1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch văn học nhìn từ góc độ giao lưu văn hóa và lý thuyết giao tiếp (khảo sát một số tác phẩm văn học việt nam và hàn quốc)(luận văn, luận án (theses))

364 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 364
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH SÁCH PHỤ LỤC 1 Phụ lục 1: Những thành tựu nghiên cứu liên quan đến phiên 2 Phụ lục 2: Khái quát tiến trình phát triển giao lưu văn hóa giữa 3 Phụ lục 3: Các danh sách của tác phẩm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KIM JOO YOUNG

DỊCH VĂN HỌC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIAO LƯU VĂN HÓA VÀ LÝ THUYẾT GIAO TIẾP (KHẢO SÁT MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KIM JOO YOUNG

DỊCH VĂN HỌC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIAO LƯU VĂN HÓA VÀ LÝ THUYẾT GIAO TIẾP (KHẢO SÁT MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC)

Chuyên ngành : LÝ LUẬN VĂN HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

từ các cá nhân và tổ chức

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Nam và PGS.TS

Nguyễn Thị Thanh Xuân Ŕ những thầy cô giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ đạo cho

tôi hoàn thành luận án này Tôi đã không thể hoàn thành luận án nếu không có sự

hướng dẫn tận tình, sự động viên, khích lệ và nhiều tình cảm quý báu khác từ hai

thầy cô giáo hướng dẫn của tôi

Tôi xin cảm ơn tập thể Ban Lãnh đạo Trường đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Văn học, cán bộ các phòng, các

thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận

án này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích

lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoành thành luận án này

Tác giả luận án

Kim Joo Young

** This research has been supported by TJ Park Asian regional expert program of

POSCO TJ Park Foundation (본 연구는 포스코청암재단의 아시아지역전문가 사업

지원으로 수행하였음.)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung

thực Các trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về

công trình nghiên cứu của mình

TP HCM, ngày 30 tháng 09 năm 2019

Tác giả luận án

Kim Joo Young

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ NHỮNG QUY ƯỚC KHÁC

1 Viết tắt:

TV: tiếng Việt TH: tiếng Hàn

TP: tiếng Pháp TA: tiếng Anh

2 Một số quy ước khác:

– Để tiện theo dõi, chúng tôi đã đưa một đoạn ví dụ của nguyên tác trước rồi đưa

tiếp một đoạn ví dụ tương ứng của bản dịch tiếng Hàn (trường hợp Nỗi buồn chiến tranh) hoặc bản dịch tiếng Việt (trường hợp Eommaleul butaghae 엄마를

부탁해); và nếu cần tham khảo thì đã cùng đưa thêm một đoạn ví dụ tương ứng của bản dịch tiếng Anh

Ŕ Chúng tôi đã đặt số trang ở trước mỗi đoạn trích trong ngoặc đơn

Ŕ Các đoạn dịch tiếng Hàn sang tiếng Việt trong luận án là của người viết (ngoại trừ các phần dịch có nguồn gốc) Trong các đoạn dịch này, người viết cố gắng dịch và diễn đạt sát nghĩa đen và hình thức của tiếng Hàn để cho người đọc biết về cách

diễn đạt của văn bản tiếng Hàn ấy

– Vì lý do có giới hạn dung lượng của luận án, chúng tôi đã điều chỉnh cỡ chữ và cách dòng trong phần biểu ví dụ, trích dẫn, chú thích và phụ lục

Trang 6

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3 Phương pháp nghiên cứu 10

4 Đóng góp mới của luận án 12

5 Cấu trúc luận án 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài 15

1.1.1 Phiên dịch học và Lý thuyết Giao tiếp 15

1.1.2 Phiên dịch nhìn từ quan điểm Giao lưu văn hóa và Lý thuyết Giao tiếp 20

1.2 Lịch sử vấn đề 26

1.2.1 Tình hình nghiên cứu Phiên dịch học văn học tại Việt Nam 26

1.2.2 Tình hình nghiên cứu Phiên dịch học văn học tại Hàn Quốc 33

1.2.3 Tình hình nghiên cứu Phiên dịch học văn học liên quan đến đề tài Giao lưu văn hóa và Lý thuyết giao tiếp tại Việt Nam và Hàn Quốc 36

TIỂU KẾT 44

CHƯƠNG 2 PHIÊN DỊCH VĂN HỌC TRONG BỐI CẢNH GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 45

2.1 Mối quan hệ giữa giao lưu văn hóa và phiên dịch văn học 45

2.2 Tình hình phiên dịch tác phẩm văn học Việt Ŕ Hàn và Hàn Ŕ Việt trong bối cảnh giao lưu văn hóa theo từng giai đoạn 49

2.2.1 Trước năm 1975 55

2.2.2 Từ năm 1975 đến năm 1992 64

2.2.3 Từ năm 1993 đến năm 1999 71

Trang 7

2.2.4 Sau năm 2000 74

2.3 Đặc điểm của phiên dịch tác phẩm văn học Việt Ŕ Hàn và Hàn Ŕ Việt trong bối cảnh giao lưu văn hóa 79

2.3.1 Hoàn cảnh phiên dịch 79

2.3.2 Nhân lực phiên dịch 82

2.3.3 Sự quan tâm của độc giả 86

TIỂU KẾT 88

CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH THÔNG DIỄN VĂN BẢN NGUỒN VÀ VAI TRÒ CỦA DỊCH GIẢ: TRƯỜNG HỢP BẢN DỊCH GIÁN TIẾP TIẾNG HÀN JEONJAENG-UI SEULPEUM 전쟁의 슬픔 TỪ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH 90

3.1 Mối quan hệ giữa nguyên tác với bản dịch và vai trò của dịch giả với tư cách là người thông diễn 92

3.2 Khái lược về phiên dịch gián tiếp 96

3.2.1 Đặc điểm của phiên dịch gián tiếp 96

3.2.2 Sự khác biệt về quá trình thông diễn giữa dịch giả dịch qua văn bản trung gian với dịch giả dịch trực tiếp từ nguyên tác 98

3.2.3 Giới thiệu bản dịch gián tiếp Jeonjaeng-ui seulpeum 전쟁의 슬픔 (Nỗi buồn chiến tranh) của dịch giả Park Chan-gyu 103

3.3 Khảo sát các phương diện thông diễn trong bản dịch gián tiếp tiếng Hàn Jeonjaeng-ui seulpeum 전쟁의 슬픔 từ Nỗi buồn chiến tranh 107

3.3.1 Thông diễn về ngôn ngữ 108

3.3.2 Thông diễn về văn hóa 123

3.3.3 Thông diễn về tác phẩm 140

TIỂU KẾT 154

Trang 8

CHƯƠNG 4 QUÁ TRÌNH VIẾT LẠI – XUẤT BẢN VÀ TÍNH KHẢ KIẾN

CỦA DỊCH GIẢ: TRƯỜNG HỢP BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

HÃY CHĂM SÓC MẸ TỪ EOMMALEUL BUTAGHAE

엄마를 부탁해 156

4.1 Vấn đề viết lại Ŕ xuất bản và tính khả kiến của dịch giả 157

4.2 Đặc điểm tự sự và những hạn chế trong phiên dịch tác phẩm Eommaleu butaghae 엄마를 부탁해 161

4.2.1 Đặc điểm tự sự 162

4.2.2 Những hạn chế trong phiên dịch tác phẩm 168

4.3 Khảo sát kết quả viết lại Ŕ xuất bản và tính khả kiến của dịch giả trong dịch phẩm tiếng Việt Hãy chăm sóc mẹ 169

4.3.1 Tính khả kiến trong cận văn bản 170

4.3.2 Tính khả kiến trong văn bản 174

4.3.3 Tính khả kiến ngoài văn bản 195

TIỂU KẾT 202

KẾT LUẬN 204

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 208

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 209

PHỤ LỤC 232

Trang 9

DANH SÁCH PHỤ LỤC

1 Phụ lục 1: Những thành tựu nghiên cứu liên quan đến phiên

2 Phụ lục 2: Khái quát tiến trình phát triển giao lưu văn hóa giữa

3 Phụ lục 3: Các danh sách của tác phẩm dịch theo hình thức và

4 Phụ lục 4: Danh mục tác phẩm văn học dịch Việt Ŕ Hàn, Hàn Ŕ

5

Phụ lục 5: Bảng đối chiếu nguyên tác tiếng Việt Ŕ bản dịch

trung gian tiếng Pháp (và tiếng Anh) Ŕ bản dịch gián

tiếp tiếng Hàn từ Nỗi buồn chiến tranh

295

6 Phụ lục 6: Giới thiệu tác giả và đặc điểm nghệ thuật trong tiểu

thuyết Eommaleul butaghae 엄마를 부탁해 318

7

Phụ lục 7: Đối chiếu nguyên tác tiếng Hàn Ŕ bản dịch tiếng

Việt Ŕ bản dịch tiếng Anh của tiểu thuyết

Eommaleul butaghae 엄마를 부탁해

324

8 Phụ lục 8: Toàn văn nội dung trả lời phỏng vấn của dịch giả 326

9 Phụ lục 9: Bảng đối chiếu Anh Ŕ Hàn Ŕ Việt của các thuật ngữ

Trang 10

Trên bề mặt, phiên dịch văn học có thể dễ dàng được coi như chỉ là hành vi phiên dịch của một mình dịch giả hoặc là một kết quả được tạo ra bởi hành vi ấy, nhưng về bản chất, đó là một hành vi xã hội hoặc kết quả xã hội được đặc trưng bởi mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố liên quan đến từng bối cảnh của phiên dịch (context of a translation)2 trong các phương diện như mục đích, quá trình, kết quả

và sự tiếp nhận, v.v… của phiên dịch Vì vậy, phiên dịch văn học không thể tồn tại

“một mình” dù là trong trường hợp nào Trong tất cả các phương diện liên quan đến phiên dịch văn học phải có bên phát, bên nhận, đối tượng để phát - nhận và bối cảnh

mà trong đó có những yếu tố ấy với mối quan hệ mật thiết với nhau3 Điều này phù hợp với 4 yếu tố giao tiếp (4 factors of communication) bao gồm người sản xuất

1

Trong tiếng Việt, từ “translation” (dịch viết) thường được dịch thành “phiên dịch” hay “dịch thuật” Tuy nhiên, ở các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, hay Hàn Quốc, “translation” được nhất quán dịch thành “phiên dịch” (飜譯/翻訳/번역) Theo xu thế này, trong luận án chúng tôi sử dụng từ “phiên dịch” để dịch từ “translation” Mặt khác, chúng tôi dịch từ “interpretation” (dịch nói) thành “thông dịch” để phân biệt với phiên dịch

2

Prunč (1997, 2000) gọi bối cảnh của phiên dịch là “văn hóa phiên dịch” Ông xác định rằng văn hóa phiên dịch là cái biến đổi giống như chuẩn mực, tập quán; và kỳ vọng đó sẽ là hình thái của hành vi cho tất cả tương tác trong lĩnh vực phiên dịch (như trích dẫn ở Pym, 2012/2016, tr.219) 3

Tất cả các phiên dịch đều được thực hiện trong bối cảnh được hình thành với những yếu tố cần thiết; phải sẵn có cái gì đó để dịch, lý do xã hội phải thực hành như vậy, kế hoạch làm bản dịch có tính chất như thế nào, thời gian, không gian, kinh phí để dịch và công nghệ trí tuệ, v.v… Khi có đồng thời tất cả những điều này, phiên dịch mới được sản xuất (Pym, 2012/2016, tr.206)

Trang 11

thông điệp, người tiếp nhận thông điệp, thông điệp và tình huống giao tiếp Từ điều này, chúng ta có thể có căn cứ để nhìn phiên dịch văn học từ góc độ lý thuyết giao tiếp

Về mặt mục đích và sự tiếp nhận kết quả của nó, phiên dịch văn học không chỉ đơn thuần “truyền đạt” tác phẩm văn học mà thông qua việc truyền đạt ấy, những người từ các ngôn ngữ khác, văn hóa khác có thể đối thoại một cách gián tiếp bằng cách hiểu biết và đồng cảm với nhau, rồi cuối cùng chuyển hóa bản thân mình theo hướng tích cực Chính vì thế, phiên dịch văn học, được thực hiện bởi nhu cầu của những người tiếp nhận tương đối mạnh hơn so với việc sáng tác văn học, mang tính chất giao tiếp mạnh mẽ Xét cho cùng, phiên dịch văn học đúng là “hoạt động

xã hội” được thực hiện bởi “việc giao tiếp” giữa “hai bên” thông qua “dịch phẩm” Thế nhưng, “dịch phẩm” chỉ có thể tồn tại khi một người trung gian được gọi là

“dịch giả” tham gia vào quá trình giao tiếp này và thực hiện hành vi phiên dịch cụ thể Và khác với các tình huống giao tiếp thông thường, cuộc giao tiếp thông qua phiên dịch văn học có đặc trưng mà bên phát và bên nhận không được tồn tại ở cùng một thời gian, cùng một không gian Vì vậy, nó sẽ phải có diện mạo phức tạp hơn các cuộc giao tiếp thông thường khác

Về mặt quá trình, phiên dịch văn học phải thông qua hai lần quá trình giao tiếp để làm nguyên tác được tái sản xuất thành “dịch phẩm” dưới sự trung gian của dịch giả Khi nhìn phiên dịch từ bề mặt quá trình, chúng ta cần chú ý đến sự tồn tại

và hành vi của dịch giả đang ở trong “không gian giữa các nền văn hóa (間文化)” trong mối quan hệ với hai nền văn hóa khác nhau Trong toàn bộ quá trình giao tiếp được gọi là hành vi phiên dịch, dịch giả đóng vai trò trung gian, nhưng khi chia ra thành hai lần quá trình giao tiếp khác nhau thì vai trò của dịch giả sẽ biến đổi từ người (tiếp) nhận tin lúc đầu sang người phát tin lúc sau Khi nhắc đến việc phiên dịch văn học luôn được thực hiện trên bối cảnh riêng của nó, chúng ta có thể nhận ra rằng, trong khi thay đổi vai trò của mình từ người tiếp nhận sang người phát tin, dịch giả có thể không thiết lập được mối quan hệ cố định hoặc điển hình với các yếu

Trang 12

tố khác nhau trong bối cảnh ấy Vì vậy, hai lần quá trình giao tiếp được thực hiện thông qua “hành vi và lựa chọn cụ thể” của dịch giả sẽ phải có diện mạo phức tạp hơn quá trình giao tiếp thông thường khác

Nguyên nhân vì sao ngành nghiên cứu phiên dịch lại mất nhiều thời gian để được công nhận là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học độc lập, chính là vì phiên dịch thường được coi là công trình cơ bản cho các lĩnh vực nghiên cứu khác Ngược lại, phiên dịch còn phải vay mượn thành quả của những lĩnh vực nghiên cứu khác để tiến hành nghiên cứu chính mình Chúng tôi xin được thêm vào đây một nguyên nhân khác nữa: đó là đặc tính của hành vi phiên dịch Để tiến hành nghiên cứu, chúng ta phải giải thích về đối tượng nghiên cứu một cách có hệ thống và tổng hợp lại nội dung giải thích ấy, và cuối cùng, thiết lập một lý thuyết có thể được áp dụng phổ quát Tuy nhiên, trong trường hợp nghiên cứu phiên dịch, đặc biệt là nghiên cứu phiên dịch văn học, rất khó để thiết lập một lý thuyết nào đó có thể được áp dụng phổ quát vào nhiều tình huống phiên dịch khác nhau Bởi vì không bao giờ có được những bản dịch hoàn toàn giống nhau, dù các bản dịch ấy đã được dịch từ cùng một nguyên tác do cùng một dịch giả, với lý do tất cả mọi phiên dịch đều có đặc tính riêng về mặt bối cảnh của phiên dịch theo từng trường hợp một Do đó, về phiên dịch, khoảng cách giữa giới học thuật với giới nghiệp vụ thực tế vẫn còn rất lớn Chúng tôi thiết nghĩ rằng cách nhìn phiên dịch văn học, là một đối tượng đã được hoàn thành với mối quan hệ giao tiếp phức tạp giữa các yếu tố đa dạng, từ góc độ của một trong hai bên là nguyên tác hoặc độc giả đã góp phần tạo ra khoảng cách này Giờ đây, chúng ta cần tránh nghiên cứu phiên dịch một cách hạn hẹp, chẳng hạn như việc đánh giá phiên dịch trên bề mặt, qua việc chỉ trích những lỗi dịch sai, săm soi tìm nhược điểm của bản dịch, hay việc tìm kiếm phương pháp hoặc chiến lược để dịch được một cách hoàn hảo dựa theo tiêu chuẩn nguyên tác hoặc độc giả Tất cả các vật thể có nhiều diện mạo khác nhau, và các diện mạo này cần được xem xét riêng biệt và kỹ lưỡng Tuy nhiên, nghiên cứu phiên dịch văn học hơi khó để thiết lập một lý thuyết chung bằng cách kết hợp các trường hợp riêng lẻ; vì vậy, chúng ta cần thực hiện nghiên cứu càng nhiều trường hợp càng tốt, và những nghiên

Trang 13

cứu trường hợp này cần xem xét những diện mạo đa dạng của phiên dịch văn học từ quan điểm tổng hợp để có thể đáp ứng được cả lý thuyết lẫn thực hành Đây là lý do tại sao chúng tôi nhìn phiên dịch văn học từ quan điểm lý thuyết giao tiếp

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như đã nói ở mục trên, chúng tôi sẽ khảo sát đặc trưng của phiên dịch văn học theo hai khía cạnh như bề mặt mục đích - sự tiếp nhận kết quả là “giao tiếp phiên dịch từ quan điểm vĩ mô” và bề mặt quá trình là “giao tiếp phiên dịch từ quan điểm vi mô” Để thực hiện nghiên cứu từ quan điểm vĩ mô, chúng tôi sẽ xem xét tổng quan tình hình giao lưu phiên dịch tác phẩm văn học giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh giao lưu văn hóa giữa hai nước và đánh giá hiện trạng Tiếp theo, chúng tôi sẽ chọn hai đối tượng nghiên cứu với hình thức phiên dịch đặc biệt

có thể cho thấy đặc trưng của “quá trình nhận tin” và “quá trình phát tin” một cách

rõ nét để thực hiện nghiên cứu từ quan điểm vi mô

Trước tiên, để khảo sát nghiên cứu quá trình nhận tin, chúng tôi chọn trường hợp “phiên dịch gián tiếp (phiên dịch qua văn bản trung gian)”, vốn là trường hợp phức tạp hơn vì bao gồm quá trình dịch giả giải thích nguyên tác và rút ra ý nghĩa của nó, từ đó, quá trình hành vi của dịch giả có thể được xem xét một cách rõ ràng

hơn Cụ thể là, chúng tôi chọn dịch phẩm tiếng Hàn Jeonjaeng-ui seulpeum 4

전쟁의 슬픔 đã dịch tác phẩm tiếng Việt Nỗi buồn chiến tranh theo hình thức

phiên dịch gián tiếp từ bản dịch tiếng Pháp với sự tham khảo bản dịch tiếng Anh5làm đối tượng phân tích Ở đó, chúng tôi sẽ khảo sát quá trình dịch giả đọc hiểu

Trước bản dịch này đã có một bản dịch tiếng Hàn khác từ Nỗi buồn chiến tranh do dịch giả Choi

Jong-min dịch gián tiếp từ bản dịch tiếng Anh (thông tin này chưa được xác minh) Tuy nhiên, bản dịch này không được các độc giả Hàn Quốc biết đến rộng rãi Thông tin chi tiết về hai bản dịch

gián tiếp này, tham khảo mục “3.2.3 Giới thiệu bản dịch gián tiếp Jeonjaeng-ui seulpeum 전쟁의 슬픔(Nỗi buồn chiến tranh) của dịch giả Park Chan-gyu”

Trang 14

nguyên tác một cách gián tiếp thông qua bản dịch trung gian và rút ra ý nghĩa của nó

để dịch; phân tích chúng từ góc độ “hành vi thông diễn6 nguyên tác của dịch giả phiên dịch gián tiếp”

Bên cạnh đó, để khảo sát nghiên cứu quá trình phát tin, chúng tôi chọn một trường hợp chịu sự ảnh hưởng từ bên ngoài nhiều hơn trong quá trình phiên dịch do hoàn cảnh phiên dịch tương đối khắc nghiệt hơn Cụ thể là, chúng tôi sẽ khảo sát

trường hợp dịch phẩm tiếng Việt Hãy chăm sóc mẹ đã được dịch từ nguyên tác tiếng Hàn Eommaleu butakhae 엄마를 부탁해 và xuất bản dưới sự hiệu đính đối chiếu

với bản dịch tiếng Anh của nhà xuất bản Đây là một trường hợp mà người hiệu đính đặt tên mình là đồng dịch giả vì tỷ lệ hiệu đính đối chiếu tăng lên trong quá trình phiên dịch Chúng tôi sẽ khảo sát hình ảnh của dịch giả viết bản thảo phiên dịch và những ảnh hưởng của bên ngoài, như nhà xuất bản, tất cả được phản ánh như thế nào trong dịch phẩm từ góc độ “việc viết lại nguyên tác và sự ảnh hưởng của quá trình xuất bản” Đặc biệt ở đây, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích nghiên cứu dựa trên khái niệm “tính (bất) khả kiến của dịch giả” (translator‟s (in)visibility) do Lawrence Venuti đề xuất, là một khái niệm chỉ ra mối quan hệ quyền lực giữa dịch giả với các yếu tố xung quanh như nhà xuất bản, v.v trong quá trình phiên dịch tác phẩm văn học

Chúng tôi chọn hai tác phẩm này làm đối tượng nghiên cứu mà không chọn những trường hợp phiên dịch phổ biến thông thường vì những lẽ sau đây: Thứ nhất, qua hai tác phẩm này, chúng tôi nhận thấy ý đồ giao tiếp và đặc trưng của giao tiếp

rõ ràng hơn và nổi bật hơn; thứ hai, đặc điểm của quá trình thông diễn cũng hết sức

tập trung (bản dịch gián tiếp tiếng Hàn của Nỗi buồn chiến tranh) và áp lực của ngoại cảnh vào công việc phiên dịch cũng rất rõ (bản dịch tiếng Việt từ Eommaleu butakhae 엄마를 부탁해) Việc phân tích Ŕ nghiên cứu hai trường hợp phiên dịch

6

Trong tiếng Việt, có một số thuật ngữ khác được sử dụng để diễn đạt khái niệm “hermeneutic(s)” như: giải thích (học), diễn giải (học), v.v… Trong luận án này, chúng tôi xin được sử dụng thuật ngữ “thông diễn (học)” với hàm nghĩa được giải thích ở chú thích 90 tiếp theo sau đây

Trang 15

này sẽ cho thấy hình ảnh dịch giả với tư cách là người (tiếp) nhận tin và hình ảnh dịch giả với tư cách là người phát tin một cách rõ ràng hơn trong khi không thể phân biệt dứt khoát hai quá trình nhận tin và phát tin trong cả quá trình phiên dịch thực tế

3 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, chúng tôi xin được ứng dụng cách phân

tích trường hợp thực tế theo hướng tiếp cận liên ngành và phương pháp Phiên dịch học mô tả (hay là Nghiên cứu phiên dịch mô tả) (DTS: Descriptive Transaltion Studies) do James S Holmes đã đề xuất phương pháp Phiên dịch học mô tả tập trung ở ba phương diện sau: (1) phương pháp Phiên dịch học mô tả dịch phẩm (Product-oriented DTS), (2) phương pháp Phiên dịch học mô tả chức năng phiên dịch (Function-oriented DTS) và (3) phương pháp Phiên dịch học mô tả quá trình

phiên dịch (Process-oriented DTS) Khi nghiên cứu “giao tiếp phiên dịch từ quan điểm vĩ mô”, chúng tôi sẽ vận dụng “DTS chức năng phiên dịch” là phương pháp nghiên cứu chức năng phiên dịch trong bối cảnh xã hội-văn hóa của bên tiếp nhận phiên dịch trên cơ sở “lịch sử giao lưu phiên dịch văn học giữa Việt Nam và Hàn Quốc” Còn khi nghiên cứu “giao tiếp phiên dịch từ quan điểm vi mô” thì chúng tôi

sẽ vận dụng “DTS dịch phẩm” là phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh nội dung của từng dịch phẩm, và tham khảo nội dung phỏng vấn dịch giả Chúng tôi sẽ theo dõi ngược lại quá trình ra quyết định của dịch giả và quá trình ảnh hưởng của các yếu tố khác tới sự sản xuất dịch phẩm thông qua việc xác nhận đặc trưng của các quá trình phiên dịch dưới sự phân tích trường hợp thực tế, việc xem xét đặc trưng của văn bản đích (VBĐ) trong văn hóa của văn bản đích và việc xác định sự khác biệt dưới sự đối chiếu phân tích văn bản nguồn (VBN) với văn bản đích, rồi

khảo sát mối quan hệ nhân quả của sự khác biệt ấy theo phương pháp Phiên dịch học mô tả Cuối cùng, chúng tôi sẽ mô tả đặc trưng của quá trình phiên dịch ấy

thông qua sự tổng hợp các sự khác biệt và mối quan hệ nhân quả đã được xác nhận giữa văn bản nguồn và văn bản đích Phương pháp nghiên cứu này bắt nguồn từ tiền

Trang 16

đề cơ bản “tất cả các yếu tố liên quan đến quá trình phiên dịch sẽ để lại dấu vết trên văn bản đích” Để triển khai đề tài nghiên cứu của chúng tôi, “DTS quá trình phiên dịch” rất cần thiết Tuy nhiên, do đặc trưng của phương pháp nghiên cứu DTS quá trình phiên dịch như là miêu tả tâm lý, tâm trí của dịch giả trong quá trình phiên dịch tác phẩm ấy, nghiên cứu theo phương pháp này thực tế rất khó để thực hiện Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn dịch giả để thay thế DTS quá trình phiên dịch Toury (1995) cho rằng khi xem xét lời nói của những người tham gia quá trình phiên dịch thì phải chú ý đặc biệt vì nó có thể mang tính chất nghiêng về một phía Tuy nhiên, việc xem xét nội dung giải thích hoặc trần thuật của họ có ý nghĩa nhất định vì trong trường hợp tối ưu, nó có thể cho biết nhiều điều về phương thức làm việc của các dịch giả, ngay cả trong trường hợp xấu nhất, nó có thể cung cấp cơ hội

để nghe những suy nghĩ của họ về những gì họ nên làm với tư cách là dịch giả (Munday, 2016, tr.233-234)

Dù chúng tôi đã phân loại quá trình phiên dịch ra quá trình nhận tin và quá trình phát tin để xem xét được các quá trình giao tiếp một cách chi tiết hơn, nhưng trên thực tế, hai quá trình giao tiếp này là một quá trình liên tiếp được thực hiện liên tục mà không bị gián đoạn bởi dịch giả là chủ thể của hành vi Chúng ta có thể coi rằng quá trình nhận tin như là “tiền đề” của quá trình phát tin, còn quá trình phát tin như là “mục đích” của quá trình nhận tin Nhưng quả thật, rất khó để phân biệt rõ ràng giữa quá trình nhận tin và quá trình phát tin Điều này cho thấy rằng phương pháp nghiên cứu của chúng tôi (phương pháp nghiên cứu đối chiếu văn bản của dịch phẩm vốn là sản phẩm tổng hợp của quá trình nhận tin và quá trình phát tin với văn bản của nguyên tác để lấy ra sự khác biệt) về cơ bản có hạn chế là khó có thể xem xét phân loại quá trình nhận tin và quá trình phát tin Bởi vì việc phân biệt một kết quả cụ thể đã được sinh ra từ nguyên nhân nào là khá khó Vì vậy, chúng tôi sẽ xem xét riêng biệt hai quá trình là quá trình nhận tin và quá trình phát tin với hai tác phẩm có đặc trưng về quá trình phiên dịch khác nhau và hai khái niệm phù hợp với hai quá trình phiên dịch này như “việc thông diễn nguyên tác” và “tính (bất) khả kiến dịch giả” như là các giải pháp thay thế; thêm vào đó, để khắc phục hạn chế này,

Trang 17

chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn dịch giả với nội dung liên quan đến các quá trình phiên dịch và sử dụng kết quả đó như là một tài liệu tham khảo

4 Đóng góp mới của luận án

Trong suốt quá trình, phiên dịch văn học phải chịu sự can thiệp của nhiều yếu

tố ở từng giai đoạn, dịch giả là chủ thể của hành vi phiên dịch văn học phải duy trì

sự cân bằng và tiếp tục có những lựa chọn tốt nhất thông qua giao tiếp với nhiều yếu

tố này Dịch giả liên tục giao tiếp với nhiều yếu tố trong quá trình phiên dịch, tức là dịch giả làm cho ý nghĩa của văn bản nguồn đã được bản thân nắm bắt “hiện tại hóa” trong thời gian và không gian văn hóa của văn bản đích Do bởi công việc như thế của dịch giả, nguyên tác sẽ có thể kéo dài tuổi thọ của nó ở nơi khác, với hình dạng khác Giữa hai nền văn hóa, các bản dịch mới có thể được tạo ra theo “hiện tại” của dịch giả, và nhờ bản dịch ấy, nguyên tác có thể kéo dài sức sống của mình Đặc điểm của luận án này là chú ý đến tình hình “hiện tại” như vậy của dịch giả văn học

Luận án của chúng tôi sẽ có những đóng góp cụ thể về các phương diện như sau:

- Khác với các thành tựu nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung miêu tả tình hình phiên dịch tác phẩm văn học Hàn Quốc sang tiếng Việt trong thời gian nhất định (như sau năm 1992 là thời điểm chính thức tái thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc), luận án khảo sát cả hai tình hình phiên dịch tác phẩm văn học Hàn Quốc sang tiếng Việt và phiên dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn thông qua việc sưu tập tất cả danh sách dịch phẩm (bản dịch) từ quá khứ đến hiện tại, trong phạm vi khả năng của chúng tôi, và phân tích so sánh những đặc trưng của cuộc giao lưu phiên dịch tác phẩm văn học song phương ấy Với kết quả nghiên cứu này, luận án sẽ đưa ra cơ hội để có thể nhận thức tình hình giao lưu phiên dịch tác phẩm văn học giữa hai nước đã được triển khai trong tình trạng mất cân bằng và cơ hội thay đổi ý thức để tạo ra hoàn cảnh có thể dịch và giới thiệu những tác phẩm văn

Trang 18

học của hai nước một cách công bằng với nhau cả về mặt số lượng lẫn về mặt chất lượng

- Luận án không nhằm mục đích chỉ đơn thuần so sánh và đánh giá kết quả hay phân biệt đúng sai, hoặc cung cấp phương pháp dịch cho chính xác Bắt đầu từ việc thừa nhận sự khác biệt của các kết quả phiên dịch theo “hiện tại” của dịch giả như đã nói

ở trên, tức là theo sự khác biệt của thời gian và không gian mà phiên dịch đang được thực hiện hoặc sự khác biệt của bối cảnh, và căn cứ vào việc khảo sát quá trình cho đến khi lấy được kết quả phiên dịch như thế, đối với dịch giả thì luận án sẽ đưa ra một ví dụ có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho hành vi phiên dịch thực tế, còn đối với độc giả và các nhà nghiên cứu thì sẽ tạo ra cơ hội để hiểu sâu sắc hơn về hành vi phiên dịch văn học thực tế và dịch phẩm

- Phạm vi nghiên cứu của luận án đã bao gồm cả các yếu tố ngoài dịch giả, thường ảnh hưởng tới hành vi của dịch giả, như nhà xuất bản và các yếu tố xung quanh trong quá trình phiên dịch văn học Qua phạm vi nghiên cứu này, luận án sẽ đưa ra một số nhận thức mới đối với nghiên cứu phiên dịch văn học vốn chưa có lý luận cụ thể vận dụng được trong nghiên cứu trường hợp

5 Cấu trúc luận án

Ngoài phần MỞ ĐẦU (10 trang), KẾT LUẬN (4 trang), DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (23 trang, 253 tài liệu) và PHỤ LỤC (128 trang), luận án được

triển khai trên 4 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU (30 trang)

Chương 1 vừa là bản tóm tắt mô tả tiến trình thay đổi khái niệm (hay lý thuyết) giao

tiếp trong nghiên cứu Phiên dịch học trên thế giới, vừa là bản tổng kết những tài liệu

của Việt Nam và Hàn Quốc có cùng đề tài với luận án này là giao lưu văn học và giao tiếp trong phiên dịch

Trang 19

Chương 2: PHIÊN DỊCH VĂN HỌC TRONG BỐI CẢNH GIAO LƯU VĂN

HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC (45 trang)

Chương 2 đi vào nội dung cơ bản là nghiên cứu toàn cảnh lịch sử giao lưu phiên dịch tác phẩm văn học giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Chương 3: QUÁ TRÌNH THÔNG DIỄN VĂN BẢN NGUỒN VÀ VAI TRÒ

CỦA DỊCH GIẢ: TRƯỜNG HỢP BẢN DỊCH GIÁN TIẾP TIẾNG

BUỒN CHIẾN TRANH (66 trang)

Chương 4: QUÁ TRÌNH VIẾT LẠI-XUẤT BẢN VÀ TÍNH KHẢ KIẾN CỦA

DỊCH GIẢ: TRƯỜNG HỢP BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT HÃY CHĂM SÓC MẸ TỪ EOMMALEUL BUTAGHAE 엄마를 부탁해 (48

trang) Chương 3 và chương 4 là quá trình nghiên cứu và chứng minh một vấn đề: quá trình phiên dịch văn học thường được cho là một quá trình mà dịch giả là người có toàn quyền quyết định trong suốt thời gian thực hiện Tuy nhiên, thực tế là dịch giả còn phải trải qua các quá trình đối thoại và chịu sự ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau trong khi thực hiện quá trình phiên dịch văn học kể trên

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.1.1 Phiên dịch học và Lý thuyết Giao tiếp

Phiên dịch, đặc biệt là phiên dịch văn học về mặt bản chất có tính chất giao tiếp Vì vậy, không khó để tìm kiếm những ví dụ đã áp dụng quan điểm giao tiếp vào nghiên cứu phiên dịch Trước tiên, về mặt phương pháp phiên dịch, một ví dụ tiêu biểu đã áp dụng quan điểm giao tiếp vào nghiên cứu phiên dịch chính là khái niệm “nguyên lý hiệu quả tương đương” (the principle of equivalent effect) của Eugene A Nida (1964, người truyền giáo kiêm nhà ngôn ngữ học/phiên dịch học của Hoa Kỳ) Khái niệm này cho rằng: “về cơ bản, mối quan hệ giữa người tiếp nhận với thông điệp của văn bản đích (target text, có thể gọi tắt là “TT”) phải đồng nhất với mối quan hệ giữa người tiếp nhận với thông điệp của văn bản nguồn (source text, có thể gọi tắt là “ST”)” (Munday, 2016, tr.68) Nói cách khác, nguyên

lý hiệu quả tương đương cho rằng “hiệu quả” đến từ kết quả giao tiếp giữa văn bản đích với độc giả của văn bản đích phải đồng nhất với “hiệu quả” đến từ kết quả giao tiếp giữa văn bản nguồn với độc giả của văn bản nguồn Thế nhưng, làm thế nào chúng ta có thể nắm bắt và đo lường “hiệu quả” do độc giả của văn bản nguồn đã cảm nhận được? Vả lại, vì độc giả của văn bản nguồn không mang ý nghĩa là cá nhân mà là tập thể, khi nhắc đến cảm xúc của các thành viên trong một tập thể không thể lúc nào cũng giống nhau được, vậy chúng ta làm thế nào biết được “hiệu quả do độc giả của văn bản nguồn cảm nhận” chỉ ra là hiệu quả do người nào trong văn hóa của văn bản nguồn cảm nhận? Phương pháp và kết quả nghiên cứu của ông khá phi thực tế vì không thể trả lời chính xác các câu hỏi này Tuy nhiên, với đề tài của luận án này, khái niệm của ông có ý nghĩa quan trọng vì đã nhấn mạnh rằng phiên dịch văn học là một hành vi dẫn dắt sự tương tác giữa văn bản nguồn với độc giả của văn bản đích thông qua việc nhận thức rằng phiên dịch văn học không chỉ dừng lại ở hành vi của dịch giả chuyển ngôn ngữ của văn bản nguồn sang ngôn ngữ

Trang 21

đích, mà bao gồm cả giai đoạn mà độc giả của văn bản đích tiếp nhận kết quả ấy và đưa sự tồn tại của độc giả ấy vào nghiên cứu phiên dịch

Sau Nida, một số nhà nghiên cứu Phiên dịch học như Peter Newmark của

Anh và Werner Koller của Đức đã đưa quan điểm giao tiếp vào nghiên cứu phiên

dịch Newmark (1981, tr.39) phân loại phiên dịch thành phiên dịch ngữ nghĩa (semantic translation) và phiên dịch giao tiếp (communicative translation) Ông cho

rằng “phiên dịch giao tiếp cố gắng đạt hiệu quả gần nhất với hiệu quả mà văn bản nguồn đã gây ra cho độc giả của văn bản nguồn ngay trong bản dịch, còn phiên dịch ngữ nghĩa cố gắng truyền đạt ý nghĩa văn cảnh (contextual meaning) của văn bản nguồn với mức độ chính xác tối đa trong phạm vi của cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc

cú pháp của ngôn ngữ đích” Phiên dịch giao tiếp của Newmark có ý nghĩa vì đã

chú ý đến vấn đề “giao tiếp” ý nghĩa (thông điệp) của văn bản nguồn với độc giả dưới sự công nhận tính chủ quan của phiên dịch và tính bất khả của “hiệu quả tương

đương”; còn phiên dịch ngữ nghĩa thì có ý nghĩa vì coi trọng “bối cảnh” của văn

bản nguồn khác với dịch theo nghĩa đen Tuy vậy, nghiên cứu của ông cũng có hạn chế là không thể hoàn toàn vượt qua tư duy lưỡng phân thành cách tập trung văn bản nguồn và cách tập trung độc giả của văn bản đích Koller (1979) phân chia

tương đương thành 5 loại như: tương đương sở thị (denotative equivalence), tương đương liên tưởng (connotative equivalence), tương đương chuẩn văn bản (text- normative equivalence), tương đương ngữ dụng (pragmatic equivalence, hoặc tương đương giao tiếp (communicative equivalence)), tương đương hình thức (formal equivalence) (Munday, 2016, tr.75); trong đó, tương đương ngữ dụng và tương đương giao tiếp nhấn mạnh tính quan trọng của người tiếp nhận Tiếp theo, A Neubert và G Shreve (1992) đề xuất tương đương giao tiếp (communicative

equivalence) vì không thể thực hiện tương đương hoàn hảo từ quan điểm ngôn ngữ -

từ vựng; và cho rằng tương đương không phải là mối quan hệ giữa các bề mặt của văn bản mà là mối quan hệ với hiệu quả, tức là với giá trị giao tiếp (이은숙(Lee Eun-suk), 2007, tr.250-251)

Trang 22

Điểm chung của các khái niệm được liệt kê ở trên là chúng cho thấy các lý thuyết gia đã thoát khỏi cách tư duy tập trung văn bản nguồn như trước và bắt đầu nhận thức “tính quan trọng về độc giả của văn bản đích” Đó chính là kết quả của việc áp dụng quan điểm giao tiếp, cho rằng phiên dịch không phải là sự truyền đạt đơn phương mà là cái được hoàn thành bởi quan hệ tương tác giữa người phát tin với người tiếp nhận Thế nhưng, họ đang tập trung vấn đề “tương đương”, tức là

“phương pháp chuyển ngữ mà không ảnh hưởng tới giá trị của văn bản nguồn” trong những vấn đề liên quan đến phiên dịch

Bên cạnh đó, Katharina Reiss (1971) phân chia loại văn bản theo chức năng

giao tiếp của nó thành 3 loại như: văn bản thông tin (informative text) có chức năng giao tiếp tập trung về nội dung hoặc chủ đề; văn bản diễn cảm (expressive text) có người phát tin và hình thức của thông điệp được nổi bật lên, văn bản thao tác

(operative text) tạo nên hiệu ứng của độc giả hoặc người tiếp nhận với hình thức

ngôn ngữ đối thoại và văn bản qua phương tiện thính giác (audiomedial text) bổ

sung chức năng với hình ảnh nghe nhìn và âm nhạc, v.v…; rồi đưa ra phương thức phiên dịch phù hợp với từng loại văn bản (Munday, 2016, tr.115-116) Kết quả nghiên cứu của ông có ý nghĩa quan trọng vì đã xem xét cả mục đích giao tiếp (communicative purpose) của phiên dịch ngoài hiệu quả do ngôn ngữ gây ra (Munday, 2016, tr.119) Thế nhưng, sự phân loại hình thức văn bản của ông có hạn chế là không phù hợp với nghiệp vụ thực tế của phiên dịch Holz-Mӓnttӓri (1984)

của Đức đưa ra lý thuyết hành động phiên dịch (theory of translational action) dưới

sự kết hợp lý thuyết giao tiếp với lý thuyết hành động Ông cho rằng phiên dịch mang tính tương tác giữa những con người hướng tới mục tiêu và kết quả là một quá trình giao tiếp (communicative process) bao gồm nhiều vai trò và thành phần tham gia (Munday, 2016, tr.124) Nghiên cứu của ông có ý nghĩa vì đã coi phiên dịch tác động trong bối cảnh xã hội Ŕ văn hóa, nhưng còn có hạn chế vì đã lấy phiên dịch ngoài văn học làm đối tượng nghiên cứu và nhấn mạnh người tiếp nhận của văn bản đích nhiều hơn văn bản nguồn Lý thuyết Skopos, là lý thuyết quyết định phương pháp và chiến lược phiên dịch theo mục đích phiên dịch hoặc chức năng của văn

Trang 23

bản đích, cũng cho thấy hạn chế giống như nghiên cứu của Holz-Mӓnttӓri Cịn Christiane Nord (1988/1991) đưa ra cách tiếp cận tổng hợp với sự kết hợp các lý thuyết của Reiss, Holz-Mӓnttӓri và lý thuyết Skopos của Reiss & Vermeer (1984)

Và bà đã xem lịch sử của phiên dịch như là lịch sử những chuẩn và nguyên lý của

xã hội đang chi phối mối quan hệ giữa khách hàng, dịch giả với người tiếp nhận và

“văn bản nguồn Ŕ dịch giả (văn bản đích) Ŕ độc giả” thì quan điểm giao tiếp cĩ thể được áp dụng theo cách khác

Itamar Even-Zohar (1978/2000, nhà nghiên cứu Phiên dịch học của Isrặl) đề

xuất lý thuyết đa hệ thống nghiên cứu phiên dịch và văn học dịch trong phạm vi bối cảnh xã hội Ŕ lịch sử trong đĩ cĩ văn bản đích và hệ thống văn học Ŕ văn hĩa trong bối cảnh ấy Lý thuyết của ơng đã đưa ra cách nhìn cĩ thể xem xét các văn bản đích trong các bối cảnh khác nhau của chúng Cùng quan điểm với Even-Zohar, Gideon Toury chủ trương rằng để tổng hợp những cơng trình nghiên cứu từ nhiều gĩc độ đa

dạng đang được thực hiện riêng cần phải phát triển lý thuyết Phiên dịch học mơ tả

(DTS) do James S Holmes (1988) đề xuất Để thực hiện DTS cĩ hệ thống, Toury (1995/2012, tr.31-34, 102) đưa ra phương pháp luận theo ba giai đoạn như sau: (1) khảo sát đúng vị trí của văn bản là đối tượng nghiên cứu ở trong hệ thống của ngơn ngữ đích (target language, cĩ thể gọi tắt là “TL”) tập trung vào tính trọng yếu

Trang 24

(significance) hoặc khả năng chấp nhận (acceptability) của văn bản ấy; (2) xác định mối quan hệ giữa các bộ phận tương ứng (corresponding segments) của hai văn bản thông qua việc so sánh và phân tích văn bản của văn bản nguồn và văn bản đích7; (3) khái quát hóa dưới sự tổng hợp các mô hình đã được rút ra từ hai văn bản sẽ giúp tái cấu trúc quá trình phiên dịch của cặp đôi văn bản nguồn Ŕ văn bản đích Nghiên cứu của ông có mục tiêu thiết lập giả thuyết cho nghiên cứu DTS với việc theo dõi quá trình ra quyết định của dịch giả thông qua sự phân tích đối chiếu văn bản, rồi tái cấu trúc chuẩn (chỉ thị tính năng, performance instructions) đã tác động trong quá trình phiên dịch ấy Sau này, những học giả của trường phái thao túng (Manipulation school) như Theo Hermans (1985) và một số học giả khác như Andrew Chesterman (1997) kế thừa nghiên cứu từ quan điểm này

Bên cạnh đó, Susan Bassnett và André Lefevere (1990) đã báo hiệu cho sự

bắt đầu của Phiên dịch học văn hóa, chú ý đến tương tác giữa phiên dịch với văn

hóa, tức là các yếu tố văn hóa bao gồm cả bối cảnh, lịch sử, cấu trúc quyền lực, ý thức hệ, tập quán, v.v… ảnh hưởng tới phiên dịch Đặc biệt, nhìn từ quan điểm như

hệ thống văn học tồn tại với tư cách là một phần hệ thống văn hóa, André Lefevere (1992) đã đề xuất khái niệm “viết lại” (rewriting) do lực lượng chuyên nghiệp trong

hệ thống văn học như nhà phê bình, giáo viên, dịch giả, v.v… và lực lượng bảo trợ bên ngoài hệ thống văn học như nhà xuất bản, truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu khoa học, đảng phái chính trị, v.v… thực hiện Và với việc đưa ra khái niệm

“tính (bất) khả kiến của dịch giả” ((in)visibility of the translator), Lawrence Venuti (1995) đã nghiên cứu về vị thế xã hội và vai trò của dịch giả trong mối quan hệ tương tác giữa các nền văn hóa với sự chú ý đến các khía cạnh đa dạng của bối cảnh

xã hội văn hóa của phiên dịch, trong đó có dịch giả, người xuất bản và nhà phê bình, v.v… Dù nghiên cứu của ông lấy trường hợp của Mỹ mang tính vị chủng mạnh mẽ làm căn cứ, nhưng nó vẫn có ý nghĩa vì đã chú ý đến dịch giả là nhân vật chính của hành vi mà luôn luôn được coi như người ngoài (hoặc người vô hình) và những yếu

7 Toury gọi các bộ phận tương ứng này là “các cặp đôi” (couples pairs); với chúng có thể tìm ra biến đổi phiên dịch (translation shifts) có tính tất yếu hoặc cố ý (Munday, 2016, tr.175)

Trang 25

tố xung quanh văn bản ảnh hưởng tới hành vi của dịch giả ấy Còn Anthony Pym (1991, 2009 & 2012/2016) thì đề xuất khái niệm “đạo đức của dịch giả” (translator ethics) để luận bàn về đạo đức mà dịch giả phải giữ gìn trong bối cảnh phiên dịch có nhiều yếu tố tương tác với nhau

Tóm lại, nghiên cứu phiên dịch từ quan điểm giao tiếp trong giai đoạn đầu chủ yếu tập trung nghiên cứu tìm ra phương pháp sản xuất dịch phẩm thích hợp nhất với độc giả của văn bản đích; còn nghiên cứu phiên dịch từ quan điểm giao tiếp của giai đoạn sau thì chú ý đến mối quan hệ giữa phiên dịch hay dịch giả với các yếu tố xung quanh liên quan đến phiên dịch Trong luận án này, chúng tôi xin

được đề cập đến “giao tiếp như là đối thoại và quá trình thực hành phiên dịch của dịch giả” theo quan điểm nghiên cứu của giai đoạn sau, ngoài quan điểm phán xét giá trị, thường chỉ tập trung vào nguyên tác hoặc độc giả

1.1.2 Phiên dịch nhìn từ quan điểm Giao lưu văn hóa và Lý thuyết giao tiếp

Từ quan điểm vĩ mô, phiên dịch văn học là một cuộc giao tiếp như là hành vi trao đổi tác phẩm văn học giữa các tập thể sử dụng các ngôn ngữ khác nhau Ở đây, chúng ta có thể hiểu “phiên dịch văn học như là hành vi trao đổi tác phẩm văn học” chính là một phần của “giao lưu văn hóa” thông thường Vì vậy, chúng tôi sẽ khảo sát phiên dịch văn học từ quan điểm giao lưu văn hóa giữa các quốc gia Trước tiên, chúng tôi xin được thể hiện quá trình triển khai của phiên dịch văn học nhìn từ quan điểm giao lưu văn hóa giữa các quốc gia bằng hình ảnh như sau:

Trang 26

Hình 1.1 Cuộc giao tiếp giữa hai cộng đồng ngôn ngữ / văn hóa

với các tác phẩm văn học làm trung gian

và từ Hàn Ŕ Việt theo từng thời kỳ

Giao tiếp I

Giao tiếp II

Dịch phẩm

Dịch phẩm

Trang 27

Bên cạnh đó, nhìn từ quan điểm vi mô thì phiên dịch văn học cũng là một cuộc giao tiếp được hoàn thành bởi đối thoại giữa dịch giả với vai trò là người tiếp nhận và người phát tin theo trật tự với các yếu tố trong bối cảnh phiên dịch Trong quan điểm vĩ mô như đã đề cập ở trên, cái trung gian giao tiếp giữa hai tập thể là các dịch phẩm đã được dịch bằng ngôn ngữ của tập thể tiếp nhận Ở đây, để sản xuất các dịch phẩm này, dịch giả phải trải qua quá trình giao tiếp được miêu tả trong sơ đồ dưới đây:

Hình 1.2 Quá trình giao tiếp hai giai đoạn của phiên dịch văn học

là sự tham gia chỉ ra việc khiến hình thức và phương hướng của giao tiếp tích cực thay đổi, chứ

nhà xuất bản hoặc thị trường sách

Quá trình nhận tin

Quá trình phát tin

Trang 28

dịch văn học có thể được xem chỉ là “truyền đạt” nguyên tác với dịch giả làm trung gian, nhưng phiên dịch văn học nhìn từ góc độ bối cảnh (xã hội Ŕ văn hóa) của phiên dịch có thể được xem là “đối thoại và thỏa thuận” giữa các yếu tố xung quanh của dịch giả đang ở trong khoảng trống giữa hai bối cảnh khác nhau Để thuận tiện, chúng tôi đã phân loại quá trình giao tiếp thành “quá trình (tiếp) nhận tin” và “quá trình phát tin” dựa vào hành vi của dịch giả Lý do tại sao quá trình nhận tin không bao gồm toàn bộ văn bản nguồn là vì chúng tôi coi bản thân văn bản nguồn thuộc về lĩnh vực “sáng tác văn học”, chứ không phải thuộc về lĩnh vực phiên dịch Do vậy, chúng tôi cũng không cần phải biểu thị mối quan hệ giữa tác giả với văn bản nguồn Tương tự, lý do tại sao quá trình phát tin không bao gồm cả độc giả là vì chúng tôi coi hành vi độc giả của văn bản đích thuộc về lĩnh vực “hành vi đọc sách”, chứ không phải thuộc về hành vi phiên dịch Còn để biểu thị đặc trưng của văn bản đích khác với văn bản nguồn, chúng tôi đã vẽ một phần của văn bản đích thuộc vào bên trong của dịch giả Về mặt tồn tại, nguyên tác có tính chất độc lập và độc nhất vô nhị đối với tác giả; nhưng do tính chất của nó, bản dịch lại có thể có những biến số bản dịch khác nhau, được thực hiện bởi bất cứ ai và vào bất cứ lúc nào Và mỗi bản dịch ấy đều có đặc trưng riêng theo phong cách và chiến lược phiên dịch của dịch giả, quy định bởi bối cảnh mà hoạt động phiên dịch ấy được thực hiện trong đó Điều này cho thấy mối quan hệ giữa dịch giả và bản dịch khác với mối quan hệ giữa tác giả và nguyên tác Như sơ đồ ở trên, bản dịch phải thuộc về dịch giả ở mức độ nhất định Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phiên dịch của dịch giả được thể hiện bằng những mũi tên đứt quãng, là vì đây là hiện tượng được thực hiện trong tâm thức của dịch giả, chứ không thể hiện ra ngoài Đặc biệt, do độc giả của văn bản đích ảnh hưởng tới quá trình phiên dịch không phải là độc giả thực tế mà là “độc giả trừu tượng” do dịch giả giả định trong quá trình phiên dịch ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình viết lại của dịch giả nên chúng tôi cũng đã biểu hiện nó bằng dấu mũi tên đứt quãng Còn bối cảnh cá nhân của dịch giả cũng ảnh hưởng tới quá trình phiên

không phải chỉ gửi thông điệp theo hướng tuyến tính mà không bị mất mát (Pym, 2012/2016, tr.188-189)

Trang 29

dịch theo hướng nội tại như ý thức và vô thức của dịch giả nên chúng tôi đã biểu hiện nó bằng dấu mũi tên đứt quãng Ngược lại, nhà xuất bản hoặc thị trường sách trong bối cảnh của văn bản đích có thể ảnh hưởng tới quá trình phiên dịch một cách trực tiếp và rõ ràng từ bên ngoài của dịch giả nên chúng tôi đã biểu hiện nó bằng dấu mũi tên liền như trên

Trong sơ đồ trên, về mặt lý thuyết, độ rộng của văn bản nguồn và văn bản đích phải bằng nhau hoặc ít nhất là gần giống nhau Tuy nhiên, không phải dễ dàng

mà văn bản đích có thể duy trì độ rộng và hình dạng bằng nhau hoặc gần giống nhau với văn bản nguồn khi có sự tham gia của các yếu tố ở trong và ngoài dịch giả như hình ảnh ở trên Vì vậy, nhiều nghiên cứu phiên dịch đã và đang tập trung tìm kiếm phương pháp làm văn bản đích có thể duy trì độ rộng và hình dạng tương tự với văn bản nguồn Chúng tôi xin được thừa nhận sự khác biệt không thể tránh khỏi giữa văn bản nguồn với văn bản đích, và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đã được biểu hiện bằng dấu mũi tên trong sơ đồ trên đối với quá trình phiên dịch của dịch giả như là nguyên nhân của sự khác biệt ấy

Ý nghĩa (của nguyên tác) không phải ở trong tầm ngôn ngữ (langue) như là hệ thống giao tiếp của xã hội, mà là ở trong tầm diễn ngôn (discourse) bao gồm cả bối cảnh ngôn ngữ, nhận thức, và cả các biến số ngoài ngôn ngữ Dịch giả trích xuất “ý nghĩa” của nguyên tác để truyền đạt cho độc giả trong bối cảnh phiên dịch, xung quanh văn hóa nguồn và bản thân mình; ở đây, ý nghĩa của nguyên tác không phải

là cái hoàn toàn mới mẻ mà là cái cùng sở hữu giữa nguyên tác và dịch giả là hai chủ thể của giao tiếp Vậy thì giao tiếp được thực hiện đầu tiên trong quá trình phiên dịch văn học, tức là “quá trình (tiếp) nhận tin” để phiên dịch văn học có thể được định nghĩa là “giao tiếp để lấy thông điệp nhằm truyền đạt cho độc giả trong bối cảnh phiên dịch trên văn hóa nguồn” như sơ đồ trên

Khác với quá trình (tiếp) nhận tin được tiến hành trong tâm thức của dịch giả, giao tiếp của giai đoạn sau là giao tiếp phát tin, có đặc điểm là thể hiện ra ngoài Bởi

vì nó phải trải qua quá trình cụ thể như việc lấy ra những gì có trong tâm thức của

Trang 30

dịch giả, rồi viết ra chữ và truyền đạt cho độc giả thông qua giai đoạn xuất bản của nhà xuất bản Ở đây, để viết ra kết quả bằng chữ của giai đoạn trước là quá trình nhận tin, dịch giả cũng phải trải qua quá trình giao tiếp với các yếu tố trong văn hóa đích Trong giai đoạn này, trong khi trải qua quá trình hiệu đính và biên tập của nhà xuất bản và quá trình phân phối của thị trường, bản dịch đã được dịch giả viết ra bằng chữ có thể trải qua quá trình biến đổi thông qua sự tương tác với các yếu tố khác nhau Chúng ta có thể định nghĩa rằng toàn bộ quá trình từ thời điểm các suy nghĩ trong đầu của dịch giả được viết ra bằng chữ cho đến thời điểm nó được đưa vào tay của độc giả là cuộc giao tiếp được thực hiện lần thứ hai trong quá trình phiên dịch văn học, tức là “giao tiếp để làm ra dịch phẩm và truyền đạt nó trong bối cảnh phiên dịch của văn hóa đích” với tư cách là “quá trình phát tin” để phiên dịch văn học

Trong lĩnh vực Phiên dịch học, các nhà nghiên cứu thường gọi quá trình

phiên dịch ở trên là đọc, hiểu, giải thích và viết, tái hiện, v.v… Tuy nhiên, vì các từ này có tính chất nhấn mạnh tương đối mạnh mẽ mối quan hệ giữa nguyên tác với dịch giả nên có thể gây ra ngộ nhận rằng phiên dịch văn học được thực hiện bằng hành vi độc lập và đơn phương của dịch giả trong mối quan hệ chỉ với nguyên tác Với lý do này, chúng tôi xin được điều chỉnh phạm vi thông thường của hai quá trình phiên dịch như trên Trong thực tế, quá trình đọc nguyên tác và trích xuất ý nghĩa của nguyên tác đó bao gồm cả giai đoạn đầu tiên để viết lại bằng ngôn ngữ đích Bản thân hành vi giải thích nghĩa là hiểu biết ngôn ngữ của người khác bằng ngôn ngữ của mình, vì vậy, nếu không thể miêu tả ngôn ngữ của người khác bằng ngôn ngữ của mình thì điều đó không thể được xem là đã thành công giải thích nó Nhưng ở giai đoạn này chúng tôi không cần xem xét tính nghệ thuật của thứ ngôn ngữ miêu tả Như vậy, phạm vi của “giai đoạn (tiếp) nhận tin” trong luận án này bao gồm cho đến giai đoạn hiểu biết nghĩa bằng ngôn ngữ của dịch giả, tức là ngôn ngữ của độc giả trong văn hóa đích “Giai đoạn phát tin” là giai đoạn “biểu hiện” thực sự Bước vào giai đoạn này, tính nghệ thuật của ngôn ngữ miêu tả (hoặc biểu hiện) mới được bắt đầu xem trọng Hành vi “biểu hiện” lúc này có khác với quá trình “viết”

Trang 31

thường được nói đến vì nó bao gồm cả hành vi của các yếu tố bên ngoài văn bản Với ý nghĩa này, “giai đoạn phát tin” của chúng tôi một phần tương tự với khái niệm “viết lại” (rewriting) do André Lefevere đề xuất Văn bản được độc giả và nhà nghiên cứu phiên dịch tiếp nhận không phải là bản thảo của dịch giả, mà là phiên bản cuối cùng đã được trải qua các công đoạn của quá trình xuất bản Về cơ bản, dịch phẩm như là phiên bản cuối cùng dựa vào bản thảo của dịch giả nhưng không thể tránh được có những phần khác với bản thảo Những sự khác biệt này có thể được hình thành dưới sự chấp nhận của dịch giả, hoặc bất kể ý định của dịch giả Không xem xét tình hình này, đa số độc giả và nhà nghiên cứu thường nhận thức và đánh giá phiên bản cuối cùng như là bản thảo của dịch giả Để đọc và đánh giá phiên dịch một cách đúng đắn, chúng ta cần phải xem xét cả quá trình cho đến khi bản thảo được sản xuất như một cuốn sách với tựa đề và bìa Vì lý do này, chúng tôi xin được lập luận “quá trình phát tin” trong luận án này bao gồm không những quá trình “viết lại” thông thường, mà còn là quá trình “xuất bản”, cho đến khi dịch phẩm

ra đến thị trường và mối quan hệ ảnh hưởng phát sinh trong quá trình ấy

1.2 Lịch sử vấn đề

1.2.1 Tình hình nghiên cứu Phiên dịch học văn học tại Việt Nam

Là một tạp chí khoa học tiêu biểu về văn học ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số ra đầu tiên vào tháng 1 năm 1960, từ tháng 7 năm 1963 (số 1(43)) đến tháng 12 năm 2003 (số 12(382)) tạp chí mang tên Tạp chí Văn học) bắt đầu có

những bài viết về phiên dịch kể từ sau năm 2000 Trước thời điểm này, lúc mới được phát hành lần đầu vào năm 1960, tạp chí đã có một loạt các bài liên quan đến phiên dịch trong mục “VII Trao đổi ý kiến, ý kiến ngắn, phỏng vấn”9 Tuy nhiên, đây không phải là kết quả nghiên cứu khoa học chính thức và trong một khoảng thời gian dài sau năm 1960, tạp chí không có nội dung nào nữa liên quan đến phiên dịch

9

Thông tin chi tiết về các bài viết liên quan đến phiên dịch trong các số tạp chí này, tham khảo thêm phụ lục 1.1

Trang 32

mà chỉ có mấy bài được đăng trong cùng một mục như: “Về một số vấn đề cấp thiết trong công việc chọn dịch văn học” (Thúy Toàn) trong số 6 năm 1979, “Về việc dịch thuật Hán Nôm” (Ngô Thời Đôn) trong số 5 năm 1995 Còn trong số 3 (349) năm 2001 đã có bài “Về dịch văn học ở Việt Nam mấy năm nay: những vấn đề đặt ra” (tr.3-6) do Đặng Anh Đào viết nhưng chúng tôi khó có thể cho rằng đây là một

bài viết nghiên cứu Phiên dịch học thực sự vì nó chỉ tập trung miêu tả đặc trưng

dịch các tác phẩm văn học nước ngoài ra tiếng Việt trong năm 1996, là thời điểm đã thể hiện khuynh hướng mới của những năm 90, so với thời kỳ đầu những năm 90 và giới thiệu một số vấn đề liên quan đến phiên dịch đã được đề cập trong năm ấy mà thôi

Tới năm 2002, Tạp chí Nghiên cứu Văn học mới có bài nghiên cứu khoa học

về Phiên dịch học lần đầu tiên Trong số 1 (359) năm 2002, “Khái lược về phiên

dịch học (translation studies) và văn học Việt Nam” (tr.69-74) do Nguyễn Nam viết

đã được công bố Trong bài viết này, tác giả giới thiệu tường minh khái niệm Phiên dịch học; và khẳng định rằng “dịch phẩm và dịch giả phải có vị thế độc lập tương

đối với nguyên tác và tác giả” và “phiên dịch học xác lập vị trí độc lập tương đối của người dịch và tác phẩm dịch trong các quan hệ văn hóa Ŕ xã hội đồng đại và lịch đại, khảo sát cả dịch giả và dịch phẩm như các đối tượng nghiên cứu chỉnh thể” (Nguyễn Nam, 2002a, tr.70) Sau bài viết này, “Văn học dịch Ŕ sự đối thoại giữa các nền văn học” (tr.97-109) do Nguyễn Đình Vĩnh viết được công bố trong số 11 (405) năm 2005 Bài viết này khẳng định tính quan trọng của văn học dịch trong khi giao lưu giữa các nền văn hóa và đưa ra một số đóng góp và hạn chế của sự giao lưu bằng văn học dịch Thế nhưng, tác giả đã khảo sát vấn đề từ góc độ lý luận văn học

so sánh hơn là Phiên dịch học Còn trong số 1 năm 2007, “Ý thức văn hóa trong

dịch thuật văn chương ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945” (tr.131-144) của Nguyễn Văn Hiệu được đăng tải Trong bài, tác giả giới thiệu những tư liệu liên quan đến dịch văn chương ở Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX Ŕ 1945, nhất

là 30 năm đầu thế kỷ XX và khẳng định vai trò của văn học Pháp và văn học Trung Quốc đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc Dù là những nghiên cứu bước

Trang 33

đầu nhưng bài viết này có ý nghĩa vì đã khẳng định tính quan trọng của vấn đề “văn hóa” đối với phiên dịch văn chương với một số nhận xét như việc dịch văn chương

“cần xuất phát từ ý thức văn hóa” (Nguyễn Văn Hiệu, 2007, tr.143) và nghiên cứu dịch văn chương “không thể tách rời với bối cảnh văn hóa Ŕ lịch sử” (Nguyễn Văn Hiệu, 2007, tr.142) Vào cùng năm 2007, “Vai trò của dịch thuật văn chương và sự phát triển của văn học Việt Nam” (tr.13-18) do Nguyễn Văn Hoàn viết được đăng trên số 11 của tạp chí Bài này khảo sát việc dịch văn học nước ngoài ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 và từ năm 1945 đến hiện tại, khẳng định rằng “văn học Việt Nam không phải là một nền văn học biệt lập, khép kín, mà luôn được lịch

sử tạo cho những cơ hội giao lưu với các nền văn học trong khu vực và thế giới để tiếp tục phát triển, tìm đến những đề tài mới, thể loại mới, khuynh hướng văn học mới nhưng vẫn mang bản sắc của dân tộc mình” (Nguyễn Văn Hoàn, 2007, tr.18) Tuy nhiên, bài này chỉ tập trung liệt kê các tài liệu liên quan mà chưa nghiên cứu sâu sắc

Mãi đến tháng 12 năm 2009, Tạp chí Nghiên cứu Văn học phát hành số 12

(454) với “Cụm bài về lí thuyết dịch”, là số đặc biệt bao gồm các bài viết liên quan

đến lý luận Phiên dịch học Trong chuyên đề này có các bài viết của nhà nghiên cứu

nước ngoài10 và các bài viết của nhà nghiên cứu Việt Nam như: “Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí luận, phê bình mới” của Phạm Quốc Lộc và Lê Nguyên Long (tr.6-28), “Quan điểm dịch thuật của Antoine Berman” của Nguyễn Duy Bình (tr.60-69), “Vai trò nghệ thuật của ngôn ngữ và mấy vấn đề dịch phong cách Proust” của Nguyễn Giáng Hương (tr.70-84) Như Cao Việt Dũng đã đề cập trong bài Giới thiệu chuyên đề “Lý thuyết dịch: Mấy thời điểm quan trọng” (tr.3-5), chuyên đề này tập trung vào “mấy thời điểm quan trọng” trong tiến trình phát triển của lý thuyết dịch thế giới, với các lưu ý và ví dụ thực tiễn rút ra từ dịch thuật Việt Nam Trong

lịch sử nghiên cứu Phiên dịch học ở Việt Nam, tạp chí số đặc biệt này có rất nhiều ý

10

Các bài viết của nhà nghiên cứu nước ngoài thì như sau: “Nhiệm vụ của dịch giả” của Water Benjamin, triết gia người Đức, do Cao Việt Dũng dịch (tr.29-43), “Dịch thể loại” của Susan Bassnett, GS của Đại học Warwick tại Anh, do Lê Nguyên Long và Phạm Quốc Lộc dịch (tr.44-59)

Trang 34

nghĩa vì đã tạo ra sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam với Phiên dịch học như là một ngành nghiên cứu mới mẻ dù nó xuất hiện khá muộn so với ở

những nước khác; thế nhưng vẫn có hạn chế là các bài viết trong số tạp chí này đa phần là bản dịch bài viết của nhà nghiên cứu nước ngoài hoặc là bài giới thiệu lý luận của nhà nghiên cứu nước ngoài, mà chưa phải là những nghiên cứu độc đáo và sâu sắc của cá nhân tác giả Việt Nam Như vậy, mặc dù đã khoảng 10 năm kể từ khi

Phiên dịch học được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu Phiên dịch học ở Việt Nam vẫn chưa được phát triển đáng kể

Khác với ý đồ của chuyên đề số tạp chí này bắt nguồn từ sự mong muốn ngành nghiên cứu phiên dịch văn học ở Việt Nam, nói như Cao Việt Dũng (2009, tr.3), trong thời gian qua đã “quanh quẩn với những lời bình luận xoay quanh các nguyên tắc “tín, đạt, nhã” và các quan niệm hời hợt về đích, nguồn hay văn hóa chung chung” sẽ được tiến hành một cách nghiêm túc hơn theo xu hướng học thuật thế giới, nghiên cứu phiên dịch văn học ở Việt Nam vẫn được tiến hành khá chậm

sau khi bước vào những năm 2010 Kể từ năm 2010 đến cuối năm 2017, trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học đã có những bài viết như sau: “Việc dịch nhan đề tác phẩm

của [Fyodor] Dostoievsky sang tiếng Việt” (số 5 năm 2010, Phạm Quỳnh Thơ, tr.94-106), “Giao tiếp liên văn hóa trong dịch văn học: Trường hợp dịch thơ S Esenin ở Việt Nam” (số 5 năm 2015, Phạm Gia Lâm, tr.35-44), “Dịch, chiến tranh

và ký ức văn hóa: Tiếp cận thể loại tự thuật về đời sống bị cầm tù trong văn học Mỹ

từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII từ điểm nhìn dịch văn hóa” (số 7 năm

2015, Lê Nguyên Long, tr.137-153), “Dịch thuật và xuất bản như là sự viết lại tác

phẩm: về tiếp nhận tiểu thuyết Phế Đô của Giả Bình Ao tại Việt Nam” (số 5 năm

2017, Nguyễn Thị Diệu Linh, tr.26-39)11

11

Về các bài viết “Giao tiếp liên văn hóa trong dịch văn học: Trường hợp dịch thơ S Esenin ở Việt

Nam” và “Dịch thuật và xuất bản như là sự viết lại tác phẩm: về tiếp nhận tiểu thuyết Phế Đô của Giả Bình Ao tại Việt Nam”, chúng tôi sẽ thảo luận trong mục 1.2.3 (Tình hình nghiên cứu Phiên

dịch học văn học liên quan đến đề tài luận án tại Việt Nam và Hàn Quốc)

Trang 35

Ngoài Tạp chí Nghiên cứu Văn học ra, những tạp chí khác cũng có các bài

viết liên quan đến phiên dịch văn học như sau: “Vai trò của dịch thuật văn học trong

tiếp xúc văn hóa phương tây ở Nhật Bản” (số 3 năm 2007, Thông tin Khoa học xã hội, Nguyễn Tuấn Khanh, tr.35-41), “Thử nghiệm phân tích đánh giá bản dịch một truyện ngắn theo mô hình của Newmark” (số 7 năm 2009, Ngôn ngữ & Đời sống, Phạm Thị Thủy, tr.28-35), “Tương đương động giữa tác phẩm Wuthering Heights

và bản dịch tiếng Việt Đồi gió hú của Dương Tường” (số 11 năm 2014, Ngon ngữ & Đời sống, Triệu Thu Hằng, tr.56-59), “Vấn đề tương đương trong dịch thuật ngữ dân ca Quan họ Bắc Ninh” (tập 31, số 1 năm 2015, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Nước ngoài, Vương Thị Thanh Nhàn, tr.64-71), v.v…

Dù số lượng bài viết được công bố trên tạp chí khoa học vẫn còn khiêm tốn, nhưng gần đây ở Việt Nam, các sự kiện bao gồm cả hội thảo khoa học có chủ đề phiên dịch văn học bắt đầu được tổ chức một cách liên tục và tích cực, đặt nền

móng cho Phiên dịch học và nghiên cứu phiên dịch văn học ở Việt Nam Để biểu lộ

sự quan tâm đến phiên dịch và tạo ra không gian giao lưu giữa các dịch giả, ở Việt Nam đã có không ít sự kiện (hội thảo) khoa học Đặc biệt, Viện Dịch thuật văn học Hàn Quốc phối hợp với một số trường đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh liên tục tổ chức các hội thảo khoa học liên quan đến phiên dịch văn học như hội thảo “함께 읽는 베트남어역 한국문학” (Văn học Hàn Quốc đã được dịch sang tiếng Việt cùng nhau đọc) năm 2016 tại Hà Nội, hội thảo khoa học quốc tế “Dịch văn học cổ điển Hàn Quốc Ŕ Hiện trạng và tương lai” năm 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Hoa Sen cũng liên tục tổ chức những hội thảo khoa học liên quan đến phiên dịch và chuỗi tọa đàm nói chuyện với dịch giả12

Hơn nữa, dù không phải là công trình nghiên cứu khoa học nhưng trong thời gian qua đã xuất hiện một

số công trình liên quan đến phiên dịch, trong đó có Những con ngựa thồ (Văn học dịch – Dịch văn học) do dịch giả Thúy Toàn biên soạn, đưa ra một cái nhìn khái

quát về lịch sử dịch văn học ở Việt Nam và khoảng 50 phác thảo chân dung của

12

Thông tin chi tiết về các sự kiện và hội thảo khoa học này, tham khảo thêm phụ lục 1.2

Trang 36

dịch giả có công lao trong công việc dịch văn học nước ngoài sang tiếng Việt và dịch văn học Việt Nam sang các ngoại ngữ khác, cũng đã cho thấy sự quan tâm đến phiên dịch nói chung, phiên dịch văn học nói riêng, ngày càng tăng

Nếu không kể những kết quả nghiên cứu về quá trình tiếp nhận của một tác giả hoặc tác phẩm cụ thể và có nội dung liên quan tới phiên dịch đã được tiến hành với tư cách là một phần thành tựu sáng tác hoặc nghiên cứu của một nhân vật nào đó,

ví như Hemingway ở Việt Nam (Bùi Thị Kim Hạnh, 2002, luận án tiến sĩ, Đại học

Sư phạm Hà Nội), Vấn đề tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam (Phạm Thị Phương,

2002, luận án tiến sĩ Ngữ văn, Viện Khoa học Xã hội tại TP HCM), Hình tượng tác giả trong các công trình nghiên cứu, dịch thuật và sáng tác văn học của Trương Đăng Dung (Lê Thị Quế, 2013, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội), Khảo sát sự nghiệp dịch thuật và trước tác của Tùng Vân – Nguyễn Đôn Phục trên Nam phong tạp chí (Đỗ Thị Lan, 2014, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn Hà Nội), thì trong phạm vi điều tra của chúng tôi, hiện tại chỉ có ba luận

văn, luận án có đề tài liên quan đến phiên dịch văn học như: Vấn đề dịch thơ Đường

ở Việt Nam (luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) do Nguyễn Tuyết Hạnh viết đã được công bố vào năm 1996, Khảo sát các bản dịch thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh (luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn TP HCM) do Trương Nguyễn Ánh Nga viết đã được công

bố vào năm 2002 và Vai trò của văn học dịch đối với quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (luận án tiến sĩ Ngữ văn, Viện khoa

học xã hội Việt Nam) do Nguyễn Đình Vĩnh viết đã được công bố vào năm 2008 Thế nhưng, hai luận văn và luận án phía trước thì kết quả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu nhấn mạnh “tác phẩm (nguyên tác)” và “văn học sử” hơn là vấn đề “dịch

giả” và “độc giả của bản dịch” Ví dụ, trong luận án Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam, tác giả đã nhấn mạnh đến “cá tính và sở trường của dịch giả trong việc xử lý

nguyên tác” để “lưu ý người dịch về những nguyên tác phù hợp” (Nguyễn Tuyết Hạnh, 1996, tr.176), chứ không phải để lưu ý độc giả về những đặc trưng riêng biệt của mỗi bản dịch; còn đã đề xuất “cách dịch riêng và cụ thể cho thơ Đường theo

Trang 37

chiều hướng tiếp cận gần nhất với nguyên tác” để “cho người dịch không hiểu lệch

ý nguyên tác và cho người đọc có căn cứ tìm được bản dịch nào có sắc thái “Đường”

nhất” (Nguyễn Tuyết Hạnh, 1996, tr.176) thay vì khẳng định sự khác biệt giữa các

bản dịch và phân tích đặc trưng của các bản dịch ấy và cách dịch của chúng để cho

người đọc tự chọn bản dịch phù hợp với sở thích của mình Trong khi đó, luận án

Vai trò của văn học dịch đối với quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam giai

đoạn nửa đầu thế kỷ XX thì lại khảo sát sự ảnh hưởng của văn học dịch Trung Quốc

và văn học dịch phương Tây đến quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam giai

đoạn nửa đầu thế kỷ XX đến 1945 trong bối cảnh lịch sử Ŕ văn hóa Ŕ xã hội và mối

quan hệ giữa các nước Điểm mạnh của luận án này là tác giả đã xem xét sự ảnh

hưởng từ văn học dịch trên nhiều phương diện đề tài, thể loại, đặc trưng những

người tiếp nhận, v.v Đây là một thành tựu nghiên cứu từ quan điểm vĩ mô, cả

trong lĩnh vực văn học sử Việt Nam, lẫn trong lĩnh vực Phiên dịch học ở Việt Nam

Ngoài các công trình ở trên ra, còn có một số luận văn, luận án Ngôn ngữ học (đặc

biệt, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu) có đề tài phiên dịch, đã phân tích bản dịch

tiếng Việt dịch từ tác phẩm văn học nước ngoài như: Khảo cứu việc dịch trạng từ

tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Potter) (luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM) do Võ Tú Phương viết đã được công

bố vào năm 2011, v.v

So sánh với các nước khác, thời điểm mà Phiên dịch học đã được giới thiệu

lần đầu ở Việt Nam không thể nói là quá muộn, nhưng từ khi xuất hiện, ngành khoa

học này, đặc biệt là Phiên dịch văn học chưa được giới nghiên cứu Việt Nam quan

tâm thích đáng và do đó phát triển khá chậm Nói chung, khác với Phiên dịch học

nhìn từ góc độ Ngôn ngữ học tương đối phát triển hơn ở Việt Nam, Phiên dịch học

văn học ở Việt Nam lại đang phát triển với tốc độ chậm chạp trong khi thực tế đã

trải qua một khoảng thời gian khá dài kể từ sự ra đời của nó trên đất nước này

Trang 38

1.2.2 Tình hình nghiên cứu Phiên dịch học văn học tại Hàn Quốc

Khác với trường hợp Việt Nam, Hàn Quốc chỉ có một thuật ngữ là beon-yeok 번역(飜譯, phiên dịch) để chỉ Translation Vì vậy, hầu như tất cả mọi công trình nghiên cứu phiên dịch đều có từ khóa beon-yeok 번역 hoặc có từ beon-yeok

번역 trong tựa đề của nó Do đó, để lấy được thông tin về các công trình nghiên cứu

phiên dịch, chúng tôi đã tra cứu từ beon-yeok 번역 trên trang web của hai thư viện

lớn nhất ở Hàn Quốc như: Thư viện Quốc hội Hàn Quốc (National Assembly Library of Korea: www.nanet.go.kr) và Thư viện Quốc gia (Trung ương) Hàn Quốc (National Library of Korea: www.nl.go.kr) với hầu như tất cả mọi ấn phẩm và tư liệu đã được xuất bản ở Hàn Quốc

Vào thời điểm ngày 20 tháng 1 năm 2018, khi nhập từ khóa “beon-yeok 번역”

để tìm kiếm trên trang web Thư viện Quốc hội Hàn Quốc thì có cả thảy 22.168 tài liệu được hiển thị; trong đó, có 2.885 tài liệu là luận văn và luận án, còn 11.881 tài liệu là bài viết khoa học Mặt khác, trên trang web Thư viện Quốc gia (Trung ương)

Hàn Quốc cũng với cùng từ khóa là beon-yeok 번역, chúng tôi đã tìm kiếm tất cả

53.175 tài liệu; trong đó, có 1.599 tài liệu là luận văn và luận án, còn 11.173 tài liệu

là bài viết khoa học Trong số này, chúng tôi xin được khảo sát các luận văn, luận án

đã được công bố sau năm 2010 và các bài viết khoa học đã được công bố trên tạp

chí “beon-yeok-hak-yeon-gu 번역학연구” (Nghiên cứu Phiên dịch học) của Học

hội Phiên dịch Hàn Quốc (The Korean Association of Translation Studies, thành lập

năm 1999), tạp chí “tong-yeok-gwa beon-yeok 통역과 번역” (Thông dịch và Phiên dịch) của Học hội Thông dịch Phiên dịch Hàn Quốc (Korea Society of Interpretation, thành lập năm 1998) và tạp chí “tong-beon-yeok-hak-yeon-gu 통번역학연구” (Nghiên cứu Thông-Phiên dịch học) của Viện nghiên cứu Thông

dịch Phiên dịch, Trường đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc (Interpreting and Translation Research Institute, Hankuk University of Foreign Studies, thành lập năm 1997) là ba

tạp chí tiêu biểu liên quan đến Phiên dịch học để xem xét tình hình nghiên cứu

Trang 39

Phiên dịch học, đặc biệt Phiên dịch học văn học ở Hàn Quốc Lý do tại sao chúng

tôi chọn ba tạp chí này để khảo sát lịch sử vấn đề là vì chúng mang tính chất bao quát nhiều chủ thể nghiên cứu và bao gồm nhiều bài viết khoa học có chủ đề đa dạng liên quan đến phiên dịch

Lĩnh vực Phiên dịch học ở Hàn Quốc đã bắt đầu phát triển từ những năm

1990, và các luận văn, luận án bắt đầu được công bố một cách nghiêm túc vào khoảng năm 2005; đặc biệt, khoảng 120 luận văn, luận án về “phiên dịch văn học”

đã được công bố từ năm 2005 đến nay Đa số các luận văn, luận án được công bố vào đầu những năm 2000 có chủ đề phương pháp phiên dịch thông qua cách phân tích ngôn ngữ học Số lượng công bố cũng chỉ là khoảng 5 công trình mỗi năm Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2009, số lượng luận văn, luận án về phiên dịch văn học đã tăng gấp đôi, mỗi năm khoảng 10 công trình được công bố Trong số 1.145 luận văn, luận án liên quan đến “phiên dịch” đã được công bố ở Hàn Quốc từ năm 2010 đến thời điểm ngày 20 tháng 1 năm 2018, đã có khoảng 90 luận văn, luận án về “phiên dịch văn học” Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các đề tài của luận văn, luận án cũng đã trở nên đa dạng hơn trước; trong khi các đề tài trước như phân tích văn bản, phương pháp phiên dịch và phân tích ngộ nhận, v.v… dù được giảm dần nhưng vẫn đang được nghiên cứu, các đề tài mới mẻ như nghiên cứu dịch giả, quá trình phiên dịch, bối cảnh phiên dịch, tình hình viết lại, yếu tố văn hóa, tiếp nhận của độc giả và đánh giá phiên dịch, v.v… cũng đã xuất hiện13 Các đề tài mới này liên quan đến phiên dịch văn học, được gọi là “bước chuyển văn hóa”, “bước chuyển xã hội”, cùng được dựa trên tiền đề là văn bản nguồn và văn bản đích không thể nào hoàn toàn giống nhau Đây là quan niệm trái với quan niệm trước, muốn tìm kiếm phương pháp để dịch gần sát với văn bản nguồn đến mức tối đa, cho thấy cách nhìn phiên dịch văn học đang thay đổi Bên cạnh đó, các đề tài của luận văn, luận án liên quan đến phiên dịch văn học thiếu nhi đang được công bố đều đặn gần như mỗi năm thì đa số là chiến lược phiên dịch hoặc phương pháp phiên dịch lấy độc giả của văn

13

Thông tin chi tiết về danh sách luận văn, luận án tiêu biểu của Hàn Quốc theo các chủ đề sau năm 2009, tham khảo thêm phụ lục 1.3

Trang 40

bản đích làm trung tâm, dưới sự áp dụng các lý thuyết như lý thuyết Skopos, v.v…14 Chúng tôi cho rằng, do đặc trưng của văn học thiếu nhi là lấy những trẻ em có khả năng nhận thức vẫn còn chưa phát triển làm độc giả chính của mình, nghiên cứu phiên dịch văn học thiếu nhi chủ yếu tập trung đề tài vào “sự hiểu biết của độc giả” Trước đây, các luận văn, luận án về phiên dịch văn học thường được công bố trong khuôn khổ chương trình đào tạo sau đại học của khoa văn học nước ngoài thuộc các trường đại học, nhưng gần đây thì tỷ lệ công bố trong khuôn khổ bậc sau đại học về thông dịch và phiên dịch mới được thành lập ở một số trường đại học đang tăng dần lên15 Ngôn ngữ thường được nghiên cứu là tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, v.v… Theo điều tra của chúng tôi, trong số khoảng 90 luận văn, luận án liên quan đến phiên dịch văn học đã được công bố kể

từ sau năm 2010, tỷ lệ 36,5% là bài về văn học Trung Quốc, 30,15% là bài về văn học Anh Mỹ, 12,7% là văn học Nhật Bản và 4,76% là văn học Pháp Đây không chỉ

là do ảnh hưởng từ những khoa văn học và ngôn ngữ nước ngoài của các trường đại học và trường sau đại học ở Hàn Quốc, mà còn là do ảnh hưởng từ tỷ lệ văn học nước ngoài đã và đang được dịch trong thị trường sách ở Hàn Quốc

Về những bài viết khoa học thì có nhiều bài với đề tài tự do hơn trong những lĩnh vực đa dạng hơn so với các luận văn, luận án đã được công bố cho đến nay16

Xu hướng nghiên cứu cơ bản cũng tương tự như trường hợp luận văn, luận án Ban đầu, trước năm 2010, chủ yếu có những bài nghiên cứu từ quan điểm ngôn ngữ hoặc phân tích đối chiếu văn bản; hơn nữa, một số lượng đáng kể nghiên cứu liên quan

16

Theo kết quả chúng tôi đã xem xét các tạp chí khoa học của ba học hội ở trên, khoảng 20-30% của tổng số bài viết là bài viết có đề tài “thông dịch” Nhưng trong luận án này, chúng tôi xin được tập trung khảo sát các vấn đề liên quan đến “phiên dịch”, còn đề tài “thông dịch” thì để dành cho các công trình sau

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w