Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm đào tạo nên những con người phát triển toàn diện - lực lượng nòng cốt kế thừa xứng
Trang 1-PHẠM ĐÌNH HUẤN
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 2-PHẠM ĐÌNH HUẤN
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ngành: CNDVBC & CNDVLS
Trang 3Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của người thân, gia đình, bạn bè, thầy cô và đồng nghiệp
Trước hết tôi xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, nơi tôi đã học tập từ cử nhân, thạc sĩ, nghiên cứu sinh; nơi đã giáo dục, đào tạo, trang bị cho tôi tri thức để công tác và nghiên cứu khoa học ngày hôm nay
Tôi xin cảm ơn sâu sắc đến TS.Trần Chí Mỹ và TS.Vũ Ngọc Miến đã tận tâm hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện luận án này
Tôi xin cảm ơn chân thành đến quý thầy cô các Phòng, Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh; Thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; các tác giả của các công trình đã công bố mà tôi kế thừa, tham khảo giúp tôi hoàn thành luận án của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, cơ quan công tác, đồng nghiệp, bạn
bè lời cảm ơn sâu sắc đã luôn tạo điều kiện, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện luận án này
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả
PHẠM ĐÌNH HUẤN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS.Trần Chí Mỹ và TS.Vũ Ngọc Miến Các tài liệu,
số liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả
PHẠM ĐÌNH HUẤN
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 QUAN ĐIỂM VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 21
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN VÀ HỘI NHẬP
1.1.1 Quan điểm về đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam 21 1.1.2 Quan điểm về hội nhập quốc tế và đặc điểm của hội nhập quốc tế ở Việt Nam 38
1.2 SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 511.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam 51 1.2.2 Sự tác động của hội nhập quốc tế đối với xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam 57
Kết luận chương 1 67 Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 69 2.1 ĐẶC ĐIỂM HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 692.1.1 Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh và đặc điểm hội nhập quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh 69 2.1.2 Khái quát về sinh viên và đặc điểm đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh 81
2.2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ
Trang 6sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế 93 2.2.2 Những hạn chế chủ yếu của việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế 116
Kết luận chương 2 131 Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 134 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1343.1.1 Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm đào tạo nên những con người phát triển toàn diện - lực lượng nòng cốt kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng
ở thành phố Hồ Chí Minh 134 3.1.2 Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế trên cơ sở kết hợp truyền thống và hiện đại, đặc biệt phải giáo dục và phát huy sâu rộng giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam 137 3.1.3 Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh 141
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 145
Trang 7Minh trong quá trình hội nhập quốc tế 146
3.2.2 Đảng bộ, chính quyền và các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh quan tâm hoàn thiện các chủ trương, chính sách và các giải pháp trong việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố trong quá trình hội nhập quốc tế 152
3.2.3 Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh phát huy tính tích cực, sáng tạo, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục rèn luyện nhằm xây dựng đời sống tinh thần tốt đẹp cho sinh viên ở Thành phố trong quá trình hội nhập quốc tế 162
3.2.4 Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người sinh viên trong xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế 172
Kết luận chương 3 176
KẾT LUẬN CHUNG 178
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 183
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 195 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là vốn quý nhất của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển của mỗi quốc gia Trong chiến lược phát triển nhân
tố con người Việt Nam - động lực cho sự phát triển của đất nước, thanh niên, trong đó có sinh viên giữ vị trí quan trọng, điều này không chỉ thể hiện về số lượng thanh niên, sinh viên chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động, mà thanh niên, sinh viên là lực lượng có năng lực, phẩm chất, là nguồn nhân lực chất lượng cao phục cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đánh giá cao vai trò của thanh niên, sinh viên đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thư gửi Đại hội quốc tế sinh viên xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen đã viết "Các bạn hãy
cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên" (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1993a, tr.613) V.I.Lênin khi nghiên cứu về vai trò của thanh niên, ông đã tập trung nghiên cứu thanh niên, sinh viên như một bộ phận hợp thành của tầng lớp tri thức, là lực lượng đi đầu trong việc ứng dụng những thành tựu của khoa học
kỹ thuật vào sản xuất "Việc điện khí hóa không thể do những người mù chữ thực hiện được, mà chỉ biết chữ không thôi thì chưa đủ điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại" (V.I.Lênin, 2005, tr.364, 365) Trên cơ sở nhận thức vai trò quan trọng của thanh niên, sinh viên đối với tương lai của đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định "Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.194) và cũng theo người, đối với sự tồn vong, thịnh suy của một đất nước cũng phụ thuộc vào sự phát triển, trưởng thành của thanh niên, sinh viên "Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thành niên" (Hồ Chí Minh, 2000b, tr.185) Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên nói chung và sinh viên nói
Trang 9riêng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong Nghị quyết hội nghị
lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá X, ngày 25/7/2008 Về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xác định "Thanh niên là lực lượng xã hội to
lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc
đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo" Trong bản Di chúc, Hồ Chí
Minh từng căn dặn, đối với đoàn viên và thanh niên, Đảng cần phải "Chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên"" (Hồ Chí Minh, 2000f, tr.504) Do đó, việc giáo dục, rèn luyện thanh niên, sinh viên có tầm quan trọng và to lớn, sinh viên Việt Nam cần được xây dựng toàn diện về mọi mặt, trong đó xây dựng đời sống tinh thần có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp đối với sự phát triển toàn diện của sinh viên Việt Nam
Trong quá trình hội nhập quốc tế, sinh viên Việt Nam là lực lượng có vai trò quan trọng đặc biệt, là “bộ phận thanh niên ưu tú, có tri thức, sáng tạo, sống có ước mơ, hoài bão, có lý tưởng; là lực lượng quan trọng, giữ vai trò kế thừa, phát huy những thành quả cách mạng của Đảng, của dân tộc” (Hội Sinh viên Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, 2018b, tr.53) Để thực hiện nhiệm vụ đó cần phải xây dựng lực lượng sinh viên phát triển toàn diện
về mọi mặt, trong đó xây dựng đời sống tinh thần có ý nghĩa thiết thực đối với phát triển toàn diện của người sinh viên Bởi vì, sinh viên là người chủ nhân tương lai, đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Do đó, việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên là một trong những yếu tố quyết định đối với nhiệm vụ đào tạo, phát triển thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần phát triển bền vững đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế có sự tác động
đến đời sống tinh thần của sinh viên, một mặt đem lại cho sinh viên Việt
Trang 10Nam những cơ hội phát huy năng lực, sự năng động, sáng tạo; có điều kiện thích ứng nhanh, nắm bắt những thành tự khoa học - công nghệ hiện đại; tạo điều kiện cho sinh viên đón nhận những luồng văn hóa từ mọi nơi du nhập vào Việt Nam, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ trong đời sống tinh thần của nhân dân và sinh viên các nước trên thế giới, để nâng cao, làm phong phú hơn,
làm giàu có hơn, cao đẹp hơn đời sống tinh thần của mình Mặt khác, quá
trình hội nhập quốc tế đặt ra những thách thức, tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của sinh viên như: tư tưởng coi trọng bằng cấp, chưa chú trọng nhiều đến thực học, giải quyết vấn đề, khả năng ngoại ngữ chưa cao sẽ
là lực cản đối với sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế; lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, sùng ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế có điều kiện sinh sôi nẩy nở trong đời sống sinh viên, góp phần làm băng hoại những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau, có chế độ chính trị khác nhau cũng góp phần làm cho một bộ phận sinh viên kém bản lĩnh, thiếu tự tin rơi vào trạng thái giảm sút niềm tin, lý tưởng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; các thế lực thù địch cũng lợi dụng hội nhập quốc tế thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình mà đối tượng chúng thường nhắm đến là sinh viên để chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc, v.v Tất cả những điều đó đã và đang tác động đến đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam, tình hình đó nếu không được ngăn chặn kịp thời thì hậu quả sẽ ảnh hưởng xấu đến tương lai của thanh niên, mà “tương lai của thanh niên, tức là tương lai của nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.102) Chính vì vậy, Chỉ thị
số 42 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 24/3/2015 xác định:
Xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng lao động, trở thành những
Trang 11công dân tốt, tích cực tham gia đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, có
vị trí quan trọng trong cả nước Với những đặc điểm đặc sắc về lịch sử, văn hóa, con người, đó là nơi sớm tiếp xúc với nền công nghiệp có kỹ thuật hiện đại phương Tây, với nguồn lao động dồi dào, tư duy năng động, sáng tạo, nhanh nhạy với thực tiễn, thành phố Hồ Chí Minh sớm trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, "đóng góp 21% GDP cả nước, đóng góp 27% tổng thu ngân sách nhà nước, đứng đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chiếm 29,5% cả nước" (Tổng cục Thống kê, 2019, tr.270) Trong quá trình hội nhập quốc tế, với quyết tâm và
nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức Đoàn, Hội, Doanh nghiệp, gia đình và bản thân sinh viên, công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến tích cực Phần lớn sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh
có tinh thần yêu nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tin vào sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, năng động, sáng tạo, xung kích trong các hoạt động phong trào, tích cực trong học tập và nghiên cứu khoa học, có lối sống lành mạnh, v.v , góp phần tích cực vào sự nghiệp hội nhập và phát triển của Thành phố Tuy nhiên, việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh còn những hạn chế như: trình độ, phẩm chất, năng lực của một bộ phận sinh viên chưa theo kịp yêu cầu mới đặt ra của quá trình hội nhập quốc tế ở Thành phố; một bộ phận sinh viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống; sùng ngoại, xem nhẹ các giá trị truyền thống dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, thậm chí vi phạm pháp luật, sa vào các
tệ nạn xã hội, còn thụ động trong học tập, nghiên cứu khoa học, v.v ,
Trang 12những hiện tượng đó đã tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của sinh viên nói riêng, đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Thành phố nói chung Những hạn chế trên đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố
Hồ Chí Minh (2015) nhận định:
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và cơ chế, phương thức quản lý chưa đủ mạnh để tăng sức đề kháng chống lại sự xâm lăng văn hóa; chưa đẩy lùi được sản phẩm phi văn hóa, độc hại diễn biến phức tạp, đang tấn công vào đạo đức, lối sống xã hội, nhất là thanh – thiếu niên (tr.23) Tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy, công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước nhiều yêu cầu, thách thức và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế Chính vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế, từ đó phân tích, đánh giá chỉ ra những thành tựu và hạn chế Trên cơ sở đó xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế là hết sức cần thiết
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Xây dựng đời sống tinh thần
của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế” để
nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vấn đề xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức toàn diện hơn, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức chính trị - xã hội, với nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát các công trình nghiên cứu trên thành các nhóm đề tài liên quan đến luận án như sau:
Trang 13Nhóm các công trình nghiên cứu những quan điểm về xây dựng đời sống tinh thần Liên quan đến chủ đề này, có thể kể đến các nhóm công trình
của tác giả:
Ở nước ngoài: Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, ở Liên Xô (cũ), có nhiều
công trình nghiên cứu về văn hóa tinh thần của các nhà khoa học mácxít đã
được công bố, tiêu biểu: Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin, do A.I.Acnônđốp (chủ biên), Nxb Maxcơva, 1976; Lối sống xã hội chủ nghĩa, nhiều tác giả, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982; Giáo dục người công dân,
A.S.Makarenkô, Nxb Giáo dục, 1984; v.v… Trong các công trình này, các tác giả tập trung phân tích những vấn đề lý luận về văn hóa tinh thần của xã hội nói chung, của xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng; bản chất và những tính quy luật cơ bản của nó, qua đó xác định và thuyết giải những nguyên tắc mácxít trong nhận thức và xử lý vấn đề văn hóa tinh thần trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Cuối của thế kỷ XX, sự khủng hoảng về mô hình phát triển của các nước phương Tây mà chủ yếu là sự phát triển mất cân đối giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, coi trọng yếu tố kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xem nhẹ yếu tố con người, yếu tố văn hóa dẫn đến những hệ quả xã hội xấu, cản trở, thậm chí phá hoại những nỗ lực phát triển ở các quốc gia này Trong bối cảnh đó, nhiều công trình nghiên cứu đã xuất hiện như là sự phản ứng về mặt tư tưởng trước thực trạng phát triển ở phương Tây được mô tả
là “Trong các nền văn minh gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hóa, trí não, đạo đức và tình người” (Richard Bergeron, 1995, tr.338) Theo khuynh hướng nghiên cứu này, có
những công trình: Phản phát triển cái giá của chủ nghĩa tự do của Richard Bergeron, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Tạo dựng một nền văn
minh mới: chính trị của làn sóng thứ ba của Alvin Toffler và Heidi Toffler,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Sự va chạm của các nền văn minh
Trang 14của Samuel Hungtington, Nxb Lao động, 2003; v.v… Kết quả nghiên cứu của những công trình đó đã thức tỉnh giới khoa học và giới lãnh đạo, quản lý
ở các quốc gia trên thế giới trong việc xác định quan điểm vì mục tiêu phát triển đất nước trong thời đại mới – thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế,
sự phát triển đột phá của khoa học và công nghệ, rằng: trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào, hoặc xu hướng chính trị và văn hóa nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau, phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội
Ở Trung Quốc, từ thời kỳ đất nước này thực hiện cải cách mở cửa đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng nền văn minh tinh thần xã
hội chủ nghĩa ở quốc gia đông dân nhất thế giới này, như: Cải cách thể chế
văn hóa gồm 2 tập, do Khang Thức Chiêu làm chủ biên, Nxb.Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996; Đề cương học tập lý luận của đồng chí Đặng Tiểu Bình
về xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, do Ban Tuyên
truyền thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc biên soạn, (Trần
Khang dịch), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Một số vấn đề trước
mắt của chủ nghĩa xã hội đương đại do Ban Nghiên cứu - giảng dạy chủ
nghĩa xã hội trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc biên soạn năm 1998, xuất bản ở Bắc Kinh, Viện Thông tin khoa học – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dịch và ấn hành năm 2000 Những kết quả nghiên cứu của giới khoa học và lãnh đạo Trung Quốc về văn minh tinh thần và xây dựng nền văn minh tinh thần đều rất đáng được tham khảo trong nhận thức
và xử lý đời sống văn hóa tinh thần trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc
tế ở nước ta hiện nay
Ở Việt Nam: Cuốn sách Đời sống tinh thần của cá nhân: Khái niệm và nguyên tắc nghiên cứu, của tác giả Vi Quang Thọ, Nxb Khoa học xã hội,
1998 Tác giả đã trình bày quan điểm về đời sống tinh thần của cá nhân, những nguyên tắc nghiên cứu đời sống tinh thần của cá nhân cùng các khía
Trang 15cạnh liên quan đến đời sống tinh thần của cá nhân, từ đó tác giả phân tích những yếu tố cơ bản của đời sống tinh thần của con người với tư cách là chủ thể của hoạt động sáng tạo tinh thần, góp phần dự báo xu hướng phát triển tương lai và xác định các nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục, tự giáo dục, tự hoàn thiện về mặt đạo đức, nhân cách của cá nhân
Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, GS.Trần Văn Giàu,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 là những công trình khoa học lớn, nghiên cứu một cách công phu, kỹ lưỡng về đời sống tinh thần của con người
và dân tộc Việt Nam với những căn cứ lý luận khoa học vững chắc, những cứ liệu lịch sử xác thực, các tác giả đã xác định và luận giải một cách thuyết phục
về hệ giá trị tinh thần truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, bao gồm các giá trị tiêu biểu như: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, tình nghĩa, v.v… Hệ giá trị tinh thần cao đẹp là những nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc Việt Nam trường tồn, lớn mạnh và chiến thắng Tiếp tục trong hướng nghiên cứu này, đó là: Luận án Tiến sĩ Triết học
về Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của xã hội
Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của tác giả Trần Khắc
Việt, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, năm 1992 Tác giả đã luận giải về khái niệm đời sống tinh thần và phân biệt đời sống tinh thần của xã hội với ý thức xã hội, đời sống văn hóa tinh thần, đồng thời tác giả coi đời sống tinh thần là một hệ thống bao gồm các khâu: sản xuất – nhu cầu – trao đổi - tiêu dùng tinh thần diễn ra các lĩnh vực của đời sống tinh thần như: đời sống tư tưởng, hoạt động khoa học, nghệ thuật, giáo dục và đào tạo, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Từ đó tác giả khảo sát thực trạng, đưa ra những giải pháp và kiến nghị xây dựng đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Như vậy, có thể nói các công trình trên đây đã phản ánh bức tranh tương đối đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về vấn đề xây dựng đời sống
Trang 16tinh thần trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng Đây là nguồn tư liệu quý, giúp tác giả trong việc luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận chung về việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Về chủ đề này, có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật của các tác giả như: Cuốn sách
Bản lĩnh chính trị thanh niên sinh viên ngày nay của Dương Tự Đàm, Nxb
Thanh niên, 2007 Tác giả đã nghiên cứu trong số 20 giá trị chung có tính phổ biến được mọi tầng lớp người Việt Nam lựa chọn, thì sinh viên quan tâm nhiều đến: việc làm và lập nghiệp; học vấn rộng; tình yêu và xây dựng gia đình hạnh phúc; lối sống văn hóa và nếp sống văn minh; bản lĩnh cá nhân, đây là những lựa chọn phù hợp với bối cảnh nền kinh tế đang chuyển sang
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, những hệ giá trị
mà sinh viên lựa chọn có những hạn chế như: sinh viên ít quan tâm hoặc xem nhẹ những giá trị đạo đức, lối sống, trách nhiệm công dân Từ đó tác giả đưa những kiến nghị, giải pháp xây dựng bản lĩnh chính trị, khoa học của thanh niên sinh viên
Cuốn sách Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam
hiện nay, Trần Thị Anh Đào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Công
trình đã phân tích vai trò, các yếu tố của giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên, từ đó khảo sát thực trạng, đưa ra những kiến nghị và giải pháp về công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên
Hội thảo khoa học Giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường cao
đẳng, đại học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh –
Viện Nghiên cứu giáo dục tổ chức và biên soạn, năm 2012 Công trình là tập hợp 60 bài viết tham gia hội thảo của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, nhà nghiên cứu Các tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức
Trang 17trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam; thực trạng giáo dục đạo đức trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam và đưa ra những giải pháp, đặc biệt là chia sẻ kinh nghiệm giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ở thành phố Hồ Chí Minh từ kinh nghiệm một số trường trên thế giới
Cuốn sách Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay, Lương Gia Ban và Hoàng Trang, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Các tác giả đã phân tích, làm rõ những nội dung và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh; sự cần thiết phải giáo dục chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay và những phương hướng, giải pháp của việc giáo dục đó
Cuốn sách Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay của Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt
(Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Các tác giả luận giải về vai trò giá trị truyền thống dân tộc trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam, từ đó các tác giả khảo sát thực trạng, đưa ra những phương hướng
và giải pháp để phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam
Cuốn sách Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay của Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt
(Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Tác giả đã trình bày vai trò, nội dung của giáo dục đạo đức mới cho sinh trong điều kiện nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam Từ đó các tác giả đã khảo sát thực trạng và vấn đề đặt ra trong giáo dục đạo đức cho sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong
quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, của Phạm Hồng Tung Nxb Chính
Trang 18trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 Trong cuốn sách tác giả trình bày về tình hình thanh niên Việt Nam, xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và những giải pháp xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam Tuy tác giả không trình bày trực tiếp về sinh viên Việt Nam nhưng trong quá trình phân tích, tác giả có bàn đến sinh viên Việt Nam
Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, Phạm Duy Đức (chủ biên), Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện
Văn hóa, Hà Nội, 2006; Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và
hội nhập quốc tế, Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Chí Bền,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Tác động của toàn cầu hóa đối với
sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam, Dương Phú Hiệp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong những cuốn sách này, ở những mức độ khác nhau, các tác giả đề cập và luận giải về mặt lý luận những vấn đề: Thứ nhất, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và những tác động, những thách thức từ các quá trình đó đối với đời sống tinh thần của con người và xã hội Việt Nam, rằng quá trình đó tất yếu có tác động tích cực và tiêu cực, có cả cơ hội
và thách thức đối với sự phát triển và tiến bộ về tinh thần, văn hóa của con người và xã hội Việt Nam Nhận thức rõ các tác động, các cơ hội và thách thức đó là rất quan trọng và rất cần thiết để có thể chủ động, tự giác trong xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam một cách có hiệu quả cao nhất Thứ hai, đó là vấn đề thái độ ứng xử của con người và xã hội Việt Nam trong hội nhập văn hóa thế giới Trong vấn đề này, quan điểm của các tác giả là đối thoại văn hóa trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, tích cực và chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc và đồng thời với hai quá trình đó là tạo ra những giá trị mới, trong
Trang 19đó giá trị tinh thần làm nền tảng và động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Liên quan đến chủ đề này còn có các luận án: Giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nguyễn Thị Thanh Hà, Luận án Tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014 Tác giả đã luận giải về khái niệm lối sống; về các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và vai trò của các giá trị đó trong xây dựng lối sống cho sinh viên trong điều kiện toàn cầu hiện nay; đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho sinh
viên thời đại toàn cầu hóa Luận án Tiến sĩ Triết học Nghệ thuật với vấn đề
giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay, Đặng Thị Minh
Tuấn, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học Xã hội, năm 2018 Tác giả đã luận giải về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ; khảo sát thực trạng của nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay, từ đó tác giải trình bày những giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm
mỹ cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, các bài viết đăng trên tạp chí như Võ Minh Tuấn Tác động
toàn cầu hóa đến đạo đức sinh viên hiện nay đăng trên Tạp chí Triết học, số
4 (155), tháng 4 – 2004 Tác giả cho rằng sự tác động của cái tôi cao hơn đạo đức của sinh viên biểu hiện trên hai mặt tích cực và tiêu cực
Như vậy, các công trình đã đề cập khá toàn diện đến xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó tập trung phân tích các khía cạnh đạo đức, lối sống, nghệ thuật, truyền thống dân tộc, chính trị - tư tưởng trong đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam và phân tích những tác động tích cực, tiêu cực hội nhập quốc
tế, toàn cầu hóa đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam nói chung,
Trang 20sinh viên Việt Nam nói riêng từ đó đề ra những giải pháp nhằm xây dựng đời sống tinh thần của con người Việt Nam nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng ngày càng cao đẹp hơn Đây là nguồn tài liệu quý, giúp tác giả luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận chung, khảo sát thực trạng và đề ra những giải pháp xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế, chủ
đề này có các công trình của các tác giả như sau:
Cuốn sách Chúng ta đã đứng dậy – Truyền thống phong trào sinh viên,
học sinh Sài Gòn – Gia Định 1954 – 1975, tập 2: 1969 – 1975, do Ban
thường vụ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh – Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Thành Đoàn biên soạn, Nxb Trẻ, 2014 Cuốn sách trình bày về: tình hình, diễn biến phong trào; những sự kiện nổi bật; chung ngọn lửa phong trào; bút ký phong trào; phần kết thúc Cuốn sách đã góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho sinh viên Thành phố, giúp sinh viên hiểu biết sâu sắc về truyền thống cách mạng,
lý tưởng cách mạng và con đường đấu tranh một thời của tuổi trẻ Thành phố
Cuốn sách Một số vấn đề về văn hóa văn nghệ hiện nay của Thành phố
chúng ta của Võ Văn Kiệt, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1981
Đây là tập hợp các bài phát biểu của tác giả về văn hóa văn nghệ ở thành phố
Hồ Chí Minh, đã làm sáng tỏ nhận thức về văn hóa văn nghệ, đồng thời không chấp nhận bất cứ cái gì xa lạ với văn hóa dân tộc, với cách mạng, tác giả đã chỉ ra những lệch lạc nghiêm trọng trong phong trào văn hóa văn nghệ đặc biệt là những ca khúc của giới trẻ và cần phải có những biện pháp đi sâu, chăm sóc phong trào văn nghệ quần chúng
Công trình Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1985, của Bí thư Thành ủy đương thời, có thể coi là cuốn sách tiêu biểu cho
Trang 21sự nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử 10 năm sau ngày Thành phố được giải phóng Về phương diện đời sống tinh thần tác giả đã vạch ra và biện chứng một cách thuyết phục về những giá trị tinh thần đặc trưng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: có tác phong công nghiệp, kỷ luật, sáng tạo, sống phóng khoáng, trọng nghĩa tình Ở phương diện này, có thể nói nội dung của cuốn sách góp phần làm cho người dân Thành phố hiểu rõ mình là ai và đồng bào cả nước, bạn bè bên ngoài hiểu thế nào là con người thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn sách Về công tác tư tưởng và văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
của Nguyễn Văn Linh, Nxb, Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013 Đây là tập hợp những bài viết của đồng chí Nguyễn Văn Linh liên quan đến công tác tư tưởng, văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tầm quan trọng, nhiệm vụ, vai trò của việc rèn luyện đạo đức, lối sống, giữ vững lý tưởng cách mạng, công tác văn hóa, văn nghệ trong việc xây dựng con người mới
xã hội chủ nghĩa ở Thành phố này
Cuốn sách Cẩm nang những kỹ năng thực hành xã hội cần thiết cho sinh
viên, Nxb Trẻ, 2010, của nhiều tác giả viết nhân Đại hội Hội Sinh viên Việt
Nam thành phố Hồ Chí Minh lần IV (2010 – 2015) Ban tổ chức đã biên soạn cuốn sách này với những nội dung thiết thực, hữu ích cho sinh viên Thành phố bên cạnh những kiến thức chuyên môn đã được đào tạo trong nhà trường
Cuốn sách Giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh hội nhập các
nền giáo dục tiên tiến, Trần Công Minh, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010
Cuốn sách là tập hợp các bài viết của tác giả, được sắp xếp gồm ba phần theo các chủ đề: các bài viết đề cập đến xây dựng nền giáo dục tiên tiến; đổi mới
tư duy và những bước đi hội nhập; hội nhập, tác giả giới thiệu một số nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, những nơi mà tác giả đã đến thăm và làm việc, từ đó thành phố Hồ Chí Minh có thể tham khảo, học hỏi để xây dựng nền giáo dục tiên tiến
Trang 22Cuốn sách Xây dựng lối sống văn hóa của thanh niên thành phố Hồ
Chí Minh, Đặng Quang Thành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
2005 Tác giả đã luận về lối sống có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh; những yếu tố tác động đến lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường xây dựng lối sống
có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh Trong thanh niên thành phố Hồ Chí Minh mà tác giả nghiên cứu có đề cập đến sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn sách Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn
Thị Hậu (chủ biên), Nxb Văn hóa - Văn nghệ, năm 2013 Cuốn sách là tập các bài viết của các tác giả bàn về giới trẻ ở Thành phố với việc sử dụng mạng xã hội và có những bài viết nghiên cứu về việc sử dụng mạng xã hội của sinh viên Thành phố
Hội thảo Thành phố Hồ Chí Minh - 40 năm xây dựng, phát triển và hội
nhập do Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2015, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2015, có nhiều báo cáo tham luận đề cập đến hội nhập quốc tế, đến đời sống tinh thần và xây dựng đời sống tinh thần của nhân dân Thành phố, trong đó có đời sống tinh thần của sinh viên Nổi bật trong đó có thể kể đến
các báo cáo tham luận sau: thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay, tác giả Huỳnh Tấn Sang; Kết hợp hài hòa giữa giá trị vật chất và văn hóa để phát triển bền vững, tác giả Nguyễn
Thành Tài; Văn hóa văn nghệ, báo chí, xuất bản thành phố Hồ Chí Minh 40
năm xây dựng và phát triển, tác giả Nguyễn Thế Kỷ; Thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ, tác giả Hứa Ngọc Thuận; Sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ khía cạnh văn hóa, tác giả Ngô Văn Lệ; Giải pháp nâng cao hiệu
Trang 23quả hoạt động nghiên cứu khoa học góp phần đẩy mạnh chất lượng giáo dục đào tạo trong sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, tác giả Lê Hoàng Việt Lâm; Một vài suy ngẫm về công tác xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thành phố từ việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, tác giả Nguyễn
Thị Thu Lài; Dấu son 40 năm phong trào Thanh niên thành phố mang tên
Bác Hồ kính yêu, tác giả Ban Bí thư Trung ương Đoàn; v.v…
Cũng trong chủ đề này có công trình Những vấn đề lối sống và tư duy
của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay” do Doãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2013 Công trình nghiên cứu về lối sống và tư duy – một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống tinh thần của người Việt ở vùng Đông Nam Bộ trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, một địa bàn tiêu biểu của vùng Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích, làm rõ những nhân tố tác động đối vối tư duy và lối sống, thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của cộng đồng người Việt ở Đông Nam Bộ trong đó có tầng lớp sinh viên, học sinh của thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất và luận giải một số phương hướng, giải pháp phát triển tư duy và hoàn thiện lối sống của cư dân vùng này trong quá trình hội nhập quốc tế
Liên quan đến chủ đề này còn có các luận án, luận văn, tạp chí: Xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Trần Chí Mỹ, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2002 Tác giả đã luận giải về các khái niệm văn hóa, văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa tinh thần theo các khâu, các lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh thần từ nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng trên các lĩnh vực cơ bản: tư tưởng, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, v.v…
Từ đó tác giả khảo sát thực trạng, đưa ra những kiến nghị và giải pháp xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh; phân tích về mặt
Trang 24tâm lý học lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Nguyễn Ánh Hồng, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, năm 2002 Tác giả đã phân tích lối của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề xuất những giải pháp về xây dựng lối sống của
sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Lối sống của
sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Dương Thị Cẩm Lệ, Luận văn
thạc sĩ chủ nghĩa xã hội khoa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014 Luận văn này, tác giả trình bày quan niệm về lối sống và vai trò của nó đối với việc hình thành nhân cách của sinh viên; phân tích thực trạng xu hướng biến đổi lối sống của sinh viên Thành phố và đề xuất một số phương hướng và giải pháp xây dựng
lối sống của sinh viên ở Thành phố này; Chiến lược diễn biến hòa bình
chống Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của Bùi Thị Hường, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Tác giả đã trình bày về chiến lược diễn biến hòa bình; phương thức tác động của chiến lược diễn biến hòa bình đối với sinh viên thành phố Hồ Chí Minh; ảnh hưởng của chiến lược diễn biến hòa bình đối với sinh viên Thành phố trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống Trên cơ sở phân tích thực trạng những trường hợp sinh viên bị tác động, lôi kéo tham gia các hoạt động diễn biến hòa bình ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp khắc phục, ngăn chặn ảnh hưởng của diễn biến hòa bình
đối với sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Huỳng Văn Sơn, thực
trạng lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn trong lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, đăng trên Tạp chí Tâm lý học, số 5 (122),
thánh 5 - 2009 Tác giả đã trình bày thực trạng về sự lựa chọn các giá trị đạo đức trong lối sống của sinh viên Thành phố và đề xuất những giải pháp để xây dựng lối sống của sinh viên Thành phố trên lĩnh vực đạo đức
Trang 25Các công trình nêu trên đều có đề cập và phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về văn hóa, tư tưởng, tinh thần của con người ở Thành phố nói chung, sinh viên ở Thành phố nói riêng Một số công trình đã phân tích thực trạng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trên một số lĩnh vực đạo đức, lối sống, tư tưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở những lĩnh vực này Tuy nhiên các công trình nêu trên chưa thực sự đi sâu phân tích chỉ ra ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời cũng chưa có những đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế như là một đề tài chuyên sâu Trên cơ sở kế thừa thành quả những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, tác giả luận án cố gắng đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế có tính chuyên sâu và hệ thống hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Luận án phân tích, chỉ ra thực trạng xây dựng
đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế; trên cơ sở đó, xác định những phương hướng cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung
giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày, làm rõ những quan điểm về xây dựng đời sống tinh
thần của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Trang 26Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng xây dựng đời sống tinh thần
của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
Thứ ba, xác định một số phương hướng cơ bản và đề xuất những giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Đời sống tinh thần của sinh viên ở
thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu xây dựng đời
sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế, giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 Sinh viên ở thành phố
Hồ Chí Minh được luận án nghiên cứu khảo sát là sinh viên các trường đại học, cao đẳng hệ chính quy Giai đoạn từ năm 2010 đến nay ở Thành phố Hồ Chí Minh gắn với các sự kiện như: Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2010 – 2015), Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ
X (2015 – 2020); Đại hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV (2010 – 2015), Đại hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ V (2015 – 2020) Đây là giai đoạn đất nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng với thế giới và thuật ngữ hội nhập quốc tế đang dần được sử dụng trong các văn kiện của Đảng, Đoàn, Hội Sinh viên
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đời sống tinh thần Nội dung của luận án được triển khai theo cách tiếp cận của triết học Mác – Lênin về văn hóa, xã hội là chủ đạo
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp
Trang 27nghiên cứu như phương pháp lịch sử và logic, đối chiếu và so sánh, phân tích
và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp thống kê từ các nguồn tài liệu tham khảo, điều tra xã hội học, v.v , để phục vụ trong việc nghiên cứu
và trình bày luận án
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án đã góp phần phân tích thực trạng xây dựng đời sống tinh
thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc
tế
Hai là, luận án đã đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề quan
điểm chung về đời sống tinh thần, đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
Về ý nghĩa thực tiễn: Những đánh giá về thực trạng và phương hướng,
giải pháp nhằm xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế mà luận án đưa ra sẽ góp phần giúp Đảng bộ, chính quyền và các sở, ban ngành, các tổ chức đoàn thể ở thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong việc hoạch định cơ chế, chính sách
và giải pháp để phát huy hơn nữa công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế Luận
án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các ngành: Khoa học quản lý giáo dục, triết học xã hội, văn hóa, v.v , ở các viện, các trường đại học, cao đẳng trong cả nước
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 28Chương 1 QUAN ĐIỂM VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ở VIỆT NAM
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA SINH VIÊN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Quan điểm về đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam
Quan điểm về đời sống tinh thần
Đời sống hay hoạt động của con người, của xã hội nói chung là rất phong phú, đa dạng, không ngừng vận động và biến đổi Hình thức chung nhất của sự khác nhau của các mặt, các lĩnh vực của đời sống con người, xã hội là ở chỗ có thể phân chia chúng thành đời sống vật chất và đời sống tinh thần Theo đó, đời sống tinh thần là một lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội
và khái niệm đời sống tinh thần có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các khái niệm của khoa học xã hội và nhân văn Đời sống tinh thần là một khái niệm ghép, gồm khái niệm “đời sống” và khái niệm “tinh thần”
Khái niệm “đời sống”, trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (2016) giải
thích đời sống theo bốn nghĩa:
1 Toàn bộ nói chung những hiện tượng diễn ra ở cơ thể sinh vật trong suốt khoảng thời gian sống (nói tổng quát) Đời sống cây lúa 2 Toàn bộ
nói chung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người,
của xã hội Đời sống riêng Đời sống tinh thần Đời sống văn hóa 3
Toàn bộ nói chung những điều kiện sinh hoạt của con người, của xã hội Đời sống có nhiều khó khăn Đời sống công nhân Những vấn đề đời
sống 4 Lối sống chung của một tập thể, một xã hội Đời sống xa hoa
của vua chúa Đời sống mới (tr.440)
Như vậy, khái niệm đời sống có thể được dùng để chỉ hoạt động sinh
Trang 29học, nhưng cũng được dùng để chỉ hoạt động và điều kiện sinh hoạt xã hội của con người, của xã hội Nói đến đời sống là nói sinh hoạt, nói hoạt động C.Mác viết “Đời sống là gì nếu không phải là hoạt động” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995c, tr.134)
Khái niệm “tinh thần” Trong triết học cổ đại, tinh thần được coi là sự
hoạt động lý luận Chẳng hạn, đối với Arixtốt, hình thức hoạt động cao nhất của tinh thần là tư duy về tư duy, là thưởng thức lý luận Triết học cổ điển Đức, chẳng hạn Hêghen hiểu tinh thần là sự thống nhất của ý thức và tự ý thức, được thực hiện trong lý tính, là sự thống nhất của hoạt động thực tiễn
và hoạt động lý luận, vượt qua cái tự nhiên, cái cảm tính và vươn lên đến bản thân mình trong quá trình tự nhận thức
Quan niệm của các nhà triết học duy vật coi tinh thần là cái có tính thứ hai so với giới tự nhiên Đối với các nhà duy vật thời kỳ cổ đại, tinh thần là một bộ phận có lý tính nhất của linh hồn, tưới khắp cả thể xác Các nhà duy vật thế kỷ XVII – XVIII, chẳng hạn Tômát Hốpxơ, Giôn Lốccơ, v.v , hiểu tinh thần chỉ là một sự kết hợp những cảm giác, là một dạng của nhận thức cảm tính Chủ nghĩa duy vật biện chứng không quy cái tinh thần vào một tổng số giản đơn của những cảm giác và bác bỏ quan niệm coi tinh thần là một thực thể tuyệt đối, tồn tại độc lập với vật chất Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi tinh thần là thuộc tính, là chức năng của một dạng vật chất đặc biệt, có tổ chức cao đó là bộ óc con người Bản chất, nguồn gốc của tinh thần – đó là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Ph.Ăngghen đã lưu ý các nhà tư tưởng rằng “Phải coi những tư tưởng trong đầu óc của mình là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những sự vật và quá trình hiện thực” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995c, tr.300) C.Mác cũng viết “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển hóa vào trong đầu óc của con người và được chuyển biến đi ở trong đó” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1993, tr.35), tư tưởng này của Mác được V.I.Lênin tiếp tục
Trang 30khẳng định “Đối với người duy vật, thì “cái đang tồn tại trên thực tế” là thế giới bên ngoài mà cảm giác của chúng ta là hình ảnh của thế giới trong đó” (V.I.Lênin, 1980, tr.128) Tính khoa học của quan điểm duy vật mácxit về khái niệm tinh thần xuất phát từ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Đặc trưng của khái niệm tinh thần theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là ở chỗ cho rằng, tinh thần là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh thụ động, máy móc, sao chép đơn thuần về hiện thực khách quan, mà là sự phản ánh tích cực, năng động, sáng tạo; tinh thần là cái phụ thuộc vào vật chất, là cái thứ hai, nhưng đồng thời, tinh thần cũng có tính độc lập tương đối, có sự tác động trở lại đối với vật chất
Trong sinh hoạt học thuật thuộc hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, khái niệm tinh thần được hiểu phổ biến theo hai nghĩa “Tinh thần theo nghĩa rộng của từ là một khái niệm đồng nhất với cái quan niệm, với ý thức là hình thức hoạt động tâm lý cao nhất;
theo nghĩa hẹp của từ thì đồng nghĩa với khái niệm tư duy” (Từ điển triết
học, 1975, tr.577) Theo đó, tinh thần là khái niệm dùng để chỉ những đặc tính chung thuộc trí tuệ, tư duy, tư tưởng – phương diện trừu tượng của cuộc sống con người
Khái niệm tinh thần trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) định nghĩa như sau:
Tinh thần đối lập với phạm trù vật chất, tuy rất gắn bó với vật chất, nói lên một phương thức tồn tại của đối tượng được phản ánh trong tâm lý con người, là chức năng của vật chất có tổ chức cao, là kết quả phản ánh thực tiễn Với tư cách là những hình tượng cảm tính và lý tính, tinh thần mang trong nó những đặc điểm lịch sử - xã hội của con người Về nguồn gốc, ban đầu tinh thần chỉ là sự phản ánh của vật chất, tuy nhiên tinh thần có
Trang 31tính độc lập tương đối của nó và trở thành nguồn động lực tích cực, đối với hoạt động sống của con người và của cộng đồng, xã hội Nhờ có tinh thần, con người chẳng những có thể phản ánh hiện thực, mà còn có thể cải biến hiện thực trong ý thức mình cũng như trên thực tế, ảnh hưởng tích cực đến tồn tại xã hội, đến hoạt động thực tiễn của con người (tr.419) Như vậy, tinh thần là chức năng của vật chất có tổ chức cao, là kết quả của thực tiễn vật chất, lịch sử - xã hội của con người Nó là sự phản ánh của vật chất, của hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người, đồng thời nó có tác động trở lại đối với vật chất, hiện thực khách quan Quan điểm biện chứng về “đời sống” và “tinh thần” nêu trên là cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu và nhận thức đúng đắn về khái niệm đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần là một lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, có phạm
vi rộng lớn và hình thức biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp Cho đến nay, có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau về khái niệm đời sống tinh thần tùy theo nhiệm vụ nghiên cứu và hướng tiếp cận của từng người, từng bộ môn khoa học Để xác định nội dung của khái niệm đời sống tinh thần làm cơ
sở xuất phát cho việc nghiên cứu luận án, chúng tôi thấy cần xem xét nó trong
mối quan hệ với khái niệm ý thức xã hội và đời sống văn hóa tinh thần
Nếu ý thức xã hội là “Những quan điểm, những quan niệm, những tư tưởng, những lý luận chính trị, pháp luật, thẩm mỹ, luân lý …vv, triết học, đạo đức, tôn giáo và những hình thái ý thức khác” (Từ điển triết học, 1975, tr.590), thì đời sống tinh thần xã hội với tư cách là cái phản ánh của đời sống vật chất của xã hội cũng bao quát những hiện tượng tinh thần đó Vì vậy, có thể hiểu, ý thức xã hội và đời sống tinh thần xã hội giống nhau là đều thuộc
về tinh thần, cái phi vật chất, cái phản ánh đời sống vật chất xã hội Trong thực tế “Ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người vào trong đời sống tinh thần của họ” (Từ điển triết học, 1975, tr.590) Tuy vậy, chúng tôi cho rằng, ý thức xã hội và đời sống tinh thần xã hội có sự
Trang 32khác nhau, không thể coi hai khái niệm “đời sống tinh thần” và “ý thức xã hội” là một Trong luận án phó tiến sĩ của mình, tác giả Trần Khắc Việt (1992) đã đúng khi cho rằng:
Ý thức xã hội là sự phản ánh kết quả, sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, còn đời sống tinh thần bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất, bảo quản, phổ biến, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các giá trị tinh thần Những
tư tưởng, quan điểm, quan niệm và các sản phẩm tinh thần khác – tức ý thức xã hội chỉ là một mặt (mặt thành tạo) của đời sống tinh thần (tr.11) Đời sống tinh thần bao hàm không chỉ là những kết quả, những thành tựu tinh thần mà con người và xã hội đã đạt được, mà còn là tổng hòa sống động của những nhu cầu tinh thần, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng các sản phẩm tinh thần, để đáp ứng nhu cầu đó Trong phạm vi ý nghĩa này, khái niệm “đời sống tinh thần” rộng hơn khái niệm “ý thức xã hội”
Gần gũi với khái niệm đời sống tinh thần còn có khái niệm đời sống văn
hóa tinh thần Đời sống văn hóa tinh thần là biểu hiện của đời sống tinh thần,
nhưng không đồng nhất với đời sống tinh thần Sự khác nhau của hai khái niệm này không phải ở phạm vi bao quát rộng hay hẹp, mà ở chất lượng đạt tới của hoạt động tinh thần Nói đến văn hóa là “nói đến các giá trị cao đẹp trong đời sống tinh thần” (Hoàng Vinh, chủ biên, 1996, tr.196) Giá trị nói đến ở đây là căn cứ vào ý nghĩa con người, ý nghĩa xã hội và văn hóa của những hoạt động tinh thần cũng như kết quả của những hoạt động đó Điều
đó cũng có nghĩa là, chất lượng hoạt động và kết quả của hoạt động tinh thần, tức tính chất và mức độ hữu ích của chúng đối với việc đáp ứng nhu cầu phát triển nhất của con người và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, xác định, là tiêu chuẩn để đánh giá ý nghĩa giá trị văn hóa của đời sống
tinh thần Trong “Mấy lời giới thiệu” về cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam” của GS Trần Văn Giàu, GS Vũ Khiêu viết:
“Chúng ta quan niệm giá trị là những thành tựu của con người góp vào sự đi
Trang 33lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người” (Trần Văn Giàu, 2011, tr.26); rằng “Giá trị tinh thần của xã hội bao gồm những giá trị khoa học, đạo đức, nghệ thuật …, đánh dấu sự phát triển về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống xã hội” (Trần Văn Giàu, 2011, tr.27) Mỗi
cá nhân, mỗi gia đình, mỗi xã hội đều có đời sống tinh thần của mình Nhưng có đời sống tinh thần cao đẹp và có đời sống tinh thần thấp kém Đời sống tinh thần cao đẹp có nghĩa là đời sống tinh thần đạt tới cái đáng được mong muốn của con người, của xã hội, tức là đời sống văn hóa tinh thần Khi Đảng ta nêu ra phương hướng “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong
phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ” trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hay “tạo ra
trên đất nước ta một đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển …” trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII thì chúng tôi hiểu rằng, cái cần được tạo ra đó
chính là đời sống văn hóa tinh thần
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu
và khẳng định vấn đề “Lịch sử chứng minh gì, nếu không phải chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995b, tr.625) Luận điểm này cho phép chúng tôi hiểu rằng, cụm từ “sản xuất tinh thần” trong câu vừa dẫn có ý nghĩa tương đồng với khái niệm đời sống tinh thần Cố nhiên, từ “sản xuất” được các ông sử dụng
ở đây bao quát: sản xuất, và tái sản xuất, hệ thống các nhu cầu và các hoạt động sản xuất, trao đổi, tiêu dùng để đáp ứng những nhu cầu đó
Đời sống tinh thần là cái đặc hữu của con người, có cấu trúc phong phú, phức tạp, gồm tổng hòa sống động của nhiều lĩnh vực hoạt động Tuy nhiên, khi nghiên cứu về đời sống tinh thần, về phạm vi bao quát của nó, các nhà khoa học thường đề cập đến các lĩnh vực: tư tưởng; đạo đức và lối sống; giáo dục và khoa học; văn học nghệ thuật; v.v , và coi đó là những lĩnh vực trọng
Trang 34yếu và phổ biến nhất Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII - Hội nghị chuyên đề về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, khi xác định một số lĩnh vực cơ bản, nổi bật của đời sống tinh thần cần tập trung xây dựng trong đó có các lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa
học, văn học nghệ thuật, v.v
Từ những phân tích một số quan niệm về đời sống tinh thần và các lĩnh vực cơ bản hợp thành của đời sống tinh thần, chúng tôi diễn đạt nội
dung khái niệm đời sống tinh thần như sau: Đời sống tinh thần phản ánh và
thể hiện một lĩnh vực đặc thù của cuộc sống con người (của mỗi cá nhân và cộng đồng) Đời sống tinh thần bao gồm tổng hòa sống động của các hoạt động tinh thần và thành quả của những hoạt động đó chủ yếu trên các lĩnh vực: tư tưởng; đạo đức và lối sống; giáo dục, khoa học; văn học nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống con người và xã hội
Chúng tôi hiểu rõ rằng, các lĩnh vực của đời sống tinh thần như đã nêu
ở trên chưa phải là toàn bộ đời sống tinh thần, nhưng đó là những lĩnh vực cơ bản và phổ biến nhất của đời sống tinh thần Và tùy theo điều kiện, đặc điểm
về sinh hoạt vật chất, về vị trí vai trò xã hội, về lứa tuổi, nghề nghiệp, v.v , của các chủ thể cụ thể, những lĩnh vực phổ biến của đời sống tinh thần biểu hiện ra với những nét phân biệt của riêng mình chứ không phải "đúc sẵn" ai
ai cũng thế
Quan điểm về đời sống tinh thần và đặc điểm đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam
Sinh viên Việt Nam là một nhóm xã hội đặc thù, thuộc lứa tuổi thanh
niên, đang học tập, nghiên cứu tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam
Đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam là tổng hòa sống động các hoạt
động tinh thần của sinh viên và thành quả của những hoạt động đó, chủ yếu
Trang 35trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống, học tập và nghiên cứu khoa học, văn hóa văn nghệ, v.v , đáp ứng nhu cầu phát triển về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống sinh viên Đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam
biểu hiện chủ yếu qua các lĩnh vực cơ bản như sau:
Lĩnh vực tư tưởng
Hoạt động tư tưởng nhằm hình thành thế giới quan khoa học cho sinh viên Thế giới quan khoa học bao gồm không chỉ tri thức, nhận thức, quan niệm về thế giới: giới tự nhiện, xã hội và quy luật vận động, phát triển của chúng, về con đường nhận thức và cải tạo thế giới ấy mà còn tình cảm, niềm tin Chính tình cảm, niềm tin hình thành, phát triển và củng cố trên cơ
sở của tri thức, của nhận thức khoa học, là nguồn gốc của tính tích cực, tự giác cá nhân, của cộng đồng Hoạt động tư tưởng là hoạt động chỉ đạo, tạo lập nền gốc, quy định phương hướng, trình độ và phẩm chất của toàn bộ đời sống tinh thần cũng như từng bộ phận hợp thành của nó, đảm bảo cho đời sống tinh thần của sinh viên phát triển đúng hướng, có nền tảng vững chắc
và chất lượng thật sự
Hoạt động tư tưởng với tính cách là một lĩnh vực của đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam, nhằm làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của sinh viên, bồi dưỡng tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tình cảm cách mạng cho sinh viên: yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí tự lực tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Hoạt động tư tưởng là hoạt động chủ đạo trong đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam Hoạt động tư tưởng và những thành quả của nó có tác động thúc đẩy, định hướng và dẫn dắt tất cả các hoạt động tinh thần khác của
Trang 36sinh viên phát triển toàn diện và tiến bộ Hoạt động tư tưởng vì vậy là lĩnh vực quan trọng hàng đầu, xuyên suốt và lan tỏa trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống tinh thần sinh viên, cũng như trong toàn bộ quá trình giáo dục đào tạo họ trở thành chủ nhân tương lai của đất nước vừa "hồng" vừa
"chuyên", kế thừa xứng đáng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "Mỗi người phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa đúng đắn, thì mới có thể góp phần xứng đáng vào việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội" (Hồ Chí Minh, 2000e, tr.25)
Lĩnh vực đạo đức và lối sống
Đạo đức và lối sống là bộ phận trọng yếu trong đời sống tinh thần của
xã hội nói chung và của sinh viên nói riêng Đạo đức và lối sống với tính cách là một lĩnh vực hợp thành đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam là tổng hòa các hoạt động giáo dục, học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhằm xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa ở người sinh viên
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Xây dựng văn hóa đạo đức ở sinh viên Việt Nam là xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa, là quan tâm phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp giải phóng con người và loài người thoát khỏi xiềng xích nô lệ, là phải luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư - đó là đạo đức cách mạng" (Hồ Chí Minh, 2000c, tr.568)
Lối sống là những cách thức và những hình thức cơ bản, tiêu biểu, ổn định của hoạt động sống của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, biểu hiện qua toàn bộ các hoạt động và các quan hệ của con người, chủ yếu trong hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hóa tinh thần, hoạt động sinh hoạt và các quan hệ của con người bao gồm quan hệ với
Trang 37người khác, với cộng đồng, với chính bản thân mình và với thiên nhiên Xây dựng lối sống văn hóa của sinh viên Việt Nam hiện nay là xây dựng lối sống mới, lối sống xã hội chủ nghĩa với đặc trưng chung nhất là "mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"
Đạo đức và lối sống văn hóa với tính cách là một lĩnh vực của đời sống tinh thần của sinh viên là tổng hòa các hoạt động thể hiện và thúc đẩy trình
độ phát triển chân - thiện - mỹ của mọi mặt đời sống, mọi hoạt động và quan
hệ của người sinh viên Nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động đạo đức và lối sống là xây dựng cho sinh viên Việt Nam những đức tính chủ yếu sau đây: sống có hoài bão, có lý tưởng, yêu nước, có ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, cần kiệm xây dựng đất nước, có tinh thần quốc tế chân chính; nhân
ái, sống có nghĩa tình, trung thực, dũng cảm; chăm chỉ học tập, nghiên cứu, nâng cao hiểu biết về xã hội, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, trình độ thẩm mỹ và thể lực; có tác phong công nghiệp, có ý thức tập thể, đoàn kết,
kỷ luật, tôn trọng kỷ cương phép nước, hăng hái và năng động sáng tạo trong học tập và lao động
Lĩnh vực học tập và nghiên cứu khoa học
Học tập và nghiên cứu khoa học là hoạt động trung tâm trong đời sống tinh thần của sinh viên Học tập là học và rèn luyện để biết, để có kỹ năng Nghiên cứu khoa học là vận dụng trí tuệ xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, tìm cách giải quyết vấn đề hay để rút ra những tri thức, những hiểu biết mới
Học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Việt Nam nhằm trau dồi học vấn bậc cao và kỹ năng để chiếm lĩnh một nghề nghiệp xác định, chuẩn
bị gia nhập lực lượng lao động của xã hội với vai trò là nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao Học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên có nội dung và hình thức rất phong phú, đa dạng Bởi mọi tri thức đều quan trọng đối với cuộc sống của con người Từ xa xưa ông cha ta đã nhận thức
Trang 38được sự cần thiết của mọi tri thức, của mọi sự hiểu biết khi yêu cầu con trẻ phải học tập mọi thứ "Học ăn, học nói, học gói, học mở" Càng tiến lên xã hội văn minh hiện đại, đặc biệt là khi đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì khối lượng tri thức và kỹ năng cần được học tập, nghiên cứu để nắm vững và làm chủ nó càng lớn gấp bội
Trong thế giới hiện đại, kiến thức theo nghĩa rộng được hiểu là sự tích lũy của các tri thức cơ bản, tri thức kỹ thuật và các khả năng hiểu biết về xã hội Mọi tri thức đều cần thiết đối với con người Tuy nhiên, cần xác định rằng, tri thức có tầm quan trọng hàng đầu là khoa học tự giải phóng giai cấp công nhân, của toàn thể nhân loại cần lao thoát khỏi tình trạng người bóc lột người, cũng như tình trạng dân tộc này áp bức nô dịch dân tộc khác Do
đó, sinh viên Việt Nam học tập để làm "người chủ tương lai của nước nhà",
để trở thành người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa
"chuyên" như lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không chỉ chú trọng những tri thức về khoa học kỹ thuật và công nghệ mà còn phải chú trọng cả tri thức về khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là tri thức của các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày nay khi bước sang thế kỷ XXI, nhân loại đã xác định bốn trụ cột của học tập là: học để biết, học để làm người, học để chung sống, học để khẳng định mình Đối với sinh viên Việt Nam, đồng thời với việc học tập để biết, để làm việc, cần coi trọng việc học để làm người, hơn nữa là để làm người chủ tương lai tốt của nước nhà và học để khẳng định mình trong cuộc sống Dù ở bất cứ bậc học nào, vẫn phải theo tinh thần là "Tiên học lễ, hậu học văn" Phải chú trọng học làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm chủ vững chắc nền văn hóa tương lai
Trang 39Lĩnh vực văn hóa văn nghệ
Hoạt động văn hóa văn nghệ là hoạt động hưởng thụ và sáng tạo các giá trị nghệ thuật đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của sinh viên Hoạt động văn hóa văn nghệ của sinh viên rất phong phú, đa dạng về hình thức và thể loại: tự biên tự diễn hoặc trình diễn, tái hiện, tiếp xúc và thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật của dân tộc và của thế giới với nhiều thể loại như âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, văn thơ, hội họa, v,v… Hoạt động văn hóa văn nghệ luôn có sức hấp dẫn, sức thu hút rất lớn, rất mạnh mẽ đối với mọi sinh viên, không
kể họ thuộc ngành nghề và hệ đào tạo nào
Thế giới nghệ thuật là thế giới của cái đẹp, hơn nữa là cái đẹp được ước
ao, mong muốn, cái đẹp lý tưởng Đến với nghệ thuật, tiếp xúc với cái đẹp trong hoạt động hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật, người sinh viên không chỉ được nâng cao năng lực hưởng thụ và sự hiểu biết về cái đẹp, mà còn làm nảy
nở và phát triển thêm ở họ nhu cầu và khả năng sáng tạo cái đẹp, cổ vũ cho cái đẹp, phấn đấu vì cái đẹp, thực hành cái đẹp Bằng cái đẹp, thông qua cái đẹp, nghệ thuật giáo dục - cảm hóa con người theo hướng đạt tới chân, thiện, mỹ trong mọi mặt đời sống, mọi hoạt động và quan hệ của nó, bồi dưỡng con người
về trí tuệ, tâm hồn và lối sống có nhân cách cao đẹp, chống lại cái xấu xa, cái thấp hèn của con người Đình Quang - nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, đã hoàn toàn có cơ sở khi ông cho rằng "Nghệ thuật từ lâu đã được nhìn nhận là một loại hình sắc bản nhất, có hiệu quả sâu xa và bền vững nhất trong việc hun đúc nhận thức và tình cảm của con người" (Đình Quang, 1995, tr.13) Như vậy, nghệ thuật cũng đồng thời cũng có tác dụng giáo dục, xây dựng tư tưởng tình cảm, đạo đức và lối sống của con người, và về một số mặt, còn hiệu quả hơn một số hình thái tư tưởng khác Đảng Cộng sản Việt Nam khảng định "Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, tr.129-130)
Trang 40Thưởng thức, cảm thụ nghệ thuật cũng rất cần cho sự thanh lọc tâm hồn, sự giải trí - giảm căng thẳng và áp lực trong cuộc sống để tái tạo, bồi bổ
và nâng cao sức khỏe tinh thần của sinh viên, nhất là trong xã hội có trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao như hiện nay Mọi hoạt động văn hóa văn nghệ của sinh viên Việt Nam đều phải nhằm góp phần đắc lực vào việc bồi dưỡng sinh viên về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm và lối sống có nhân cách cao đẹp, làm tăng trưởng cái đẹp ở sinh viên, trong mọi mặt của cuộc sống, mọi hoạt động và quan hệ xã hội của họ, từ đó nâng cao năng lực của họ trong sự sáng tạo "theo quy luật của cái đẹp" Cố nhiên, cái đẹp chân chính, luôn bao hàm cả cái đúng và cái tốt
Đặc điểm đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam
Sống, học tập và lao động trong xã hội Việt Nam, trong điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc và chế độ chính trị - xã hội của Việt Nam, đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam có những đặc điểm nổi bật như sau:
Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo, vừa là nền tảng tư tưởng, vừa là kim chỉ nam cho đời sống tinh thần của sinh viên Việt Nam
Cái cốt lõi của đời sống tinh thần là tư tưởng Cố nhiên, “Tư tưởng thống trị của mỗi thời đại là tư tưởng của giai cấp thống trị thời đại đó” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr.66), sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân được xác lập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu kéo theo sự xác lập vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng của nó, tức chủ nghĩa Mác – Lênin trong đời sống tinh thần của xã hội, trong đó có đời sống tinh thần của sinh viên
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học về nhận thức và cải tạo thế giới bằng cách mạng Sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện ở chỗ
nó giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa Có thể