Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Thạch Thất, nằm ở phía tây Hà Nội, nổi tiếng với 59 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 37 nghìn lao động nông thôn Các làng nghề như cơ kim khí Phùng Xá, đồ mộc Hữu Bằng, và mây tre Bình Phú đã đóng góp đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đồng thời giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Để phát huy tiềm năng, các làng nghề đã không ngừng cải thiện chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, phù hợp với nhu cầu thị trường Nhờ đó, doanh thu tăng trưởng ổn định, với thu nhập bình quân của lao động đạt từ 250 đến 300 nghìn đồng mỗi ngày, góp phần nâng cao đời sống cho cư dân.
Trong những năm qua, huyện Thạch Thất đã nhận được sự đầu tư và hỗ trợ từ Đảng, Nhà nước để chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế, với ưu tiên cho ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Chính quyền huyện đã khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế, huy động mọi nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, duy trì tốc độ phát triển cao, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - TTCN, đồng thời xây dựng nông thôn mới đồng bộ và bảo vệ môi trường.
Các làng nghề hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự thiếu bền vững trong phát triển, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và công nghệ lạc hậu Chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu và hầu hết sản phẩm đều thiếu thương hiệu Nhiều nghề truyền thống đang dần bị mai một, trong khi sản xuất thường chạy theo thị hiếu và lợi nhuận mà không chú trọng đến thương hiệu Đội ngũ nghệ nhân và thợ giỏi cũng đang giảm sút, môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm, và cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ sản xuất chưa được đồng bộ.
Sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến làn sóng di cư lớn từ nông thôn ra các thành phố lớn Do đó, phát triển các nghề và làng nghề nông thôn, cũng như hình thành các làng nghề mới, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đóng góp vào sự ổn định chính trị và xã hội.
Huyện Thạch Thất nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển làng nghề truyền thống và đã triển khai các chính sách quản lý nhà nước nhằm đưa chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này vẫn chưa đạt được như mong đợi, dẫn đến hoạt động của các làng nghề truyền thống vẫn còn manh mún và quy mô nhỏ Mặc dù có chính sách hỗ trợ, nhưng nhà nước chưa định hướng rõ ràng cho đầu ra sản phẩm, trong khi đó, nguồn vốn vay hỗ trợ cho các hộ sản xuất vẫn còn hạn chế, không đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất Điều này cùng với môi trường làng nghề chưa được cải thiện đã ảnh hưởng đến thu nhập ổn định của người dân.
Hàng năm, cần xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề với phân công trách nhiệm rõ ràng cho các phòng, ban, ngành, cũng như phân cấp nhiệm vụ cho huyện và xã Tăng cường tuyên truyền cho người dân và doanh nghiệp về chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề Đồng thời, cần nâng cao công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời giải đáp các vướng mắc trong hoạt động của làng nghề truyền thống, đồng thời phát triển làng nghề gắn liền với du lịch.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc phục hồi và phát triển các làng nghề truyền thống, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc của huyện, tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện.”
Thạch Thất, thành phố Hà Nội ” làm khóa luận của mình nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra.
Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến phát triển làng nghề tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại huyện Thạch Thất, từ đó thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề truyền thống, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay.
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài cần phải thực hiện được
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện.
Trong những năm qua, việc quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển làng nghề truyền thống đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng gặp phải nhiều hạn chế Phân tích thực trạng cho thấy rằng, mặc dù có những nỗ lực trong việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, nhưng vẫn còn tồn tại những khó khăn trong công tác quản lý, như thiếu hỗ trợ về mặt chính sách và nguồn lực Để cải thiện tình hình, cần xác định rõ nguyên nhân của những thành công và hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả QLNN trong lĩnh vực này.
Để hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại huyện Phú Xuyên trong thời gian tới, cần đề xuất một số giải pháp thiết thực và khả thi Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa và kinh tế của làng nghề Thứ hai, chính quyền địa phương nên hỗ trợ các hộ sản xuất trong việc tiếp cận nguồn vốn và công nghệ mới Cuối cùng, việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề phù hợp sẽ giúp nâng cao tay nghề cho lao động địa phương, góp phần phát triển bền vững các làng nghề truyền thống.
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, luận văn áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra Cụ thể, nghiên cứu sử dụng hai nhóm phương pháp chính: phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu.
Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu:
Việc thu thập và tìm kiếm dữ liệu liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài từ các nguồn như sách, giáo trình, luận án, luận văn và bài báo khoa học là rất quan trọng Dữ liệu thứ cấp này sẽ tạo nền tảng lý luận cho quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại địa phương, bao gồm khái niệm về nghề và làng nghề, sự phát triển của làng nghề, cùng với nội dung, vai trò và sự cần thiết của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Thu thập và nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến làng nghề, cùng với báo cáo tổng kết và số liệu thống kê, là cần thiết để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu Các văn bản pháp luật này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng, ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp lý liên quan.
Tổng hợp và xử lý số liệu thu thập được là cần thiết để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại huyện trong những năm qua Đề tài kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan và dựa trên chủ trương, đường lối của Đảng cùng chính sách của Nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống.
Nhóm phương pháp phân tích dữ liệu:
Phương pháp thống kê được áp dụng để phân tích số liệu thu thập, nhằm đánh giá tình hình quản lý nhà nước đối với sự phát triển của các làng nghề truyền thống trong huyện.
Phương pháp tổng hợp bao gồm việc thu thập và phân tích các số liệu liên quan đến số lượng làng nghề, số lượng lao động trong các làng nghề truyền thống, cũng như kết quả của các hoạt động sản xuất và kinh doanh tại những làng nghề này.
Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá sự phát triển của các hoạt động sản xuất và kinh doanh trong làng nghề qua các năm Nó cũng giúp phân tích tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế.
Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận được cấu trúc thành ba chương, bao gồm các phần như lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo.
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống tại địa phương.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Một số khái niệm cơ bản
Theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
Làng nghề là cụm dân cư như thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc trong một xã hoặc thị trấn, nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông thôn, tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Làng nghề Việt Nam, được định nghĩa là các làng nông thôn có ngành nghề tiểu thủ công và phi nông nghiệp chiếm ưu thế, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương Đây là hình thức sản xuất công nghiệp nông thôn đặc thù, chịu sự chi phối của cả kinh tế ngành và kinh tế lãnh thổ Làng nghề không chỉ gắn liền với vùng nguyên liệu mà còn phản ánh tập quán công nghệ, các bí truyền trong sản xuất, cùng với các quan hệ xã hội và truyền thống lâu đời của địa phương.
Theo tiến sĩ Dương Bá Phượng trong cuốn sách “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, làng nghề được định nghĩa là những làng nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công hoạt động độc lập, tách biệt khỏi thủ công nghiệp Đặc biệt, thu nhập từ các làng nghề này đóng góp một tỉ trọng lớn vào tổng giá trị kinh tế của toàn bộ làng.
Hiện nay, Việt Nam chưa có tiêu chí cụ thể để xác định làng nghề, nhưng thường dựa vào giá trị sản xuất, thu nhập của làng, số lao động tham gia và loại hình sản phẩm mà làng tạo ra.
Giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp tại làng nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung trong năm, với doanh thu hàng năm từ làng nghề đạt tối thiểu 300 triệu đồng.
Để một làng nghề phi nông nghiệp được công nhận, cần đảm bảo rằng ít nhất 30% số hộ và lao động tham gia vào hoạt động này, bao gồm cả lao động thường xuyên và không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp Hoặc, làng nghề phải có tối thiểu 300 lao động tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người làng tạo nên.
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước.
1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống (LNTT) được định nghĩa dựa trên hai khái niệm chính là nghề truyền thống và làng nghề Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, LNTT là những làng nghề có nghề truyền thống đã tồn tại từ lâu đời.
LNTT đã tồn tại từ lâu và vượt qua thử thách của thời gian, duy trì và phát triển qua các thế hệ Trong các LNTT, phần lớn dân số thường làm nghề truyền thống hoặc thuộc về các dòng họ chuyên nghiệp, nơi việc dạy nghề được thực hiện thông qua phương pháp truyền nghề từ cha sang con.
1.1.3 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
Thứ nhất, việc sản xuất kinh doanh của các làng nghề truyền thống gắn liền với hộ gia đình và nông nghiệp nông thôn.
Các làng nghề truyền thống thủ công ở nông thôn chủ yếu sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp và lao động là nông dân Họ sản xuất theo hình thức hộ gia đình, với mỗi thành viên đảm nhận một công đoạn nhất định để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Quá trình quản lý sản xuất và phân công lao động được thực hiện tự động, phù hợp với lịch mùa vụ nông nghiệp Khi mùa vụ kết thúc, các hộ gia đình tiếp tục sản xuất thủ công để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và gia tăng thu nhập thông qua việc bán sản phẩm Thị trường tiêu thụ chủ yếu là khu vực nông thôn, và ngày nay, với sự đa dạng và phong phú, các sản phẩm làng nghề truyền thống không chỉ phục vụ trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Thứ hai, sản phẩm của làng nghề truyền thống mang đậm yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc.
Sản phẩm của làng nghề truyền thống được tạo ra bởi nghệ nhân và người lao động, thể hiện văn hóa và sự tinh xảo trong từng chi tiết Trước đây, các sản phẩm hoàn toàn được làm bằng phương pháp thủ công nhằm phục vụ đời sống hàng ngày Nhìn vào sản phẩm, người ta có thể nhận biết được nguồn gốc và thậm chí là hộ gia đình đã tạo ra nó.
Sản phẩm làng nghề truyền thống không chỉ phản ánh văn hóa và phong tục của địa phương mà còn được tạo ra từ nguyên liệu nông nghiệp và sự lao động chăm chỉ của người dân Tính sáng tạo và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào tay nghề của người thợ, cũng như thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, do đặc điểm sản xuất thủ công, sản phẩm làng nghề thường khó sản xuất hàng loạt và chỉ có thể làm đơn chiếc, dẫn đến việc khó đáp ứng nhu cầu đơn hàng lớn và chất lượng sản phẩm không đồng đều.
Khi nền kinh tế phát triển, quan hệ thương mại mở rộng, sản phẩm làng nghề truyền thống được cải tiến nhờ công nghệ, giúp sản xuất đồng đều và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Tuy nhiên, một số sản phẩm vẫn cần duy trì quy trình sản xuất truyền thống để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và vùng miền, giữ gìn nét văn hóa, tinh thần dân tộc và sự sáng tạo của nghệ nhân làng nghề.
Thứ ba, việc tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống nhỏ lẻ, manh mún.
Ngành nghề truyền thống tại các làng nghề Việt Nam thường được hình thành từ quy mô sản xuất hộ gia đình, gắn liền với các phường nghề và hội nghề Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, các làng nghề được tổ chức thành các Đội ngành nghề dưới sự quản lý của Hợp tác xã, như đội gốm, đội mộc, đội sơn mài, hay đội khảm trai Tuy nhiên, mặc dù có sự tổ chức này, quy mô hoạt động của các HTX và Đội ngành nghề vẫn còn nhỏ, chất lượng và hiệu quả sản xuất chưa cao, dẫn đến việc các mô hình này không còn tồn tại đến ngày nay.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống đang trở lại mô hình hộ gia đình, trong khi các doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần xuất hiện để kinh doanh sản phẩm làng nghề Những công ty này tìm kiếm khách hàng nước ngoài thông qua các cơ sở đặt hàng trong cộng đồng, từ đó giao đơn hàng nhỏ lẻ tới các hộ dân Sau khi thu gom sản phẩm thô, chúng được chuyển đến xưởng để gia công, hoàn thiện và đóng gói Mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trước, nhưng các hộ gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn như quy mô sản xuất hạn chế, thiếu vốn đầu tư, và các doanh nghiệp vẫn gặp khó trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm Do đó, sản xuất kinh doanh tại các làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống, vẫn còn manh mún và nhỏ lẻ so với các lĩnh vực kinh tế khác.
Thứ tư, đặc điểm về kỹ thuật sản xuất.
Kỹ thuật sản xuất trong làng nghề truyền thống chủ yếu dựa vào công cụ thủ công như dao, kéo, và các phương pháp cổ truyền được truyền lại qua nhiều thế hệ Đặc biệt, đôi bàn tay của nghệ nhân là yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm, tạo ra sự độc đáo mà máy móc không thể thay thế Sản phẩm từ làng nghề như thêu, chạm khắc, hay đan lát từ mây tre đều thể hiện rõ nét tính đặc sắc này Ngoài ra, một số nghề thủ công còn phụ thuộc vào thời tiết, như nghề sơn mài hay đan lát, có thể bị ảnh hưởng bởi độ ẩm, khiến sản phẩm gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và đóng gói.
Nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống của địa phương
Quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống có vai trò vô cùng quan trọng Cụ thể như:
Quản lý Nhà nước (QLNN) đối với phát triển làng nghề truyền thống (LNTT) sẽ định hướng cho hoạt động sản xuất sản phẩm của các làng nghề địa phương, giúp phát triển phù hợp với mục tiêu đã đề ra Điều này đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi để các làng nghề tiếp cận tài nguyên và nguồn nhân lực cần thiết.
QLNN đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và phân bổ hợp lý các nguồn lực cho phát triển LNTT, phù hợp với đặc điểm ngành nghề của từng địa phương Qua các công cụ quản lý, cơ quan QLNN giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các LNTT và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện vi phạm.
QLNN đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và đảm bảo phát triển LNTT, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
Để bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa của làng nghề, cần đảm bảo tính công bằng và quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh.
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống ở địa phương a Xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động phát triển làng nghề truyền thống Để quản lý các làng nghề truyền thống Nhà nước, địa phương cần chỉ đạo thực hiện các luật lệ, chính sách của trung ương ban hành có hiệu quả ở địa phương mình (ra các văn bản hướng dẫn thực hiện, tổ chức thực thi, kiểm tra, đánh giá) Việc ban hành các văn bản hướng dẫn ở địa phương xuất phát từ những yêu cầu thực tế của địa phương và yêu cầu quản lý của ngành nhưng không trái với pháp luật của Nhà nước Mục đích của ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề truyền thống phát triển một cách thuận lợi, đưa các sản phẩm LNTT ra thị trường quốc tế.
Trong quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống (LNTT), có quy định rõ ràng về điều kiện nghề, điều kiện thành lập doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh của doanh nghiệp, cùng với việc cấp giấy phép kinh doanh Ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước còn thực hiện chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các đối tượng bị ảnh hưởng.
Các ngành và đơn vị liên quan cần phối hợp chặt chẽ trong việc ban hành văn bản, đảm bảo trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ và kịp thời Đồng thời, cần thiết lập và thực hiện kế hoạch cũng như chính sách phát triển cho các làng nghề truyền thống.
Chính sách và kế hoạch đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý phát triển làng nghề Chúng bao gồm các kế hoạch được thiết lập và các hành động thực hiện nhằm mục tiêu phát triển làng nghề theo định hướng đã đề ra.
Kế hoạch phát triển LNTT bao gồm các công việc được tổ chức một cách có hệ thống trong một khoảng thời gian xác định, nhằm mục đích cụ thể để đạt được những mục tiêu một cách hiệu quả thông qua các hành động cụ thể.
Chính sách là tổng hợp các chủ trương và hành động của cơ quan Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề truyền thống phát triển Điều này được thực hiện thông qua việc khuyến khích và huy động nguồn lực, tối ưu hóa tiềm năng và thế mạnh của địa phương để đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra.
Để xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chính sách hỗ trợ cá nhân, hộ kinh doanh và nghệ nhân, cần xác định rõ định hướng và mục tiêu phát triển các ngành nghề địa phương Để các chính sách phát triển làng nghề truyền thống (LNTT) thực sự hiệu quả, chúng phải nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và được cụ thể hóa một cách đồng bộ Do đó, việc xây dựng các kế hoạch này cần được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dưới sự chỉ đạo và phê duyệt của UBND huyện.
Các quy định của Nhà nước xác định rõ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước tại địa phương, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ UBND cấp huyện trong việc quản lý nhà nước tại địa phương, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ theo ủy quyền Cơ quan này cũng phải tuân thủ sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế công chức từ UBND cấp huyện, cũng như hướng dẫn chuyên môn từ cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp thành phố.
Phòng kinh tế - hạ tầng có vai trò quan trọng trong việc quản lý nhà nước về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đồng thời chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm, khoa học - công nghệ, giao thông vận tải và xây dựng cơ bản Người đứng đầu cơ quan chuyên môn phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân huyện và pháp luật về các chức năng, nhiệm vụ của mình Phó trưởng phòng hỗ trợ Trưởng phòng trong công tác và chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao Việc bổ nhiệm và quản lý cán bộ thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND huyện theo quy định pháp luật Để phát triển làng nghề truyền thống, cần có nguồn nhân lực chất lượng, với tay nghề và kinh nghiệm Nhà nước cần chú trọng quản lý đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển làng nghề Việc nắm bắt nhu cầu đào tạo là cần thiết để các cơ sở giáo dục xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu công việc tại địa phương.
Bồi dưỡng và đào tạo chủ doanh nghiệp làng nghề nông thôn về pháp luật kinh doanh và kinh tế thị trường là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro pháp lý Điều này giúp tránh những vụ kiện cáo không đáng có, đồng thời đảm bảo hoạt động kinh doanh tuân thủ đúng quy định của Nhà nước Hơn nữa, cần tổ chức thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các làng nghề truyền thống để duy trì sự phát triển bền vững.
Kiểm tra và giám sát liên tục các hoạt động của làng nghề truyền thống là cần thiết để phát hiện sai sót và vướng mắc, từ đó kịp thời xử lý các vi phạm tại các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên a Vị trí địa lý, diện tích
Huyện Thạch Thất, tọa lạc ở phía tây thành phố Hà Nội, giáp huyện Phúc Thọ ở phía bắc và đông bắc, huyện Quốc Oai ở phía đông nam và nam, thành phố Hòa Bình ở phía tây nam và nam, cùng với thị xã Sơn Tây ở phía tây Với diện tích tự nhiên 202,5 km², huyện Thạch Thất có đặc điểm địa hình bán sơn địa.
Thạch Thất là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với vùng đồng bằng, có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và được chia thành hai dạng địa hình chính.
+ Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò: Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ
10 m đến hơn 15 m Đất phát triển trên nền đá đã phong hóa nhiều nơi có lớp đá ong ở tầng sâu 20 – 50 cm.
Địa hình đồng bằng bên bờ trái sông Tích có đặc điểm khá bằng phẳng, với độ cao trung bình từ 3 đến 10 m so với mực nước biển Khu vực này cũng xuất hiện nhiều điểm trũng, hình thành các hồ đầm nhỏ Về dân số, mật độ dân số và nguồn nhân lực trong khu vực này cần được nghiên cứu và đánh giá để hiểu rõ hơn về tiềm năng phát triển.
Theo số liệu năm 2019, huyện có tổng dân số 232.786 người, trong đó 45.808 người sống ở thành thị, chiếm 19,68%, chủ yếu tập trung tại thị trấn Liên Quan Đa số cư dân, với 186.978 người, sinh sống ở vùng nông thôn, chiếm 80,32% tổng dân số Huyện có mật độ dân số là 1.260 người/km², chủ yếu là người dân tộc Kinh, bên cạnh một bộ phận người dân tộc Mường.
Tỷ lệ tăng dân số của huyện duy trì ở mức thấp dưới 1% mỗi năm trong giai đoạn 2016-2020 Nguồn lao động trẻ phong phú với 177.621 người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 177.685 người tham gia hoạt động kinh tế, chiếm 76,33% tổng lực lượng lao động.
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội a Về kinh tế:
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội đã có những kết quả nổi bật với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,92% trong 5 năm, vượt mục tiêu Đại hội XXIII là 12,68% Tổng giá trị sản xuất ước đạt 25.250,390 tỷ đồng vào năm 2020, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: tỷ trọng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 70,2%, thương mại và dịch vụ 23,2%, và nông, lâm nghiệp, thủy sản 6,6%, so với mục tiêu Đại hội là 70% - 21% - 9%.
Cơ cấu lao động trong các lĩnh vực công nghiệp, TTCN, thương mại, dịch vụ, nông, lâm, thủy sản lần lượt chiếm 59,5%; 26%; 14,5% Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 70 triệu đồng/năm, gấp đôi so với năm 2015.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện đã phát triển mạnh mẽ, với việc phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông hàng năm đạt trên 98%, trong khi tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học và cao đẳng luôn duy trì ở mức cao, khoảng 30% mỗi năm.
Các trung tâm bồi dưỡng chính trị và giáo dục thường xuyên đã đạt được nhiều thành tựu trong đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho cán bộ, công chức và người dân trong huyện.
Các hoạt động văn hóa-thể thao đã có những tiến bộ rõ rệt, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân Việc xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa đã đạt kết quả bước đầu tích cực Hoạt động tôn giáo và lễ hội được tổ chức theo quy định của pháp luật Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã được triển khai sâu rộng, với tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu văn hóa đạt 88,5% và tỷ lệ làng thôn đạt 80% Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã được thực hiện hiệu quả Ngành y tế đã chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, duy trì 100% trạm y tế có bác sỹ và đạt 72,2% xã chuẩn quốc gia về y tế Tỷ lệ tiêm chủng hàng năm đạt 100% và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 15%.
Các lĩnh vực văn hóa-giáo dục đang phát triển mạnh mẽ, đảm bảo an sinh xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh Hệ thống chính trị toàn huyện hoạt động hiệu quả, với sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp ủy đảng đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình mới Công tác điều hành của chính quyền các cấp cũng có nhiều chuyển biến tích cực.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
Trong quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại huyện, nhiều yếu tố tác động cả trực tiếp và gián tiếp Đặc biệt, các nhân tố khách quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Môi trường an ninh, chính trị và pháp luật
Trong bối cảnh bất ổn gia tăng toàn cầu, sự ổn định chính trị và xã hội của Việt Nam trở thành một lợi thế quan trọng cho sự phát triển Việt Nam duy trì quan điểm nhất quán, tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư và phát triển kinh tế.
Ổn định và phát triển là hai yếu tố gắn liền với nhau trong quá trình tiến bộ của đất nước Để có sự phát triển bền vững, môi trường chính trị và xã hội cần được giữ vững, pháp luật và an ninh phải được đảm bảo Sự khơi dậy và phát huy nội lực của đất nước, cùng với việc tiếp nhận và sử dụng hiệu quả ngoại lực, đã góp phần vào những thành tựu to lớn sau hơn 30 năm đổi mới, mang lại ý nghĩa lịch sử cho đất nước.
Môi trường chính trị và pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống Chế độ chính trị - xã hội và thể chế Nhà nước quyết định cấu trúc bộ máy quản lý nhà nước đối với các ngành nghề Nhà nước thiết lập bộ máy quản lý với chiến lược phát triển chung nhằm quản lý làng nghề truyền thống và nền kinh tế địa phương Điều này định hướng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường Phát triển thủ công nghiệp được coi là giải pháp cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống người dân nông thôn.
- Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994;
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996;
- Nghị quyết Đại hội X của Đảng;
Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
2.2.1 Giới thiệu các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện
Huyện Thạch Thất hiện có 10 làng nghề truyền thống được công nhận, bao gồm: Làng nghề cơ kim khí Phùng Xá tại xã Phùng Xá, làng nghề đồ mộc - may Hữu Bằng, và làng nghề mây tre giang đan tại thôn Thái Hòa, thôn Phú Hòa, và thôn Bình.
Xã Bình Phú nổi bật với làng nghề mộc Chàng Sơn, nơi sản xuất các sản phẩm gỗ chất lượng cao Ngoài ra, làng nghề mộc - xây dựng Canh Nậu và làng nghề mộc-xây dựng Dị Nậu cũng góp phần quan trọng vào nền kinh tế địa phương Thêm vào đó, thôn Thạch xã nổi tiếng với nghề làm Bánh chè lam, mang đậm bản sắc văn hóa ẩm thực của vùng.
Thạch Xá; làng nghề truyền thống mộc dân dụng và làm nhà gỗ cổ truyền xã Hương Ngải Toàn huyện có 50/59 làng có nghề.
Các làng nghề truyền thống đã hiệu quả trong việc thu hút lao động nhàn rỗi và lao động chưa có việc làm ở nông thôn, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân Nhiều sản phẩm thủ công độc đáo như mộc Chàng Sơn, Canh Nậu, Hương Ngải và kim khí Phùng Xá không chỉ phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng.
2.2.2 Thực trạng xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động phát triển làng nghề truyền thống
Việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế là rất quan trọng, và huyện đã ban hành một số văn bản liên quan đến vấn đề này cho đến nay.
Chương trình số 10-CTr/HU ngày 18/9/2016 của Ban chấp hành đảng bộ huyện Thạch Thất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế toàn diện, hiệu quả bền vững và xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao đời sống nhân dân huyện Thạch Thất trong giai đoạn 2016-2020.
- Nghị quyết số 13/2015/NQ-HĐND ngày 28 tháng 6 năm 2015 của HĐND huyện về thực hiện Đề án phát triển công nghiệp – TTCN giai đoạn 2015-2017 và định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 5665/QĐ-UBND ngày 30 tháng 9 năm 2015 đã ban hành đề án phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp huyện Thạch Thất giai đoạn 2015-2017, với định hướng đến năm 2020 Mục tiêu là biến huyện Thạch Thất thành huyện Công Nghiệp – Đô thị - Dịch vụ, tập trung phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực Đặc biệt, huyện sẽ ưu tiên một số ngành có lợi thế như sản xuất cơ kim khí, đồ mộc, sản phẩm gỗ xây dựng, đồ gỗ chạm khắc, làm nhà cổ và sản xuất linh kiện điện tử.
- Quyết định số 2482/QĐ-UBND ngày 13/6/2016 của UBND huyện về việc phê duyệt Đề án xây dựng Nông thôn mới huyện Thạch Thất giai đoạn 2016-2020.
Đề án số 01/ĐA-UBND ngày 20/6/2016 của UBND huyện Thạch Thất nhằm bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống giai đoạn 2016-2020 Mục tiêu của đề án là phát triển nghề và làng nghề để bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời phát triển các làng nghề mới Đề án cũng tập trung rà soát, phân loại các làng nghề cần duy trì hoặc chuyển đổi sang nghề khác, phát triển sản phẩm thủ công mạnh, kết hợp sản xuất làng nghề với du lịch, văn hóa và lễ hội Ngoài ra, đề án hướng tới phát triển lực lượng lao động có tay nghề cao, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người lao động Hơn nữa, đề án còn hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý và marketing sản phẩm, đồng thời phát triển các sản phẩm truyền thống có thị trường tiềm năng, góp phần khôi phục văn hóa của các làng nghề.
Việc ban hành các văn bản hướng dẫn địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và yêu cầu quản lý ngành, đồng thời tuân thủ pháp luật của Nhà nước, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các làng nghề truyền thống.
Huyện Thạch Thất hiện có tiềm năng phát triển các làng nghề truyền thống, mặc dù số lượng còn hạn chế và chưa được khai thác triệt để Để thúc đẩy sự phát triển này, huyện đang triển khai quy hoạch và chiến lược rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề, đồng thời bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong huyện đang nhận được sự quan tâm từ nhiều cấp, ngành.
Dưới đây là bảng 2.1 cho chúng ta thấy số lượng nghề và làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất.
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số lượng nghề và làng nghề
TT Xã, phường Tên làng có nghề Tên làng nghề đã được công nhận Ngành nghề
1 Xã Canh Nậu 1 Làng Canh Nậu Mộc xây dựng Canh Nậu Mộc dân dụng
2 Xã Hữu Bằng 1 Làng Hữu Bằng Mộc may Hữu Bằng Mộc dân dụng, dệt may
3 Xã Dị Nậu 1 Làng Dị Mộc xây dựng Dị Nậu Mộc dân dụng
4 Xã Chàng Sơn 1 Làng Chàng Mộc Chàng Sơn Mộc dân dụng
5 Xã Thạch Xá 1.Làng Thạch Chè Lam Thạch Xá Chè Lam
1.Làng Bình Xá Mây giang đan Bình Xá Mây giang đan xuất khẩu
2.Làng Thái Hòa Mây giang đan Thái Hòa Mây giang đan xuất khẩu
3.Làng Phú Hòa Mây giang đan Phú Hòa Mây giang đan xuất khẩu
7 Xã Phùng Xá 1 Làng Vĩnh Cơ Kim khí Phùng Xá Cơ kim khí
Làng nghề truyền thống mộc dân dụng và làm nhà gỗ Hương Ngải
Mộc dân dụng và làm nhà gỗ
(Nguồn: Phòng Kinh tế huyện Thạch Thất)
Trong quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống (LNTT), có quy định về điều kiện nghề, thành lập doanh nghiệp, hình thức kinh doanh và giấy phép kinh doanh Các quy định liên quan đến môi trường và an toàn thực phẩm trong làng nghề được triển khai qua Quyết định số 28/2017/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Thông tư số 17/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhằm đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất kinh doanh nông, lâm, thủy sản.
2.2.3 Thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển làng nghề truyền thống tại địa phương
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII nhiệm kỳ 2020-2025, huyện Thạch Thất phấn đấu trở thành huyện công nghiệp kỹ thuật cao vào năm 2025 Căn cứ vào đề án phát triển Công nghiệp - TTCN giai đoạn 2015-2025, huyện sẽ tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, thu hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đến năm 2020, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 5.493.880 triệu đồng, chiếm 70,4% trong cơ cấu kinh tế với mức tăng trưởng bình quân 12,9%/năm Định hướng đến năm 2025, giá trị này dự kiến sẽ đạt 9.467.896 triệu đồng, tăng bình quân 11,5%/năm, tập trung vào các ngành có lợi thế như sản xuất cơ kim khí, đồ mộc, sản phẩm gỗ xây dựng, và linh kiện điện tử.
UBND huyện dự kiến xây dựng mới và mở rộng các cụm công nghiệp nhằm đưa các hộ sản xuất vào mô hình tập trung, phù hợp với các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra.
Từ năm 2002, đã quy hoạch và triển khai 9 khu – cụm công nghiệp với tổng diện tích 264 ha, tạo điều kiện giao đất cho 1.083 doanh nghiệp và hộ làng nghề để đầu tư xây dựng nhà xưởng tập trung.
+ Khu Công nghiệp Thạch Thất – Quốc Oai (địa bàn Thạch Thất) diện tích 68,58ha thu hút 32 doanh nghiệp đầu tư thứ phát.
Cụm công nghiệp Phùng Xá – Bình Phú có diện tích 103,9ha, trong đó đã giải phóng 39ha tại xã Phùng Xá và giao đất cho 6 doanh nghiệp để xây dựng nhà xưởng sản xuất Cụm công nghiệp Bình Phú, với diện tích 21,18ha, đã giao đất cho 9 doanh nghiệp đầu tư Cụm công nghiệp Cơ kim khí tại xã Phùng Xá có diện tích 11,2ha, đã hoàn thành đầu tư hạ tầng và giao đất cho 369 hộ sản xuất Hiện tại, cụm công nghiệp này đang tiếp tục mở rộng thêm 7,43ha để tạo điều kiện sản xuất cho các hộ.
Mục tiêu phát triển và phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
3.1.1 Mục tiêu phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội a Mục tiêu chung
Để phát triển làng nghề truyền thống, cần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất hàng hóa, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh Việc kết hợp du lịch làng nghề với các hoạt động văn hóa-dân tộc sẽ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch.
Khôi phục và bảo tồn các làng nghề truyền thống có khả năng cạnh tranh cao, đồng thời phát triển các làng nghề mới gắn liền với du lịch và bảo vệ môi trường bền vững Đặc biệt, cần chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) sử dụng nhiều lao động, nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng tỷ lệ phi nông nghiệp và từng bước nâng cao mức sống cho người dân nông thôn.
Để thu hút nguồn lực cho phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cần đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện thông qua việc tăng giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng trong lĩnh vực này Phát triển làng nghề kết hợp với thương mại, dịch vụ và du lịch, đồng thời khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh tế phù hợp với quy hoạch Tập trung phát triển vùng nguyên liệu liên kết chặt chẽ với sản xuất và tiêu thụ cả trong nước lẫn quốc tế.
Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng 12,6% mỗi năm, đóng góp 67,8% vào cơ cấu kinh tế Từ năm 2020 đến 2025, dự kiến sẽ có 10.000 lao động được đào tạo nghề, với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% vào năm 2025, tạo ra khoảng 15.000 việc làm mới Thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất tiểu thủ công nghiệp dự kiến đạt từ 50 triệu đồng mỗi người mỗi năm trở lên.
- Phát triển thêm 02 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm từ các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tại huyện Thạch Thất, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ tại các tỉnh lân cận như Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc Hỗ trợ các làng nghề truyền thống trong việc quảng bá sản phẩm tại các hội chợ trong thành phố và các địa phương khác.
- Hình thành và kết nối được một số tuyến du lịch làng nghề xã Hữu Bằng,
Chàng Sơn,… Phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với du lịch, thăm quan, mua sắm tại làng nghề truyền thống.
Đến năm 2030, 100% làng nghề truyền thống sản xuất thực phẩm sẽ đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), đồng thời giải quyết triệt để các vi phạm liên quan đến ô nhiễm môi trường Mục tiêu là khắc phục 85% tình trạng ô nhiễm rác thải và nước thải tại các làng nghề truyền thống, góp phần cải thiện môi trường sống.
Một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, Hà Nội
Xây dựng quy hoạch hoàn thiện cho các cụm công nghiệp làng nghề nhằm định hướng phát triển bền vững cho các làng nghề truyền thống trong thành phố, theo thứ tự tổng thể quy hoạch.
Cần tiếp tục hoàn thiện đội ngũ quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại thành phố, huyện, bằng cách quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và chức năng để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước.
Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển các ngành nghề truyền thống và mới, đồng thời phát triển sản phẩm mới để thu hút đầu tư từ cả trong và ngoài nước.
- Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển làng nghề truyền thống Tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc phát triển làng nghề truyền thống.
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, Hà Nội
Sau khi phân tích tình hình phát triển và quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống tại huyện Thạch Thất, Hà Nội.
3.2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động phát triển làng nghề truyền thống
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế sản xuất và kinh doanh tại địa phương là cần thiết để hỗ trợ các hộ kinh doanh, doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh trong huyện phát triển sản phẩm làng nghề.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống, cần coi việc hướng dẫn và hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống (LNTT) là trách nhiệm của các cấp, ngành, đặc biệt là huyện Cần tổ chức tuyên truyền và phổ biến rộng rãi các chính sách phát triển sản xuất của nhà nước và huyện, nhằm tạo sự yên tâm cho người dân trong việc đầu tư sản xuất, góp phần làm giàu cho quê hương và xã hội.
Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cần được xây dựng đồng bộ và hướng đến mục tiêu phát triển sản phẩm hàng hóa tiêu dùng Cần chú trọng hình thành các làng nghề tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chính sách trợ giúp cho những làng nghề truyền thống đang gặp khó khăn.
Nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách bổ sung các điều luật chi tiết phù hợp với sản xuất và kinh doanh của các làng nghề Điều này sẽ tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, hỗ trợ người dân trong việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm của làng nghề truyền thống.
3.2.2 Hoàn thiện công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển làng nghề truyền thống
Dựa trên Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Thành phố đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá để xác định các khu vực và làng nghề tiểu công nghiệp có tiềm năng phát triển, đặc biệt là gắn với nguồn nguyên liệu tại huyện, như ở các xã Phùng Xá, Hữu Bằng và Canh Nậu.
Cần hoàn thiện kế hoạch và chính sách cụ thể để phát triển các làng nghề truyền thống, đồng thời đầu tư vào các cụm công nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành nghề địa phương Quy hoạch tổng thể phải có tầm nhìn xa, đảm bảo sự phù hợp với các quy định mới của Chính phủ và thành phố, cũng như sát với thực tiễn địa phương, nhằm xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các lĩnh vực chủ chốt một cách khả thi.
Để phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cần tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách, kế hoạch và quy hoạch liên quan Việc cụ thể hóa các nhiệm vụ và giải pháp bằng quy định và dự án cụ thể sẽ giúp hiện thực hóa các mục tiêu và định hướng đã đề ra.
Quy hoạch phát triển ngành nghề cần kết hợp chặt chẽ với việc đầu tư hạ tầng và bảo vệ môi trường Cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu xử lý chất thải và nước thải đạt tiêu chuẩn quy định, phù hợp với quy mô của các cơ sở nghề và làng nghề.
Để phát triển hiệu quả tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và làng nghề TTCN, cần triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách của nhà nước Cần rà soát và đánh giá các chương trình như khuyến công, khuyến nông, chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn mới, phát triển du lịch làng nghề truyền thống và công tác quảng bá làng nghề, cũng như chương trình phát triển ngành nghề nông thôn.
Cải cách thủ tục hành chính và thu hút đầu tư là yếu tố quan trọng trong phát triển lĩnh vực TTCN và làng nghề truyền thống Nhà nước triển khai các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng nhằm hỗ trợ các làng nghề truyền thống trong việc vay vốn và đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.
Xây dựng các chính sách cụ thể để tìm khắc phục từng hạn chế như:
Chính sách về vốn của huyện tập trung vào việc khai thác nguồn vốn đầu tư ngoài huyện để phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là thông qua việc cân đối và sử dụng nguồn kinh phí từ đấu giá quyền sử dụng đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại các cụm công nghiệp Huyện cũng sẽ đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá cơ hội đầu tư đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời thực hiện đầy đủ các chính sách thu hút đầu tư để huy động vốn cho các dự án phát triển công nghiệp, làng nghề truyền thống Để đa dạng hóa nguồn vốn, huyện khuyến khích các hình thức góp vốn, thành lập hợp tác xã, doanh nghiệp và vay từ các tổ chức tín dụng, đồng thời phát triển các dự án tiểu thủ công nghiệp tại các xã nông thôn mới bằng nguồn vốn khuyến công.
Một số kiến nghị
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ
Xây dựng cơ chế huy động vốn hiệu quả và tăng cường hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước cho các hoạt động xúc tiến thương mại Đồng thời, cần chú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng, và đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ nhằm phát triển sản xuất Bên cạnh đó, việc cải tạo và xử lý môi trường tại các làng nghề cũng cần được đầu tư thích đáng.
Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức phi Chính phủ vào lĩnh vực phát triển làng nghề, cần xây dựng cơ chế khuyến khích hiệu quả Cụ thể, đề xuất giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào sản xuất và kinh doanh các sản phẩm làng nghề truyền thống.
Thành phố Hà Nội đã ban hành chỉ thị quy hoạch nhằm bổ sung quy hoạch, thành lập và mở rộng các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Việc này không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển bền vững các ngành nghề truyền thống và hiện đại trên địa bàn.
- Rà soát xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu tình hình thực tế.
Cần xem xét việc bổ sung và ban hành các chính sách cũng như chương trình hỗ trợ nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng cho các cụm công nghiệp Điều này sẽ giúp đưa các dự án này vào danh mục ngành nghề và lĩnh vực được vay vốn tín dụng đầu tư tại thành phố Hà Nội.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề truyền thống, ngay cả khi không nằm trong khu vực kinh tế xã hội khó khăn, vẫn được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Cụ thể, doanh nghiệp sẽ được miễn thuế thu nhập trong 2 năm đầu, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo, và áp dụng thuế suất ưu đãi 20% trong vòng 10 năm.
3.3.2 Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội
Uỷ ban nhân dân thành phố đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển sản xuất kinh doanh sản phẩm thủ công truyền thống tại địa phương Dựa trên thực trạng phát triển của ngành và nhu cầu hiện tại, bài nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị đối với các UBND thành phố Hà Nội nhằm thúc đẩy sự phát triển này.
Chúng tôi chỉ đạo việc triển khai thực hiện các văn bản liên quan, xây dựng kế hoạch hàng năm và tổ chức tuyên truyền để vận động, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và cộng đồng nhân dân duy trì và phát triển sản xuất tại các làng nghề.
UBND thành phố cần nhanh chóng hoàn thiện và thực hiện quy chế hoạt động cho các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống Việc thống nhất và tập trung các cụm công nghiệp sẽ tạo nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả quản lý trong các cụm công nghiệp và làng nghề hiện tại.
Quy hoạch vùng sản xuất tập trung cho nguyên liệu nông nghiệp nhằm ứng dụng khoa học kỹ thuật, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn và tiết kiệm chi phí sản xuất.
Xây dựng quy hoạch sử dụng đất cho phát triển làng nghề truyền thống là một phần quan trọng trong việc thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2025, với định hướng mở rộng đến năm 2030 Quy hoạch này không chỉ nhằm bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống mà còn góp phần nâng cao chất lượng đời sống nông thôn, thúc đẩy kinh tế địa phương và tạo ra môi trường sống bền vững.
Phát triển làng nghề truyền thống kết hợp với du lịch là một hướng đi hiệu quả, giúp thu hút khách tham quan Việc xây dựng khu vực tập trung với đầy đủ điều kiện sẽ tạo điểm đến hấp dẫn cho du khách khi đến thăm các làng nghề.
Cần thiết phải hỗ trợ các làng nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển mô hình quản lý hiệu quả như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH Đặc biệt, cần chú trọng đến chất lượng và sản lượng sản phẩm, cũng như khả năng tiêu thụ trên thị trường.
Theo Quyết định số 28/2017/QĐ-UBND ngày 05 tháng 12 năm, hỗ trợ đầu tư kinh phí cho việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải và chất thải trong các làng nghề truyền thống là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
2017 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành Quy định bảo vệ môi trường thành phố Hà Nội.
Đề nghị UBND thành phố hàng năm dành một phần ngân sách để đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại các cụm công nghiệp, bao gồm hạ tầng xử lý môi trường Đồng thời, cần hỗ trợ huyện vay vốn để thanh toán tiền bồi thường giải phóng mặt bằng và xây dựng các hạng mục hạ tầng thiết yếu như đường giao thông, vỉa hè, hệ thống điện và hệ thống thoát nước trong các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống.
UBND thành phố cần tăng cường sự chỉ đạo quản lý Nhà nước đối với các làng nghề truyền thống bằng cách bổ sung cán bộ chuyên trách Đồng thời, cần nâng cao công tác thanh kiểm tra và giám sát, quản lý trật tự đô thị và môi trường Việc tăng cường chức năng của chính quyền cơ sở trong quản lý hành chính trực tiếp đối với làng nghề, doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cũng là rất quan trọng.