1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới việt nam, trung quốc đương đại nghiên cứu trường hợp dạ ngân và thiết ngưng (luận án tiễn sĩ ngữ văn)

424 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 424
Dung lượng 5,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp phê bình tiểu sử học: luận án sử dụng những dữ kiện đời tư của nhà văn để phân tích văn bản, tìm kiếm dấu vết tiểu sử của tác giả trong thế giới nghệ thuật nhằm làm rõ mối li

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HỒ KHÁNH VÂN

PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN VÀ VĂN XUÔI NỮ GIỚI VIỆT NAM, TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

DẠ NGÂN VÀ THIẾT NGƯNG)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HỒ KHÁNH VÂN

PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN VÀ VĂN XUÔI NỮ GIỚI

VIỆT NAM, TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP DẠ NGÂN VÀ THIẾT NGƯNG)

Chuyên ngành Lý luận văn học

Mã số: 62220120

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận án tiến sĩ Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt

Nam, Trung Quốc đương đại (Nghiên cứu trường hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng) là

công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn văn công trình chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào khác Mọi trích dẫn và nội dung tham khảo trong luận án đều trung thực và được ghi chú xuất xứ rõ ràng theo Quy định về trích dẫn và chống đạo văn của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 02/QĐ-XHNV-TTPC-SHTT ngày 19/01/2018

TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 3 năm 2020

Tác giả luận án

Hồ Khánh Vân

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc với PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân, người

đã dẫn dắt và đi theo tôi suốt hành trình nghiên cứu phê bình nữ quyền Sự hướng dẫn tận tình,

kỹ lưỡng của cô không chỉ mang lại cho tôi nguồn tri thức quý giá mà còn truyền cho tôi niềm đam mê, lòng nhiệt thành với nghiên cứu khoa học Nếu 14 năm qua, tôi đang nỗ lực trồng một nhánh cây cho mình giữa cánh đồng khoa học mênh mông, thì cô đã cho tôi nguồn đất đai màu

mỡ và dưỡng khí trong lành để tôi có thể tràn đầy hào hứng tắm tưới cho nhánh cây của mình lớn dần

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, giảng viên, chuyên viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tại Khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án này

Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến nhà văn Dạ Ngân Những lần gặp gỡ, trao đổi với cô là dịp may quý giá giúp tôi hiểu thêm tác giả, tác phẩm mình đang nghiên cứu

Và cuối cùng, công trình nhỏ bé này sẽ không bao giờ hoàn thành nếu không có sự hiện diện của mỗi người tôi có may mắn được quen biết và gặp gỡ trong đời

Tác giả luận án

Hồ Khánh Vân

Trang 5

MỤC LỤC Số trang

DẪN NHẬP 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

1.1 Tổng quan về phê bình nữ quyền phương Tây 8

1.1.1 Sự hình thành của nền phê bình nữ quyền phương Tây 8

1.1.2 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của lý thuyết phê bình nữ quyền phương Tây 12

1.1.2.1 Khái niệm phê bình nữ quyền phương Tây 12

1.1.2.2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu của phê bình nữ quyền phương Tây 13

1.1.2.3 Phương pháp nghiên cứu của phê bình nữ quyền phương Tây 17

1.1.3 Những khuynh hướng tiêu biểu của phê bình nữ quyền phương Tây và tiêu điểm nghiên cứu của luận án 19

1.1.3.1 Phê bình nữ quyền Marxist (Marxist Feminist Criticism) và phê bình nữ quyền xã hội (Social Feminist Criticism) 19

1.1.3.2 Phê bình nữ quyền văn hóa (Cultural Feminist Criticism) 20

1.1.3.3 Phê bình nữ quyền phân tâm học (Psychoanalytic Feminist Criticism) 21

1.1.3.4 Khuynh hướng thi pháp nữ quyền (Feminist Poetics) 22

1.2 Lịch sử nghiên cứu văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc đương đại từ góc nhìn phê bình nữ quyền………… 45

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu văn xuôi nữ đương đại Việt Nam 45

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu văn xuôi nữ đương đại Trung Quốc 51

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO NỮ QUYỀN VÀ VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI 61

2.1 Vấn đề nữ quyền ở Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn hiện đại 62

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của phong trào nữ quyền ở Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn hiện đại 62

2.1.1.1.Sự trỗi dậy của ý thức nữ quyền trên phương diện văn hóa trong quá trình tiếp xúc với phương Tây ……….63

Trang 6

2.1.1.2.Những biến đổi về thiết chế chính trị - xã hội và các bước phát triển của ý thức nữ

quyền 66

2.1.2 Những đặc điểm chính của ý thức nữ quyền ở Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn hiện đại 71

2.1.2.1 Gắn liền với các ý thức hệ và mang màu sắc chính trị hóa 71

2.1.2.2 Tính nam hóa 73

2.1.2.3 Tính đứt gãy 74

2.1.2.4 Tính phi lập thuyết 77

2.1.3 Sự tương đồng về khuynh hướng và sự khác biệt về mức độ trong phong trào nữ quyền của Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn hiện đại 80

2.2 Tổng quan về văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc đương đại 81

2.2.1 Khái niệm văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc đương đại 81

2.2.2 Sự hồi sinh và những chuyển động của lực lượng văn xuôi nữ Việt Nam, Trung Quốc đương đại 85

2.2.3 Những đặc trưng của văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc đương đại 93

2.3 Dạ Ngân và Thiết Ngưng: Tinh thần nhập cuộc và tinh thần sáng tạo của người nữ 97

2.3.1.Trải nghiệm biến động chính trị - xã hội trong đời sống cá nhân và nhận thức về hiện thực trên trang viết……… 97

2.3.2.Trải nghiệm đời sống giới tính đặc biệt và thực hành ý thức nữ quyền 98

2.3.3.Trải nghiệm sáng tạo và thực hành diễn ngôn nữ quyền 101

CHƯƠNG 3 VĂN XUÔI DẠ NGÂN VÀ THIẾT NGƯNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN (FEMINIST CONSCIOUSNESS) 111

3.1 Ý thức về vị thế “giới hạng hai” (the second sex) của nữ giới 111

3.2.Ý thức về những cơ chế xác lập vị thế “giới hạng hai” của nữ giới 118

3.2.1.Cơ chế thực tại xã hội 118

3.2.2 Cơ chế tâm thức văn hoá 122

3.2.2.1 Tâm thức tuân thủ các chuẩn mực đạo đức Nho giáo 123

3.2.2.2 Tâm thức đề cao vai trò nội tướng 124

3.2.2.3 Tâm thức tôn thờ chức năng loài 127

Trang 7

3.2.2.4 Tâm thức chấp nhận thân phận nữ giới như một định mệnh 129

3.2.3 Cơ chế tập nhiễm nam quyền 134

3.3 Ý thức phủ định và kháng cự chế độ nam quyền 137

3.3.1 Ý thức phủ định địa vị thượng đẳng của nam giới 137

3.3.2 Ý thức kháng cự thể chế nam quyền 142

CHƯƠNG 4 VĂN XUÔI DẠ NGÂN VÀ THIẾT NGƯNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THI PHÁP NỮ QUYỀN (FEMINIST POETICS) 147

4.1 Thi pháp tự thuật trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng 147

4.1.1 Sự kiến tạo lịch sử nữ giới: sự thực về cái tôi của tác giả qua các cấp độ tự thuật 148

4.1.2 Tiếng nói nữ quyền lưỡng bội và sự thu hẹp không gian sáng tạo của lối viết tự thuật 154

4.2 Thi pháp tư duy hồi mẫu trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng 158

4.2.1 Người con gái trong phả hệ mẫu tính (maternal genealogy): ý thức và cái nhìn của cá nhân người nữ trước cộng đồng nữ giới 158

4.2.2 Người mẹ nguyên mẫu (phallic mother) và người mẹ bị thiến hoạn (castrated mother) trong các kiểu thức quan hệ: giải thiêng mẫu thời (motherhood) 160

4.3 Thi pháp viết về cái thường nhật trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng 167

4.3.1 Sự kiến tạo giá trị cho vùng hiện thực ngoại vi 167

4.3.2 Chủ thể nữ trong vai trò trung tâm giữa hiện thực của cái thường nhật 170

4.4 Thi pháp thân thể trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng 173

4.4.1 Sự tái kiến tạo (reconstruct) hiện thực thân thể nữ giới: cái đa và cái khác 173

4.4.2 Sự tái kiến tạo giá trị thân thể nữ giới 179

4.5 Thi pháp giễu nhại trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng 184

4.5.1 Sự dự phần của nữ giới vào hiện thực chính trị- xã hội bằng tiếng cười 184

4.5.2 Sự phản kháng của nữ giới trước các thể chế quyền lực 190

KẾT LUẬN 194

TÀI LIỆU THAM KHẢO 201

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Đến nay, tư tưởng nữ quyền và phê bình nữ quyền ở các nước trên thế giới đã trải qua các bước phát triển quan trọng, mạnh mẽ, tạo ra những thời kỳ mang tính chuyển hướng rõ rệt, sâu sắc, đánh dấu sự thay đổi lớn lao cho hệ ý thức này Theo đó, hoạt động nghiên cứu nữ quyền cũng vươn rộng cành nhánh ra nhiều lĩnh vực, đi sâu vào các vấn đề khác nhau của nữ giới và của cả nhân loại, mang lại nhiều công trình có giá trị Ở Việt Nam, nếu khoảng hơn mười năm trở về trước, việc nghiên cứu và phê bình nữ quyền chỉ mới manh nha xuất hiện với những bước đi ban đầu còn nhiều bỡ ngỡ thì đến nay đã dần để lại những thành tựu nhất định Đội ngũ những người làm công tác phê bình, nghiên cứu nữ quyền đã dần đông đảo, góp phần mang đến những tiếng nói, những cái nhìn, những sự phát hiện mới mẻ, có tính khoa học Bản thân chúng tôi cũng đã tham gia vào hướng nghiên cứu này từ năm 2005, khi thực hiện luận

văn thạc sĩ: Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn

xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này vẫn

còn nhiều khoảng trống cả trên phương diện lý thuyết lẫn phương diện ứng dụng vào thực tiễn sáng tác Vì vậy, dựa trên nhu cầu khoa học, việc tiến hành luận án Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại (nghiên cứu trường hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng) là một bước khảo cứu tiếp theo để chúng tôi có cơ hội tìm tòi sâu và kỹ lưỡng hơn, thấu đáo và có tính hệ thống hơn, nâng cao hiểu biết của mình về lý thuyết phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ với mong muốn đóng góp phần công sức nhỏ nhoi vào việc hình thành xu hướng nghiên cứu này ở Việt Nam

Về phương diện nghiên cứu văn hóa- văn học, hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ gần gũi, ảnh hưởng lẫn nhau xuyên suốt tiến trình lịch sử Vì vậy, chúng

tôi chọn văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc với hai trường hợp nghiên cứu mẫu (case study)

là Dạ Ngân và Thiết Ngưng trong tương quan so sánh nhằm hiểu sâu hơn về từng đối tượng và đồng thời, thấy được những điểm tương đồng, khác biệt trong vấn đề người nữ ở hai nền văn học, văn hóa Chúng tôi sẽ dành phần giải thích lý do chọn mẫu nghiên cứu là sáng tác văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng ở mục 2.3 Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, việc nghiên cứu theo hướng so sánh là một nhu cầu thiết yếu để vừa nhận diện bản sắc văn hóa, văn học của dân tộc, vừa thấy được mối tương quan giữa các quốc gia trong khu vực và bối cảnh, xu hướng vận động của vấn đề nữ quyền trên thế giới

Trang 9

Về phương diện lý thuyết, phê bình nữ quyền có tính ứng dụng và tính thực hành xã hội cao, vì hệ lý thuyết này gắn liền với yếu tố giới tính là yếu tố hiện diện thường xuyên và chi phối hầu hết các phương diện đời sống của con người Với mục đích đưa văn học đi gần với thực tiễn đời sống, tác động đến nhận thức và hành vi của con người, chúng tôi chọn thực hiện luận án này và hy vọng những khám phá về thực tại văn bản sẽ mang lại những tương tác có ích với thực tại xã hội Trong tư cách là một người nữ, người nghiên cứu mong muốn có những nhận thức sâu sắc hơn về bản thân, về cộng đồng nữ giới gần gũi với mình và người phụ nữ Việt Nam nói chung, đặt trong tương quan với phụ nữ khu vực Đông Á cũng như trên thế giới

Từ đó, bằng hiểu biết và ý thức hành động của mình, trong khả năng có thể, chúng tôi sẽ tham gia vào các dự án ứng dụng văn học vào việc phát triển nhận thức về nữ quyền, nhất là trong tình trạng xã hội vẫn còn chứa đựng nhiều biểu hiện bất bình đẳng giới cũng như những vấn đề giới phức tạp hiện nay

Đồng thời, phê bình nữ quyền là một trong những trường phái lý thuyết quan trọng của thế kỷ XX, nằm trong mạch tiến trình vận động của lý luận, phê bình văn học thế giới Nghiên cứu lý thuyết này sẽ góp phần bổ sung tri thức về tiến trình văn học và các trường phái phê bình văn học, vốn là những học phần trọng tâm trong chương trình đại học và sau đại học Thêm vào

đó, việc phân tích các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi sẽ cung cấp thêm kiến thức cho môn

Tác phẩm và thể loại mà bản thân chúng tôi đang phụ trách giảng dạy Ngoài ra, nhận thức về

nữ quyền còn giúp người viết nhìn nhận lại các tác phẩm trong chương trình phổ thông và đại học trên phương diện giới tính, mang thêm một hướng tiếp cận và giúp người học suy nghĩ, phản ứng trước các vấn đề giới trên văn bản cũng như trong thực tiễn Nhờ vậy, đề tài luận án

của chúng tôi có thể góp một phần nhỏ vào sự phát triển môn Văn học ứng dụng vốn là một

môn học mới mẻ, hữu ích, thiết thực, đang thu hút sự quan tâm của các nhà giáo dục ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay Cuối cùng, công trình này là một bước trang bị thêm kiến thức nền tảng để người viết hướng đến những nghiên cứu trong tương lai, đào sâu và mở rộng hơn việc tìm hiểu văn học nữ Việt Nam trong tương quan với các nước phương Đông và phương Tây từ góc nhìn của phê bình nữ quyền

Những lý do chính yếu, xuất phát từ nhu cầu khoa học của cá nhân đến nhu cầu của nghiên cứu văn học trong nước này là động lực thôi thúc chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:

Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại (nghiên cứu trường

hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng)

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Luận án xác định ba đối tượng nghiên cứu chính: Phê bình nữ quyền phương Tây, văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc thời kỳ đương đại và sáng tác văn xuôi của Dạ Ngân, Thiết Ngưng Ba đối tượng này được khảo sát trong mối quan hệ tương tác với nhau: sáng tác của Dạ Ngân và Thiết Ngưng trong bối cảnh văn học nữ được tiếp cận từ góc nhìn của phê bình nữ quyền

Có thể thấy, cả ba đối tượng khoa học này đều hàm chứa nhiều vấn đề Do vậy, trong khả năng hạn hẹp, luận án chỉ có thể đi vào những phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

- Đối với phê bình nữ quyền phương Tây, chúng tôi tìm hiểu sự hình thành, phát triển, các khái niệm, quan niệm, mục tiêu, đối tượng và phương pháp phê bình Ở đây, người viết cũng chỉ dừng lại giới thuyết các phương pháp trọng tâm và có khả năng áp dụng vào đối tượng sáng tác cụ thể mà luận án hướng đến, bao gồm phương pháp nữ quyền Marxist, nữ quyền xã hội, phương pháp nữ quyền văn hóa, phương pháp nữ quyền phân tâm học, phương pháp thi pháp nữ quyền

- Đối với văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại, trước hết, chúng tôi đặt sự phát triển của mảng sáng tác này trong bối cảnh nữ quyền của hai quốc gia, sau đó, nối với nguồn mạch truyền thống sáng tác văn học nữ của hai nước Tuy nhiên, trong giới hạn nhất định, công trình chỉ có thể giới thuyết sơ lược về vấn đề nữ quyền cũng như sáng tác nữ giới ở giai đoạn tiền hiện đại và chủ yếu tập trung vào trình bày tình hình, đặc trưng, xu hướng của hoạt động nữ quyền cũng như sáng tác văn xuôi nữ trong giai đoạn hiện đại rồi tiến đến tâm điểm là thời kỳ đương đại

- Đối với sáng tác văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng, chúng tôi chủ yếu khảo sát thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn; đồng thời, chỉ tập trung vào những yếu tố có liên quan đến vấn đề nữ quyền từ phương diện nội dung cho đến phương diện hình thức nghệ thuật

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được như sau:

- Hiểu biết một cách đầy đủ, sâu sắc hơn về lý thuyết nữ quyền và phê bình nữ quyền phương Tây

- Có cái nhìn khái quát về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn hiện đại trong mối quan hệ so sánh

- Có cái nhìn khái quát về sáng tác văn xuôi nữ giới ở Việt Nam và Trung Quốc thời kỳ đương đại trong mối quan hệ so sánh

Trang 11

- Phân tích sáng tác văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng để làm sáng tỏ ý thức nữ quyền và đặc trưng thi pháp nữ quyền trong mối quan hệ so sánh và trong tương quan với bối cảnh sáng tác của văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại Qua đó, luận án thể hiện đặc trưng phản ánh hiện thực và tư duy sáng tạo của nữ giới

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu phổ thông:

4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trước hết, chúng tôi dùng phương pháp phân tích để tiếp nhận sáng tác của những tác giả nữ trên các phương diện nội dung, nghệ thuật Sau

đó, bằng sự sắp xếp, xâu chuỗi và khái quát hoá các luận chứng, luận điểm thành những luận đề lớn, chúng tôi tổng hợp những suy nghĩ, phát hiện của mình theo một hệ thống logic và khoa học

4.2 Phương pháp so sánh: Đặt đối tượng nghiên cứu vào mối quan hệ đa chiều, đa dạng

để làm bật lên những điểm tương đồng và khác biệt với các đối tượng khác Trong đề tài này, chúng tôi thực hiện 3 hoạt động so sánh chủ yếu sau:

+ So sánh phê bình nữ quyền với các trường phái phê bình văn học khác, đặc biệt là phê bình giới Đồng thời, so sánh các khuynh hướng phê bình khác nhau thuộc phê bình nữ quyền

+ So sánh đặc trưng, khuynh hướng của hoạt động nữ quyền cũng như sáng tác văn xuôi

nữ của Việt Nam và Trung Quốc theo cái nhìn lịch đại và đồng đại Bên cạnh đó, so sánh các giai đoạn phát triển khác nhau của bộ phận văn học nữ Việt Nam, Trung Quốc Và ở cấp độ nhỏ hơn, so sánh sáng tác giữa các cây bút nữ được xuất bản trong thời kỳ đương đại

+ So sánh đặc trưng sáng tác của Dạ Ngân và Thiết Ngưng: Trong khi các hoạt động so sánh trên phối hợp giữa so sánh loại hình và so sánh ảnh hưởng (do sự ảnh hưởng lẫn nhau của hoạt động nữ quyền và hoạt động sáng tác văn xuôi nữ giữa hai quốc gia trong tiến trình lịch sử) thì việc so sánh sáng tác của Dạ Ngân với sáng tác của Thiết Ngưng lại chủ yếu dựa trên so sánh loại hình bởi hai tác giả gần như không có sự tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình sáng tạo Sự gặp gỡ trong tác phẩm của họ cho thấy những đặc trưng chung của người nữ viết văn và sự khác biệt thể hiện cá tính sáng tạo của từng tác giả

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành

4.3 Phương pháp phê bình nữ quyền: sau khi tìm tòi, nghiên cứu bằng nguồn tư liệu hiện có và xác lập được một hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về phê bình nữ quyền, chúng tôi sẽ ứng dụng những quan điểm, phương pháp nghiên cứu của lý thuyết này vào việc

Trang 12

tiếp cận sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể, chi tiết hơn ở chương 1, khi trình bày về phương pháp phê bình nữ quyền

4.4 Phương pháp phê bình thi pháp học: luận án khảo sát, phân tích những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng lặp đi lặp lại, tạo nên nét tư duy đặc thù của Dạ Ngân, Thiết Ngưng và rộng hơn, của các tác giả văn xuôi nữ Việt Nam, Trung Quốc đương đại, từ đó, xác định phong cách sáng tác đặc thù của nhà văn nữ

4.5 Phương pháp phê bình tiểu sử học: luận án sử dụng những dữ kiện đời tư của nhà văn để phân tích văn bản, tìm kiếm dấu vết tiểu sử của tác giả trong thế giới nghệ thuật nhằm làm rõ mối liên hệ giữa con người cá nhân của các nhà văn nữ với các nhân vật và các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, lý giải các vấn đề nữ quyền trong văn bản từ những vấn đề trong đời sống cá nhân của nhà văn

4.6 Phương pháp phê bình hiện sinh: luận án áp dụng lý thuyết và phương pháp phê bình hiện sinh để nghiên cứu sự dự phần của nữ giới vào hiện thực đời sống, quan niệm và sự biểu đạt và về cái tôi, về tha nhân, tồn tại và phi tồn tại, khẳng định sự hiện hữu của nữ giới nói riêng cũng như con người nói chung với toàn bộ trạng thái sinh tồn sinh động, đa dạng của từng

cá thể, tra vấn quan niệm về bản chất giới tính cũng như các định kiến giới phi lý

Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

4.6 Phương pháp lịch sử - xã hội: Nhìn phê bình nữ quyền và sáng tác của các tác giả

nữ trong bối cảnh lịch sử - văn hoá - xã hội cụ thể Từ đó, phân tích các yếu tố tác động đến sự hình thành những đặc trưng của hai đối tượng này và thấy được những đóng góp mà các nhà nghiên cứu, các tác giả đã mang lại so với các thời kỳ trước cũng như những hạn chế trong khung thời đại của chính họ

5 Đóng góp của luận án

Với luận án này, chúng tôi hy vọng góp phần công sức ít ỏi trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình nữ quyền

5.1 Về phương diện nghiên cứu lý thuyết:

+ Góp phần giới thuyết về lý thuyết phê bình nữ quyền, một khuynh hướng phê bình hiện đại đã, đang được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia từ năm 1970: chúng tôi nỗ lực tìm hiểu các văn bản gốc, các tác phẩm nữ quyền và phê bình nữ quyền kinh điển của phương Tây để nắm vững bản chất cũng như quá trình vận động của hệ tư tưởng và phương pháp phê bình văn học này

Trang 13

+ Từ đó, người viết mong muốn được cùng với những người tham gia vào việc nghiên cứu phê bình nữ quyền ở Việt Nam bổ sung những kiến thức đúng đắn, nền tảng, có tính hệ thống, có giá trị khoa học và giá trị lịch sử về vấn đề nữ quyền, đồng thời, cung cấp thông tin về một số nhà nữ quyền, phê bình nữ quyền đã có đóng góp lớn cho sự phát triển của lý thuyết nữ quyền trên thế giới những vẫn còn chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam

+ Ngoài ra, luận án đặt phê bình nữ quyền vào bối cảnh chung: bối cảnh hình thành và phát triển lý thuyết nữ quyền cũng như bối cảnh nghiên cứu, phê bình văn học với mong muốn mang lại những hiểu biết có tính liên ngành, nhận diện phê bình nữ quyền trong mối quan hệ với các xu hướng phê bình văn học và các lĩnh vực khoa học khác

5.2 Về phương diện ứng dụng phê bình nữ quyền vào thực tiễn văn xuôi nữ Việt Nam

và Trung Quốc đương đại

+ Luận án cung cấp bức tranh khái quát về tình hình phát triển của hoạt động sáng tác văn xuôi nữ ở hai nước Việt Nam và Trung Quốc đương đại- bộ phận văn học chỉ mới được chú ý trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây; đồng thời, nỗ lực đi vào khảo sát một cách kỹ lưỡng, cụ thể hai tác giả tiêu biểu của bộ phận văn học này ở Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn đương đại là Dạ Ngân và Thiết Ngưng

+ Luận án nỗ lực áp dụng các khái niệm công cụ và phương pháp cụ thể của phê bình nữ quyền vào tác phẩm của Dạ Ngân và Thiết Ngưng để làm bật lên tinh thần nữ quyền trong sáng tác của hai nữ tác giả, tránh hướng tiếp cận theo hướng tự sự học khái quát mà đa phần những người làm công tác nghiên cứu, phê bình văn học theo hệ lý thuyết này thường sử dụng, gây nên tình trạng nhập nhằng giữa phương pháp phê bình nữ quyền và phương pháp phê bình thi pháp học, tự sự học

+ Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng đưa ra nhận định và đi vào phân tích cụ thể những biểu hiện nữ quyền của hai tác giả không chỉ trên phương diện ý thức mà còn trên phương diện lối viết Tiếp cận lối viết của các tác giả nữ theo lý thuyết phê bình nữ quyền Pháp vẫn còn là một phương thức khá mới mẻ, chưa được ứng dụng nhiều ở Việt Nam Từ đó, chúng tôi hy vọng góp phần công sức nhỏ bé vào việc giới thiệu và thực hành khuynh hướng lý thuyết này, làm bật lên những yếu tố tự sự nữ quyền mang tính thi pháp phổ quát của sáng tác nữ giới, đồng thời, phát hiện ra những nét đặc trưng riêng biệt trong tư duy nghệ thuật của Dạ Ngân, Thiết Ngưng như là những sáng tạo cá nhân

+ Hơn nữa, luận án tiến hành so sánh văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng để xác định

và phân tích những điểm tương đồng cũng như khác biệt về ý thức nữ quyền và lối viết Đồng

Trang 14

thời, chúng tôi cũng cố gắng lý giải những điểm tương đồng và khác biệt đó dựa trên các yếu tố: bối cảnh xã hội, bối cảnh văn học, đặc trưng giới tính, trải nghiệm cá nhân…

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Dẫn nhập (7 trang), Kết luận (7 trang), Tài liệu tham khảo (22 trang), Phụ

lục (223 trang), luận án được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và lịch sử nghiên cứu vấn đề (53 trang)

1.1 Tổng quan về phê bình nữ quyền phương Tây

1.2 Lịch sử nghiên cứu văn xuôi nữ Việt Nam và Trung Quốc đương đại từ lý thuyết phê bình nữ quyền

Chương 2: Phong trào nữ quyền và văn xuôi nữ Việt Nam, Trung Quốc đương đại (50

3.1 Ý thức về vị thế “giới hạng hai” (the second sex) của nữ giới

3.2 Ý thức về những cơ chế xác lập vị thế “giới hạng hai” của nữ giới

3.3 Ý thức phủ định và kháng cự chế độ nam quyền

Chương 4: Văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng từ phương diện thi pháp nữ quyền

(feminist poetics) (47 trang)

4.1 Thi pháp tự thuật trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng

4.2 Thi pháp tư duy hồi mẫu trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng

4.3 Thi pháp viết về cái thường nhật trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng

4.4 Thi pháp thân thể trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng

4.5 Thi pháp giễu nhại trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Trong chương này, ở phần thứ nhất, luận án tập trung làm rõ sự hình thành của phê bình

nữ quyền dựa trên nền tảng tư tưởng nữ quyền phương Tây- nơi giữ vai trò của cái nôi sinh thành, phát triển lý thuyết nữ quyền của cả thế giới Trong tiến trình vận động lịch sử đó, chúng tôi cố gắng nghiên cứu kỹ lưỡng sự xác lập quan niệm, bản chất tư tưởng của phê bình nữ quyền, sự hình thành và phát triển của hệ thuật ngữ trọng tâm, các khuynh hướng phát triển, sự xác định đối tượng, mục tiêu và phương pháp phê bình, nghiên cứu văn bản… Về khuynh hướng phê bình, chúng tôi lựa chọn để giới thuyết các khuynh hướng có ảnh hưởng đến cách thức tiếp cận văn bản và phù hợp với đối tượng nghiên cứu của luận án: khuynh hướng phê bình nữ quyền Marxist, phê bình nữ quyền xã hội, phê bình nữ quyền văn hóa, phê bình nữ quyền phân tâm học và thi pháp nữ quyền Từ đó, đến phần thứ hai, chúng tôi sẽ giới thuyết về lịch sử nghiên cứu vấn đề với cái nhìn tổng quan về các công trình, bài viết của những nhà nghiên cứu, những người làm công tác văn học về phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc, bao gồm cả trường hợp sáng tác của Dạ Ngân và Thiết Ngưng

1.1 Tổng quan về phê bình nữ quyền phương Tây

1.1.1 Sự hình thành của nền phê bình nữ quyền phương Tây

Từ cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, văn học nữ quyền bắt đầu thịnh hành sau sự mở đường của Virginia Woolf1 và Simone de Beauvoir2 Mặc dù không đề

cập đến vấn đề văn chương, quyển Bí ẩn nữ tính (The Feminine Mystique) của Betty Friedan3công bố năm 1963 đã truyền cảm hứng lớn lao cho nữ giới và những người hoạt động trong lĩnh vực nữ quyền, đánh thức họ nhìn thẳng vào thực tế bị giam hãm đến “khủng hoảng bản sắc nữ” (Friedan, B., 2015, tr.100) trong vầng hào quang đầy tính ngụy biện sinh ra từ các huyền

thoại và sự xưng tụng phụ nữ Hai tác phẩm khởi nguồn cho phê bình nữ quyền là Trí tưởng

tượng nữ giới: Một khảo cứu văn học và tâm lý về sáng tác văn học nữ (The Female

1 Virginia Woolf (1882 - 1941): Một nhà văn, nhà tư tưởng nữ quyền nổi tiếng người Anh Bà đã viết gần 20 cuốn tiểu thuyết và tiểu luận về vấn đề phụ nữ và nữ quyền

2 Simone de Beauvoir (1908 - 1986): Một nhà triết học hiện sinh, nhà nữ quyền tiêu biểu người Pháp của thế kỷ XX

3 Betty Friedan (1921 - 2006): Một nhà văn, nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng, là người sáng lập và giữ vai trò chủ tịch đầu tiên của Tổ chức Quốc gia vì phụ nữ của Mỹ

Trang 16

Imagination: A Literary and Psychological Investigation of Women's Writing) của Patricia

Meyer Spacks ra mắt năm 1975 và Nữ nhà văn- Những tác giả vĩ đại (Literary Women- The

Great Writers) của Ellen Moers xuất bản năm 1976 Với 11 bài viết được chia thành hai phần,

Ellen Moers đã tái hiện lịch sử văn chương nữ phương Tây (Anh, Pháp và Mỹ) từ thế kỷ XVIII cho đến thập niên 1970 qua sáng tác của 30 nhà văn nữ nổi bật, khẳng định sự hiện diện và năng lực sáng tạo của chủ thể nữ cùng với những thành tựu của họ, phân tích những yếu tố hiện thực cản trở việc sáng tác của nữ giới (sự hạn chế về công việc, tình trạng bị lệ thuộc về tài

chính và định kiến về “người nữ bé nhỏ” (“little women”) trong xã hội)

Cũng trong thời gian này, Hélène Cixous4 đã khai sinh ra lý thuyết nữ quyền hậu cấu

trúc (Poststructural feminist theory), khẳng định rằng thân thể và tính dục của phụ nữ không có

mối quan hệ với sinh thực khí của nam giới, mà trước hết, khoái cảm nhục thể cũng như thân xác người phụ nữ tồn tại bằng chính nó, là cái tự nó, là cái “tôi” chủ thể của giới nữ Từ lập luận khởi điểm đó, Hélène Cixous diễn giải quan điểm của mình về sự hình thành và đặc trưng của

lối viết nữ (l’écriture feminine) Bằng thủ pháp biểu đạt đặc thù, người phụ nữ viết văn sẽ phá

vỡ cấu trúc và trật tự những biểu tượng được xác lập và cố định trong diễn ngôn nam giới Bốn năm sau (1979), Elaine Showalter5 đã nghiên cứu lịch sử văn học nữ của nước Anh

từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX với các tiểu thuyết gia tiêu biểu từ Charlotte Brontë cho đến Doris

Lessing trong quyển Một nền văn chương của chính họ (A Literature of Their Own) (1979) So

với hai công trình của Patricia Meyer Spacks và Ellen Moers, những trang viết của Elaine Showalter thể hiện phương pháp phê bình nữ quyền rõ ràng hơn, đi từ khát vọng viết văn của người nữ cho đến sự hình thành nền mỹ học nữ giới qua quá trình sáng tạo

Cũng trong năm 1979, Người đàn bà điên loạn trên gác mái (The Madwoman in the

Attic), công trình nghiên cứu bất hủ của Sandra Gilbert và Susan Gubar, được hoàn thành Tác

phẩm này khảo sát hoàn cảnh sáng tác của các tác giả nữ như Jane Austen, Mary Shelley, George Eliot, Emily Dickinson, chị em nhà Brontës…giữa sự vây bọc bởi đường biên giới của nền văn hóa nam quyền và những dấu ấn huyền thoại nam tính trong văn bản của họ Phủ nhận việc tái hiện người nữ chỉ với hai kiểu hình tượng: thiên thần hoặc ác quỷ của nền văn học nam giới truyền thống, Sandra Gilbert và Susan Gubar đã hướng tới khát vọng tháo dỡ những rào chắn kìm hãm người nữ, giải phóng họ khỏi cái vòng kim cô của nam giới trong đời sống xã

4 Hélène Cixous (1937-): Một giảng sư đại học danh tiếng, vừa là một nhà nữ quyền cấp tiến, đồng thời là nhà thơ, nhà triết học, nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà soạn kịch, nhà tu từ học… của nước Pháp thế kỷ XX

5 Elaine Showalter (1941-): Nhà phê bình nữ quyền nổi tiếng của nước Mỹ, chuyên gia nghiên cứu về văn học nữ Anh,

Mỹ thế kỷ XX

Trang 17

hội lẫn trong lĩnh vực sáng tác và mang đến sự tự do cho phụ nữ với nền thi học của chính mình Tiếp sau hai tác giả này, những nhận thức về mỹ học và văn hoá nữ giới ở Mỹ được phát triển dưới ngòi bút và điểm nhìn của các nhà nữ quyền như Toril Moi, Annett Kolodny, Adrienne Rich, Marge Piercy, Judy Chicago, Susan Griffin, Alice Walker…

Năm 1985, công trình nghiên cứu nữ quyền kinh điển Chính trị giới tính/ văn bản (Sexual/ Textual Politics) của Toril Moi6, đã trình bày một cách sống động về lịch sử phê bình

nữ quyền, qua các khuôn mặt: Virginia Woolf, Kate Millet, Mary Ellman, Annette Kolody, Elaine Showalter, Myra Jehlan, Simone de Beauvoir, Hélène Cixous, Luce Irigaray, Julia Kristéva Đóng góp nổi trội của tập sách nằm ở chỗ, trong khi diễn giải những luận điểm chính của từng nhà nữ quyền, nêu bật đặc trưng, thẩm định giá trị, của các luận điểm đó, tác giả đưa

ra cái nhìn của những nhà nghiên cứu, nhà phê bình khác về các luận điểm ấy, tạo ra mối quan

hệ tương tác, ảnh hưởng qua lại và sự đối thoại giữa các luận điểm, giữa các nhà tư tưởng nữ quyền7 Như vậy, cùng với sự tái lập lộ trình tư tưởng, Toril Moi còn tạo dựng lại một xã hội tư tưởng với sự tiếp nối, tương tác, va chạm, phủ định và vượt qua giữa các quan niệm nữ quyền khác nhau

Phê bình nữ quyền đã có những tác động tích cực đến đời sống sáng tác văn học nữ

Năm 1970, tại Mỹ, cuốn Chính trị giới tính (Sexual Politics) của Kate Millett ra mắt công

chúng với những phân tích về mối quan hệ giữa phong trào đấu tranh chính trị giải phóng phụ

nữ với hoạt động sáng tác Nghiên cứu văn chương của nữ giới đã tạo ra cơn bùng nổ của chủ

đề thức tỉnh Từ đó, các nhà phê bình tái phát hiện quyển tiểu thuyết mang tên Bừng tỉnh (The

Awakening) viết về người phụ nữ khát khao đi tìm cái tôi của mình qua những đam mê của

Kate Chopin (1851 – 1904), vốn được hoàn thành từ năm 1899 nhưng bị lãng quên suốt sáu thập kỷ dài, và soi sáng giá trị của tác phẩm này qua lăng kính nữ quyền Sau đó, tác phẩm

Giấy dán tường màu vàng (The Yellow Wallpaper) của Charlotte Perkins Gilman (1860 –

1945), cũng có số phận giống Bừng tỉnh, ra đời từ năm 1892 và được phát hiện lại vào thập niên

1960 Tác phẩm này xây dựng hình tượng một người phụ nữ bị giam cầm đã ghi lại cuộc đời tù

6 Toril Moi (1953-): Nhà phê bình nữ quyền gốc Na Uy, giáo sư văn học, nghệ thuật sân khấu và triết học của Đại học Duke, Bắc Carolina, Hoa Kỳ Bà là tác giả của công trình nổi tiếng Chính trị học giới tính/ văn bản (Sexual/ Textual

Trang 18

túng của mình lên các mảnh giấy dán tường Tương tự như vậy, ở Anh và ở Pháp, hai tác phẩm

Cuốn sổ tay vàng (The Golden Notebook, 1962) của Doris Lessing và Những nữ du kích (Les Guérillères, 1969) của Monique Wittig đã được thay đổi số mệnh và thoát khỏi bóng tối im

lặng nhờ ánh sáng nữ quyền Những sự kiện này đã mở ra cuộc khai phá lịch sử văn học nữ trong nền văn học các nước và tìm kiếm lại những đứa con tinh thần của các cây bút nữ bấy lâu phải câm lặng vì bị lãng quên và chối bỏ

Từ đó, đời sống sáng tác của văn chương phương Tây cũng xôn xao bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều các gương mặt nữ Nếu như từ năm 590 trước công nguyên cho đến thế kỷ thứ XVIII, văn chương nữ giới chỉ có một số gương mặt tiêu biểu, khởi đầu là Sappho (Hy Lạp, thế

kỷ thứ VI TCN.), Marie de France (Anh, thế kỷ XII), Christine de Pisan (Pháp, thế kỷ XIV), Hélisenne de Crenne (Pháp, thế kỷ XVI), Anne Bradstreet (Mỹ, thế kỷ XVII), Aphra Behn (Anh, thế kỷ XVII), Anne Finch (Anh, thế kỷ XVIII), Lady Mary Walker (Scotland, thế kỷ XVIII), Mary Wollstonecraft (Anh, thế kỷ XVIII), Susanna Rowson (Mỹ, thế kỷ XVIII), Mary Robinson (Anh, thế kỷ XVIII)… thì chỉ trong thế kỷ XIX, số lượng tác giả và tác phẩm đã nhiều hơn mười tám thế kỷ trước cộng lại Đầu thế kỷ XIX, nhiều tác giả nữ muốn được tự do khi đến với công chúng và được bình đẳng với những nhà văn nam, đã phải lấy bút danh nam tính như Fernan Caballero (Tên thật là Cecelia Bohl, 1796, Tây Ban Nha), George Sand (Tên thật là Aurore Dupin, 1804, Pháp), George Eliot (Tên thật là Mary Anne Evans, 1819, Anh), A.M Barnard (Tên thật là Louisa May Alcott, 1832, Mỹ), Ernst Ahlgren (Tên thật là Victoria Benedictson, 1850, Thụy Điển), chị em nhà Brontë ở Anh cũng từng lần lượt lấy bút danh Currer, Ellis và Acton Bell khi sáng tác Để được hiện diện trên văn đàn, họ phải che đậy sự thật giới tính nhằm vượt qua những thiên kiến của xã hội Thế nhưng, dần dần, người phụ nữ đã trỗi dậy mạnh mẽ và tạo nên buổi bình minh rực rỡ cho nền văn chương nữ giới với một loạt các tên tuổi: nước Anh có Jane Austen (1775), Caroline Lamb (1785), Felicia Hemans (1793), Mary Shelley (1797), Charlotte Brontë (1816), Emily Brontë (1818), Ann Brontë (1820); nước

Mỹ có Harriet Martineau (1802), Ellen Wood (1814), Lydia Child (1802), Agelina Grimké (1805), Margaret Fuller (1810), Harriet Beecher Stowe (1811), Emily Dickinson (1830), Kate Chopin (1850); Ireland có Maria Edgeworth (1768)… Sang đến thế kỷ XX, người nữ viết văn trở thành một lực lượng đông đảo với những ngòi bút giàu trí tuệ và cá tính sáng tạo như Etel Lilian Voinich (1864), Virginia Woolf (1882), Agatha Christie (1890), Rebecca West (1892), Enid Blyton (1897), Doris Lessing (1919)… của nước Anh; Marguerite Yourcenar (1903), Simone de Beauvoir (1908), Marguérite Duras (1914), Annie Ernaux (1940)… của nước Pháp;

Trang 19

Edith Wharton (1862), Harper Lee (1926), Adrienne Rich (1929), Toni Morrison (1931), Alice Walker (1944), Velma Wallis (1960), Naomi Woolf (1962)… của nước Mỹ; Margaret Atwood (1939) của Cannada, Margaret Bennett (1946) của Scotland… Không còn là những cái tên chỉ được đếm trên đầu ngón tay hay phải ẩn danh nữa, người phụ nữ viết văn phương Tây lộ diện

và nở rộ bằng tất cả sức sống mãnh liệt của sự sáng tạo

Có thể gọi đây là thời kỳ khai sáng của người phụ nữ và họ trở thành chủ thể của các hoạt động, từ lĩnh vực sáng tác đến địa hạt lý luận phê bình Trong môi trường ấy, phê bình nữ quyền, sau gần 10 năm manh nha với một “sản lượng dồi dào các tác phẩm phê bình của phụ

nữ được hình thành trên nền tảng những vấn đề nữ quyền” (Collier, P và Geyer-Ryan, H.,1990,

tr 179), như chạm vào nguồn mạch của chính mình, đã trỗi dậy, tràn trề sức sống từ thập niên

(masculine logic, phallocentric) Cái nhìn nam giới trung tâm được phóng chiếu thành nhãn quan của toàn thể nhân loại Các nhà nữ quyền gọi đây là lối phê bình phi giới tính (sexless),

nghĩa là chưa chú ý đến cái nhìn của nữ giới (và các giới khác) trong việc tiếp cận văn bản, thậm chí, lý giải văn bản theo cái nhìn mang tính nam trị phổ biến, mặc định Theo đó, lịch sử phê bình văn chương đã để lại một khoảng trống lớn và muốn mang tính toàn diện, hoạt động phê bình phải bổ sung nhãn quan và kinh nghiệm nữ giới vào trường nhìn của mình, từ đó, thiết lập lại hệ thống giá trị văn học dựa trên sự đa nguyên về giới Như vậy, phê bình nữ quyền “ủng

hộ mạnh mẽ một kiểu đọc phản kháng”, xóa bỏ những định kiến nam quyền và “nuôi dưỡng

cách đọc thực sự từ góc độ của người nữ” (Bài Ngụy, 2007, Lời nói đầu, trang 1)

1.1.2.1 Khái niệm phê bình nữ quyền phương Tây

Về tên gọi, phê bình nữ quyền (feminist cricticism) hoặc phê bình văn học nữ quyền (feminist literary criticism) là hai khái niệm được dùng khá phổ biến Đặc biệt, Luce Irigaray8trong bài tiểu luận “Giới tính này không phải là một giới” (“This Sex Which is not One”) đề

8 Luce Irigaray (1932-): Nhà nữ quyền, triết học, phân tâm học, xã hội học, ngôn ngữ học người Bỉ

Trang 20

nghị đổi khái niệm phê bình văn học nữ quyền (Feminist Literary Criticism) thành lý thuyết nữ quyền phê bình văn học (Literary Critic Feminism) để nhấn mạnh cái nhìn nữ quyền

Toril Moi cho rằng “Phê bình nữ quyền là một dạng thức đặc thù của diễn ngôn chính trị: một kiểu thực hành phê bình gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại chế độ nam quyền và phân biệt giới tính” (Belsey, C and Moore, J., 1989, tr 117) Về đối tượng, Marry Ellen Snodgrass (2006) khẳng định: “Phê bình nữ quyền phục hồi lại truyền thống và lịch sử văn chương nữ giới (…), đánh giá lại các nhân vật và hệ tác phẩm với cái nhìn hướng đến sự công bằng cho người nữ” (tr 196)

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu khá thống nhất khi cùng quan niệm rằng phê bình văn học nữ quyền là một khuynh hướng vận dụng tư tưởng nữ quyền để tiếp cận tác phẩm văn học;

lấy người phụ nữ làm đối tượng nghiên cứu trung tâm (women centered) (Donovan, 2000,

tr.61); mô tả, phân tích và lý giải những thiết chế xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo, giáo dục… mang tính nam trị đã áp bức người phụ nữ trong các tác phẩm văn học, đồng thời, kiến tạo thế giới nghệ thuật của người nữ (từ phương diện hiện thực được phản ánh đến phương diện tu từ nghệ thuật, từ thế giới phản ánh đến thế giới được phản ánh) bằng cái nhìn và sự trải nghiệm của nữ giới Từ đó, tác phẩm giữ vai trò của diễn ngôn giới tính, bộc lộ sự phản kháng của nữ giới với thiết chế nam quyền và khát vọng tạo lập vị trí của phụ nữ trong tư thế bình đẳng giới

1.1.2.2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu của phê bình nữ quyền phương Tây

Phê bình nữ quyền là một khuynh hướng tiếp nhận văn học in đậm tính trải nghiệm Về đối tượng, phê bình nữ quyền tập trung nghiên cứu những biểu hiện bất bình đẳng về giới trong đời sống văn học, từ nhà văn, người đọc đến văn bản trong áp lực của các loại văn cảnh khác nhau Trong suốt quá trình nghiên cứu, phê bình nữ quyền luôn đặt người phụ nữ ở vị trí trung tâm trong thế đối sánh với nam giới Nội dung cụ thể mà phê bình nữ quyền tiến hành là: (1) Khám phá lại sáng tác của các tác giả nữ trong lịch sử văn học, đặc biệt, những tác phẩm từng

bị lãng quên, bị chối bỏ trong quá khứ (2) Xem xét lại hình ảnh người phụ nữ trong nền văn chương của nhân loại, đánh giá lại cái nhìn của các tác giả nam về người phụ nữ (3) Xây dựng diễn ngôn nữ giới, mỹ học nữ giới, văn hoá nữ giới

Những mục tiêu nghiên cứu từ đó hình thành và trọng tâm của nó thay đổi theo từng giai đoạn, gắn liền với phong trào và lý thuyết nữ quyền, cũng như phát xuất từ thực tiễn văn học và những ý hướng chuyên môn của từng cá nhân

Trang 21

Annis Pratt cho rằng phê bình văn học nữ quyền có bốn công việc chính: (1) Phát hiện lại tác phẩm văn học do phụ nữ viết; (2) Phân tích và đánh giá các khía cạnh hình thức văn bản của các tác phẩm; (3) Tìm hiểu cách thức những tác phẩm ấy phản ánh mối quan hệ nam nữ (4)

Mô tả sự phát triển của các yếu tố liên quan đến huyền thoại và tâm lý liên quan đến người phụ

nữ trong văn học

Tuy vậy, không phải nhà phê bình nữ quyền nào cũng thống nhất với Annis Pratt về 4 mục tiêu này và xem đó là những mục tiêu chung Đặc biệt, ở mục tiêu thứ 4, bà đã bộc lộ rõ khuynh hướng phê bình huyền thoại của mình Vậy thì rõ ràng mục tiêu này khó có thể nằm trên giao lộ với các khuynh hướng khác Hơn nữa, theo chủ trương đối lập với nền văn hóa nam tính thống trị, một số nhà phê bình nữ quyền phê phán rằng 4 mục tiêu của Pratt vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào những khuynh hướng tiếp cận văn học truyền thống đã được các nhà phê bình nam thiết lập: xác lập thư mục, tiếp nhận văn bản, khảo sát bối cảnh và tìm kiếm những cổ mẫu Họ đòi hỏi phải tạo dựng những phương pháp tiếp cận khác, đặc trưng cho nữ giới và tách biệt hoàn toàn với những giá trị truyền thống

Trong bài viết thiết lập thư mục các tác phẩm thuộc khuynh hướng phê bình nữ quyền, Cheri Register (giảng viên ngành Phụ nữ học, Đại học Minnesota, Hoa Kỳ) đã phân mục tiêu của phê bình nữ quyền thành 3 nhánh chính: (1) Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học, bao gồm cả những hình tượng được sáng tạo bởi nam giới (2) Khảo sát lại nền phê bình hiện đại về các tác giả nữ (3) Xác lập những nguyên tắc tạo nên hệ thống tiêu chuẩn cho văn học từ quan điểm nữ quyền Từ đó, Cheri Register cho rằng “phê bình nữ quyền là phương thức tốt nhất để nhờ vào đó, văn học phụng sự cho sự tự do” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác,

1999, tr.247) Bên cạnh đó, bà đúc rút ra rằng, “phê bình văn học có bối cảnh xã hội của nó và phê bình văn học nữ quyền có mục tiêu chính trị - xã hội trong bối cảnh đó, ngược lại, phê bình

về tính khách quan của các nhà phê bình hình thức (chẳng hạn như các nhà phê bình mới) chỉ mang tính hợp lý bề ngoài và không thực sự thỏa đáng mỗi khi họ thất bại trong việc chú tâm vào bối cảnh xã hội” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác, 1999, tr.247)

Elaine Showalter, một trong những cây đại thụ của phê bình nữ quyền Hoa Kỳ, đã vạch

ra con đường cho phê bình nữ quyền hướng tới xây dựng một hệ điển phạm nữ giới (female

canon), một hệ thống mỹ học nữ (female aesthetic) và lý thuyết phê bình nữ tác gia (gynocriticism), với mục tiêu xác định những nét đặc trưng của sáng tác nữ, xác lập một truyền

thống văn chương nữ hoàn toàn độc lập và tách biệt với kinh nghiệm phê bình truyền thống của nam giới Thế nhưng, trong thực tiễn, trên lối đi khai phá mới mẻ của mình, phê bình nữ quyền

Trang 22

vẫn phải mang theo hành trang là nền tảng truyền thống của nền sáng tác và phê bình văn học mang đậm chất nam tính ưu trội và các nhà phê bình nữ quyền không thể thoát khỏi dấu ấn của những giá trị truyền thống, đặc biệt là sự ảnh hưởng và tiếp thu thành tựu của phê bình Marxist, phê bình phân tâm học, thuyết giải cấu trúc và phê bình huyền thoại Chính Elaine Showalter (Collier, P và Geyer-Ryan, H 1990) cũng đã thừa nhận rằng:

Trong bài viết “Phê bình nữ quyền ở miền hoang dã” (Feminist Criticism in The

Wilderness) (1981), tôi đã lên tiếng phản đối ý tưởng kỳ quái về một vùng ý thức hay văn hóa

hoang dã, trống rỗng của nữ giới, nằm bên ngoài phạm vi nam quyền (…), không thể có những sáng tác hay phê bình nằm ngoài nền văn hóa nam trị Cả sáng tác nữ giới lẫn phê bình nữ quyền về bản chất tất yếu đều là những diễn ngôn lưỡng giọng, đều hiện thân cho cả sự bị trị và thống trị, là tiếng nói bên trong của cả phê bình nữ quyền và các khuynh hướng phê bình chủ nghĩa (tr.191)

Như vậy, chính những người nằm trong vành nôi của phê bình nữ quyền cũng nhận ra rằng, ý muốn ly khai truyền thống, trong đó có văn hóa nam trị, của một số nhà phê bình nữ quyền, là một ảo tưởng, tất sẽ dẫn đến một viễn cảnh không thực Patsy Schweickart9 cũng đã khẳng định, người phụ nữ được sinh ra và nuôi dưỡng trong bối cảnh văn hóa - xã hội nam quyền thì họ buộc phải hấp thụ nền văn hoá ấy một cách tự nhiên, thiết yếu như môi trường sống của mình chứ không thể phủ nhận nó một cách sạch trơn:

Một nhà phê bình nữ quyền không thể khước từ một cách đơn giản việc tiếp nhận các văn bản nam quyền trong khi chúng hiện diện ở khắp mọi nơi và quyết định sự tham dự của người phụ nữ vào sự nghiệp sáng tác cũng như phê bình văn học Thực tế là, trong khi dần trở thành một nhà phê bình nữ quyền, một người phụ nữ đã đọc một lượng lớn các văn bản của nam giới, đặc biệt là những sáng tác và phê bình mang tính kinh điển Người phụ nữ đã tiếp nhận một cách hồn nhiên không chỉ các văn bản lấy nam giới làm trung tâm mà cả những khuynh hướng tiếp cận và những giá trị lấy nam giới làm trung tâm nữa (Collier, P and Geyer-Ryan, H., 1990, tr.192)

Khác với các nhà phê bình nữ quyền Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào mục đích khảo sát

và thiết lập lịch sử văn học của người nữ, hình thành nên “nền văn chương của riêng mình” (chữ dùng của Elaine Showalter), các nhà nữ quyền Pháp lại muốn đi vào phương diện văn bản, khám phá đặc thù ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật của nữ giới để tạo nên một hệ mỹ học chuyên

9 Giảng viên đại học Purdue, bang Indiana, Hoa Kỳ

Trang 23

biệt của người nữ Vận dụng hậu cấu trúc luận và phân tâm học, các nhà nữ quyền Pháp xem

“văn bản văn học không bao giờ là sự tái hiện thực tại, là sự mô phỏng những giọng nói cá nhân

về trải nghiệm vụn vặt của mình” và nhà phê bình phải “hướng vào ngôn ngữ, tính biểu tượng cũng như yếu tố tâm thần; thường xuyên khảo cứu những luận bàn cặn kẽ mang tính triết học

về các yếu tố đó trước khi đi vào bản thân văn bản văn học” (Barry, P., 2002, tr 125) Nhìn chung, các khuynh hướng phê bình nữ quyền vừa có những mục tiêu chung gắn liền với quan niệm nữ quyền, vừa có các mục tiêu riêng biệt, đặc thù phù hợp với đối tượng và phương pháp tiếp cận tác phẩm của mình Peter Barry10 đã đề ra 11 mục tiêu của phê bình nữ quyền trong

quyển Bước khởi đầu của lý thuyết (Một đề dẫn về lý thuyết văn học và văn hóa) (Beginning

Theory (An Introduction to Literary and Cultural Theory)) do đại học Manchester xuất bản như

sau: (1) Nghiên cứu lại các điển phạm, tập trung mục tiêu vào việc tái khám phá những tác phẩm do phụ nữ sáng tác.(2) Tái định giá những trải nghiệm của nữ giới (3) Khảo sát sự phản ánh hình tượng phụ nữ trong tác phẩm văn học do nữ giới và nam giới sáng tác (4) Không thừa nhận việc tái hiện phụ nữ như là “Kẻ khác”, “Kẻ vắng mặt”, như là một phần của tự nhiên (5) Khảo sát những mối tương quan quyền lực tồn tại trong văn bản và trong đời sống với cái nhìn hủy hoại chúng, xem việc đọc như là một hành vi chính trị và chỉ ra quy mô của nam quyền (6)Nhận diện vai trò của ngôn ngữ trong việc tạo ra xã hội và được cấu trúc như thể theo một cách hoàn toàn hiển nhiên, tự nhiên (7) Chú trọng đến vấn đề sự khác biệt của nam giới được quy định bởi sự khác biệt bản chất về yếu tố sinh học hay là do sự khác biệt về văn hóa (8) Khám phá vấn đề có tồn tại hay không ngôn ngữ nữ giới, lối viết nữ và các khái niệm này có khả dụng với nam giới hay không? (9) Đọc lại theo lối phân tâm học để khám phá sâu xa hơn vấn đề bản sắc nam giới và nữ giới (10) Xem lại quan niệm phổ biến về cái chết của tác giả, thử tra vấn xem đó chỉ là “vị trí chủ thể được kiến tạo trong diễn ngôn” hay ngược lại, là sự trải nghiệm (chẳng hạn như của người nữ đồng tính, người nữ da đen) giữ vai trò trung tâm? (11) Làm rõ nền tảng ý thức hệ của việc diễn giải dòng văn học được cho là chủ lưu hoặc trung lập

Có thể thấy, 11 mục tiêu này bao hàm mục tiêu nghiên cứu của nhiều khuynh hướng, chứa đựng cả việc tạo lập văn học sử nữ giới, nhìn nhận lại vai trò, vị trí của hình tượng người

nữ đặt trong tương quan với người nam cho đến sự kiến tạo hệ mỹ học nữ giới Ngoài ra, một mục tiêu khác là tái phát hiện lịch sử và văn hoá nữ giới, đã mang lại nhiều thành tựu khả quan

10 Peter Barry (1947-): giáo sư trường Đại học Aberystwyth, vương quốc Anh, chuyên gia nghiên cứu về lý thuyết văn học thế kỷ XX

Trang 24

trong khuynh hướng phê bình nữ quyền da đen, phê bình nữ quyền hậu thực dân, phê bình nữ quyền ở các nước thứ ba…

Cuối cùng, nhu cầu thiết lập một hệ thống nguyên lý chung làm nền tảng cho phê bình

nữ quyền và cho thực tiễn sáng tác, từng được thảo luận nhiều: có chủ trương tạo dựng một hệ thống lý thuyết thống nhất, bên cạnh đề xuất việc phi lý thuyết hóa, để phát triển tự do theo thể

thức thực hành gắn liền với đặc trưng của nữ quyền bản địa (native feminism)

1.1.2.3 Phương pháp nghiên cứu của phê bình nữ quyền phương Tây

Phê bình nữ quyền thường phối hợp với các xu hướng phê bình khác để phân tích văn học Từ thực tiễn hoạt động của các khuynh hướng phê bình nữ quyền, có thể khái quát thành các phương pháp nghiên cứu chủ đạo như sau:

-Tiếp cận tác phẩm như là mô hình của sự khác biệt giới tính: so sánh đối chiếu đặc trưng giới tính của nữ giới và nam giới, khảo cứu sự khác biệt giữa tác giả nam và tác giả nữ trong quá trình sáng tác, từ phương thức sáng tác, phương thức tư duy nghệ thuật, tâm lý sáng tác đến các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học; đồng thời nhìn nhận lại lịch sử phát triển của nền văn học nam giới và nền văn học nữ giới Đi theo hướng này, Elaine Showalter đã xác định

4 mô hình của sự khác biệt: mô hình sinh vật học, mô hình ngôn ngữ, mô hình tâm sinh lý, mô

hình văn hoá Trong đó, bà xác định mô hình sinh vật học chứa đựng sự khác biệt cao nhất và

khuyến khích người phụ nữ bộc lộ yếu tố thể xác như là một đặc trưng bản chất của nữ giới Cũng như các nhà nữ quyền phân tâm học Pháp, Elaine Showalter cho rằng người phụ nữ không thể tái hiện toàn bộ bản thân khi vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống ngôn ngữ nam giới, nhưng, bà có những phân vân về “sự tách rời ra riêng lẻ cái gọi là ngôn ngữ nữ giới” và chưa tìm ra bằng chứng “để đặt ra giả thuyết rằng giới tính đã được lập trình để phát triển những cấu trúc ngôn ngữ khác nhau” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác, 1999, tr.199) Hai mô hình còn lại bao gồm các yếu tố về tầng lớp, chủng tộc, quốc gia và lịch sử của người phụ nữ, cũng đóng vai trò quan trọng, quyết định nên đặc trưng sáng tác của nữ giới

- Tiếp cận tác phẩm như là mô hình ý thức hệ đặc trưng: quan niệm lịch sử phát triển của văn học nữ như là lịch sử phát triển của ý thức hệ, gắn chặt với sự chuyển đổi trong ý thức về vai trò, vị trí của bản thân đối với xã hội của người phụ nữ Elaine Showalter cũng là người đã phân chia lịch sử văn học nữ thành 3 giai đoạn, tương ứng với 3 thời kỳ phát triển ý thức hệ đặc

trưng của nữ giới: (1) Giai đoạn văn học nữ tính (feminine phase, 1840-1880): các tác giả nữ

phỏng mẫu văn học truyền thống của nền sáng tác nam quyền (2) Giai đoạn văn học nữ quyền

(feminist phase,1880-1920): đấu tranh bênh vực cho các thành phần thiểu số và kháng cự lại

Trang 25

những giá trị và truyền thống văn chương nam giới (3) Giai đoạn văn học nữ (female phase,

1920- nay): chống lại sự phụ thuộc vào nam giới, cắt đuôi các hậu tố “tính” trong nữ tính và

“quyền” trong nữ quyền, khẳng định bản thể và truyền thống văn học nữ, hình thành nên một nền văn học nữ tự trị Căn cứ theo vai trò và giá trị lịch sử của các hoạt động, Gill Plain và Susan Sellers11 trong quyển Một lịch sử phê bình văn học nữ quyền (A History of Feminist

Literary Criticism) do Đại học Cambridge ấn hành năm 2007 cũng chia làm ba giai đoạn tương

ứng nhưng định danh theo cách khác: (1) Giai đoạn tiên phong và nữ quyền nguyên sơ: cao trào

nữ quyền thứ nhất, ba tác phẩm kinh điển: Một biện minh cho quyền của phụ nữ (1792) của Mary Wollstonecraft, Căn phòng riêng (1929) của Virginia Woolf và Giới nữ (1949) của

Simone de Beauvoir (2) Giai đoạn sáng tạo nền phê bình nữ quyền (1960-1990): tìm lại truyền thống văn học nữ, khẳng định vị thế và bản ngã nữ giới, phát triển mạnh mẽ các hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, giao thoa với các lý thuyết: phân tâm học, ký hiệu học, hậu cấu trúc, hậu thuộc địa …(3) Giai đoạn chuyển đổi mô hình phê bình nữ quyền: thời kỳ hoài nghi, xét lại, tiến tới phá vỡ ranh giới giữa các khái niệm giới tính: nữ giới, nam giới và đồng tính, tra vấn về những bản thể khác nhau của giới và của con người

- Tiếp cận tác phẩm như là mô hình quyền lực: Khảo sát sự biểu hiện tính ưu trội, tính thống trị, tính khác biệt như là nguyên nhân bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong lịch

sử văn học, khẳng định toàn bộ lịch sử văn học truyền thống bị quyền lực gia trưởng chi phối:

“văn chương như một bộ hồ sơ tập hợp các tư tưởng của chế độ gia trưởng”, “người đọc phản kháng luôn chú tâm vào vấn đề về sự thống trị và sự khuất phục” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác, 1999, tr.199) Từ đó, các nhà phê bình nhấn mạnh đến ý thức phản ứng lại quyền lực nam trị, giải giá trị trung tâm của quyền lực đó

- Tiếp cận tác phẩm phối hợp với phê bình truyền thống: Là sự chọn lựa trong kế thừa và dung hợp, hình thành các hướng đa dạng: phê bình nữ quyền Marxist, phê bình nữ quyền phân tâm học, phê bình nữ quyền hậu cấu trúc, phê bình nữ quyền hậu hiện đại, phê bình nữ quyền sinh thái…

Tóm lại, từ tính chất của đối tượng, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, phê bình nữ quyền đã thể hiện rõ đặc trưng về tính linh hoạt, tính trải nghiệm và tính liên ngành của mình Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có lẽ chưa có một trường phái nghiên cứu văn học nào có thể đưa văn học nối kết một cách chặt chẽ với mọi phương diện của đời sống xã hội và con người

11 Hai giảng viên của Đại học St Andrew, Anh quốc; chuyên nghiên cứu về văn học nữ

Trang 26

như vậy Nói như các nhà xã hội học, phê bình nữ quyền đang thực hiện “một lịch trình gấp bội” trong toàn bộ sự hình thành và phát triển của mình

1.1.3 Những khuynh hướng tiêu biểu của phê bình nữ quyền phương Tây và tiêu điểm nghiên cứu của luận án

Trong sự phát triển của mình, phê bình nữ quyền hình thành nhiều khuynh hướng Chúng tôi xin giới thiệu sâu một số nét chính của các khuynh hướng tiêu biểu, xem đó là căn cứ tiếp cận của luận án

1.1.3.1 Phê bình nữ quyền Marxist (Marxist Feminist Criticism) và phê bình nữ quyền

xã hội (Social Feminist Criticism)

Phê bình nữ quyền, phê bình Marxist, phê bình xã hội học có những điểm tương đồng: Thứ nhất là cả ba cùng quan tâm đến hiện thực xã hội; trong hiện thực xã hội, tập trung vào hiện trạng bất bình đẳng (giới/ giai cấp); trong bất bình đẳng, đặc biệt chú ý về thiết chế vật chất

và thiết chế tinh thần (kinh tế, văn hóa), do vậy sự dung hợp này là tất yếu Phê bình nữ quyền Marxist, sau này phát triển thành phê bình nữ quyền xã hội, là một trong những khuynh hướng phê bình chủ lưu, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thế giới văn bản Hướng trọng tâm vào mối quan hệ giữa xã hội và văn học, phê bình nữ quyền xã hội kết hợp hai đối tượng nghiên cứu là giai cấp và giới tính trong một điểm nhìn Xu hướng này xem văn bản như một mô thức thực tại xã hội, trong đó, sự phân chia địa vị và vai trò giới tính tương ứng với sự phân chia giai cấp Khi phân tích tác phẩm văn học, nhà phê bình luôn đặt con người cá nhân gắn chặt với cộng đồng xã hội và đặc tính của cá nhân có quan hệ chặt chẽ với đặc trưng của môi trường văn hoá theo quan niệm một văn bản văn học ra đời mang theo trong nó những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,… và sự tương tác giữa các điều kiện đó Khi khảo sát văn bản, khuynh hướng này tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề sau: Hệ thống nhân vật bộc lộ sự phân chia giai cấp theo xu hướng bất bình đẳng như thế nào? Nam giới nắm giữ quyền lực trung tâm, bao gồm cả quyền sở hữu tư liệu tiêu dùng (trong gia đình) và tư liệu sản xuất (trong

xã hội) ra sao? Người nữ ở trong tình trạng bị lệ thuộc và bị trị như thế nào? Những thể chế văn hóa- xã hội nào được phản ánh trong văn bản đã tham gia vào việc hình thành nên tình trạng bất bình đẳng giới đó? Nhân vật có biểu lộ nhận thức về nữ quyền và có ý thức phản kháng để phủ định chế độ nam quyền, tạo ra sự chuyển đổi vị thế giới hay không?

Điểm khác biệt căn bản của hai khuynh hướng này nằm ở chỗ nữ quyền Maxist cho rằng

sự bất bình đẳng giai cấp và bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là nguyên do gây ra bất bình đẳng giới và khi chế độ tư bản bị xóa bỏ thì hai giới sẽ đạt được trạng thái bình đẳng còn nữ

Trang 27

quyền xã hội chủ nghĩa phân định sự khác biệt giữa trật tự giai cấp và trật tự giới tính, chế độ nam quyền và chế độ tư bản và những cơ chế này đan xen, thống nhất với nhau chứ không đồng nhất trong quá trình gây ra sự áp bức đối với nữ giới

Trong khi nhấn mạnh đến mức gần như tuyệt đối hoá mối quan hệ giữa văn học và xã hội, phê bình nữ quyền xã hội đã không nhìn nhận tác phẩm văn học như một giá trị nội tại, cá biệt, và “vô tình giết chết tính thẩm mỹ và những thiên tài nghệ thuật” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác, 1999, tr.202) Hơn nữa, do quá chú trọng đến yếu tố vật chất (theo kiểu “nhất

nguyên kinh tế” cực đoan như Simone de Beauvoir đã chỉ ra trong quyển Giới nữ) phương pháp

phê bình này đã không có được một cái nhìn đầy đủ về các yếu tố tác động đến vấn đề giới tính trong đời sống con người Vì vậy, luận án đã kết hợp cái nhìn này với phương pháp phân tích của các khuynh hướng phê bình nữ quyền khác để nỗ lực lý giải vấn đề của phụ nữ trên nhiều phương diện

1.1.3.2 Phê bình nữ quyền văn hóa (Cultural Feminist Criticism)

Phê bình nữ quyền văn hóa được hình thành tựa trên khung lý thuyết của xu hướng nữ

quyền văn hóa (cultural feminism), vốn có nguồn gốc từ nữ quyền cấp tiến (radical feminist) và

kế thừa những thành tựu nghiên cứu của ngành nhân học văn hóa nữ quyền Sau quá trình khảo sát, các nhà nghiên cứu vừa khẳng định tình trạng bị trị, bị áp bức và đè nén là tình trạng phổ quát của nữ giới ở mọi dân tộc, mọi thời đại; vừa xác quyết sự khác biệt vô cùng phong phú và

đa dạng giữa người nữ thuộc các nền văn hóa khác nhau Những thành tựu của nhân học văn hóa (xin xem trong phụ lục 2, trang 179 và 180) đã tác động đến sự phát triển của phê bình nữ quyền văn hóa Cách tiếp cận này (1) xác định sự biểu hiện của những mô thức văn hóa thống

trị- bao gồm cả thực tại văn hóa (cultural reality) và tâm thức văn hóa (cultral mind set)- đã

hình thành và duy trì tình trạng bị áp bức của nữ giới trên văn bản, (2) lý giải nguồn gốc, cách thức hoạt động, bảo tồn và liên kết với các yếu tố khác trong xã hội để tăng cường tính cố kết của các mô thức văn hóa đó suốt chiều dài lịch sử đời sống (3) phân tích sự tác động của văn hóa đến thiết chế gia trưởng và quan niệm, cách ứng xử hạ thấp nữ giới, (4) khảo sát hình tượng người nam và người nữ như là những chủ thể/ đối tượng văn hóa với những biểu hiện nam tính,

nữ tính cụ thể để chứng minh cho trạng thái bất bình đẳng giới trên phương diện văn hóa, (5) tìm kiếm sự phản ứng với văn hóa nam trị của người nữ và việc xác lập diễn ngôn văn hóa nữ quyền trên văn bản như là một động thái phản kháng văn hóa truyền thống, biểu lộ khát vọng

về một sự biến đổi văn hóa (cultural transform) Như vậy, phương pháp phê bình này chủ yếu

tựa trên cái nhìn có tính nhị nguyên về truyền thống/ hiện đại, giá trị/ phi giá trị của văn hóa để

Trang 28

đề xuất một sự chọn lọc và điều chỉnh văn hóa theo tinh thần ủng hộ bình đẳng giới Cũng chính vì vậy, hướng tiếp cận văn hóa thường đứng trước hai thách thức cơ bản: (1) những khó khăn trong việc nhận diện các vấn đề văn hóa gây bất lợi cho người nữ vì văn hóa là môi trường quen thuộc, nuôi dưỡng con người theo những thói quen, tập tục, tập tính chung của cả cộng đồng, (2) nguy cơ đối mặt với những quan niệm mâu thuẫn về vấn đề văn hóa Ngoài ra, các nhà phê bình nữ quyền văn hóa chủ trương vượt qua sự phân biệt gần như đối lập giữa tự nhiên

và văn hóa, vật chất và phi vật chất (tinh thần) bởi họ cho rằng trên thực tế, các yếu tố này tương tác, thậm chí, thẩm thấu trong nhau Điều quan trọng hơn chính là sự xác định những yếu

tố mang tính nam trị, nam tạo (man made) chứ không phải thiên tạo đã phân tầng đẳng cấp giữa

người nam và người nữ trong đời sống văn hóa cộng đồng và bảo tồn, lưu truyền biểu tượng văn hóa nam quyền Vì văn hóa là một phạm trù rộng, hiện diện trên nhiều phương diện đời sống nên xu hướng tiếp cận này cũng xuất hiện phổ biến trong cái nhìn mang tính tích hợp của các xu hướng khác (phê bình nữ quyền xã hội, phê bình nữ quyền phân tâm, phê bình thi pháp

nữ quyền, phê bình nữ quyền da đen, phê bình nữ quyền đồng tính, phê bình nữ quyền thế giới thứ ba, phê bình nữ quyền sinh thái…)

1.1.3.3 Phê bình nữ quyền phân tâm học (Psychoanalytic Feminist Criticism)

Phê bình nữ quyền phân tâm học hấp thụ nguyên lý nền tảng của học thuyết phân tâm với nguồn tư tưởng chủ chốt từ hai nhà nghiên cứu khổng lồ của phân tâm học là Sigmund Freud (tạo thành nhánh phê bình nữ quyền phân tâm học Anh- Mỹ) và Jacques Lacan (tạo thành nhánh phê bình nữ quyền Pháp) Khuynh hướng này xác định, phân tích và lý giải tình trạng bị áp bức của nữ giới từ cấu trúc phân tâm được hình thành từ giai đoạn ấu thơ của con người và được duy trì bằng các thiết chế quyền lực văn hóa, xã hội, tồn tại từ trong vô thức

(unconscious), biểu hiện qua đặc trưng nam tính (masculinity) và nữ tính (femininity) Theo mạch nguồn truy tầm về quá trình trưởng thành của con người, vấn đề mẫu thời (motherhood)

và hình tượng người mẹ trở thành một trong những vấn đề cốt yếu của phê bình nữ quyền phân tâm học Nhánh Anh- Mỹ chú trọng đến sự hình thành quyền lực của nam giới, phức cảm bị

thiến hoạn (castration complex), phức cảm Oedipe (Oedipe complex) và khát vọng (desire), vị thế khách thể/ chủ thể giới tính (subject/ object gender), xung năng tính dục (libido)… từ các mối quan hệ gia đình Theo đó, bản năng sinh học (biological instinct) là một trong những yếu

tố quan trọng được các nhà nữ quyền phân tâm học theo thuyết Freud khai thác để lý giải cơ chế và quá trình phát triển dục vọng của con người cũng như sự kiến tạo thực tại xã hội, thực tại

văn hóa (social/cultural reality) mang tính gia trưởng Khi đi vào tiếp cận văn bản cụ thể, trong

Trang 29

chương hai, người viết luận án phối hợp phương pháp phân tích của phê bình nữ quyền Marxist, nữ quyền văn hóa và nữ quyền phân tâm học Anh- Mỹ để lật xới những tầng vỉa đời sống đã quy định nên vị trí bị trị của nữ giới từ các góc độ xã hội, văn hóa và phân tâm Từ đó, chúng tôi làm rõ những biểu hiện của ý thức nữ quyền trong việc nhìn nhận các cơ chế văn hóa-

xã hội đã góp phần hình thành và duy trì tình trạng bất bình đẳng giới trong văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng

Tiếp theo, từ thập niên 1970, nhánh phê bình nữ quyền Pháp với những đại diện tiêu biểu là Hélène Cixous, Julia Kristéva12 và Luce Irigaray, khởi sinh từ tư tưởng của Lacan về vai trò của ngôn ngữ trong việc kiến tạo nên thế giới phân tâm cũng như thực tại xã hội Đồng thời, trường phái này kết hợp với hệ tư tưởng về diễn ngôn và quyền lực của Foucault nên vừa nằm trong dòng chảy của phê bình phân tâm học, vừa mở rộng ra thành một xu hướng phê bình tích hợp nhiều góc nhìn, nhiều phương pháp Thêm nữa, đến cuối thập niên này, quan niệm về một

lối viết nữ (l’écriture féminine) của các nhà phê bình nữ quyền Pháp đã được các nhà phê bình

nữ quyền Mỹ, với người tiên phong là Elaine Showalter, mở rộng và phát triển thành mỹ học

nữ quyền, dịch chuyển từ vấn đề ngôn từ sang vấn đề mỹ học và triết học Từ đó, ở mức độ bao quát hơn, khuynh hướng phê bình nữ quyền từ góc độ thi pháp hình thành, tạo nên thi pháp học

nữ quyền Để triển khai chương ba của luận án, chúng tôi đã tiếp thu phương pháp nghiên cứu của phê bình nữ quyền Pháp, mỹ học nữ quyền Mỹ và rộng hơn, thi pháp nữ quyền để áp dụng vào việc phân tích văn bản Do đó, trong phần tiếp theo, chúng tôi tách nhánh thứ hai của phê bình phân tâm học là phê bình nữ quyền Pháp để đặt trong mối quan hệ với phê bình nữ quyền

Mỹ nhằm kết hợp sự chuyển động “lối viết nữ” (l’écriture féminine) của phê bình nữ quyền Pháp và “mỹ học nữ quyền” (feminist aesthetic) của phê bình nữ quyền Mỹ vào môi trường phê

bình thi pháp nữ quyền, tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho việc nghiên cứu được tiến hành

ở chương ba

1.1.3.4 Khuynh hướng thi pháp nữ quyền (Feminist Poetics)

Điểm trọng tâm trong lý thuyết nữ quyền của Cixous là mối quan hệ giữa giới tính và diễn ngôn, từ đó hình thành nên ý niệm về phong cách tu từ riêng của phụ nữ trong sáng tác Từ

những năm 1970, bà đã thể hiện tư tưởng của mình trong các tác phẩm như Một chuyến đi

(Sortie), Tiếng cười nàng Medusa (The Laugh of the Medusa) và Đến để viết (Coming to Writing) Nhà phê bình này khẳng định rằng suốt nhiều thế kỷ qua, người phụ nữ không hiện

12 Julia Kristéva (1941-): Nhà triết học, xã hội học, phân tâm học, ký hiệu học và cũng là người theo thuyết nữ quyền người Pháp gốc Bulgari

Trang 30

diện trong các hoạt động diễn ngôn Họ không được bộc lộ suy nghĩ, lời nói của mình, không được tạo ra mối quan hệ tương tác để hình thành nên sự giao tiếp với các cá thể xã hội Vì vậy, thế giới bên trong của nữ giới hoàn toàn khép kín và họ cũng bị cấm vận với cuộc sống xã hội Cixous nói một cách thẳng thắn rằng sự ngây thơ của người phụ nữ đồng nghĩa với sự ngu dốt khi những tri thức đời sống và khoa học hoàn toàn kín bưng trước con mắt của phái nữ

Hơn nữa, đến thời hiện đại, khi người phụ nữ được nói và viết một cách công khai, thì

họ lại vay mượn lối nói của nam giới chứ không có một hệ thống tu từ đặc trưng của giới mình Ngôn ngữ và giới tính chỉ có một mối quan hệ lỏng lẻo và bị những quy luật của nam giới chế ngự Các nhà nữ quyền khẳng định rằng những câu chuyện được kể trong điện ảnh và văn học đều được thể hiện từ góc nhìn của nam giới Trong nhiều tiểu luận, Hélène Cixous luôn khẳng định phụ nữ phải có hệ thống ngôn ngữ riêng phù hợp với bản thể giới tính của họ, để biểu đạt những đặc thù riêng biệt của mình mà giới khác không có Cixous cũng nhấn mạnh rằng cái bà muốn xác lập và tựa vào là tính không cân xứng giữa hai giới chứ không phải thứ bậc của giới

này đối với giới kia Vì vậy, trong Tiếng cười nàng Medusa, bà đã phủ định hệ thống nhị

nguyên mang tính thống trị thường phân chia các cặp khái niệm: đồng nhất/khác biệt, con người/tự nhiên, trật tự/hỗn độn, hoạt động/thụ động, ngôn ngữ/im lặng, hiện diện/vắng mặt, sáng/tối, nam giới/nữ giới… thành những đối cực tích cực và tiêu cực do nam giới xác lập vốn

in hằn trong tư tưởng con người ở xã hội phụ quyền Theo sự phân định này, phụ nữ luôn ở vị thế bên dưới và đối lập với nam giới

Như vậy, các nhà phê bình nữ quyền Pháp cho rằng cần phải triệt tiêu hẳn cái nhìn mang

tính đối lập dựa trên những cặp phạm trù đối nghịch: nam tính (masculinity, masculinité), nữ tính (femininity, féminilité) và lưỡng tính (bisexuality, bisexualité) Việc thiết lập sự đối nghịch

này vô hình trung dẫn đến hệ quả là cái này sẽ xóa bỏ cái kia, phủ định cái kia Trong khi đó, những phạm trù này vẫn song song tồn tại Lịch sử loài người đã diễn ra theo cách nam giới áp chế nữ giới và kiến tạo một nền văn hoá duy dương vật có tính thống trị tuyệt đối Chính vì vậy, khi cầm bút sáng tác, người phụ nữ viết bằng thế nhị nguyên, vừa mang những giá trị nam giới

cố định đã trở thành những nền tảng và nguyên tắc chung cho cả loài người, vừa bộc lộ những đặc tính riêng của nữ giới

Dựa trên lý thuyết phân tâm học (chủ yếu của Lacan) và thuyết hậu cấu trúc, các nhà nữ quyền Pháp chủ trương đưa ngôn ngữ viết của người nữ trở về với bản thể Mẫu từ thời kỳ tiền

Oedipe (Pre- Oedipe) Theo đó, các nhà nữ quyền khẳng định rằng ngôn ngữ do nam giới tạo ra (man-made language) dựa trên quyền lực của nam giới, phản ánh trải nghiệm của nam giới

Trang 31

Hélène Cixous và Julia Kristéva mong muốn người nữ quay trở về thời kỳ tiền Oedipe, tiền ngôn ngữ để tự phản ánh bản thân bằng trí tưởng tượng, thân thể và sự trải nghiệm của họ, tạo

ra ký hiệu cho chính họ chứ không sử dụng những biểu tượng của nam giới và không bị chi phối bởi bất kỳ một quan niệm, một định luật có sẵn nào cả

Cũng có cùng chung một ý hướng, các nhà phê bình Nữ quyền ở Ý đã khảo sát sự khác biệt giới tính trong hệ thống từ ngữ, ngữ pháp, cấu trúc và cách thức diễn đạt Họ xem đấy là một cuộc cách mạng nhằm lật đổ các quan niệm và giá trị cũ, tạo dựng nên một nền diễn ngôn độc lập cho người phụ nữ cầm bút: “Một trận chiến vì lẽ phải của sự biểu lộ, của ngôn từ, vì quyền tự do được khẳng định bản thân và được định đoạt cho chính mình”(Susan Bassnett,

1986, tr.123) Verena Stefan- nhà văn, nhà nữ quyền người Đức gốc Thụy Sĩ- trong lời nói đầu

của tác phẩm Rơi (Shedding) đã từng trăn trở tìm kiếm một hệ ngôn ngữ riêng để diễn tả những

trạng thái, những ý niệm của nữ giới mà cái áo ngôn từ vốn có trở nên cũ và chật hẹp, không còn khả năng dung chứa và chuyển tải nổi :

Khi tôi muốn viết về sự nhạy cảm, những trải nghiệm và khuynh hướng phê bình của người phụ nữ thì tôi không thể tìm ra được những từ ngữ… Bây giờ tôi chỉ có thể bắt đầu chú trọng một cách có hệ thống vào những thành kiến giới tính trong ngôn ngữ, vào ngôn ngữ nữ và văn học nữ, tôi chỉ có thể bắt đầu bằng sự thuật lại cuộc sống của người phụ nữ”(Edith H Altbach, Jeannette Clausen, Dagmar Schultz và Naomi Stephan,

1984, tr.54)

Ngôn ngữ nữ giới là một nhu cầu trong quá trình sáng tạo của người nữ để họ biểu đạt được một cách chính xác, đầy đủ và chạm đến bản chất hiện thực của nữ giới, một hiện thực riêng biệt và khác biệt so với nam giới

Trong khi đó, phê bình Nữ quyền Mỹ mở lối đi khai phá vào một nền mỹ học nữ quyền

(feminist aesthetics), nghĩa là mở rộng hệ thi pháp nữ quyền từ vấn đề tu từ đến vấn đề mỹ học,

đồng thời, mở rộng phạm vi khảo cứu từ hoạt động sáng tạo đến hoạt động tiếp nhận- phê bình

Như vậy, khái niệm thi pháp nữ quyền (feminist poetics) ra đời dựa trên hai nhận định

cốt lõi của các nhà phê bình nữ quyền Thứ nhất, họ khẳng định rằng toàn bộ nền văn học trong quá khứ đều do nam giới sản sinh ra, được hình thành bằng cái nhìn, tư duy, nguyên lý và giá trị của nam giới Do đó, nữ giới hoàn toàn vắng bóng và bị tước đoạt cái nhìn, giọng nói mang tính chủ thể trong truyền thống văn học Thứ hai, khi tiếp cận bộ phận văn học nữ trên diện rộng, họ nhận ra nữ giới có một cách viết riêng biệt, mang những đặc trưng khác với văn học truyền thống do các cây bút nam giới ngự trị Từ đấy, phê bình nữ quyền hướng đến xác lập một hệ thi

Trang 32

pháp đặc trưng của nữ giới trong sáng tác, bao gồm những phương thức tư duy và biểu đạt ngôn

từ nghệ thuật mang phong cách nữ giới, xuất hiện lặp đi lặp lại trong sáng tác của các nhà văn

nữ, bộc lộ quan niệm nghệ thuật về thế giới từ sự trải nghiệm riêng biệt của người nữ

Thi pháp nữ quyền phân biệt với thi pháp nói chung ở chỗ hệ thi pháp này khẳng định giá trị của người nữ viết văn bằng sự hiện diện trong vai trò chủ thể sáng tạo và sự khác biệt trên góc độ giới tính trong lối viết Ngoài ra, khái niệm này hàm chứa cả tự sự học nữ quyền, cũng như thi pháp học chứa đựng tự sự học như một nhánh phát triển của nó

Đánh giá vai trò, vị trí và ý nghĩa của phê bình nữ quyền, các nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Chủ nghĩa nữ quyền là nguồn gốc tạo ra phần lớn sự thay đổi quan điểm về các giá trị trong nghiên cứu văn học và những lĩnh vực khác trong nền văn hoá phương Tây và sẽ tiếp tục thách thức những niềm tin và những thông lệ kiên cố, vững chãi” (Wilfres L.Guerin và các tác giả khác, 1999, tr.125)

Theo quan điểm riêng, chúng tôi thống nhất với cách hiểu của các nhà phê bình Pháp khi nhấn mạnh tính nhị nguyên trong sáng tác nữ giới, nghĩa là, văn bản nữ giới vừa nảy sinh từ nền tảng sáng tạo chung của nhân loại, vừa chứa đựng những yếu tố riêng biệt của phụ nữ trong sự

đa dạng giới Đồng thời, người viết ứng dụng phương pháp phê bình dựa trên sự phân chia nhị nguyên về giới (nữ giới khác biệt với nam giới) mà các nhà phê bình nữ quyền đã triển khai từ khi lý thuyết này xuất hiện Vì vậy, thứ nhất, cần có sự phân biệt giữa sự khác biệt và giá trị Khi nhìn về dòng văn học nữ trong mối tương quan với văn học nam giới, việc nhận thức và phân tích sự khác biệt là để xác định đặc trưng sáng tác của mỗi giới, nghĩa là giá trị nội tại được tạo ra từ thuộc tính giới, gắn liền với thuộc tính giới Thứ hai, sự khác biệt phải đặt trên cái nền của sự tương đồng và những yếu tố nền tảng chung cho cả hai giới Một mặt, nam giới

và nữ giới đều sở hữu những giá trị chung của con người Điều này làm nên giao điểm trong sáng tác của họ Mặt khác, người phụ nữ đã sống trong môi trường văn hoá mang tính áp chế của nam quyền và nhiều nguyên lý nền tảng chung cho cả loài người được nền văn hoá ấy thiết lập, như G Jung đã từng nói rằng “uy quyền của đàn ông” qua chiều dài lịch sử đã ngấm sâu đến mức biến thành “vô thức tập thể” (Nguyễn Đăng Điệp, 2006, đoạn chú thích số 3) Chính vì vậy, phụ nữ không thể thoát ly hoàn toàn và đứt lìa hẳn với quá khứ, với hiện tại mà về cơ bản cũng là sự nối dài của quá khứ với các giá trị kế thừa cố định Khi đặt bút sáng tác, trên trang giấy của họ xuất hiện đồng thời cái bóng riêng biệt của nữ giới trong cái bóng lớn của môi trường văn hoá- xã hội Các lối viết không phải là sự khai phá riêng biệt của người nữ mà vẫn dựa trên cái nền tư duy chung của nhân loại Việc khẳng định sự tồn tại của phương thức tư duy

Trang 33

nghệ thuật nữ giới không có nghĩa là phủ định sự xuất hiện của phương thức này trong sáng tác của các tác giả nam Trọng tâm của vấn đề nằm ở chỗ là: giới nào có xu hướng thiên về một phương thức sáng tác cụ thể để khiến phương thức đó trở thành một đặc trưng tư duy nhìn từ góc độ khái quát hoá Phê bình nữ quyền không chủ trương tạo ra sự đối lập nhị nguyên tuyệt đối giữa hai giới trong cách nhìn và biểu đạt hiện thực Đoàn Cầm Thi (2012) nhấn mạnh :

“Theo tôi, sẽ không bao giờ thiết lập được biên giới tuyệt đối giữa văn học nữ và văn học nam

Có những đề tài và hiện tượng thường gặp (chứ không phải chỉ gặp) trong các tác phẩm nữ Hơn nữa, chúng chỉ mang tính thời điểm (chứ không vĩnh viễn) Vì vậy, đòi công nhận đặc thù của văn học nữ, chính là giam cầm tác giả ‘phái yếu’ trong một biệt cư, từ đó dẫn đến những cách đọc giản lược, méo mó” (đoạn 26) Nguyễn Thị Thanh Xuân (2013) cũng đã khẳng định rằng: “Có nhiều nhà phê bình cho rằng chúng ta cần nói về văn học nữ, nhưng không phải trong ngữ cảnh ‘phân chia’ thành văn học nam hay nữ, mà chỉ nên ngầm hiểu đó là “sự mở rộng di sản văn học khi khẳng định tính độc đáo và cá tính sáng tạo của những người phụ nữ viết văn” (tr 6)

Như vậy, điểm khác biệt nằm ở chỗ những lối viết này được người nữ vận dụng mạnh, sâu, liên tục, tô đậm từ góc nhìn của chủ thể nữ giới, thể hiện từ chủ thể sáng tác đến văn bản trên các yếu tố:

- Chất liệu của tư duy: vùng hiện thực của riêng nữ giới mà nam giới không thể trải nghiệm bởi sự khác biệt về mặt tự nhiên và xã hội của hai giới (hiện thực của nữ giới, nhìn vào thế giới bên trong của người nữ)

- Tần suất tư duy: tần suất cao, lặp lại liên tục và xuyên suốt tác phẩm, hệ tác phẩm

- Phương thức tư duy: từ điểm nhìn bên trong của nữ giới (điểm nhìn nội quan), tạo ra

“cái tôi trải nghiệm tự kể chuyện mình” khác với “cái tôi chứng kiến, kể chuyện người khác” (nhìn từ vị trí, hoàn cảnh của người nữ và nữ giới là chủ thể của cái nhìn)

- Ý nghĩa và mục đích của tư duy: biểu đạt ý thức nữ quyền Đây là một yếu tố quan trọng, thể hiện sự khác biệt giữa lối viết của nữ giới với nam giới không nằm ở chỗ họ sử dụng thủ pháp riêng biệt nào và nhiều hơn nam giới bao nhiêu lần mà nằm ở giá trị cũng như ý nghĩa biểu đạt Trong khi tái hiện hiện thực đời sống nữ giới, sáng tác của nhà văn nữ mang lại nhận thức về nữ quyền, bộc lộ phản ứng mang tính phản kháng, đối thoại với cơ chế nam trị vốn là điều không xuất hiện thường trực ở các nhà văn nam (dẫu có nhiều hiện tượng sáng tác của nam giới thể hiện tính nữ quyền sâu sắc, nhưng không liên tục) và được nhìn từ góc độ của nam giới

Trang 34

(nghĩa là từ một hoàn cảnh, vị thế, quan niệm, cảm giác khác với nữ giới, đồng thời, không bị

đa nguyên của vấn đề giới trên văn bản Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu đã trình bày tổng quát

về phương pháp “đi từ dưới lên” theo lối tiếp cận giao cắt (intersectional approach) của Susan

E Lanser và phản ứng thoát khỏi “mô hình nhị nguyên” trung tâm của Ruth E Page trong bài viết “Dẫn nhập về tự sự học nữ quyền luận (Qua những thực hành của Susan E Lanser)”, cho thấy sự chuyển động trong quan niệm và phương pháp của phê bình nữ quyền gắn với sự chuyển động của tư tưởng nữ quyền nói chung Chúng tôi cũng kế thừa cách tiếp cận này và thực hành trên từng văn bản (cụ thể ở đây là sáng tác văn xuôi của Dạ Ngân và Thiết Ngưng) như những cá thể sáng tạo riêng biệt, có những đặc trưng thi pháp tự sự biểu lộ ý thức nữ quyền, sau đó, khái quát hóa thành những đặc trưng thi pháp nữ giới Cách tiếp cận này vừa khẳng định những giá trị sáng tạo cá nhân của người nữ trong đặc tính đa nguyên, đa dạng của đời sống sáng tác, vừa xác lập được khung thi pháp nữ quyền chung, mang tính tương đối nhưng không hòa tan bản sắc của cá nhân vào bối cảnh cộng đồng

Một điểm quan trọng khác là, sự tồn tại của “lối viết nữ” ấy không chỉ phụ thuộc vào ý thức của người sáng tác, mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào nội tại thế giới tác phẩm mà các nhà văn nữ đã làm nên Tác phẩm, đó là nơi mà phương thức nghệ thuật sáng tạo của nhà văn được thể hiện, bộc lộ, chứng minh sự hiện diện của mình Hay nói cách khác, chỉ có chính bản thân tác phẩm mới là thẻ căn cước cho mọi yếu tố thuộc về văn học, như lý thuyết tiếp nhận - hệ lý thuyết đưa văn bản tác phẩm vào vị trí trung tâm trong mối quan hệ với người đọc và tạo ra cuộc cách mạng về quan niệm tiếp nhận tác phẩm trong thế kỷ XX - đã khẳng định Do đó, để tìm hiểu về vấn đề này, ngoài việc dựa vào quan niệm sáng tác, cuộc đời, những phát biểu trực tiếp về nghệ thuật và đời sống của bản thân nhà văn - như một kênh thông tin, thì điều thiết yếu

là phải thực hiện một cuộc nội soi vào hệ thống tác phẩm để tìm ra các đặc điểm thi pháp riêng của văn học nữ

Từ đấy, chúng tôi đề ra một phương pháp tiếp cận tác phẩm theo hệ trục của sự khác biệt dựa trên nền tảng tương đồng, bao gồm những nguyên lý, những đặc trưng chung của sáng tác văn học từ điểm nhìn giới tính Như vậy, nhìn từ phía văn học nữ, những nền tảng chung mà

Trang 35

văn học truyền thống, văn học nói chung tạo ra là thể, bao hàm những yếu tố, những phương diện, những khái niệm, những dạng thức tồn tại của văn học, nghĩa là các thành tố tạo nên sự hình thành và hiện hữu của tác phẩm Trên cái thể ấy, văn học nữ bộc lộ tính riêng biệt, đặc thù của mình Tính là đặc trưng của thể tồn tại bằng một hàm lượng khác, mang một sắc thái, trạng thái khác, một vị trí khác Chẳng hạn như yếu tố tâm lý và tính dục đã xuất hiện từ lâu trong văn học, nhưng chỉ dưới ngòi bút của nữ giới, tâm lý và nhục cảm của người phụ nữ mới được miêu

tả một cách cụ thể, rõ rệt bằng chính nội tại tự thân của nó Tương tự như vậy, lịch sử văn học

đã xây dựng hình tượng người phụ nữ và qua nhiều thời kỳ, hình tượng này giữ vai trò trung tâm trong cảm hứng sáng tác của thời đại, thế nhưng, lại ở vị trí khách thể Đến dòng chảy của văn học nữ, hình tượng này mới đứng ở vị trí chủ thể trọng tâm, mới bộc lộ những yếu tố bên trong thuộc về chính nó và xuất hiện với mật độ dày đặc trong văn học Về tính chất, hình tượng phụ nữ trong văn học của nam giới mang tính hình tượng- biểu tượng hơn là hình tượng- bộc lộ

Tóm lại, nhìn một cách tổng thể, phương pháp đọc văn bản theo thi pháp nữ quyền vận dụng quan điểm về sự khác biệt, bao gồm: khác biệt nhị nguyên giữa nam giới với nữ giới và khác biệt giữa cá nhân người nữ với cộng đồng nữ giới để thấy sự hiện diện của văn bản trên hai tư thế: văn bản của nữ giới và văn bản của cá nhân người nữ Cả hai sự khác biệt đều mang tính tương đối chứ không phân định một cách đối lập các đối tượng Do đó, điều quan trọng trong khi đọc văn bản là phát hiện ra đặc trưng thi pháp nghệ thuật của nữ giới và ý nghĩa, giá trị của tư tưởng nữ quyền thể hiện trên đặc trưng thi pháp đó

Ngoài ra, chúng tôi cũng đề nghị một khuynh hướng phối hợp chặt chẽ các phương pháp trên với phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhìn vấn đề từ nhiều nguồn tri thức trong nghiên cứu sinh học, xã hội học, văn hoá học, nhân học, tâm lý học, triết học… để tiếp nhận tác phẩm

Có thể nói rằng đây là một công cụ tiếp cận đa dụng cụ, đòi hỏi người vận dụng phải có kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên ngành

Trên đây là những phác thảo mang tính định hướng Bằng phương pháp này, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu văn học nữ giới từ lý thuyết phê bình nữ quyền, để cùng đạt đến mục đích mà nhà văn Lê Thị Huệ (2005) đã nói đến: “Tôi tin nghệ thuật do người nữ tạo ra khác nghệ thuật do người nam chế tạo Phải có những người đọc tinh tế, những nhà phê bình sáng, mới nhận ra được nghệ thuật sáng tạo bởi người nam và nghệ thuật sáng tạo bởi người nữ khác nhau ở những điểm nào” (tr.3) Đồng thời, người viết luận án cũng có ý thức cố gắng ứng dụng khung lý thuyết một cách uyển chuyển, phù hợp với sự đa

Trang 36

dạng của đối tượng nghiên cứu chứ không gò ép đối tượng nghiên cứu thành những công cụ minh họa cho khung lý thuyết, nhất là khung lý thuyết ra đời ở phương Tây

Ở phần tiếp theo, chúng tôi dành một phần dung lượng luận án để trình bày khái quát về các thi pháp nổi bật trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng, tạo tiền đề lý thuyết để ứng dụng vào việc phân tích văn bản cụ thể trong chương 4

- Thi pháp tự thuật và tự thuật nữ giới

Khái niệm tự thuật (autographycal) được hiểu là kể về chính mình Đây là một phương

thức tự sự mà nhà văn sử dụng để tái hiện lại hiện thực đời sống của chính bản thân trong tác phẩm Cuộc sống riêng tư của nhà văn với những trải nghiệm cá nhân có thực trong đời thường trở thành chất liệu sáng tác chính yếu Nghĩa là, nhà văn lấy bản thân và cuộc đời mình làm đối tượng phản ánh, tạo ra “cái tôi” thứ hai của mình trên trang giấy Có thể nói, tự thuật là hành động tự phản ánh bằng ngôn từ

Ở đây sẽ nảy sinh một phản đề là, khi viết, nhà văn bao giờ cũng nhào trộn những chất liệu hiện thực mà họ đã chứng kiến, đã trải qua, như vậy, phải chăng công việc của nhà văn luôn mặc nhiên có tính chất tự thuật? Để giải quyết phản đề này, cần phải có sự phân biệt giữa hiện thực được phản ánh (hiện thực được nhà văn quan sát như một khách thể) và hiện thực gắn liền với đời sống của nhà văn (hiện thực được nhà văn tham gia trải nghiệm trực tiếp như một chủ thể, như một nhân tố chính yếu) Trường hợp thứ hai được gọi là tự thuật Tự thuật cũng là tái hiện hiện thực, nhưng là hiện thực có xuất phát điểm từ nội quan, mang yếu tố chủ quan từ trong chính bản thân sự kiện và có sự phân biệt với hiện thực khách quan được soi chiếu qua lăng kính chủ quan của nhà văn Phương thức tự thuật đã thiết kế nên một dạng thức đặc trưng cho tự sự từ việc tạo dựng điểm nhìn trần thuật, thế giới nhân vật đến xây dựng cốt truyện, không gian, thời gian nghệ thuật…, chi phối xuyên suốt từ phương diện nội dung đến phương diện nghệ thuật trong hệ thống tác phẩm

Từ đây, nhìn rộng ra hoạt động sáng tác của các nhà văn nữ ở Việt Nam, Trung Quốc và trên thế giới thời hiện đại, chúng ta thấy biểu hiện của yếu tố tự thuật khá đa dạng, với các mức

độ khác nhau, dưới nhiều dạng thức khác nhau Khi Jane Eyre của Charlotte Bronte xuất hiện,

người ta gọi đó là “một cuộc cách mạng của tiểu thuyết tự thuật” trong thời đại Victoria ở nước

Anh (Trần Thủy Tiên, 2008, tr.140) Người tình (L’Amant) của Marguerite Duras cũng là một

tự truyện Bà đã tiểu thuyết hoá một giai đoạn của đời mình: thuở dậy thì ở Việt Nam với mối tình đầu nhiều trắc trở cùng người tình Hoa Bắc Nhiều quyển tiểu thuyết được đặt tên mang

chất tự truyện như Tự truyện chưa hoàn tất là câu chuyện về cuộc đời của tác giả người Anh

Trang 37

Alice A Bailey, Xin cạch đàn ông đã thuật lại toàn bộ đời sống tinh thần của Katarzyna

Grochola (nữ tác giả người Ba Lan) sau khi bị người chồng ruồng bỏ bằng chất giọng giễu cợt

Văn xuôi nữ Việt Nam, chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết, cũng ít nhiều mang dấu

vết tự thuật Về truyện ngắn, có Thảm cỏ trên trời (Ngô Thị Kim Cúc), Ngọn nến bên kia

gương (Nguyễn Thị Minh Ngọc), Bi kịch nhỏ (Lê Minh Khuê), Biển cứu rỗi (Võ Thị Hảo), Khi người ta trẻ (Phan Thị Vàng Anh), nhiều truyện ngắn của Dạ Ngân, Lý Lan, Trần Thùy Mai,

Nguyễn Ngọc Tư… Tiểu thuyết có vẻ ít hơn: Ký sự người đàn bà bị chồng bỏ của Nguyễn Thị Minh Ngọc, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Gió tự thời khuất mặt của Lê Minh Hà… Trong

không khí khởi sắc của tự truyện Việt Nam đương đại đầu thế kỷ XXI với các tác phẩm thu hút

sự quan tâm lớn của dư luận (Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Cát bụi chân ai, Chiều

chiều của Tô Hoài, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải…), tự truyện của các tác giả nữ như

Lê Vân- Yêu và sống đã làm dư luận xôn xao, ngay sau đó cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm được

công bố, cũng là một hiện tượng rất đáng chú ý Từ đó, thể loại tự truyện tạo nên một xu hướng sáng tác và tiếp nhận khá phổ biến ở Việt Nam trong khoảng hai mươi năm gần đây Riêng

trong bộ phận sáng tác nữ giới, có những ấn phẩm như Để gió cuốn đi (Ái Vân), Đằng sau

những nụ cười (Khánh Ly), Sống cho người sống cho mình (Kim Cương), Vàng Anh và Phượng Hoàng (Hoàng Thùy Linh)…

Các cây bút nữ đương đại của Trung Quốc gần như tái hiện chính mình trên trang sách, chẳng hạn như Quách Tiểu Lộ lấy cuốn nhật ký viết trong thời kỳ sống ở London làm chất liệu

sáng tác nên Từ điển Trung- Anh cho người đang yêu và tái hiện thuở thiếu thời ở Thạch thôn

với lời bộc bạch rằng không gian Thạch thôn “là nơi tôi chôn con cá của tôi, kí ức của tôi, tuổi

thơ của tôi và mọi điều bí mật hiện thân cho quá khứ của tôi” (Lời đề từ), Amy Tan viết về đời sống di dân của chính mình trong Phúc lạc hội, Phu nhân Táo quân, Miên Miên tái hiện “tuổi xuân tàn khốc” của bản thân trong Kẹo, Anchee Min khắc họa bản thân trong Đỗ Quyên Đỏ,

Hạt mầm chín, Trở thành Mao phu nhân và đính kèm ảnh chụp của tác giả để xác minh tính

chân thực của sự kiện trong tác phẩm Tương tự như vậy, Vệ Tuệ, tạo ảnh bìa từ hình ảnh của

cô và đưa tên mình vào tựa đề tác phẩm, tạo nên hiệu ứng tự truyện ngay từ yếu tố ngoài văn

bản (Điên cuồng như Vệ Tuệ) Sơn Lê (2003), người chuyên dịch các tác phẩm văn học Trung

Quốc sang tiếng Việt, cũng đã nhận định rằng: “Không phải ngẫu nhiên, nhiều cuốn tiểu thuyết” của các tác giả nữ Trung Quốc đã “được hiểu như là những cuốn tự truyện” và đó là

“mẫu số chung” của dòng văn học này (đoạn thứ 18)

Trang 38

Đặt ra vấn đề về đặc trưng riêng của nền văn học nữ bằng cái nhìn so sánh đối chiếu giữa văn học nữ phương Tây và văn học nữ Việt Nam hiện đại, trong khi liệt kê những yếu tố làm nên đặc trưng này như thể loại, cấu trúc thời gian, hình tượng…, Đặng Thị Hạnh (2006) đã đưa tự thuật ở vị trí đầu tiên khi nhìn từ góc độ thể loại và nhìn nhận như là một đặc điểm nổi bật của văn học nữ: “Dù vai trò của thể loại hư cấu có quan trọng đến mấy ta vẫn phải nhận thấy một thể loại được xếp vào ô kéo phi hư cấu - tự thuật - đã can thiệp rất nhiều vào sáng tác của các nhà văn nữ, dưới nguyên dạng hoặc hòa lẫn trong hư cấu” (tr.8) Do đó, khi dựa trên tiêu chí giới, khái niệm tự thuật lại được mở rộng thêm một tầng bậc nữa Lúc này, tự thuật không chỉ hiện diện trong tư cách kể về trường hợp của một cá nhân nhà văn mà tái hiện một

cộng đồng giới chuyên biệt so với một cộng đồng giới khác Theo Từ điển thuật ngữ phê bình

và thuật ngữ văn học (The Bedford Glossary of Critical and Literary Terms), các nhà nữ quyền

cho rằng cách thức trần thuật truyền thống đã bị thể loại hoá, là một thể loại mang tính nam

(masculinist genre) Chính vì vậy, sự chú trọng vào những trải nghiệm khác biệt giữa nam giới

và nữ giới, vào đời sống của người phụ nữ - vốn chỉ được miêu tả đứt quãng, luôn bị trì hoãn và

từ cái nhìn bên ngoài trong quá khứ - đã làm nền tảng cho sự phát triển của lý thuyết về sự tự tái

hiện (self- representation) Do đó, tự truyện ở đây còn là tự truyện của giới, là những sự kiện,

vấn đề thuộc về giới nữ bị quên lãng hoặc che đậy, dìm nghỉm suốt bao thế kỷ nay trong lịch sử nhân loại sẽ được chính người phụ nữ tự tái hiện lại và tạo nên một cuộc đối thoại giới

Câu hỏi đặt ra ở đây là, vì sao tự thuật lại trở thành một yếu tố cơ bản, một thuộc tính của văn học nữ? Những nguyên nhân nào đã tạo nên hiện tượng này?

Theo chúng tôi, không thể lý giải nguồn gốc của hiện tượng tư duy nghệ thuật này trên một phương diện, một điểm nhìn, cũng như không thể căn cứ vào một hay một số cá nhân nhà văn riêng lẻ, vì như vậy sẽ dễ rơi vào sự biện giải dựa trên hiện tượng cá biệt chứ chưa đi vào bản chất của vấn đề Điểm khác biệt trong phương thức tự thuật ở đây không hẳn nằm ở tần số xuất hiện lặp lại của thủ pháp, mà nằm ở cái được thuật và cách thuật lại Thứ nhất, hiện thực của nữ giới có nhiều điểm khác biệt với nam giới do sự quy định mang tính nhị nguyên của xã hội về các đặc tính, vai trò của hai giới Thứ hai, người nữ thuật lại đời sống từ vị trí và điểm nhìn khác với nam giới: nam giới đứng ở vị trí của kẻ không bị áp bức về phương diện giới tính

và luôn tái hiện mình như là con người phổ quát (dù tạo ra hình tượng con người cụ thể, thì đó cũng là một ký hiệu hàm ý chỉ con người nói chung, nghĩa là nhân loại) Còn nữ giới tự kể lại câu chuyện của con người bị áp bức và trước hết, để chỉ một giới (giới nữ) Công trình này nỗ

Trang 39

lực góp phần phân tích những căn nguyên tạo nên phương thức tự thuật nhằm nối dài hiện thực đời tư cá nhân trong tác phẩm, như là một thi pháp tư duy của các tác giả nữ, từ phương diện con người cá nhân, phương diện xã hội đến phương diện văn bản tác phẩm mà ở đây, Dạ Ngân

và Thiết Ngưng được lựa chọn để phân tích như là hai trường hợp tiêu biểu

- Từ phương diện con người:

Về động lực sáng tạo, tự thuật gắn liền với mục đích viết của nhà văn như là một nhu cầu tự biểu đạt của cá nhân đối với cộng đồng xã hội Chính vị trí, tình trạng, của người phụ nữ trong đời sống xã hội là gốc rễ để lý giải đặc trưng này trong văn học nữ: “Nguyên nhân của vấn đề trên là dù ở xã hội nào, từ xa xưa cái chủ thể, “cái tôi” của người phụ nữ, gián tiếp hay trực tiếp, vẫn luôn bị chèn ép, việc tìm cho được căn tính (identité) của mình vừa là khó khăn, vừa là nhu cầu” (Đặng Thị Hạnh, 2006, tr.8) Thứ nhất, người nữ luôn ở vị thế bên dưới, chịu đựng sự áp bức nên tự bản thân họ nảy sinh nhu cầu bật ra tiếng nói để giãi bày về hoàn cảnh, vừa tìm kiếm sự đồng cảm, lại vừa phản kháng lại xã hội, nhằm làm thỏa mãn thế giới tinh thần của mình Thứ hai, họ luôn bị đặt vào tình trạng ngoại vi và giữ vai trò của khách thể nên luôn

là đối tượng được phản ánh thông qua cái nhìn của nam giới Thế giới của người nữ gần như chưa được biểu lộ bằng sự trải nghiệm, quan niệm và ngôn từ của chính họ Nhu cầu phản ánh hiện thực của phụ nữ là nhu cầu nội tại, bởi nó sinh ra từ hiện trạng đầy bức xúc của giới họ

Bên cạnh đó, đặc trưng sinh học và đặc trưng tâm lý trên phương diện giới cũng là những yếu tố góp phần hình thành nên khuynh hướng tự thuật ở nữ giới

Trước hết, đứng trên phương diện bản thể tự nhiên, dựa vào vào những minh chứng khoa học thuộc về lĩnh vực nghiên cứu sinh học và giải phẫu cơ thể người, so với nam giới, bộ não của phụ nữ tinh nhạy và phát triển hơn ở khu vực của cảm giác, của linh cảm, của trí tưởng tượng và có năng lực sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú hơn Các nhà nghiên cứu tại Đại học California ở Irvine (UCI), Hoa Kỳ, cho rằng, vùng amygdala của người nữ chức năng điều chỉnh các yếu tố bên trong cơ thể và gắn liền với linh cảm, cảm xúc; trong khi đó, vùng amygdala của người nam thực hiện việc tiếp nhận và phản ứng với môi trường bên ngoài Mark George (nhà tâm lý và thần kinh học của Đại học Y khoa bang Nam Carolina, Hoa Kỳ) phát hiện ra rằng trước cùng một sự kiện, thần kinh tạo cảm giác phiền muộn ở nữ có diện tích lan toả gấp 8 lần so với nam Vì vậy, từ bản chất tự nhiên, phụ nữ có cảm nhận và tri giác về bản thân tinh nhạy hơn Họ là những ăng ten bắt sóng tần số phát ra từ bản thân và hấp thụ chúng một cách mãnh liệt Đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành nên khuynh hướng

tự thuật trong sáng tác của tác giả nữ, phát sinh từ vùng thần kinh cảm xúc mẫn cảm và tinh

Trang 40

nhạy, vốn thuộc về đặc điểm sinh học Tuy nhiên, khi sử dụng những chất liệu phi hư cấu, các nhà văn luôn có ý thức sáng tạo, tinh lọc, nhào trộn những nguyên liệu sẵn, như nhà văn Võ Thị Xuân Hà (2005) đã xác tín:

Khi xây dựng nhân vật nhà văn thường sử dụng những cảm nhận và suy tưởng dựa trên những trải nghiệm của bản thân Nhưng nhân vật chỉ là sự thể hiện những khía cạnh nào

đó của cái tôi nhà văn, chứ không phải là một phép cộng đơn giản những mảnh ghép rời rạc ngoài đời của con người nhà văn để tạo thành câu chuyện

Về phương diện tâm lý, người phụ nữ thường ở trong trạng thái khép kín, tĩnh tại do cách

thức tổ chức đời sống với những cấm kỵ của cộng đồng và sự trói buộc vào chức năng gia đình khiến cho phụ nữ bị hạn chế trong việc mở rộng giao tiếp và hoạt động xã hội Thực trạng này đặc biệt nặng nề trong những thời kỳ lịch sử trước đây Trong sự thụ động tĩnh tại ấy, người phụ

nữ lấy mình làm đối tượng cảm nhận, khám phá chính mình và khát khao sự đồng cảm Thêm vào đó, Simone de Beauvoir (1996) cũng chứng minh rằng, phụ nữ luôn mang tâm lý tự yêu mình: “Có khi người ta cho thái độ tự yêu mình là thái độ cơ bản của mọi phụ nữ Sự thực là hoàn cảnh thúc đẩy phụ nữ quay về bản thân mình và tự yêu mình so với đàn ông” (Simone de Beauvoir, 1996, tr.287) Từ đó, người phụ nữ nảy sinh tình cảm tự yêu mình “bằng hai con đường đồng quy” (Beauvoir, S de, 1996, tr.287), nghĩa là họ vừa là chủ thể tạo tình cảm, vừa là khách thể mang tính đối tượng của tình cảm ấy với chiếc gương soi là biểu tượng điển hình bộc

lộ tính chất tự yêu mình này của họ

Ngược lại, nam giới thường động và mở Họ vươn ra bên ngoài, nắm bắt chinh phục thế giới ngoại tại, từ đó khám phá chính mình Hai khuynh hướng khác biệt nhau của nam giới và

nữ giới trong cách thức ứng xử trước hiện thực và xác lập mối quan hệ của mình với hiện thực này đã được Simone de Beauvoir lý giải một cách cặn kẽ, chặt chẽ với nhiều giả thiết, nhiều lập

luận và cách thức lý giải xác đáng, thuyết phục trong quyển Giới nữ Bà khẳng định nam giới

khám phá và khẳng định bản thể của mình thông qua khách thể, “qua gương mặt mình áp đặt đối với thế giới” để rồi từ đấy “bắt đầu có quan niệm về thế giới và về bản thân mình” (Simone

de Beauvoir, 1996 tr.87)

Vì vậy, các ngòi bút nam thường tái hiện thế giới bên ngoài mình, thế giới khách thể bằng cái nhìn khái quát hoá Có thể so sánh trường hợp sáng tác của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ Cùng đi từ cảm hứng về đời thường, gần như cùng chung một hoàn cảnh sáng tác, thế nhưng, từ đời thường ấy, Lưu Quang Vũ luôn chú ý con người cá nhân trước sứ mệnh xã hội, sứ mệnh lịch sử, luôn gắn liền với thời cuộc; ngược lại, Xuân Quỳnh lại hướng nội, xoáy

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm