chữ kia phải viết dấu hỏi
Ví dụ: Mát mẻ
Vất vả Đủng đỉnh Lẩm cẩm
- Đối với những từ không phải là từ láy thì ta phải tìm thêm một từ láy
có từ đó hoặc có tiếng đó rồi vận dụng luật để tìm dấu hỏi hay dấu ngã
Ví dụ: “ủ rũ” là từ ghép tách chữ ra để đưa về từ láy “ủ ê” ta yên tâm
“ủ” dấu hỏi và “ê” không dấu Còn “rũ” ta có “rũ rượi” nên ta biết ngay “rũ” phải viết dấu ngã
Trang 5Bên cạnh đó, tôi cho học sinh nắm vững một số mẹo chính tả giúp phân biệt ch / tr:
a Mẹo trường từ vựng:
Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình chỉ viết với CH chứ không viết với TR: cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chút, chít…
- Những đồ dùng trong gia đình nông dân cũng được viết với CH chứ không viết với TR, ví dụ: cái chạn, cái chõng, cái chum, cái chai, cái chăn, cái chày, cái chổi, cái chậu, cái chĩnh, chuồng gà
b Mẹo đồng nghĩa tranh – giành:
Trong Tiếng Việt có rất nhiều cặp từ đồng nghĩa mà một được viết với
TR, một được viết với Gi, chẳng hạn, tranh – giành, trai – giai… Vậy khi gặp một từ chưa rõ viết với CH hay với TR, mà lại đồng nghĩa với một từ được viết với Gi thì từ đó phải được viết với TR
Ví dụ: Tranh – giành, trả - giả, trăng – giăng, trầu - giầu, trời – giời,
trữ - giữ, nhà tranh – nhà gianh, trở mặt – giở mặt, tro – gio, trồng – giồng…
c Mẹo kết hợp âm đệm:
Về mặt kết hợp, TR không bao giờ đi v ới các vần oa, oă, oe, uê Chỉ có
CH là có khả năng đi với các vần này Do vậy, ta có thể yên tâm viết: Choáng váng, choảng nhau, choàng vai, loắt choắt, chích choè, cái choé, chạnh choẹ, choèn choẹt, choen hoẻn, chuệch choạc, chuếch choáng, chệch choạng…
d Mẹo láy âm:
CH láy âm với các phụ âm đứng trước hoặc đứng sau, TR không láy
âm với các phụ âm khác, trừ 4 ngoại lệ, đều là lấy âm với L: trọc lóc, trụi lủi, trót lọt, trẹt lét
Như vậy, nếu một tiếng không rõ được viết với CH hay TR nhưng có thể láy với âm khác thì trừ bốn trường hợp ngoại lệ trên đây, tiếng đó sẽ được viết với CH
- CH láy với B: chơi bời, chèo bẻo, chành bành, chình bình
- CH láy với L: cheo leo, chìm lỉm, chi li, chói lọi, loắt choắt, lau chau, lanh chanh, lã chã, lích chích, loạng choạng, lởm chởm, loai choai…
- Ch lấy với R: chàng ràng, chộn rộn, chình rình
- CH láy với V: choáng váng, chờn vờn, chạy vạy, chon von, chơi vơi, chót vót, chênh vênh, chạng vạng
- CH láy với âm đầu: chình ình, chàng àng, chềnh ềnh
e Mẹo thanh điệu trong từ Hán – Việt: Những từ Hán – Việt mang dấu nặng và dấu huyền đều chỉ đi với TR chứ không đi với CH
Trang 6Ví dụ: Trịnh trọng, trị giá, trụ sở, vũ trụ, thổ trạch, hỗ trợ, triệu phú, trận
mạc, trạm xá, trục lợi, truỵ lạc, truyền thống, từ trường, trần thế
Ngoài ra, tôi yêu cầu mỗi em phải có một quyển vở để chép những từ ngữ hay em thích, qui tắc chính tả, những từ ngữ, câu, chữ mà chính mình dễ viết sai, chép hoặc nghe viết ba lần ở nhà bài chính tả cho ngày mai và giao cho đội quân xung kích do tôi chọn lựa (bao gồm những em có học lực giỏi,
có giọng đọc tốt, dạn dĩ) kiểm tra những tư liệu về “từ láy và cách phân biệt
từ láy” của Phó Tiến sĩ Võ Xuân Trung, “cách sửa sai lỗi chính tả cho học sinh” của Phan Ngọc Các em này sẽ chủ động lựa chọn thời gian để cung cấp cho các bạn Có thể là trong giờ tự quản 15 phút đầu buổi, những giờ hướng dẫn luyện đọc buổi chiều hay trong những giờ sinh hoạt chủ nhiệm Học sinh
sẽ tiếp thu, chọn lọc và ghi vào sổ tư liệu của mình để tham khảo
Sau một thời gian áp dụng biện pháp này, tôi kiểm tra và nhận thấy các
em sử dụng NG – NGH, C – K – Q, Gi – D Cụ thể: Các em viết đúng các từ ghập ghềnh, ngúc ngoắc, cúc cu, gìn giữ Các trường hợp sai lỗi ?, ~ giảm đi đáng kể
2 Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh:
Thực tế cho thấy, do đặc điểm phát âm của vùng phương ngữ làm cho người ta dễ “nói sao viết vậy” Một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến viết sai chính tả nằm ở yếu tố này Vì thế điều quan trọng để sửa sai chính tả trước hết phải rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc: đọc đúng, phát âm đúng Điều khó sửa nhưng lại sai nhiều nhất đối với học sinh ở đây là hay nhầm lẫn giữa
Gi và D Tôi ví dụ: Đều đọc là “do” nhưng “dàn dỏ” thì viết là “dỏ” nhưng
“cái giỏ” thì viết là “giỏ” Hay vần ao – ô, “Cái ô” dùng để che thì viết là “ô” nhưng “ao tù” thì viết là ao Đều đọc là “chiêng” nhưng “cái chiêng” thì phải viết là chiêng; “con chiên” thì viết là “chiên” Riêng địa phương Bình Nguyên, nơi tôi đang dạy có những từ địa phương mà từ lâu đã in đậm trong tiềm thức của các em Bởi vì ngay từ lúc mới bập bẹ các em đã nói tiếng địa phương Lớn lên tiếp xúc với ông bà, cha mẹ, bạn bè, người thân… thường xuyên nói tiếng địa phương đã khiến cho tình trạng này càng trở nên khó sửa
Ví dụ: - “Vì sao” các em nói “ren rứa”
- “Đẹp lắm” thì gọi là “đẹp dễ sợ”
- “Nói” thì gọi là “núa”
- “Đòi” thì gọi là “đùa”
- “Quá” thì gọi là “Quoá”
Để khắc phục tình trạng sai chính tả do phát âm giọng địa phương này, trong giờ dạy, tôi hướng dẫn cho học sinh các đọc: Phát âm phải chuẩn, đúng thanh điệu, ngắt hơi đúng chỗ Ban đầu tiến hành việc này rất khó vì từ lâu các em đã quen với cách đọc như vậy Bây giờ đọc khác có vẻ gượng gạo Khi đọc lại bạn bè cho là giả tiếng pha tiếng Vì thế thao tác này phải tiến hành từ từ, uốn nắn dần dần Tôi chọn rèn luyện ở các em dạn dĩ, học lực khá
Trang 7giỏi trước Nếu các em có đọc nhầm lẫn sai sót tôi sửa ngay Như vậy tôi đã tập hợp được lực lượng cơ bản giúp tôi nhận xét sửa chữa, giúp đỡ các em học chưa tốt trong giờ luyện đọc buổi chiều “Đội xung kích” này cùng với các bạn nhóm trưởng trong 15 phút tự quản hướng dẫn cho các bạn đọc những bài tập đọc, bài chính tả, tìm hiểu nghĩa của những từ đó Dần dần các em đã tạo
ra sức ảnh hưởng sâu rộng Mức độ dạn dĩ ở các em biểu hiện rõ rệt Có nhiều
em vượt lên trên mức độ đọc đúng, tiến đến đọc hay Trong giờ học, tôi cho các em đọc nối tiếp câu, đoạn rồi tự mời bạn khác đọc và tự nhận xét, cả lớp
so sánh
Sau một thời gian áp dụng biện pháp này, tôi kiểm tra bằng cách chọn bài “Cao Bằng” Đối chiếu giữa cách phát âm (đọc) và cách ghi (viết) thì chỉ còn một em mắc lỗi “đèo” mà viết là “đều” Điều đáng mừng là sau khi luyện cho học sinh cách đọc, những lỗi chính tả do phát âm giọng địa phương đã giảm hẳn đi, đọc đúng sẽ viết đúng
3 Cho học sinh tự sửa sai lỗi chính tả của mình trong những giờ kiểm tra bài cũ, trả bài viết.
Đọc đúng, phát âm đúng là điều kiện cơ bản để viết đúng chính tả Song, chỉ dừng ở đây thôi thì vẫn chưa đủ để hạn chế tới mức tối thiểu tỉ lệ mắc chính tả ở học sinh Bởi có thể các em đọc đúng khi tiếp xúc trực tiếp với văn bản, nhưng khi thoát li văn bản các em lúng túng khi viết, nhất là đối với những từ khó Vì vậy phải để học sinh tự nhận thấy lỗi của mình, tự sửa chữa
để khắc sâu trong trí nhớ
Ví dụ: Trong phần kiểm tra bài cũ phân môn luyện từ và câu ở bài câu
ghép có bài tập điền từ hoặc vế câu cho thích hợp, các em đã lúng túng khi phải viết các từ: khúc khuỷu, ghập ghềnh, băn khoăn, khập khểnh Tôi cứ để cho các em tự viết theo cảm tính của mình, sau đó để các em dưới lớp tự phát hiện chỗ sai
Bạn viết như vậy chưa đúng chỗ nào? cách sửa? Sau đó tôi gọi chính
em viết chưa đúng lên sửa lỗi chính tả của mình Đương nhiên lần sửa sai này
có sự trợ giúp của các bạn hoặc thầy cô giáo Tạo ấn tượng như vậy các em sẽ nhớ rất lâu mà không chỉ có em mắc lỗi chính tả nhớ mà cả những em ở lớp dưới cũng vậy, nhớ rất kỹ và ở những lỗi như vậy các em sẽ khó sai phạm vào lần sau Cách làm như vậy cũng rất hiệu quả khi sửa sai về cấu trúc ngữ pháp cho học sinh
Nếu là giờ tập đọc, tôi tiến hành sửa sai lỗi chính tả kết hợp trong những câu hỏi kiểm tra bài cũ Có thể là em hãy chép thuộc lòng một đoạn văn hay khổ thơ lên bảng Như thế mới kiểm chứng được kết quả của việc luyện đọc và mức độ tiến độ ở học sinh Sai từ nào cho học sinh sửa ngay từ
đó hoặc sau khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên có thể đặt thêm yêu cầu: Trong câu trả lời của em có sử dụng từ “…” (nên lựa chọn từ khó) em có thể viết từ đó lên bảng và cho biết nghĩa của từ ấy Nếu em viết đúng, cho biết
Trang 8nghĩa chính xác, giáo viên khuyến khích điểm cho em Còn nếu sai nên tiến hành sửa ngay
Kết hợp sửa lỗi chính tả cho học sinh trong những giờ kiểm tra bài cũ được tôi tiến hành thường xuyên Song do dung lượng của phần kiểm tra bài
cũ không nhiều nên tôi tiến hành sửa sai lỗi chính tả trong giờ luyện ôn buổi chiều và giờ trả bài viết
VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Đó là những biện pháp tôi rút ra được trong quá trình giảng dạy để sửa lỗi chính tả cho học sinh và đã thu được một số kết quả nhất định:
Tỷ lệ mắc lỗi chính tả ở học sinh giảm đi khá rõ rệt
Các em ý thức được cách sử dụng từ ngữ của mình, cân nhắc lựa chọn khi dùng từ đặt câu
Những lỗi chính tả do chưa vững về quy tắc chính tả, phát âm giọng địa phương giảm đi đáng kể Cụ thể:
Tổng số học sinh: 18 em
Viết đúng hoàn toàn, không sai phạm : 14 em
Số mắc lỗi về thanh điệu viết hoa : 02 em
Số mắc lỗi về quy tắc chính tả : 02 em
VII KẾT LUẬN:
So với đầu năm số lượng viết đúng chính tả tăng được 07 em
Sửa lỗi chỉnh tả cho học sinh tiểu học là biện pháp có thể thực hiện thường xuyên, liên tục ở tất cả các lớp Kết quả có thể kiểm chứng thông qua từng bài chính tả Thông qua biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh góp phần nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh
Trên đây là sáng kiến “Giúp học sinh sửa lỗi chính tả” mà tôi đã đúc
kết sau một thời gian giảng dạy, song vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của cấp trên để sáng kiến được hoàn chỉnh hơn
Tôi vô cùng biết ơn
Bình Nguyên, ngày 22 tháng 02 năm 2011
Tác giả
Phan Thị Nga
VIII ĐỀ NGHỊ:
- Phụ huynh cần quan tâm và theo sát con em mình hơn nữa
Trang 9- Tổ chức môn cần tổ chức thêm các buổi chuyên đề để cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm thực tế ở học sinh lớp mình, bàn bạc thống nhất cách sửa sai (nhất là phân môn chính tả)
IX TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Sách Tiếng Việt 5
Trang 10- Thế giới trong ta số 256
- Sổ tay chính tả của tác giả: Hoàng Anh
X MỤC LỤC
I Tên đề tài Trang 1