Quá trình di dân, TĐC trong các dự án cải tạo, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị không chỉ làm thay đổi kết cấu không gian vật lý đô thị mà còn mang lại những biến đổi trong đời sống của mỗi cá nhân và gia đình. Kết quả tổng hợp của toàn bộ cuộc nghiên cứu đã khẳng định giả thuyết đã được nêu ra là quá trình xây dựng, cải tạo và chỉnh trang đô thị đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức sống của cộng đồng dân chuyển cư. Tuy nhiên sự ảnh hưởng này có mức độ khác nhau ở mỗi nhóm xã hội. Đối với nhóm xã hội gắn với các nghề nông ngư nghiệp, dịch vụ buôn bán nhỏ, hay những người không có nghề nghiệp diễn ra khá phức tạp, đặc biệt về mặt thu nhập, thiếu việc làm, khả năng thích ứng và các vấn đề xã hội nan giải. Có lẽ điều này sẽ gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về hướng giải quyết những khó khăn cho người dân sau TĐC. Nên chăng chỉ cần tập trung ưu tiên nguồn lực vào thời gian đầu sau TĐC để giúp đỡ người dân sớm hoà nhập vào môi trường sống ở nơi ở mới là đã giải quyết được những khó khăn cơ bản. Hệ thống chính sách, đặc điểm gia đình và cá nhân chủ hộ là những yếu tố quan trọng tác động đến sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC. Hệ thống chính sách về đền bù, TĐC đã đảm bảo những quyền lợi hợp pháp cho người dân trong diện di dời và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho mọi người dân trong suốt quá trình di dời, TĐC. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy còn những bất cập trong những quy định cụ thể của nhà nước về quyền lợi của người dân khi phải giải tỏa, di dời, TĐC, nhất là những hộ bị ảnh hưởng nhiều. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách đôi khi còn thiếu tính đồng bộ, chưa nhất quán; còn thiếu những giải pháp cụ thể, khả thi trong giải quyết việc làm cho người dân. Các đặc điểm gia đình, cá nhân chủ hộ là những nguyên nhân trực tiếp quyết định mức sống của cá nhân và hộ gia đình cao hay thấp. Trong đó đáng lưu ý nhất là yếu tố quy mô hộ gia đình, tuổi, trình độ học vấn, và loại nghề nghiệp của chủ hộ. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến vấn đề việc làm, thu nhập, chi tiêu ... của cá nhân và hộ gia đình. Đặc biệt là yếu tố trình độ học vấn, loại nghề nghiệp trở thành tiêu chí quan trọng phân định mức sống của các hộ dân cư cao hay thấp. Tình trạng thất học, nghề nghiệp không ổn định của chủ hộ còn là nguyên nhân đưa đến trình độ học vấn thấp, không nghề nghiệp, thiếu việc làm của con cái những hộ này. Đây là yếu tố góp phần tạo nên tình trạng nghèo của cộng đồng dân cư sau TĐC ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề xã hội nan giải không chỉ trước mắt mà sẽ còn hệ luỵ cho các thế hệ kế tiếp. Thực tế nói trên đang cần có những giải pháp hữu hiệu từ phía nhà nước nhưng cũng đòi hỏi mỗi người dân phải có ý thức tự nỗ lực khắc phục để vươn lên. Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các gia đình nghèo là biện pháp chủ yếu, có ý nghĩa lâu dài.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài:
Đất đai có tầm quan trọng to lớn đối với người dân cả về phương diệnnơi ở lẫn tư liệu sản xuất Ở nước ta, Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữutoàn dân và ủy quyền cho Nhà nước quản lý, Nhà nước giao cho dân cư sửdụng Từ khi chính thức giao đất cho người dân, Nhà nước ta đã tuyên bố bảo
hộ quyền sử dụng chính đáng đất của dân cư
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước; hội nhập vào nền kinh tế quốc tế nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiềuhơn, nhiều dự án lớn đã, đang và sẽ đầu tư xây dựng chiếm đất ở và đất sảnxuất của dân cư, bên cạnh đó là công tác quy hoạch, phát triển các đô thị lớntác động khá lớn đến việc sử dụng đất ở của dân cư
Đô thị ngày càng khẳng định vai trò động lực then chốt trong nền kinh
tế với khoảng 55% dân số sống tại các đô thị vào năm 2020
Cùng với xu hướng đó của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã chủtrương xây dựng đồng bộ các khu đô thị mới nằm trong tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội của cả nước; trong đó việc tiến hành thu hồi đất là điều khôngtránh khỏi, thành phố Hồ Chí Minh chú trọng đầu tư hoàn chỉnh 4 đô thị vệtinh tại 4 hướng: Phía Đông là phường Long Trường, quận 9 (giáp với trụccao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây); phía Tây là khu vực giáp Quốc
lộ 1 thuộc xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, trục Nguyễn Văn Linh; phía Nam
là khu A đô thị mới Nam Sài Gòn, trục đường Nguyễn Hữu Thọ; phía Bắc làthuộc khu Tây - Bắc, hướng Quốc lộ 22
Trang 2Các khu đô thị vệ tinh này hình thành và phát triển đã góp phần làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, pháttriển các ngành công nghiệp công nghệ với trình độ chuyên môn hoá cao vàdịch vụ của thành phố Ngoài những thuận lợi về mặt điều kiện tự nhiên, tàinguyên phong phú, kỹ thuật hiện đại, thành phố Hồ Chí Minh còn là vùng đôthị lớn nhất ở Việt Nam hiện nay, là trung tâm văn hoá, đào tạo, y tế chấtlượng cao, là vùng có cảnh quan và môi trường tốt đang trong quá trình pháttriển mạnh mẽ để hướng đến trở thành một trong những siêu đô thị của châu
Á Hiện nay, với dân số hơn tám triệu người, Thành phố Hồ Chí Minh đangtrong tình trạng quá tải, dự báo đến năm 2025 Thành phố Hồ Chí Minh cómười triệu dân và là một siêu đô thị năng động tầm cỡ thế giới Đối phó vớinguy cơ trên, trong định hướng phát triển đến năm 2025, thành phố xác địnhviệc phát triển không gian đô thị sẽ theo hướng đa tâm, phát triển các đô thị
vệ tinh xung quanh để giảm áp lực dân số Quá trình kiến tạo lại môi trường
đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh đã không chỉ tạo được môi trường sống, chấtlượng sống tốt hơn mà còn đem lại niềm tin yêu, lòng tự hào cho người dânthành phố đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền thành phố Theo đó, việcquy hoạch và xây dựng thành phố trong tương lai đang trở thành tâm điểmcủa Đảng, chính quyền và người dân nơi đây
Tuy nhiên, đằng sau bất kỳ một chính sách nào, dù thành công đếnmấy cũng thường ẩn náu những vấn đề xã hội nhất định Điều này đòi hỏicác cấp, các ngành phải có cái nhìn toàn diện, hợp lý để tăng cường hiệuquả cho xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển kinh tế
- xã hội bền vững
Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, “mỗi nămbình quân có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, đã tác động đến đờisống 2,5 triệu người dân và cứ trung bình 01 ha đất bị thu hồi có 10 người mất
Trang 3việc” (Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012)) Thành phố Hồ Chí Minh cũng ởvào tình trạng như vậy, với 28 dự án tại 04 khu đô thị mới được quy hoạch, mởrộng và xây dựng, diện tích đất của người dân bị hu hồi là 1.722 ha, trong đóphần lớn là đất nông nghiệp và đất ở vùng ven đô, hàng chục nghìn hộ dânđược di dời đến các khu tái định cư (TĐC) mới Trên nhiều mặt, đời sốngcủa dân cư trong các khu vực này được cải thiện rõ rệt Cơ sở hạ tầng như:Điện, đường, hệ thống cấp thoát nước, vệ sinh môi trường đều được nângcấp đạt tiêu chuẩn đô thị bậc cao Nhưng một bộ phận dân cư vẫn còn bănkhoăn về khả năng tìm việc làm, tạo thu nhập đảm bảo mức sống của dân cưthời “hậu tái định cư”, đặc biệt là đối với nhóm cư dân nghèo Vì vậy, ở một
số nơi, một số người chưa thích nghi được với môi trường sống mới hoặcchưa tìm được việc làm ổn định sinh tâm lý thiếu an tâm Mức sống ở một bộphận dân cư chưa ổn định nhất là số người làm các nghề tự do đang cần tiếptục hỗ trợ để tìm hướng giải quyết Đây là vấn đề của không chỉ công táctruyền thông, giáo dục mà còn là một kế hoạch phát triển kinh tế, ổn định xãhội cả trước mắt lẫn lâu dài
Thành phố Hồ Chí Minh còn tiếp tục phải di dời, giải toả và chỉnhtrang Do vậy tìm hiểu các vấn đề của chính sách đền bù, hỗ trợ tái định cưảnh hưởng đến cộng đồng dân cư sau TĐC là việc rất cần làm Đây là yêucầu khoa học cấp thiết giúp lãnh đạo thành phố hoạch định và thực hiệnnhững chính sách phù hợp nhằm phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tạotâm lý an tâm cho cộng đồng dân cư đã, đang và sẽ phải di dời, giải toả ởthành phố Hồ Chí Minh
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã cómột số công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về di dời, giảitỏa và TĐC
Trang 4Trên thế giới, mô hình quy hoạch phát triển đô thị được hình thành nhưmột kênh hữu hiệu cho việc thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội củađất nước Các vấn đề liên quan đến quy hoạch phát triển đô thị thông minhđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia trên toàn thế giới Một
số nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của quy hoạch phát triển
đô thị đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tác động đến đối tượng thunhập thấp như nghiên cứu của Ông Tom Berge, Ủy viên Hội đồng Quy hoạch
đô thị California, Mỹ chia sẻ: “Giống như nhiều thành phố trên thế giới, chúngtôi cũng gặp phải khó khăn chung trong quy hoạch đô thị như phải giải quyếtcác câu chuyện về mật độ số đông đảm bảo giá nhà hợp lý, không gian xanh
Vị chuyên gia này cho biết, chính quyền bang California khuyến khích các chủđầu tư dành một quỹ đất, quỹ nhà cho các nhóm đối tượng có thu nhập thấp.Trong khi đó, ông Remigio Ramirez, chuyên gia quy hoạch môi trường/đô thịđến từ Philippines cho biết “Ở Philippines, quy hoạch cần tham khảo ý kiếnngười dân để có chiến lược phù hợp” Ông Harry Yeo, nguyên Chủ tịch ViệnBất động sản Singapore chia sẻ: “quy hoạch đô thị có vai trò rất quan trọng.Chúng tôi cũng phát triển nhiều dự án nhà ở xã hội để người dân có thể dễ dàngtiếp cận với nhà ở” Theo ông Soichrio Takamine, Phó vụ trưởng, Ban Quyhoạch Đô thị, Cục Đô thị, Bộ Đất đai hạ tầng giao thông (Nhật Bản): “Bối cảnh
xã hội cũng đã thay đổi nhiều nên quy hoạch đô thị cũng phải phát triển theo,phải đảm bảo hài hòa giữa phát triển xã hội và phát triển đô thị” và trong quátrình quy hoạch, Nhật Bản cũng đề cao thúc đẩy các hình thức mới giúp ngườidân có cuộc sống thoải mái hơn
Tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu liên quan trên các phương diệnkhác nhau về di dời, giải tỏa và TĐC Nghiên cứu cơ sở pháp lý của chính
sách, thực trạng và hạn chế của chính sách như: “Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn” (TS.Phạm Mộng Hoa - TS.Lâm Mai
Trang 5Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000) Với công trình này, các tác giả
đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông tư quy định về mặtpháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối vớingười bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chínhsách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của ViệtNam với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài ra, tác giả cũng đềxuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho
những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn.“Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp”
(Trần Xuân Quang, Hà Nội, 8/1997) Đây là công trình đã khá thành côngtrong việc đưa ra những đánh giá có tính khái quát về tình hình thực hiện cácchính sách đền bù, TĐC cho những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự ánphát triển
Một số nghiên cứu được thực hiện theo hướng xây dựng chiến lược sinh
kế cho người dân bị mất đất trong quá trình đô thị hóa như: “Chính sách di dân châu Á” (Dự án VIE/95/2004 Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, 1998).
Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ khác nhaucủa việc di dời, giải toả, di dân TĐC Cụ thể trong bài viết “Chính sách táiđịnh cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam” (từ trang180-195), tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác TĐChiện nay ở nước ta và tập trung trình bày những nội dung chính của các vănbản pháp lý liên quan đến đền bù và TĐC Nguyễn Thiện Trưởng (2004)
“Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam”, Đặng Nguyên Anh (2002) nghiêncứu về “Phân bố dân số ở Việt Nam: đặc trưng, xu thế và định hướng chính
sách”, “Di dân và đô thị hoá”,… “Một số vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo - chỉnh trang đô thị (CTĐT): giảm tổn thương cho nhóm dân cư
Trang 6nghèo nhất” của Nguyễn Quang Vinh đăng trên tạp chí Xã hội học, số
1-2001 Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự ảnh hưởng của các dự án cảitạo - CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư nghèo ở TP Hồ ChíMinh Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên cứu rất bổích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình
đô thị hoá
Nghiên cứu này đã xác định tình trạng thu nhập của hộ gia đình sau khimất đất, tình trạng việc làm của người dân, phân tích các nhân tố ảnh hưởngđến sinh kế của người dân bị mất đất Những nhân tố được lựa chọn để phântích có điểm tương đồng khá lớn giữa các nghiên cứu này như: trình độ họcvấn, số lượng lao động, giới tính chủ hộ, tham gia vào các tổ chức xã hội củacác thành viên trong hộ gia đình, khả năng tiếp cận nguồn tín dụng
Tuy nhiên, nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hoá, quy hoạch giải toả đếnsinh kế người dân không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ảnh hưởng của ngườidân bị mất đất, không chỉ dừng lại ở việc xác định sự chuyển dịch cơ cấu thunhập, việc làm của người dân bị mất đất - đối tượng ảnh hưởng trực tiếp củaquá trình đô thị hoá Thực tế cho thấy, quy hoạch phát triển đô thị mới tác độngđến mọi mặt đời sống tinh thần, đời sống vật chất của người dân bị mất đấtđược bố trí tái định cư và những người dân sống xung quanh khu vực tái định
cư – những người không trực tiếp mất đất do bị thu hồi
Theo PGS,TS.KTS.Nguyễn Trọng Hòa, nguyên Viện trưởng ViệnNghiên cứu và Phát triển TP Hồ Chí Minh, nhìn nhận chung, quy hoạch vàquản lý đô thị ở nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng của quán tính bao cấp, chủ yếudựa vào các nguyên tắc thiết kế tĩnh, thiếu linh hoạt theo hướng thị trường.Rất nhiều vấn đề xuất hiện đối với đối tượng người tái định cư thuộc diện giảitỏa Từ những vấn đề phát sinh trong việc triển khai thực hiện các chính sách,
hệ lụy liên quan đến xã hội là rất lớn, kéo theo sự phát triển trì trệ và ảnh
Trang 7hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, sự phát triển chung củaThành phố
Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, khái niệm TĐC chỉ mới xuấthiện trong một số năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều.Các nghiên cứu về TĐC chủ yếu tiếp cận trên phương diện cơ sở pháp lý,tức là quan tâm xem xét các cơ chế chính sách hiện hành về giải tỏa đền bù,TĐC Còn việc nghiên cứu về thực trạng biến đổi mức sống của nhóm cư dânsau TĐC chỉ mới có một vài công trình đề cập tới song mới chỉ bước đầu.Đến nay vẫn chưa có những công trình đề cập một cách toàn diện và sâu sắc
về sự biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC ở Việt Nam nói chung và
ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Do đó, nghiên cứu những vấn đề giảipháp của chính sách cho những người tái định cư (hậu tái định cư) tại Thànhphố Hồ Chí Minh hiện nay là việc làm cần thiết Nghiên cứu này sẽ xác địnhcác yếu tố bao gồm cả yếu tố “truyền thống” và yếu tố “hiện đại” thuộc vềquy hoạch phát triển đô thị ảnh hưởng đến đời sống của người dân, cùng với
đó, nghiên cứu cũng sẽ góp phần bổ sung, hoàn chỉnh các giải pháp chínhsách cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gắn vớitình hình thực tiễn tại từng địa phương, đơn vị; góp phần thúc đẩy sự pháttriển chung của Thành phố trên cơ sở đa dạng về dân số, đặc điểm văn hóa vàđời sống dân cư
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu này là đề xuất các giải pháp để bổ sung, hoànthiện chính sách quy hoạch giải toả, bố trí tái định cư cho đối tượng người dân
bị thu hồi đất Qua đó, kết quả thu được có thể đưa ra một số gợi ý nhằm bổsung, hoàn thiện các giải pháp chính sách tác động tích cực của công tác thuhồi đất phục vụ quy hoạch và đền bù, hỗ trợ bố trí tái định cư, đồng thời hạn
Trang 8chế những tác động tiêu cực của công tác thu hồi đất phục vụ quy hoạch vàđền bù, hỗ trợ bố trí tái định cư cho đối tượng khó khăn, thu nhập thấp.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về những vấn đề giảipháp của chính sách cho những người tái định cư (hậu tái định cư) thuộc diệngiải tỏa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Khách thể nghiên cứu: Người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinhsống trên địa bàn Phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Thông qua việc tìm hiểu cuộc sống thực tại của các gia đình thuộc diệngiải toả để bố trí tái định cư tại phường Tân Phú, Quận 7 để tìm hiểu về hiệuquả của chính sách đem lại có phù hợp với tình hình, tâm tư, nhu cầu thực tếcủa những người tái định cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2015, báo cáo số liệu 2015-2018 sẵn có của phường Tân Phú, quận 7, thànhphố Hồ Chí Minh, Cục Thống kê, Tổng cục Thống kê, và báo cáo, số liệu sẵn
có của một số phường, quận có đặc điểm tương quan để tham khảo, bổ sunglàm rõ vấn đề nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Trong dài hạn khi thực hiện quy hoạch phát triển đôthị có thu hồi đất ở và thực hiện chính sách đền bù giải toả, hỗ trợ bố trí tái định
Trang 9cư phải đảm bảo tính bền vững, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả có
sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững để tập trung nghiên cứu ảnh hưởngcủa chính sách đền bù giải toả, bố trí tái định cư đến mọi mặt đời sống ngườidân phù hợp với xu hướng phát triển theo hướng bền vững
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận:
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng lý thuyết cấu trúc-chức năng làm cơ
sở lý luận cho nghiên cứu Trong đó, lý thuyết cấu trúc-chức năng được tiếpcận và sử dụng giải thích mối tương quan giữa tình hình đời sống người định
cư với nhóm xã hội của cộng đồng địa phương Mối quan hệ cấu trúc giữađịnh chế chính trị mà đại diện trong nghiên cứu được xem xét là các chínhsách của nhà nước, chính quyền đối người tái định cư và đời sống kinh tế - xãhội của nhóm xã hội được khái niệm là người tái nhập thuộc diện giải tỏa định
cư ở nơi mới với một nhóm xã hội khác Như vậy, cấu trúc được mô tả theokhuynh hướng sự tác động của định chế xã hội vào các nhóm xã hội khácnhau để ổn định và vận hành hệ thống xã hội ổn định trong mối quan hệ tươngtác, tương hỗ qua lại giữa định chế chính trị và đời sống kinh tế - xã hội Thứhai, xem xét chức năng của các chính sách trong xã hội, mà cụ thể là đối vớingười tái định cư thuộc diện giải tỏa; chức năng được xem xét ở các chiềucạnh bao gồm chức năng hiện, chức năng ẩn và phản chức năng của các chínhsách được triển khai thực hiện trong thực tiễn, tác động trực tiếp đến đời sống
xã hội của người tái định cư, đồng thời xem xét sự vận hành và biến đổi củađời sống xã hội dưới tác động của chính sách đối với đời sống của người táiđịnh cư thuộc diện giải tỏa
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
5.2.1 Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 10Thực trạng thu hồi đất, đền bù giải toả, bố trí tái định cư trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
Thực trạng đời sống người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinhsống trên địa bàn Phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện naynhư thế nào?
Những yếu tố của công tác thu hồi đất, đền bù giải toả, bố trí tái định
cư có tác động như thế nào đến mọi mặt đời sống của người dân tái định cư?
Môi trường, sự đáp ứng của chính sách đền bù giải toả tác động như thếnào đến mọi mặt đời sống của người dân tái định cư (hậu tái định cư), cũngnhư sự kỳ vọng và mức độ hài lòng của người dân?
Những kết quả đạt được và những hạn chế về tác động của thu hồi đất,quy hoạch phát triển đô thị, đền bù, bố trí tái định cư đến đời sống người dân?Giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực củacông tác thu hồi đất phục vụ quy hoạch và đền bù, hỗ trợ bố trí tái định cư chođối tượng khó khăn, thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
5.2.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Tình hình đời sống người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinh sốngtrên địa bàn Phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còngặp khó khăn
Khả năng thích ứng của người dân đối với chính sách và môi trườngmới chưa có sự đồng bộ, kịp thời
Chính sách cho người tái định cư thuộc diện giải tỏa trên địa bàn Thànhphố Hồ Chí Minh hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn
và nhu cầu của đời sống người tái định cư
Chính sách và tác động của chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến đờisống người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinh sống trên địa bàn PhườngTân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
5.2.3 Cách tiếp cận:
Trang 11Khi các khu đô thị mới được quy hoạch, xây dựng và phát triển, các hộgia đình chịu sự tác động mạnh mẽ của lực hút (thu nhập cao, việc làm, môitrường sống là các khu chung cư cao tầng mới,…) và lực đẩy (thiếu việc làm,thu nhập thấp, gánh nặng gia đình, khả năng thích ứng…) (Le Du Phong(2007), Tran Quang Tuyen (2013)); hay nói cách khác bối cảnh dễ bị tổnthương buộc người dân phải có chiến lược sinh kế mới.
Theo Phạm Tất Dong: Chính sách xã hội là công cụ quan trọng củaĐảng và Nhà nước để thực hiện và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang đượcđặt ra đối với con người (Con người ở đây được xét theo góc độ con người xãhội chứ không phải là con người kinh tế hay con người kỹ thuật,…) để thỏamãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộc sống chính đáng của con người,phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong những trình độ kinh tế, văn hóa,
xã hội của các thời kỳ nhất định, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của
xã hội,… Như vậy chính sách được hiểu theo nghĩa Chính sách xã hội là sựtác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống chocon người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việclàm, sức khỏe, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đẳng và công bằng
xã hội trong một bối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định
Sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững để đánh giá tổn thương, từ
đó tính toán năng lực thích ứng của những hộ dân chịu ảnh hưởng của quyhoạch đô thị, khi các đô thị mới được hình thành, những hộ gia đình này cónăm nguồn lực đầu tư (con người, tự nhiên, vật chất, xã hội và tài chính) Dựatrên các nguồn lực này và ảnh hưởng của bối cảnh dễ bị tổn thương cũng nhưnhững tác động của chính sách, cơ cấu, tiến trình, hộ gia đình hình thành nênchiến lược sinh kế mới
Đồng thời, tác giả cũng kế thừa nghiên cứu của Trần Quang Tuyên(2013), Nguyễn Quốc Nghi (2012), Đặng Nguyên Anh (2009),…xem xét tácđộng của các yếu tố đến sinh kế, đời sống người dân
Trang 125.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu:
5.2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Dựa vào bảng câu hỏi của Tổng cục thống kê năm 2006 (GSO, 2006),tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi hộ gia đình để thu thập dữ liệu định lượngphục vụ cho nghiên cứu Dữ liệu trong bảng câu hỏi bao gồm: đặc điểm hộgia đình, nguồn lực, tài sản sinh kế của hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình.Tác giả phát đi 220 phiếu điều tra kết quả thu về 114 phiếu điều tra tương ứngvới 114 hộ gia đình đều là những hộ thuộc hộ khó khăn, hộ nghèo bị mất đấtphục vụ cho xây dựng quy hoạch đô thị được bố trí tái định cư hiện còn đangsinh sống thực tế tại chung cư Tân Mỹ
Chi tiết bảng hỏi: Phụ lục 1
Xác định cỡ mẫu, trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội(KT-XH), việc chọn mẫu đại diện và đủ lớn là rất quan trọng Những nhân tốcần được xem xét để xác định được cỡ mẫu chính xác cho một cuộc nghiêncứu như: Độ chính xác, chất lượng của số liệu, chi phí và thời gian cho việcthu thập số liệu Có nhiều quan điểm khác nhau về việc lựa chọn cỡ mẫunghiên cứu, theo Nguyễn Văn Thắng (2014): Quy mô mẫu thông thường để
có thể phân tích hồi quy, tương quan hay kiểm định nhóm từ 100 quan sát trởlên Vì vậy việc tác giả dự định lựa chọn quy mô mẫu là 114 đảm bảo yêu cầutối thiểu của quy mô mẫu thực hiện các phép toán và thống kê
Kinh tế - xã hội(Chính sách)
Nhà ởGiáo dục
Việc làm
Người tái nhập cưthuộc diện giải tỏa
Trang 13Số liệu sơ cấp được thu thập từ 15 tháng 10 năm 2018 đến 15 tháng 01năm 2019 bằng việc sử dụng bảng câu hỏi thông qua phỏng vấn trực tiếpngười chủ hộ gia đình cùng với sự có mặt của các thành viên khác trong giađình.
Để nghiên cứu tác động của chính sách đền bù hỗ trợ bố trí tái định cưđối với người dân, tác giả thực hiện việc phân tích mức độ tác động của cácnhân tố tới sinh kế, môi trường sống người dân, so sánh trước và sau khi cóhoạt động thu hồi đất đền bù giải toả bố trí tái định cư, so sánh vùng có chung
cư bố trí tái định cư và vùng không có chung cư bố trí tái định cư Địa bànđiều tra của tác giả là phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp để thu thập thông tin vềcác hộ gia đình và sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp kết hợp với thuthập dữ liệu liên quan đến thu nhập, việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở của các hộgia đình trên địa bàn phường, dữ liệu về các chính sách phục vụ cho nghiêncứu này
* Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện nhằm có dữ liệuphân tích và có góc nhìn đa chiều hơn sau khi phân tích định lượng tác độngcủa chính sách đền bù bố trí tái định cư đến đời sống người dân Cụ thể, tácgiả thực hiện phỏng vấn sâu 02 cán bộ quản lý nhà nước trong đó có: 01 cán
bộ quản lý nhà nước thuộc Uỷ ban nhân dân phường Tân Phú và 01 cán bộquản lý nhà nước thuộc Phòng Quản lý đô thị Quận 7, hai cán bộ này trực tiếpthực hiện các công tác liên quan đến chính sách thu hồi đất đền bù giải toả bốtrí tái định cư trên địa bàn phường Tân Phú, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
Đồng thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu 02 người dân sống tạichung cư và xung quanh chung cư bố trí tái định cư trên địa bàn phường, haingười dân này bao gồm: 01 người dân là người dân bị mất đất được bố trí táiđịnh cư do giải toả quy hoạch đô thị và 01 người dân không ổn định lâu năm
Trang 14xung quanh chung cư nhưng có bị ảnh hưởng do chung cư bố trí tái định cưgây ra.
Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 01năm 2019, tác giả xin lịch hẹn với các đối tượng được phỏng vấn và thực hiệnphỏng vấn tại văn phòng với các cán bộ quản lý nhà nước và tại gia đình vớicác cá nhân là hộ dân được lựa chọn phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu được thực hiện tập trung vào khía cạnh xem xét đánhgiá của các đối tượng được phỏng vấn về ảnh hưởng của chính sách bố trí táiđịnh cư đến sinh kế và đời sống người dân, những nhận định của họ về mức
độ ảnh hưởng của chính sách đến môi trường, đến việc làm, đến thu nhập, đến
hệ thống điện, nước sạch của người dân
Kết quả phỏng vấn sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn
đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tác giả vềtác động của chính sách đến sinh kế, đời sống người dân
* Phương pháp thảo luận nhóm tập trung:
Theo Nguyễn Văn Thắng (2014), thảo luận nhóm thường đươc áp dụngkhi thu thập dữ liệu về cảm xúc, ý kiến và quan điểm của một nhóm ngườiliên quan đến vấn đề nghiên cứu Dưới sự hướng dẫn của người điều khiển -
là người nghiên cứu - các đối tượng chia sẻ ý kiến, cảm xúc và phản ứng của
Trang 15Các cá nhân tham gia thảo luận nhóm cùng sinh sống trong một khu vực dân
cư và cùng điều kiện kinh tế xã hội, họ có thể có quan điểm khác nhau về ảnhhưởng của chính sách thu hồi đất đền bù hỡ trợ bố trí tái định cư đến sinh kế,đời sống người dân
Thời gian thực hiện thảo luận nhóm: Buổi sáng ngày 26 và sáng ngày
27 tháng 01 năm 2019, địa điểm cụ thể: Với nhóm nam nữ trong độ tuổi laođộng, tác giả mời nhóm thảo luận tới phòng sinh hoạt cộng đồng chung cưTân Mỹ, địa chỉ: số 1 đường số 9, phường Tân Phú, Quận 7 Với nhóm nam
nữ ngoài độ tuổi lao động, tác giả mời nhóm thảo luận tới nhà ông Lê Văn Út,địa chỉ: A401 Chung cư Tân Mỹ, phường Tân Phú, quận 7 để thực hiện thảoluận nhóm
Để chuẩn bị cho buổi thảo luận nhóm, tác giả chuẩn bị hướng dẫn thảoluận nhóm, ở đó tác giả ghi rõ mảng thông tin muốn khai thác và tìm hiểunhằm có ý kiến đánh giá khách quan của hộ dân về tình hình đời sống vànhững khó khăn cụ thể mà người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang đối mặt,cho thấy và hình dung sự tiếp cận các chính sách và những nhu cầu thực tiễn
mà người tái nhập thuộc diện giải tỏa mong muốn trong đời sống hằng ngày
Cụ thể, tác giả muốn nhận được ý kiến của các chủ thể tham gia thảo luậnnhóm về những ý kiến của họ về các mảng vấn đề như sau: Chính sách thuhồi đất đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng như thế nào tới thu nhập củagia đình, tới việc làm, các dịch vụ mà gia đình được hưởng, chiến lược sinh
kế mới của gia đình, tới giáo dục, tới y tế, tới môi trường, của các hộ giađình Những kiến nghị của gia đình nhằm tăng cường hơn nữa sinh kế và khảnăng thích ứng của các hộ dân
Các ý kiến, chia sẻ thảo luận của nhóm được tác giả ghi chép cụ thể,đầy đủ và được lưu vào file dữ liệu, cách thức lưu dữ liệu: Lưu dữ liệu theotừng vấn đề thảo luận và theo ý kiến của từng cá nhân thảo luận
Trang 16Kết quả thảo luận nhóm sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có gócnhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tácgiả về tác động của chính sách thu hồi đất đền bù bố trí tái định cư đến sinh
kế và đời sống người dân (hậu tái định cư)
5.2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Số liệu về tình hình chính sách thu hồi đất, đền bù bố trí tái định cư…được thu thập từ Uỷ ban nhân dân phường Tân Phú, Ban Bồi thường giảiphóng mặt bằng quận 8, Công ty Dịch vụ công ích quận 8, Phòng Quản lý đôthị quận 7, Uỷ ban nhân dân quận 7
5.2.5 Phương pháp phân tích số liệu:
Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được tác giả xử lý, làm sạch, nhập
dữ liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình
và phép tính toán định lượng để xử lý số liệu Nghiên cứu được thực hiệndưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0
5.2.6 Phương pháp thống kê mô tả:
Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu nhập xử lý và phântích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất
và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và địađiểm cụ thể Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của
dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau
Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơngiản về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo
ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiệntượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của
mô tả dữ liệu Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các
kỹ thuật này như sau:
Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặcgiúp so sánh dữ liệu
Trang 17 Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu.
Thống kê tóm tắt (dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn:
Đóng góp cho các nghiên cứu liên quan đến xã hội học đô thị, chính sách
xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng đối tượng là người táiđịnh cư thuộc diện giải tỏa trên địa bàn Thành phố
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Đóng góp cho các nghiên cứu về tình hình đời sống và quá trình triểnkhai, thực hiện các chính sách đối với người tái định cư thuộc diện giải tỏatrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Mô tả và cho thấy đặc điểm đời sống, khả năng tiếp cận chính sách củangười tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinh sống trên địa bàn Phường TânPhú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp chođịa phương trong việc triển khai, thực hiện các chính sách cho người tái định
cư thuộc diện giải tỏa đang sinh sống trên địa bàn Phường
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Các chính sách và thực trạng của chính sách tác động đếnngười dân tái định cư (hậu tái định cư)
Chương 3: Giải pháp của vấn đề nghiên cứu thời gian tới
Trang 18Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1 Các khái niệm cơ bản:
1.1.1 Mức sống
1.1.1.1 Khái niệm mức sống:
Mức sống là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong các nghiêncứu để đánh giá mức độ đạt được về các điều kiện sống của dân cư Tuynhiên, mức sống là một phạm trù kinh tế - xã hội rất rộng nên cũng có nhiềuquan niệm khác nhau
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là “mức đạt được trong chi
dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [43, tr.1157] Như vậy vớiquan niệm này thì mức sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiệnvật chất và tinh thần của dân cư
Theo Mác thì “Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thoả mãn nhu cầucủa đời sống vật chất mà còn là sự thoả mãn nhu cầu nhất định, những nhucầu được sản sinh bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con ngườiđang sống và trưởng thành” [23] Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều kiệnvật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội Những nhu cầu xãhội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên đương nhiên nó luônthay đổi theo sự phát triển của những điều kiện xã hội Điều đó cũng chứng tỏ
rằng mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến mà luôn biến đổi
Trang 19theo thời gian và không gian nhất định.
Trên những quan điểm chung đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa
ra khái niệm mức sống vừa khái quát vừa cụ thể như sau:
Mức sống là phạm trù kinh tế - xã hội đặc trưng mức thoả mãn nhu cầu
về thể chất, tinh thần và xã hội của con người Được thể hiện bằng hệ thống cácchỉ tiêu số lượng và chất lượng của điều kiện sinh hoạt và lao động của conngười Một mặt, mức sống được quyết định bởi số lượng và chất lượng của cảivật chất và văn hoá dùng để thoả mãn nhu cầu của đời sống; mặt khác, đượcquyết định bởi mức độ phát triển bản thân nhu cầu của con người Mức sốngkhông chỉ phụ thuộc vào nền sản xuất hiện tại mà còn phụ thuộc vào quy môcủa cải quốc dân và của cải cá nhân đã được tích luỹ Mức sống và các chỉ tiêuthể hiện nó là do tính chất của hình thái kinh tế - xã hội quyết định [17, tr 973]
Như vậy, mức sống là trình độ thoả mãn nhu cầu toàn diện, thường
xuyên tăng lên của dân cư Mức sống dân cư còn cho ta biết mức độ (cái đượcxác nhận là nhiều hay ít trên một thang độ nào đó) về các điều kiện sinh hoạtvật chất và tinh thần của nhóm dân cư đó [25]
Nếu so với khái niệm đời sống thì mức sống có ý nghĩa cụ thể hơn Phạm vi ngữ nghĩa của từ đời sống thường được sử dụng một cách khá chung
chung, ý nghĩa bao hàm rộng Mặc dù vậy, để đánh giá về đời sống thì các
nhà nghiên cứu lại không thể tách rời với việc đo lường, đánh giá mức sống.
Mức sống cũng có quan hệ gần gũi với khái niệm chất lượng cuộc sống, bởi chất lượng cuộc sống được hiểu là điều kiện sống làm cho con người thoả mãn các nhu cầu về tinh thần và vật chất Như vậy, mức sống và chất lượng cuộc sống đều có đặc trưng liên quan đến mức độ hưởng thụ các
giá trị vật chất và tinh thần của con người, trong đó mức sống thường thiênnhiều về mặt “lượng” của đời sống còn chất lượng cuộc sống thiên nhiều vềmặt “chất” của đời sống Chất lượng sống phải đo lường bằng những chỉ báo
Trang 20cụ thể về mức sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại,…) và tinh thần (hưởng thụ vănhoá, nghệ thuật, giải trí, vui chơi, tự do chính trị,…)
1.1.1.2 Biến đổi mức sống
Mức sống là một phạm trù có tính lịch sử, chịu sự thay đổi về thời gian
và khác nhau trong không gian Trong một quốc gia hay ở từng vùng, mứcsống thường biến đổi cùng với sự biến đổi của điều kiện sống, đặc biệt làtrình độ phát triển sản xuất trong mỗi thời kỳ Thời bao cấp, chiến tranh, mứcsống trung bình chỉ là có đủ những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu nhất để duy trì
sự sống như ăn: 13kg lương thực/tháng, mặc: 4m2 vải một người/năm Songhiện nay, mức sống trung bình phải đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, có phương tiện
đi lại và phương tiện gia dụng bằng mức sống khá giả trước kia Như vậynghiên cứu về mức sống phải nghiên cứu trong tính lịch sử và cụ thể của nó
Không chỉ làm rõ khái niệm “mức sống”, luận văn còn phải làm rõ kháiniệm “biến đổi mức sống” (BĐMS) Song để có cơ sở nhận thức rõ hơn vềkhái niệm BĐMS phải bắt đầu từ khái niệm biến đổi Biến đổi là gì? Biến đổinhư thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt “Biến đổi là sự thay đổi so với cái trướcđó” [41, tr.89] Sự thay đổi đó có thể tăng hoặc giảm, từ dạng này sang dạngkhác, từ hình thái này sang hình thái khác
Vậy biến đổi mức sống là sự thay đổi mức độ thoả mãn các nhu cầu về
thể chất, tinh thần và xã hội của người dân Vì biến đổi mức sống là một quátrình kinh tế - xã hội nên để xác định nó, mỗi phép đo đều cần ít nhất hai thờiđiểm khác nhau Điểm mốc mà tác giả lựa chọn để so sánh, làm sáng tỏ sựbiến đổi mức sống của người dân là sau khi đối tượng được giải toả, di dời vàsinh sống ở khu tái định cư (TĐC) so với mức sống thời gian trước di dời.Khoảng thời gian sau TĐC được lựa chọn để nghiên cứu ít nhất là từ 01 năm
Trang 21trở lên Những hộ gia đình mới chuyển vào khu TĐC với thời gian dưới 01năm chưa đủ thời gian cần thiết để đánh giá về những biến đổi mức sống của
họ Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những yếu tố khiến giá bấtđộng sản tại TP HCM không ngừng tăng là do nhu cầu nhà ở tăng cao, trongkhi quỹ đất để phát triển dự án nhà ở ngày càng hạn hẹp, dẫn đến thực trạngcầu vượt cung Trong đó, thách thức lớn nhất chính là nhu cầu về nhà ở lớncủa đối tượng thu nhập thấp Theo thống kê, mỗi năm TP HCM có khoảng13.000 hộ bị di dời trong các dự án chỉnh trang đô thị trên địa bàn Thành phố
có nhu cầu về nhà ở Ngoài ra, Thành phố còn có khoảng 300.000 hộ gia đình,tương ứng với hơn 1,2 triệu người nhập cư có nhu cầu thuê nhà ở xã hội và143.000 hộ gia đình thu nhập thấp Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ vềđiều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳcuối (2016 - 2020) của TP HCM đã điều chỉnh tỷ lệ đất phi nông nghiệp củaThành phố tăng lên khá nhiều so với mức quy hoạch trước đó, đặc biệt là tạicác khu vực vùng ven Đây cũng là thời điểm mà thành phố triển khai mạnh
mẽ các chương trình, dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đôthị Vì vậy, nhóm dân cư thuộc diện TĐC trong khoảng thời gian từ năm 2010đến năm 2020 trở thành đối tượng nghiên cứu của luận văn
1.1.1.3 Các chỉ báo đo lường sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau táiđịnh cư ở Thành phố Hồ Chí Minh
Mức sống là một phạm trù kinh tế - xã hội rất rộng, vì vậy đánh giá sựbiến đổi mức sống phải dựa trên các chỉ báo về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, đồdùng lâu bền, mức độ hưởng thụ (khả năng tiếp cận) các dịch vụ đô thị cơ bản
Trước hết, là chỉ báo về thu nhập Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để
đo lường mức sống Ở đây thu nhập thực tế thường được tính theo bình quânđầu người/năm Theo tiêu chí mới năm 2019, ở Thành phố Hồ Chí Minh, bình
Trang 22quân đầu người/năm được tính theo 3 mức nghèo, cận nghèo, khá giả như sau:
- Nhóm hộ nghèo : Từ 21 triệu đồng trở xuống/đầu người/năm
- Nhóm hộ cận nghèo : Từ trên 21 triệu – <28 triệu/đầu người/năm
- Nhóm hộ khá giả : Từ trên 28 triệu/đầu người/năm
Sự phân chia này được dựa trên định mức chuẩn nghèo ở khu vực đôthị của Tổng cục thống kê
Thu nhập là chỉ tiêu rất quan trọng để đo lường mức sống, song nếu căn
cứ thuần tuý vào mức thu nhập bình quân đầu người/năm thì sự nhận biết vềmức sống dân cư sẽ chưa thật đầy đủ và chính xác Một mặt do mức thu nhậpcủa người dân sau TĐC có sự dao động rất lớn, do tình trạng thu nhập không
ổn định trong môi trường hoạt động kinh tế của người dân TĐC gây ra
Mặt khác, các hộ dân TĐC phải trang trải những chi phí lớn cho việclàm nhà, tạo lập những điều kiện vật chất cần thiết ở nơi cư trú mới nên phầnđông đang là những con nợ Phần chi tiêu cho đời sống gia đình họ trở nên eohẹp khi phải dành dụm phần thu nhập để trả nợ
Vì vậy, đánh giá mức sống cần phải xem xét về một số chỉ báo khác như,chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại) và khả năng tiếp cận các dịch
vụ xã hội (giáo dục, y tế, vui chới giải trí,…) Ở đây, phần chi tiêu chủ yếu tậptrung cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, số lượng cáckhoản chi và cơ cấu của chúng cũng là những yếu tố phản ánh mức sống và chấtlượng sống của từng hộ dân cũng như của cả cộng đồng dân cư này
Ngoài ra, nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục,
y tế, vui chới, giải trí cũng là những chỉ báo cần phải đo lường Mức sống củacộng đồng dân chuyển cư tăng lên hay giảm đi một phần phụ thuộc mức độthuận tiện và khả năng tiếp cận những dịch vụ xã hội này Tỷ lệ người đánhgiá mức tiếp cận của dịch vụ khá lên, như cũ hay giảm đi so với trước chuyển
cư là những chỉ báo đo lường mức sống của nhóm xã hội này
Trang 231.1.2 Nhóm xã hội
Nhóm xã hội là những bộ phận cơ bản, hữu cơ cấu thành nên xã hội.Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Nhóm xã hội là khái niệm xã hội họcchỉ một tập hợp người liên kết với nhau bởi các dấu hiệu hình thức hoặc bảnchất được điều chỉnh bởi những thiết chế có những giá trị chung và ít nhiềubiệt lập với các tập hợp người khác” [17, tr.264]
Như vậy không phải bất cứ một tập hợp người nào cũng là một nhóm.Theo quan niệm xã hội học thì nhóm phải là một tập hợp người mà đặc trưngquan trọng nhất là họ cơ bản có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội,nhờ đó họ có khuôn mẫu hành vi cơ bản giống nhau Khoa học xã hội học đãdựa trên những tiêu chí này mà xem xét sự khác biệt giữa nhóm công nhânvới nông dân, nông dân với trí thức hoặc nhóm phân chia theo các tiêu chíkhác nhau như nghề nghiêp, tuổi tác, vùng sinh sống, giới, dân tộc,…
Nhóm là một khái niệm rất rộng và phức tạp Theo số lượng các thànhviên và điều kiện tác động lẫn nhau trong nhóm, các nhóm xã hội được chialàm nhóm nhỏ và nhóm lớn
Nhóm lớn là nhóm mà các thành viên liên kết nhau bởi điều kiện kháchquan chung, xác định sự tồn tại của họ một cách vững chắc như giai cấp, tầnglớp, dân tộc, đảng phái chính trị, nghề nghiệp
Nhóm nhỏ là nhóm người tồn tại trong khoảng không gian và thời gian xácđịnh, được liên kết bởi các quan hệ thực tế của các thành viên của nhóm, thực hiệntrên cơ sở giao tiếp như các đội sản xuất, lớp học, gia đình, nhóm bạn bè
Dựa vào tính chất, mức độ tổ chức có nhóm chính thức và nhóm khôngchính thức Nhóm chính thức là tập hợp người có mối liên hệ được quy chuẩnhoá thông qua những thiết chế xã hội xác định Còn nhóm không chính thức lànhững nhóm hình thành tự phát trong đó các quan hệ của các thành viên nhóm
Trang 24không được thiết chế hoá Hiện nay, trong nhiều ngành khoa học xã hội, thuậtngữ nhóm được dùng với hai nghĩa: nhóm quy ước và nhóm thực.
Nhóm quy ước là những nhóm do người ta lập ra theo những dấu hiệunhất định để nghiên cứu Chẳng hạn, trong phân tích kết quả những nghiêncứu xã hội học, chúng ta có thể phân chia các đối tượng khảo sát thành nhữngnhóm một cách có chủ định theo: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp
Nhóm thực là nhóm được dùng cho tập hợp người tồn tại trong thực tế,nơi mà mọi người tập hợp cùng nhau, liên kết với nhau bằng một dấu hiệuchung nào đó [7, tr 161]
Xã hội tác động đến cá nhân thông qua nhóm, vì vậy việc nghiên cứuảnh hưởng của nhóm với tư cách là yếu tố trung gian giữa cá nhân và xã hội
là yêu cầu cần thiết và tất yếu trong việc nhận thức về con người và xã hội
Nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, quyhoạch và chỉnh trang đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian
từ năm 2015 đến nay là nhóm xã hội mà luận văn quan tâm nghiên cứu Họ cóđặc trưng chung là cùng bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển của thành phốnên phải giải toả di dời và tạo lập cuộc sống mới trong các khu TĐC
Để có cái nhìn sâu hơn về cơ cấu xã hội của nhóm cư dân thuộc diệngiải toả, TĐC, trong quá trình phân tích, tác giả cũng sẽ phân chia các đốitượng theo các nhóm quy ước như: giàu, nghèo, tuổi, trình độ học vấn, nghềnghiệp, giới tính,
1.1.3 Giải toả, đền bù và tái định cư
Trang 25chủ dự án cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trongdiện bị ảnh hưởng bởi các dự án an ninh, quốc phòng, kinh tế - xã hội
Theo nghĩa gốc, giải toả là sự từ bỏ, làm cho nó thoát khỏi [43, tr.726] Khái niệm giải toả được đề cập đến trong nghiên cứu này chính là nói
đến việc phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chướng ngại để giảiphóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nào đó
Thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm qua, chính quyền thành phố
đã thường xuyên tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng nhằm thực hiện các
dự án quy hoạch phát triển đô thị Phương thức đền bù được Thành phố HồChí Minh vận dụng trong việc giải phóng mặt bằng là hoàn trả bằng tiền khingười dân bị mất đất và bị hư hại các tài sản khác Người dân trong diệngiải toả được đền bù bằng tiền và được quyền ưu tiên mua lại đất theo khunggiá mà thành phố quy định cho các khu quy hoạch, và mới nhất là được bố trítạm tại các khu vực tái định cư (tức là các khu dành cho TĐC)
1.1.3.3 Tái định cư
Trang 26- Theo nghĩa rộng, “Tái định cư là một quá trình bao gồm đền bù các thiệthại về đất đai và tài sản di chuyển, TĐC, ổn định và khôi phục cuộc sống chonhững người bị thu hồi đất để xây dựng các dự án Tái định cư còn bao gồm cáchoạt động nhằm hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện các dự
án gây ra, khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sảnxuất kinh tế, văn hoá, xã hội của hộ và cộng đồng” [16, tr.193-194]
Như vậy, TĐC là một quá trình bao hàm từ việc đền bù (bồi thường)cho các thiệt hại về tài sản và ổn định cuộc sống bị xáo trộn do dự án pháttriển gây ra Đây là quá trình giúp người dân di chuyển và hỗ trợ họ tạo lập lạinơi ở mới, khôi phục cuộc sống và đảm bảo tăng nguồn thu nhập của họ
- Theo nghĩa hẹp, TĐC được dùng chỉ sự di chuyển của các hộ gia đìnhtới định cư ở nơi ở mới
Peter R.Burbridge cũng cho rằng “Tái định cư là chỉ việc lập cư của các
cá nhân, các nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã” [3, tr.13]
Đây là cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội, song khái niệmTĐC theo quan niệm này chỉ có hàm nghĩa chỉ nơi cư trú mới mà người dân didời đến, tức là chỉ nói tới hình thức lập cư mà chưa chú trọng đến quá trình lập
cư đó
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vừa sử dụng khái niệm TĐC theonghĩa hẹp để xác định không gian nghiên cứu, vừa đồng thời và chủ yếu sửdụng khái niệm TĐC theo nghĩa rộng tức là quan tâm đến đối tượng TĐC lànhững cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch, xây dựng
cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị với tất cả những yếu tố có liên quan như: đền
bù, hỗ trợ di dời và điều kiện sinh sống tại các khu TĐC của thành phố
1.1.4 Những vấn đề lý luận về sinh kế người dân:
1.1.4.1 Khái niệm sinh kế:
Trang 27“Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho đời sống KT-XH củacộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn,nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro,đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tàinguyên thiên nhiên”Theo DFID (1999), “Một sinh kế có thể được miêu tảnhư là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp vớinhững quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như
để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”
Theo quan điểm của tác giả: Sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, cácnguồn lực, các tài sản và các hoạt động được sử dụng để làm phương tiệngiúp con người đảm bảo cuộc sống
1.1.4.2 Sinh kế bền vững:
Theo Chambers và Conway (1992) cho rằng “Một sinh kế được xem làbền vững khi nó có thể đối phó và vượt qua những căng thẳng, những cú sốc;duy trì hoặc tăng cường hơn nữa năng lực tiềm tàng và các nguồn tài sản ởhiện tại cũng như tương lai trong khi không làm phá hoại nguồn tài nguyênthiên nhiên (Trích dẫn bởi DFID, 1999) Hơn nữa cũng theo Chambers vàConway (1992) sinh kế bền vững thúc đẩy sự hòa hợp giữa hiện tại và tươnglai và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ mai sau (Trích dẫn bởi Dự
án Imola, 2006)”
Đối tượng của cách tiếp cận sinh kế bền vững:
“Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) là tổ chức đầu tiên đề xuất tiếp cậnsinh kế bền vững, đối tượng của cách tiếp cận này” là:
“Sự hiểu biết hiện thực hơn về sinh kế của người nghèo và yếu tố hìnhthành nên chúng”
“Xây dựng môi trường chính sách và thể chế hỗ trợ sinh kế của người
Trang 28Tính tổn thương sinh kế
“Hỗ trợ phát triển dựa trên thế mạnh của người nghèo và cung cấp cho
họ cơ hội để cải thiện sinh kế”
1.1.4.3 Khung phân tích sinh kế bền vững
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xétnhững yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt lànhững yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời, khungsinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan vớinhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể DFID đã đưa ra khung sinh
kế bền vững với các thành phần như sau:
Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế bền vững
H: Nguồn nhân lực
Chiến lược sinh kế
Trang 29Nguồn: Điều chỉnh của tác giả dựa trên Khung phân tích sinh kế bền vững
của DFID, 1999
Tác giả sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (1999) và
kế thừa các nghiên cứu trước đó có liên quan đến nghiên cứu để điều chỉnhkhung phân tích cho phù hợp với nội dung nghiên cứu của tác giả Cụ thể, khiquy hoạch phát triển đô thị, đất ở bị thu hồi, bố trí tái định cư, các hộ gia đìnhchịu sự tác động mạnh mẽ của lực hút (thu nhập cao, việc làm trong các công
ty, KCX, KCN, môi trường sống là các khu đô thị mới ) và lực đẩy (thiếuviệc làm, thu nhập thấp, gánh nặng gia đình, văn hoá ứng xử ), (Lê DuyPhong (2007), Trần Quang Tuyên (2013)); hay nói cách khác bối cảnh dễ bịtổn thương đã buộc người dân phải có chiến lược sinh kế mới Bên cạnh đó, là
sự tác động của các chính sách, các thủ tục hỗ trợ của chính quyền địaphương, của nhà nước Chính những sự tác động này có ảnh hưởng đến sinh
kế của các hộ dân Cụ thể các thành tố trong khung phân tích sinh kế bềnvững như sau:
* Khả năng dễ bị tổn thương:
“Khả năng dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môitrường đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản,vừa tích cực vừa tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tínhmùa vụ - mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được”
Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
+ Xu hướng: “Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung độttrong việc sử dụng, xu hướng kinh tế trong nước và thế giới, những xu hướngcai trị (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật)”
+ Các cú sốc: “Thay đổi về sức khỏe con người, thay đổi tự nhiên, thayđổi kinh tế, xung đột, thay đổi về sức khỏe vật nuôi, cây trồng”
Trang 30+ Tính thời vụ: “biến động giá cả, sản xuất, sức khỏe, những cơ hộiviệc làm”
“Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vìchúng có tác động trực tiếp lên tình trạng các nguồn lực và những lựa chọncủa con người mà với chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quảsinh kế có lợi”
* Nguồn lực sinh kế
Bao gồm: Nguồn nhân lực (H), nguồn lực xã hội (S), nguồn lực tựnhiên (N), nguồn lực vật chất (P) và nguồn lực tài chính (F)
Nguồn nhân lực: “Đây là nhân tố quan trọng nhất, Nguồn nhân lực thể
hiện kỹ năng, kiến thức, năng lực để lao động và cùng với sức khỏe tốt giúp conngười theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh
kế của mình Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng
và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong
hộ, kỹ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe”, v.v…
“Nguồn nhân lực được nâng cao bởi đầu tư trong giáo dục và huấnluyện cũng như được nâng cao bởi những kỹ năng được yêu cầu thông quaviệc theo đuổi một hoặc nhiều nghề nghiệp”
Nguồn lực xã hội: “Có nhiều tranh luận về định nghĩa nguồn lực xã hộinhưng theo DFID (1999), nguồn lực xã hội là các tiềm lực xã hội mà conngười đưa ra để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Các mục tiêu sinh
kế này được phát triển thông qua các mạng lưới, các mối liên hệ liên kết vớinhau, tính đoàn hội, hợp tác của các nhóm chính thức; và mối quan hệ đượcthực hiện dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi, và ảnh hưởng lẫn nhau”
Nguồn lực tự nhiên: “Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ về
nguồn tài nguyên cung cấp các nguồn lực và dịch vụ có ích cho sinh kế Cácyếu tố trong nguồn lực này rất đa dạng, bao gồm cả những hàng hóa vô hình
Trang 31như không khí, hệ sinh thái đến những tài sản hữu hình như đất, nước”…
Nguồn lực vật chất: “Bao gồm CSHT căn bản và các hàng hóa sản
xuất cần thiết để hỗ trợ cho sinh kế người dân (CSHT như là kênh rạch,đường sá, nhà ở, hệ thống cung cấp điện, nước, nhà vệ sinh, các phương tiệntiếp cận thông tin để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, các phương tiệnsản xuất như là công cụ, máy móc và các phương tiện khác giúp con ngườihoạt động với năng suất cao) Trong nguồn lực vật chất thì các nhân tố làmcho sinh kế của con người trở nên đa dạng hơn là CSHT như đường sá, hệthống cung cấp điện và nước”
Nguồn lực tài chính: “Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi, có ý
nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công hay không các tài sản khác.Nguồn tài chính chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương màcon người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình”
* Chiến lược sinh kế
“Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc lâu dài của người dân đểkiếm sống Nó thể hiện mức độ đa dạng cũng như kết hợp nhiều hoạt động vàlựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình”
* Kết quả sinh kế
“Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng docác chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, nhận được phúclợi nhiều hơn, giảm rủi ro, đảm bảo cao hơn mức an toàn thực phẩm và sửdụng một cách bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên”
1.1.4.4 Tác động của chính sách đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế người
dân theo kênh:
Về bản chất, tác động của hành động tới một sự vật, hiện tượng là ảnhhưởng của hành động tới sự vật, hiện tượng đó, gây ra những biến đổi nhất
Trang 32định cho sự vật, hiện tượng được hành động hướng tới Tác động giữa chínhsách đền bù bố trí tái định cư và sinh kế người dân chính là những ảnh hưởngcủa hoạt động chính sách đền bù với khách thể là bố trí tái định cư tới sinh
kế của người dân, nó gây ra những thay đổi trong sinh kế người dân sốngxung quanh các chung cư tái định cư
Đối tượng người dân được nghiên cứu hướng tới bao gồm cả người dântái định cư bị mất đất do quy hoạch phát triển đô thị và người dân không bịmất đất, những người dân không bị mất đất nghiên cứu lựa chọn đảm bảo phảisống ổn định lâu năm xung quanh chung cư bố trí tái định cư và chịu sự tácđộng bao gồm cả những tác động tích cực và tác động tiêu cực của các chung
cư bố trí tái định cư
Thực tế cho thấy, chính sách quy hoạch đô thị, thu hồi đất, bố trí táiđịnh cư đã tạo ra những thay đổi đáng kể trên tất cả các phương diện về kinh
tế, xã hội, và môi trường xung quanh các chung cư được xây dựng Khi chưa
có các chung cư tái định cư, các khu vực, các địa phương và bản thân cácquốc gia cũng có những thay đổi trên tất cả các phương diện đó, tuy nhiênmức độ và tốc độ thay đổi là tương đối có phần chậm hơn Khi có các chung
cư tái định cư được xây dựng, nó như chất xúc tác góp phần làm các quá trìnhthay đổi đó được diễn ra nhanh hơn, hoặc cũng có thể nó tác động làm thayđổi các chiều hướng biến động của các hoạt động, ví dụ như sự chuyển dịch
cơ cấu dân số, cơ cấu kinh tế của các địa phương diễn ra nhah hơn như một tấtyếu khách quan; đặc biệt là sự suy thoái về môi trường đang là xu hướng phổbiến ở đô thị
Mặt khác, chính sách đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng đến sinh kếngười dân, cụ thể thang đo được lựa chọn phân tích chính là thu nhập, nó cóảnh hưởng theo cả hai chiều tới thu nhập của người dân Chính sách đền bù bốtrí tái định cư chính sách có thể làm giảm thu nhập của các hộ dân bị mất đất,
Trang 33cũng như ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ dân sống xung quanh các chung
cư tái định cư (nguyên nhân là do rác thải, nước thải, khí thải, của chung cư
có ảnh hưởng đến môi trường sống tự nhiên của người dân ), bên cạnh đó,những hộ gia đình bị thu hồi đất chưa kịp thích nghi với cuộc sống mới, chưa
có chiến lược sinh kế mới phù hợp với hoàn cảnh mới khi chuyển sang sống tạicác chung cư cao tầng được xây dựng, lao động trong các hộ gia đình mất việclàm và không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp Tuy nhiên, với những hộgia đình thích nghi được với hoàn cảnh mới, họ có khả năng có một chiến lượcsinh kế mới phù hợp với các hộ gia đình, thu nhập của họ có thể tăng lên dophát triển các dịch vụ hỗ trợ cho các công ty, hộ gia đình, chợ quanh chung cưnhư nhà trọ, giúp việc theo giờ, dịch vụ khác Như vậy, ảnh hưởng của chínhsách đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế người dân có cả ảnh hưởng tích cực
Kế thừa nghiên cứu trước đó của Đặng Nguyên Anh (2002) kết hợpvới bản chất và nội dung của yếu tố di dân, yếu tố đô thị hoá, của chính sáchđền bù bố trí tái định cư, tác giả phân chia các kênh tác động chính của chínhsách đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế người dân cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy hoạch đô thị, bố trí tái định cư cần được xây dựng trênmột khu vực xác định, chính vì vậy sẽ cần thu hồi đất của người dân, khi
Trang 34Quy hoạch đô thị Thu hồi đất của
người dân
Người dân bị mất đất nhận được tiền đền bù
Sinh kế người dân
người dân bị thu hồi đất họ sẽ nhận được một khoản tiền đền bù, người dân sẽ
sử dụng khoản tiền đền bù này để thay đổi chiến lược sinh kế của họ, khi đó,chính sách đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng đến sinh kế người dân
+) Kênh tác động 1
Thứ hai, xuất phát từ khái niệm quy hoạch đô thị, giải toả đền bù bố trítái định cư, phát triển đô thị nói chúng và chính sách đền bù bố trí tái định cưnói riêng tạo ra năng lực sản xuất tăng thêm, tạo ra việc làm, năng lực sảnxuất mới Tuy nhiên, với những đối tượng không kịp thích nghi với nhữngthay đổi sẽ dẫn đến hiện tượng thất nghiệp, đây chính là kênh tác động thứ hainghiên cứu tập trung phân tích:
+) Kênh tác động 2:
Thứ ba, theo nội dung chính sách đền bù bố trí tái định cư, chính sáchđền bù bố trí tái định cư bao gồm đầu tư CSHT kỹ thuật (Hệ thống giao
Trang 35Quy hoạch
đô thị
Các nguồn lực: Nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực tự
nhiên
Sinh kế người dân
thông, hệ thống nước, hệ thống điện, hệ thống hạ tầng viễn thông ) và đầu
tư CSHT xã hội (Hệ thống nhà ở, hạ tầng y tế, trường học, trung tâm thươngmại, chợ, khu vui chơi, giải trí, ) Từ đó, tạo ra những sản phẩm đầu ra màngười dân sống trong khu vực đó được hưởng trực tiếp, những sản phẩm đóchính là những nguồn lực ảnh hưởng đến sinh kế người dân khi xem xét dướigóc nhìn của người dân bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồnlực vật chất, nguồn lực tự nhiên và nguồn lực tài chính, cụ thể, kênh tác độngthứ ba được tác giả kế thừa và xây dựng như sau:
+) Kênh tác động 3
Theo quan điểm của DFID (1999), khung phân tích sinh kế bền vữngcho thấy, việc sử dụng các nguồn lực đầu tư để đảm bảo sinh kế cho ngườidân, cụ thể là thu nhập của người dân tăng thêm qua việc vượt qua các cú sốc,vận dụng và sử dụng linh hoạt các chiến lược sinh kế Những nguồn lực đầu
tư ở đây là nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất, nguồn lựctài chính và nguồn lực tự nhiên, một số thang đo biểu hiện cho đầu vào củahoạt động sinh kế cụ thể như là số việc làm được tạo ra, số lao động thấtnghiệp của hộ gia đình, các nguồn lực tài chính hỗ trợ quá trình sản xuất kinhdoanh của gia đình,
Theo quan điểm của tác giả, kết quả của hoạt động chính sách bồithường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ảnh hưởng đến sinh kếngười dân, cơ chế tác động của chính sách đến sinh kế người dân chính là:quy hoạch đ ô th ị tạo ra kết quả hoạt động chính sách bồi thường, hỗ trợ,tái định cư, các kết quả của chính sách có tác động đến sinh kế của người
Trang 36Quy hoạch đô thị
Thu hồi đất
Bồi thường
Tái định cư
CSHT xã hội, CSHT kỹ thuật Thay đổi nguồn lực
Sinh kế người dân (Thay đổi thu nhập của người dân)
Tạo việc làm/
thất nghiệp Mất tư liệu sản xuất
dân, từ đó tạo ra kết quả sinh kế người dân (cụ thể thang đo tác giả lựa chọnbiểu hiện sinh kế là thu nhập của người dân)
Chính sách sẽ ảnh hưởng đến người dân qua kênh tác động: Người dânmất tư liệu sản xuất (cụ thể như mất đất ở, mất đất sản xuất kinh doanh ),chính việc mất tư liệu sản xuất sẽ làm ảnh hưởng đến sinh kế của người dân,thu nhập của người dân sẽ bị ảnh hưởng, có thể gây ra ảnh hưởng tích cựccũng có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực Cụ thể, việc mất tư liệu sản xuất sẽảnh hưởng trực tiếp đến đối tượng là người dân bị mất tư liệu sản xuất, khi họmất tư liệu sản xuất sẽ được nhận một khoản tiền đền bù do việc mất tư liệusản xuất, khoản tiền đền bù này sẽ trở thành nguồn lực đầu tư sản xuất kinhdoanh cho hộ gia đình nếu biết sử dụng đúng, nhưng cũng có thể sẽ gây ra tácđộng tiêu cực nếu các hộ dân không sử dụng đúng khoản tiền, khiến thu nhậpcủa họ bị thay đổi sau khi bị mất tư liệu sản xuất theo hướng tiêu cực sau khi
đã sử dụng hết các khoản tiền đền bù cho việc mua sắm, tiêu dùng Bêncạnh đó, chính sách cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến người dân không bịmất đất, vì khi các chung cư tái định cư được xây dựng có thể làm cho vị tríđất đai của những đối tượng này trở nên thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, khả năng đầu tư sản xuất kinh doanh mở rộng từ đó cũng sẽ làmthay đổi sinh kế của người dân (sự thay đổi về thu nhập của người dân)
Trang 37Chính sách cũng sẽ thu hút một bộ phận không nhỏ lao động làm việctại các khu vực lân cận như khu chế xuất, khu công nghiệp, các công ty,…,chính vì vậy sẽ tạo ra việc làm cho người dân, tuy nhiên nó cũng sẽ gây rathất nghiệp cho những người dân bị mất tư liệu sản xuất nhưng không đảmbảo được yêu cầu về mặt chuyên môn cũng như kỹ năng cần thiết để có thểlàm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp, các công ty Chính vì vậy,việc tạo việc làm hay thất nghiệp do quá trình thực hiện chính sách cũng gây
ra những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực tới sinh kế của người dân (có thểgây ra sự thay đổi thu nhập cho người dân)
Chính sách cũng sẽ có tác động đến CSHT: Khi các chung cư tái định
cư được hình thành và phát triển, nó sẽ góp phần cải thiện CSHT cho địaphương, thể hiện cụ thể như sau: CSHT được hình thành và nâng cấp: Quyhoạch các chung cư tái định cư đòi hỏi phải xây dựng, nâng cấp hệ thống kếtcấu hạ tầng kỹ thuật như điện nước, thông tin liên lạc, hệ thống thoát nước, hệthống giao thông và những hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện Mặtkhác, chung cư tái định cư được xây dựng còn cung cấp một lượng lớn laođộng từ vùng khác đến, do đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại dân cư trong địaphương và tạo điều kiện cho quá trình đô thị hóa
Việc xây dựng chung cư tái định cư cũng kéo theo sự phát triển của hệthống hạ tầng dịch vụ như ngân hàng, bưu điện, siêu thị, trung tâm thươngmại do đó, người dân có thể tiếp cận với các dịch vụ này một cách thuận tiện
Tuy nhiên, cũng sẽ có tác động tiêu cực tới cuộc sống người dân nếu quyhoạch các chung cư tái định cư chưa đồng bộ với quy hoạch CSHT Trong khiCSHT chưa được xây dựng, hoạt động của các chung cư này kéo theo hoạtđộng của một lượng lớn phương tiện giao thông ra vào chung cư có thể dẫn đến
hệ thông đường giao thông bị xuống cấp nhanh và trầm trọng hơn
Chính sách tác động tích cực tới thu nhập của người dân, làm tăng mức
Trang 38sống của người dân Nguyên nhân là do: Khi nhận được tiền đền bù từ thu hồiđất các hộ dân được bố trí tại nơi ở mới của chung cư tái định cư ở vị trí thuậnlợi cho hoạt động kinh doanh nhằm ổn định cuộc sống, sử dụng tiền đền bù đểmua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, nhờ đó hiệu quả kinh tế đạt đượccao hơn Mặt khác, các hộ gia đình có thể sử dụng tiền đền bù đó để mở cácdịch vụ kinh doanh Điều này giúp họ có thu nhập cao hơn, mức sống củangười dân có thể tăng lên.
Thêm vào đó, thu nhập từ lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp trongcác khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) tại địa bàn sinh sống mớihoặc làm dịch vụ là một nguồn thu quan trọng của các hộ gia đình, các KCN,KCX, công ty tư nhân thường ưu tiên tuyển dụng những lao động là ngườidân của địa phương Vì vậy, một bộ phận người dân trong độ tuổi lao động cóthể vào làm việc với mức lương tương đối ổn định nếu đáp ứng được yêu cầucủa doanh nghiệp Với những người dân không đáp ứng được yêu cầu có thểchuyển đổi chiến lược sinh kế mới như chuyển sang kinh doanh, buôn bán
Tuy nhiên, một bộ phận người dân không có khả năng chuyển đổi sangmột sinh kế khác, việc làm của họ bị mất do đất bị thu hồi hoặc không xin đượcviệc làm có thể làm cho thu nhập và mức sống của người dân bị giảm sút
1.2 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu luận văn
1.2.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển khôngngừng Biến đổi xã hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của
xã hội Ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khácnhau về BĐXH Theo quan điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ
sự khác biệt về phương diện xã hội của thời điểm hiện tại so với thời điểmtrước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự biến đổi của cơ cấu xã hội
Trang 39Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổicủa các dạng hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệthống phân tầng xã hội Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xãhội đều được coi là BĐXH, mà chỉ có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắctới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay đổi các cơ cấu, tổ chức, các tầng lớp xãhội mới được coi là sự BĐXH.
Sự BĐXH rất phức tạp và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và mức
độ khác nhau: có biến đổi phát triển tức là diễn ra theo chiều hướng tích cực,tiến bộ, phù hợp với mong muốn của xã hội Có biến đổi suy thoái, diễn ratheo chiều hướng xấu, xã hội lâm vào bế tắc với những xung đột, đổ vỡ, thayđổi xã hội [42, tr.255-256]
Theo một số nhà nghiên cứu thì sự BĐXH là tổ hợp của rất nhiềunguyên nhân chứ không phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố đơn lẻ Sự tươngtác phức tạp của nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đã tạonên sự biến đổi Các nhà lý thuyết hiện đại chú trọng các yếu tố: môi trườngvật chất (biến động của thiên nhiên), công nghệ, sức ép dân số, giao lưu vănhoá để lý giải những BĐXH
Quan niệm biến đổi tổng hợp còn khẳng định sự biến đổi có thể đi lên,
có thể là đi xuống, thậm chí bị huỷ diệt Sự biến đổi cũng thường mang tínhchu kỳ Trên thực tế, mỗi lý thuyết đều có quan điểm luận giải khác nhau về
sự biến đổi xã hội mà trong đó mỗi lý thuyết đều có hạt nhân hợp lý về nhậnthức cũng như dự báo quá trình biến đổi xã hội Để nhận thức một cách đầy
đủ quá trình biến đổi xã hội nói chung và biến đổi mức sống của người dânsau TĐC nói riêng không thể không chú ý tới các yếu tố hợp lý này Luận văn
sẽ cố gắng tích hợp các yếu tố hợp lý nói trên để có cái nhìn đa diện, đa chiều
về những yếu tố tác động đến mức sống và dự báo xu hướng biến đổi mứcsống của người dân trong quá trình đô thị hoá
Trang 40Theo lý thuyết về sự BĐXH có hai quá trình có thể xảy ra: sự biến đổi
từ từ- tiến hoá và sự biến đổi nhảy vọt - cách mạng Nghiên cứu những biếnđổi về mức sống của nhóm dân chuyển cư ở một thành phố như Thành phố
Hồ Chí Minh có thể xem xét sự biến đổi dưới cả hai quá trình này song sựbiến đổi này có thể xem xét nhiều hơn dưới góc nhìn tiến hoá
Các nhà xã hội học đại diện tiêu biểu cho quan điểm tiến hoá làA.Comte (1798- 1857) và H.Spencer (1820-1883) Các ông cho rằng, BĐXH
là sự tăng trưởng và phát triển của xã hội (cả vật chất lẫn trí tuệ) cùng năngsuất lao động xã hội Đó là quá trình tiến hoá tất yếu của mọi xã hội cùng vớiquá trình tích luỹ tri thức và khoa học công nghệ của con người [42, tr.256]
Theo A Comte, mọi xã hội đều tuần tự biến đổi qua ba giai đoạn: thầnhọc, siêu hình và thực chứng A.Comte cho rằng trí tuệ là động lực, sức mạnhduy trì và phát triển xã hội; đến lúc nào đó khoa học sẽ thống trị xã hội Nhưvậy có thể dự báo được sự BĐXH dựa trên sự phát triển của tri thức nhân loại
H.Spencer thì cho rằng, xã hội sẽ phát triển từ một xã hội có cấu trúc vàtrình độ giản đơn, thấp kém tiến dần lên các mức phát triển phức tạp, cao hơn.Trong quá trình này, một xã hội có thể biến đổi một cách tích cực (thích ứng)hay tiêu cực (không thích ứng) và sự lựa chọn này sẽ gắn kết với số phận của
nó [22, tr.4], nghĩa là các cá thể, các phân hệ, các nhóm xã hội yếu kém khôngthích nghi được với tiến trình phát triển xã hội sẽ bị, loại bỏ dần
Như vậy, theo quan điểm này thì BĐXH là “sự tiến hoá một chiều” [7,tr.252], tất cả các xã hội đều tiến hoá từ hình thức đơn giản đến phức tạp, hìnhthức sau bao giờ cũng tiến xa hơn những hình thức trước của nó
Nhìn chung, hạt nhân hợp lý của lý thuyết này là khẳng định đặc trưng
cơ bản của BĐXH, đó là tiến bộ xã hội Đô thị hoá nhằm kiến tạo lại môitrường sống dân cư là hoạt động mang tính tất yếu của sự phát triển xã hội.Xem xét sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Thành phố Hồ