Các bất cập của việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất
Hiện nay việc lập, thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm vướng phải hai vấn đề lớn như sau:
Kế hoạch sử dụng đất hàng năm không đạt yêu cầu phân bổ cho toàn bộ kỳ quy hoạch, gây ra việc thực hiện kỳ quy hoạch không đạt chỉ tiêu đề ra.
Kế hoạch sử dụng đất hàng năm hiện nay không phản ánh đúng thực tế của địa phương, dẫn đến việc lập kế hoạch và đề xuất thu hồi đất không phù hợp với nhu cầu đầu tư Nhiều dự án khi triển khai không khả thi và phát sinh thêm công trình mới, trong khi nhiều địa phương chưa có nguồn vốn và không xác định được năng lực của nhà đầu tư nhưng vẫn đăng ký nhu cầu sử dụng đất cao Việc đề xuất danh mục công trình theo kiểu "giữ chỗ" đã tạo ra tình trạng thiếu điều kiện thực hiện cho nhiều dự án Một số địa phương còn đưa ra dự án theo yêu cầu của nhà đầu tư mà không xem xét tính khả thi, dẫn đến việc không thực hiện được theo kế hoạch Quy trình phê duyệt danh mục dự án hàng năm từ các cơ quan có thẩm quyền thiếu tính phản biện Hơn nữa, theo Luật Đất đai 2013, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu sự thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất, nhưng nhiều trường hợp gặp khó khăn do giá đòi hỏi quá cao từ chủ đất, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Về đánh giá nguyên nhân của những tồn tại trong thực hiện KHSDĐ
Nhu cầu đất cho các dự án ngày càng tăng, tuy nhiên, việc dự báo nguồn vốn đầu tư gặp khó khăn Thêm vào đó, các thủ tục đầu tư và hoàn thành hồ sơ bồi thường, thu hồi đất, giao đất diễn ra chậm chạp, gây cản trở cho tiến độ thực hiện dự án.
Nhu cầu đăng ký thực hiện các dự án trong năm kế hoạch hiện vẫn mang tính chủ quan và chưa được nghiên cứu đầy đủ Cần xem xét các yếu tố quan trọng như nguồn vốn tự có, nguồn vốn hỗ trợ từ cấp trên và khả năng huy động từ xã hội hóa để đảm bảo sự thành công của các dự án này.
Thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch sử dụng đất, gây ra hiện tượng sạt lở bờ sông, hạn hán và xâm nhập mặn Những yếu tố này dẫn đến giảm năng suất cây trồng, giá cả thấp, từ đó tác động tiêu cực đến thu nhập và đầu tư phát triển, cũng như làm chậm quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng của người dân.
Các chủ đầu tư cần chịu trách nhiệm về việc đăng ký các công trình dự án mà chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật đất đai, đặc biệt là trong việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm Nhiều dự án vẫn được đăng ký thực hiện mặc dù chưa có chủ trương đầu tư và vốn bố trí cho năm thực hiện kế hoạch, điều này cho thấy sự thiếu phối hợp tích cực với các cơ quan có trách nhiệm liên quan.
Một số chủ đầu tư không tích cực hợp tác với các cơ quan liên quan của huyện trong việc triển khai dự án sau khi đăng ký, dẫn đến tình trạng bị động và lúng túng, kéo dài thời gian thực hiện.
Cải cách hành chính đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu đề ra Sự phối hợp giữa các ngành, địa phương và chủ dự án còn thiếu đồng bộ Năng lực và tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế, dẫn đến việc thực hiện kéo dài thời gian và xảy ra sai sót.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao trách nhiệm trong việc kiểm tra và đôn đốc tiến độ thực hiện dự án Hiện nay, việc xử lý các dự án chậm triển khai chưa được thực hiện nghiêm túc, và cần mạnh dạn thu hồi những dự án không tuân thủ quy định của Luật đất đai.
Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất TPCT
Nhóm yếu tố kinh tế xã hội
Các yếu tố quan trọng bao gồm giá thị trường, khả năng nguồn vốn, thị trường xuất khẩu, và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như xã hội Sự đồng bộ giữa các cấp ngành liên quan, dân số lao động, tập quán canh tác và sự tham gia của người dân cũng đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế.
Nhóm yếu tố chính sách đất đai
Gồm các yếu tố: bồi thường hỗ trợ và tái định cư, thu hút đầu tư, đào tạo nghề việc làm, hỗ trợ vốn.
Nhóm yếu tố quy trình kỹ thuật
Gồm các yếu tố:số liệu thu thập đo đạc, trình độ kinh nghiêm người làm công tác quy hoạch, quản lý kiểm tra giám sát việc thực hiện,
Nhóm yếu tố con người
Quy hoạch sử dụng đất cần bao gồm các yếu tố quan trọng như người sử dụng đất, nhà lãnh đạo, nhà thực hiện kế hoạch và nhà đầu tư Người sử dụng đất không chỉ là nông dân mà còn bao gồm những người sử dụng sản phẩm từ đất như nhà máy chế biến và xưởng sản xuất Việc tham gia của tất cả các thành phần này là cần thiết để đảm bảo lợi ích và phúc lợi xã hội cho cộng đồng Kinh nghiệm cho thấy, khi người dân địa phương tham gia vào quy hoạch, chương trình sẽ hoàn thiện nhanh hơn so với việc ép buộc họ Sự hỗ trợ từ lãnh đạo địa phương cũng là yếu tố then chốt cho sự thành công của đề án Tuy nhiên, việc thu hút sự tham gia của toàn cộng đồng vẫn là thách thức lớn cho các nhà quy hoạch, đòi hỏi họ phải đầu tư thời gian và nguồn lực để nâng cao kiến thức cho các đối tượng tham gia thông qua các phương tiện truyền thông, hội thảo và khuyến nông Sự kết hợp giữa nghiên cứu kỹ thuật và mong muốn của người dân địa phương sẽ giúp quy hoạch đạt hiệu quả cao hơn.
Trách nhiệm của Nhà lãnh đạo là đảm bảo hiệu quả của đề án, từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, bao gồm Thủ tướng, Bộ trưởng và Chủ tịch tỉnh, cũng như các lãnh đạo địa phương như Chủ tịch huyện, xã và các lãnh đạo ban ngành liên quan Nhóm quy hoạch cung cấp thông tin và tư vấn chuyên môn, trong khi các Nhà lãnh đạo định hình chiến lược và mục tiêu phát triển, đồng thời đánh giá khả năng thực hiện đề án dựa trên các kiểu quy hoạch đã được đề ra Mặc dù lãnh đạo nhóm quy hoạch tham gia liên tục trong quá trình này, các Nhà lãnh đạo cũng cần tham gia vào nhóm quy hoạch theo thời gian cố định để thảo luận và phân tích các khả năng trong xây dựng quy hoạch.
Các nhà lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch, bằng cách lắng nghe và đáp ứng những mong muốn cụ thể của người dân Họ cũng giúp người dân nhận thức rõ ràng về con đường phát triển bền vững cho toàn cộng đồng trong tương lai Đội quy hoạch sẽ là những người thực hiện kế hoạch này.
Trong quy hoạch sử dụng đất, việc xử lý và sử dụng đất đai cần được thực hiện một cách tổng thể, bao gồm việc kiểm soát chéo giữa các chuyên ngành như tài nguyên môi trường, xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn Để đảm bảo hiệu quả cho mọi hoạt động, cần thành lập một đội ngũ quy hoạch đa ngành với các chuyên gia có kiến thức sâu và chuyên môn, bao gồm nhà khảo sát đất, nhà đánh giá đất đai, nhà nông học, chuyên gia lâm nghiệp, chuyên gia chăn nuôi thú y, kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp, nhà kinh tế và nhà xã hội học.
Các chuyên gia có thể đóng vai trò quan trọng trong quy hoạch cấp độ quốc gia, trong khi ở cấp độ địa phương, đội ngũ quy hoạch thường chuyên biệt hơn với sự tham gia của nhà quy hoạch sử dụng đất và một hoặc hai trợ lý Mỗi thành viên trong đội ngũ cần tự vượt qua những thách thức từ nhiều lĩnh vực chuyên môn và có thể cần sự hỗ trợ từ các chuyên gia sâu khi cần thiết Các cơ quan Nhà nước và Trường Đại học cung cấp nguồn tài liệu và nhân lực quý giá cho quy hoạch.
Nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các công trình và dự án phát triển kinh tế xã hội, cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng của thành phố, góp phần thay đổi diện mạo đô thị Họ là yếu tố không thể thiếu trong kế hoạch sử dụng đất, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững cho khu vực.
Nhóm yếu tố biến đổi khí hậu
Gồm các yếu tố: sự gia tăng nhiệt độ, sự thay đổi của lượng mưa, sự xâm nhập mặn và yếu tố ngập lụt.
Theo Công ước khí hậu của Liên Hợp Quốc, "Biến đổi khí hậu" được định nghĩa là sự thay đổi khí hậu do hoạt động của con người, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thành phần khí quyển toàn cầu Những thay đổi này cộng hưởng với sự biến động tự nhiên của khí hậu trong các thời kỳ có thể so sánh.
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự thay đổi lâu dài trong hệ thống khí hậu, có thể nhận diện qua sự thay đổi trung bình và biến động của các thuộc tính khí hậu trong nhiều thập kỷ Nói cách khác, nếu xem trạng thái cân bằng của khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và các biến động của nó trong thời gian dài, thì biến đổi khí hậu chính là sự chuyển đổi từ một trạng thái cân bằng này sang một trạng thái cân bằng khác trong hệ thống khí hậu.
Tác động của biến đổi khí hậu đến Đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu của Dasgupta và các cộng sự (2007) do Ngân hàng Thế giới công bố chỉ ra rằng Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu Trong đó, Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là những khu vực chịu tác động mạnh mẽ nhất Rủi ro thiên tai tại ĐBSCL, như hạn hán và lũ lụt, dự kiến sẽ gia tăng do các trận mưa có cường độ cao và thời gian hạn kéo dài (Peter và Greet, 2008) Hanh và cộng sự (2007) cũng đã ghi nhận từ các trạm đo thuỷ triều tại Việt Nam cho thấy mực nước biển đang dâng lên với tốc độ trung bình hàng năm.
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp thực hiện mô hình khí hậu PRECIS với kịch bản A2 và B2, sử dụng dữ liệu khí hậu từ 1980-2000 để dự đoán tình hình đến năm 2030-2040 Kết quả cho thấy nhiều khu vực của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể từ biến đổi khí hậu (Tuan and Supparkorn, 2009; Huỳnh Thị Thu Hương, 2017).
• Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35- 37°C (Hình 2.9).
• Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%.
•Sự phân bố mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa (Hình 2.10).
• Tổng lượng mưa năm tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ.
• Diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng (Hình 2.11).
Hình 2.9 Sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trung bình thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Hình 2.10 Sự thay đổi lượng mưa tháng ở ĐBSCL thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Dự báo đến năm 2060, biến đổi khí hậu sẽ gây ra những thay đổi lớn cho môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Mực nước biển có thể dâng cao khoảng 1m, dẫn đến ngập lụt diện rộng tại khu vực vốn đã chịu ảnh hưởng từ trước, với khoảng 15.000 – 20.000 km² đất ven biển bị ngập hoàn toàn Lưu lượng nước sông Mê Kông sẽ giảm từ 2 – 24% trong mùa khô và tăng từ 7 – 15% vào mùa lũ, gây ra tình trạng hạn hán gia tăng, nước lũ cao hơn và thời gian ngập lũ kéo dài hơn Hệ thống tiêu thoát nước trong mùa mưa lũ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn (Huỳnh Thị Thu Hương, 2017).
Hình 2.11 Phỏng đoán sự thay đổi diện tích ngập vào thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Kịch bản khác về BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam: Kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam năm
Năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng các kịch bản nước biển dâng dựa trên phương pháp của IPCC, kết hợp với các nghiên cứu mới nhất từ các quốc gia như Úc, Hà Lan và Singapore Những kịch bản này chỉ tập trung vào sự thay đổi mực nước biển trung bình do biến đổi khí hậu, không xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác như nước dâng do bão, gió mùa, thủy triều, và các quá trình địa chất.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực dễ bị ngập lụt nhất, với nguy cơ ngập lên tới 38,9% diện tích nếu mực nước biển dâng 100 cm Các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang và Cà Mau đang đối mặt với mức độ nguy hiểm cao nhất, lần lượt là 80,62%, 76,86% và 57,69%.
2.5.5.1 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (BTNMT, 2016).
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam cung cấp thông tin cập nhật về các biểu hiện và xu thế biến đổi khí hậu trong quá khứ, đồng thời đánh giá kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thế kỷ 21.
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009, dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước Mục đích của kịch bản này là hỗ trợ các Bộ, ngành và địa phương trong việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực khác nhau, đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2015 Tuy nhiên, mức độ chi tiết của các kịch bản chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu và dải ven biển Việt Nam.
Năm 2011, Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, xác định các mục tiêu ưu tiên cho từng giai đoạn Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên dữ liệu và điều kiện khí hậu cụ thể của đất nước Kịch bản khí hậu được xây dựng chi tiết đến cấp tỉnh, trong khi kịch bản nước biển dâng được cụ thể hóa cho các khu vực ven biển Việt Nam theo từng thập kỷ của thế kỷ 21.
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 đã được cập nhật theo lộ trình trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, nhằm cung cấp thông tin mới nhất về diễn biến và xu thế biến đổi khí hậu cũng như nước biển dâng Bài viết cũng đề cập đến kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thế kỷ 21 tại Việt Nam.
Kịch bản biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 tập trung vào sự thay đổi của các yếu tố khí hậu quan trọng như nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng khí hậu cực đoan Các yếu tố này bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, số ngày rét đậm, rét hại, cũng như số ngày nắng nóng và tình trạng hạn hán.
Bản đồ nguy cơ ngập được xây dựng dựa trên mực nước biển dâng trung bình do biến đổi khí hậu.
2.5.5.2 Kịch bản biến đổi khí hậu cho nhiệt độ, lượng mưa, gió mùa và một số hiện tượng cực đoan
- Nhiệt độ: Theo kịch bản RCP 4.5, nhiệt độ trung bình năm tăng
1,9÷2,4 0 C ở phía Bắc và 1,7÷1,9 0 C ở phía Nam Theo kịch bản RCP 8.5, mức tăng 3,3÷4,0 0 C ở phía Bắc và 3,0÷3,5 0 C ở phía Nam Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng rõ rệt.
Theo kịch bản RCP 4.5, lượng mưa hàng năm có thể tăng từ 5 đến 15% Đối với kịch bản RCP 8.5, mức tăng có thể vượt quá 20% tại hầu hết các khu vực Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần Nam Bộ và Tây Nguyên.
Gió mùa đang có xu hướng bắt đầu sớm và kết thúc muộn hơn, dẫn đến sự gia tăng số lượng bão mạnh và rất mạnh Trong thời gian gió mùa, lượng mưa cũng có xu hướng tăng Đồng thời, số ngày rét đậm và rét hại tại các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc Bộ cũng gia tăng.
Trung Bộ ghi nhận sự giảm nhiệt độ, trong khi số ngày nắng nóng (Tx ≥ 35°C) có xu hướng gia tăng trên hầu hết cả nước, đặc biệt là ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ Hạn hán có thể trở nên nghiêm trọng hơn ở một số khu vực do nhiệt độ tăng và khả năng giảm lượng mưa trong mùa khô.
2.5.5.3 Nguy cơ ngập đối với thành phố Cần Thơ theo kịch bản biến đổi khí hậu năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Giới thiệu địa bàn nghiên cứu thành phố Cần Thơ
Vị trí địa lý
Cần Thơ, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, thuộc hạ lưu sông Mê Kông, giáp với tỉnh An Giang ở phía bắc, Đồng Tháp và Vĩnh Long ở phía đông, Kiên Giang ở phía tây, và Hậu Giang ở phía nam Thành phố cách Thành phố Hồ Chí Minh 169 km và cách Rạch Giá cùng thành phố Cà Mau hơn 150 km Từ Cần Thơ, du khách có thể dễ dàng tiếp cận biển qua đường nam sông Hậu, chỉ khoảng 80 km theo quốc lộ 91C.
Về tọa độ địa lý, Cần Thơ nằm trong giới hạn từ 105°13’38” đến 105°50’35” kinh độ Đông Từ 9°55’08” đến 10°19’38” vĩ độ Bắc.
Thành phố có lãnh thổ kéo dài hơn 60 km dọc bờ tây sông Hậu, với tổng diện tích tự nhiên đạt 1.439,0 km², chiếm 3,49% diện tích của toàn vùng Diện tích nội thành của thành phố là 53 km².
Hình 2.13 Vị trí của thành phố Cần Thơ trên bản đồ
Khí hậu
Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trong năm khá cao, trung bình từ 25°C đến 28°C Lượng mưa từ 1.500 mm đến 1.800 mm trên năm Tổng số giờ nắng là 2.300 – 2.500 giờ. Độ ẩm trung bình là 83%.
Chế độ gió: gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam.
Điều kiện tự nhiên
Cần Thơ nằm trong khu vực bồi tụ phù sa của sông Mê Kông, với Sông Hậu dài 65 km chảy qua thành phố và tổng lượng phù sa đạt 35 triệu m³/năm Sông Cái Lớn dài 20 km có khả năng tiêu thoát nước hiệu quả, trong khi Sông Cần Thơ dài 16 km cung cấp nước ngọt quanh năm, hỗ trợ tưới tiêu trong mùa khô và tiêu úng trong mùa nước dâng Hệ thống kênh rạch dày đặc tại đây tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và giao thương hàng hóa.
Hình 2.14 Chợ nổi Cái Răng
Cần Thơ nằm trong vùng đồng lũ nửa mở, có ba dạng địa mạo chính: đê tự nhiên sông Hậu, đồng lũ nửa mở của vùng tứ giác Long Xuyên và đồng bằng châu thổ Địa hình nơi đây có cao trình phổ biến từ 0,8 đến 1,0 mét, giảm dần từ đông bắc sang các hướng khác.
Về thổ nhưỡng, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa chiếm 84% diện tích tự nhiên và 16% nhóm đất phèn.
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Như đã nhắc đến ở trên, có hai loại nhóm đát chính là đất phù sa và đất phèn Trong đó:
Đất phù sa chiếm 84% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Hậu, cách sông từ 8 km đến 12 km Có năm loại đất phù sa bao gồm: đất phù sa bồi ven sông (1,9%), đất phù sa đốm dĩ có gley (58%), đất phù sa đốm dĩ (15,3%), đất phù sa loang lổ (4,9%) và đất phù sa gley (4,1%) Loại đất này rất tốt và cần thiết cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Đất phèn chiếm 16% diện tích tự nhiên, bao gồm ba loại chính: đất phèn hoạt động nông (khoảng 2,5%), đất phèn hoạt động sâu (khoảng 7,0%) và đất phèn hoạt động rất sâu (khoảng 6,4%).
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của thành phố Cần Thơ có thể nói là khá dồi dào Nhờ có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt.
Hình 2.15 Hệ thống sông ngòi chằng chịt là điều kiện phát triển giao thông
Cần Thơ sở hữu nguồn nước ngầm phong phú, chủ yếu phân bố ở các tầng chứa nước Pleitoxen, Pliocen và Miocen, với độ sâu từ 100 đến 300m Tuy nhiên, ở một số khu vực, nước ngầm có thể được tìm thấy ở độ sâu chỉ 20 đến 50m và có chất lượng khá tốt.
Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản trên lãnh thổ thành phố
Cần Thơ không nhiều Chủ yếu là khoáng sản phục vụ công nghiệp nhẹ, trong lĩnh vực xây dựng như: đất sét, cát, than bùn,…
Than bùn: Ở độ sâu 0,5 – 1,0m, trữ lượng khoảng 30.000 – 50.000 tấn, tập trung ở quận Ô Môn, Thốt Nốt, hiện chưa khai thác.
Đất sét có trữ lượng khoảng 16,8 triệu m3, chủ yếu dùng để sản xuất gạch ngói Tầng đất sét màu xám vàng dày từ 1 đến 2m phân bố rải rác khắp nơi Đặc biệt, tại sông Ô Môn và sông Cần Thơ, đất sét có màu vàng nhạt, xám xanh, khi khô cứng lại với chiều dày khoảng 2m, trữ lượng lên đến hàng triệu tấn.
Cát san lấp: Tập trung ở khu vực sông Hậu và đoạn từ quận Thốt Nốt đến Phụng Hiệp, có trữ lượng khoảng 30 triệu m³.
Tài nguyên sinh vật: Về tài nguyên sinh vật là đặc trưng cho vùng phù sa ngọt nhưng hiện nay cạn nguồn do tận dụng đánh bắt khai thác.
Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2020, dân số Cần Thơ là 1.500.000 người. Trong đó:
Mật độ dân số hiện tại đạt 1008 người/km², cho thấy đây là một mức cao Trong đó, quận Ninh Kiều ghi nhận mật độ dân cư cao nhất với 8.407 người/km², trong khi huyện Vĩnh Thạnh có mật độ thấp nhất là 274 người/km² Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trong năm 2005 là 1,1%.
Người Kinh chiếm phần lớn trong dân số của thành phố Cần Thơ (96,95%) Số còn lại là người Hoa, Khmer và một số ít các dân tộc khác.
Cần Thơ là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực quan trọng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm dạy nghề đa dạng.
Đơn vị hành chính
Cần Thơ là thành phố có 9 đơn vị hành chính, bao gồm 5 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt, cùng với 4 huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai và Phong Điền, tổng cộng có 85 xã, phường, thị trấn.
Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố, các quận Bình Thủy, ÔMôn, Thốt Nốt và Cái Răng giữ vai trò nội thành (Có 610/630 ấp, khu vực văn
Định hướng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021- 2030
Khái quát phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Cần Thơ hướng tới việc trở thành thành phố sinh thái, văn minh và hiện đại, nổi bật với bản sắc sông nước của đồng bằng sông Cửu Long Thành phố sẽ đóng vai trò trung tâm trong các lĩnh vực dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến và nông nghiệp công nghệ cao, giáo dục, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ, văn hóa và thể thao Đến trước năm 2030, Cần Thơ phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đồng thời chú trọng phát triển văn hóa, tiến bộ xã hội, công bằng xã hội và phúc lợi xã hội Ngoài ra, thành phố cũng cam kết bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và duy trì trật tự an toàn xã hội, quốc phòng và an ninh.
Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực Đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành công nghiệp và dịch vụ, nhằm tăng cường khả năng kết nối và tiếp cận thông tin, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới.
Tăng cường hợp tác với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các tỉnh, thành khác trên toàn quốc, là một ưu tiên quan trọng Các phương án hợp tác sẽ được đề xuất dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng lẫn nhau và mang lại lợi ích cho cả hai bên, đồng thời phát huy vai trò trung tâm của thành phố và tiềm năng của từng địa phương Để phục vụ cho mục tiêu phát triển và quản lý vùng, việc xây dựng một trung tâm thu thập và xử lý thông tin hiện đại, ứng dụng công nghệ mới về vùng đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết.
Tạo điều kiện hợp tác giữa các trường đại học, tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ, nhà khoa học trong và ngoài nước với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và cơ sở giáo dục - đào tạo nhằm thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ Điều này sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố và khu vực.
Hoàn thiện hệ thống hạ tầng khung, bao gồm hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhằm thu hút đầu tư theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch chung thành phố trong giai đoạn 2021 - 2025 Đồng thời, tiếp tục thúc đẩy đô thị hóa, tập trung vào quản lý và phân bổ dân cư, đảm bảo sự phát triển đồng bộ giữa các quận, huyện Xây dựng và quản lý kiến trúc đô thị theo quy hoạch và chương trình phát triển nhà đã được phê duyệt.
Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa, nâng cao chất lượng nông thôn mới theo chuẩn nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu Đẩy mạnh Chương trình "mỗi xã một sản phẩm" để phát triển thương hiệu và du lịch địa phương Tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực ưu tiên, mở rộng mạng lưới giáo dục đa dạng hóa, đạt chuẩn; kêu gọi đầu tư từ các tổ chức, cá nhân để xây dựng trường đạt chuẩn quốc tế và đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật cho trường học, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng.
Quan điểm sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên quý giá và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia Việc sử dụng đất cần phải tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, nhằm gia tăng giá trị kinh tế và tài chính, từ đó đạt được hiệu quả sử dụng đất cao nhất Điều này không chỉ đáp ứng các mục tiêu ngắn hạn mà còn hướng tới sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, đồng thời đảm bảo an ninh và quốc phòng.
Nội dung quy hoạch sử dụng đất cần phải phù hợp với quy hoạch tổng thể của thành phố và các quy hoạch ngành liên quan, nhằm tạo sự liên kết và phát huy tiềm năng đất đai của từng tiểu vùng Điều này sẽ là cơ sở cho việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, đồng thời đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa và các khu di tích danh thắng là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đồng thời hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh Việc này cũng góp phần bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như nước biển dâng.
Phát triển quỹ đất cần được thực hiện theo hướng khai hoang phục hóa và xây dựng công trình ngầm tại những khu vực phù hợp Cần đầu tư vào hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ và du lịch để khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai Đồng thời, cho phép chuyển đổi đất trồng lúa ở những khu vực thường xuyên bị hạn hán, ngập lụt sang các mục đích khác và di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi trung tâm thành phố, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Ưu tiên bố trí quỹ đất cho hạ tầng đồng bộ, tập trung phát triển các hạ tầng then chốt có sức lan tỏa lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.
Tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong quản lý và sử dụng đất là cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệu quả Đồng thời, kế thừa những thành tựu đã có sẽ giúp cải thiện tính khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Định hướng sử dụng đất theo khu chức năng
2.7.3.1 Khu sản xuất nông nghiệp Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp; dần hình thành các vùng chuyên canh tập trung, sản xuất quy mô lớn nhằm tạo thuận lợi cho quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp Khuyến khích, tạo điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khâu giống và chế biến nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần từng bước cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người nông dân. Định hướng đến năm 2030, diện tích khu vực sản xuất nông nghiệp của thành phố có diện tích khoảng 80.000 - 85.000 ha, phân bố tại 04 huyện ngoại thành (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai và Vĩnh Thạnh) Trong đó, sẽ bố trí những dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy mô lớn như: Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao 1 quy mô 20 ha, Khu Nông Nghiệp ứng dụng công nghệ cao 2 quy mô 245 ha, Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao 3 quy mô 100 ha.
2.7.3.2 Khu phát triển công nghiệp
Phát triển công nghiệp cần tập trung vào các ngành có lợi thế so sánh và tiềm năng phát triển, phù hợp với quy hoạch chung của cả nước Đặc biệt, cần đẩy nhanh phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực mà địa phương có lợi thế, như công nghiệp cơ khí chế tạo và công nghiệp chế biến nông sản.
- lâm - hải sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp phụ trợ.
Để đáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cần tăng cường đầu tư và kêu gọi phát triển các khu, cụm công nghiệp Các khu, cụm này phải có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hoàn chỉnh, kết nối tốt với hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố và khu vực, đồng thời hỗ trợ lẫn nhau theo quan điểm phát triển bền vững Đồng thời, cần thực hiện di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu đô thị và khu dân cư Định hướng đến năm 2030, diện tích khu vực phát triển công nghiệp của thành phố dự kiến đạt khoảng 4.000 - 4.500 ha.
Vùng công nghiệp tập trung ven sông Hậu có diện tích khoảng 2.950 – 3.000 ha, bao gồm các khu công nghiệp hiện hữu như Hưng Phú 1 (giai đoạn 1), Trà Nóc 1, Trà Nóc 2 và Thốt Nốt (giai đoạn 1) Khu vực này đang được tiếp tục xây dựng mới và mở rộng nhằm phục vụ nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông thủy sản, dầu khí, dược phẩm, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng gia dụng, lắp ráp thiết bị điện tử, cũng như logistics và kho bãi.
Vùng công nghiệp tập trung công nghệ cao tại huyện Thới Lai có quy mô khoảng 400 ha, được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp với hàm lượng công nghệ cao Khu vực này tập trung vào các lĩnh vực như cơ khí chế tạo, lắp ráp độ chính xác cao, hóa chất cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, cùng với hóa dược phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các cụm công nghiệp gắn liền với đô thị tại các quận, huyện có quy mô từ 30-50 ha, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng và chế biến thức ăn gia súc với quy mô nhỏ.
Theo Quy hoạch chung thành phố Cần Thơ đến 2030 và tầm nhìn 2050, thành phố sẽ trở thành đô thị hạt nhân lớn tại vùng và quốc gia, có tầm ảnh hưởng tại Đông Nam Á Cần Thơ hướng tới việc trở thành một thành phố kiểu mẫu của thế kỷ 21, thích ứng với biến đổi khí hậu và kết hợp phát triển đô thị với cảnh quan sông nước đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long Quy mô khu đô thị dự kiến khoảng 55.000 - 60.000 ha.
- Khu đô thị trung tâm:
Khu đô thị truyền thống Ninh Kiều – Bình Thủy là trung tâm lịch sử và chính trị của thành phố, bao gồm các chức năng quan trọng như trung tâm hành chính, tiếp vận đường bộ, đường thủy và hàng không, cũng như trung tâm thể dục thể thao, giáo dục, y tế và thương mại Khu vực này còn có các khu ở hỗn hợp, chỉnh trang và tập trung, phục vụ nhu cầu cư dân và phát triển kinh tế khu vực.
Dân số: năm 2030 khoảng 500.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 8.100 ha.
Khu đô thị - công nghiệp Cái Răng là trung tâm công nghiệp và dịch vụ cảng quan trọng, đóng vai trò đầu mối giao thông kết nối đường bộ, đường thủy và đường sắt Nơi đây còn là trung tâm tiếp vận với dịch vụ cảng và logistics cấp vùng, đồng thời phục vụ nhu cầu thương mại và dịch vụ cho thành phố và khu vực Khu vực này cũng được phát triển thành trung tâm văn hóa cấp vùng, với các khu ở tập trung và khu sinh thái nhà vườn, tạo ra một môi trường sống và làm việc lý tưởng.
Dân số: năm 2030 khoảng 300.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 4.850 ha.
Khu đô thị sinh thái Phong Điền sẽ trở thành trung tâm hành chính và chính trị của quận Phong Điền trong tương lai, đồng thời là điểm đến du lịch văn hóa - sinh thái quan trọng, với chức năng bảo tồn cảnh quan vườn cây ăn trái Quy mô của khu đô thị này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển bền vững cho khu vực.
Dân số: năm 2030 khoảng 90.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 1.500 ha.
Khu đô thị mới Ô Môn sẽ trở thành đầu mối giao thông quan trọng, kết nối đường bộ, đường thủy và đường sắt trong tương lai Nơi đây dự kiến sẽ là trung tâm giao dịch quốc tế, nghiên cứu khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo cấp quốc gia và quốc tế Ngoài ra, Ô Môn còn hướng tới việc phát triển thành trung tâm tài chính, thương mại - dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, cùng với công viên chuyên đề nông nghiệp công nghệ cao sông Hậu Khu vực này cũng sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa, hội chợ triển lãm cấp vùng và quốc gia.
Dân số: năm 2030 khoảng 160.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 4.100 ha.
Khu đô thị - công nghiệp Thốt Nốt đóng vai trò là trung tâm quan trọng trong ngành chế biến nông sản, thủy sản và công nghiệp phụ trợ Nơi đây cũng được xác định là trung tâm kho vận cấp vùng, thương mại - dịch vụ cấp thành phố và cấp vùng, cùng với các khu du lịch sinh thái ven sông Hậu Khu vực này bao gồm các khu ở tập trung và khu ở sinh thái, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và du lịch địa phương.
Dân số: năm 2030 khoảng 290.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 4.850 ha.
Khu đô thị ngoại thành là các đô thị thuộc huyện ngoại thành, phục vụ chức năng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đồng thời là đô thị vệ tinh hỗ trợ cho trung tâm thành phố Dự kiến đến năm 2030, dân số khu đô thị sẽ đạt khoảng 80.000 người, với diện tích xây dựng khoảng 1.750 ha Khu đô thị này được thiết kế theo tiêu chuẩn đô thị loại V.
+ Thị trấn Cờ Đỏ: là trung tâm hành chính – chính trị, trung tâm kinh tế
- văn hóa, khoa học kỹ thuật của huyện Cờ Đỏ và của vùng phía Tây thành phố Cần Thơ Trong đó, về quy mô:
Dân số: năm 2030 khoảng 20.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 425 ha.
+ Thị trấn Thới Lai: là trung tâm hành chính – chính trị, kinh tế - văn hóa, khoa học của huyện Thới Lai Trong đó, về quy mô:
Dân số: năm 2030 khoảng 22.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 500 ha.
+ Thị trấn Vĩnh Thạnh: là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế văn hóa của huyện Vĩnh Thạnh Trong đó, về quy mô:
Dân số: năm 2030 khoảng 26.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 550 ha.
+ Thị trấn Thạnh An: là trung tâm kinh tế phía Tây của huyện Vĩnh Thạnh Trong đó, về quy mô:
Dân số: năm 2030 khoảng 13.000 người. Đất xây dựng đô thị: năm 2030 khoảng 275 ha.
2.7.3.4 Khu thương mại - dịch vụ
Cần Thơ đang được phát triển thành trung tâm thương mại và giao thương lớn của khu vực, tập trung vào việc phát triển các ngành dịch vụ truyền thống Thành phố ưu tiên các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và giá trị gia tăng cao, đặc biệt là những lĩnh vực có lợi thế như thương mại - xuất nhập khẩu, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, vận tải, bưu chính - viễn thông, dịch vụ kinh doanh bất động sản, chứng khoán, và dịch vụ công trong khoa học và công nghệ.
… đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, từng bước thể hiện và trở thành trung tâm dịch vụ lớn cho cả vùng.
Rà soát và quy hoạch các khu vực đất có vị trí thuận lợi cho kinh doanh thương mại – dịch vụ là rất cần thiết Đồng thời, cần tăng cường quảng bá và ưu đãi đầu tư để thu hút vốn xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại – dịch vụ, đặc biệt là các chợ, siêu thị và trung tâm thương mại.
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương tiện, địa điểm, thời gian nghiên cứu, đối tượng khảo sát
3.1.1 Trang thiết bị và phần mềm
Luận án sử dụng phiếu điều tra (đính kèm) và các phần mềm sử dụng trong việc xử lý số liệu và bản đồ: MapInfo Professional 11.0 và Microstation.
Các dữ liệu được thu thập phục vụ cho quá trình nghiên cứu gồm:
Thành phố Cần Thơ đã thu thập và phân tích các số liệu thống kê liên quan đến điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) trong giai đoạn 2006 – 2010 và 2011 - 2015 cũng đã được đánh giá Đồng thời, phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành phố cũng được trình bày để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Dữ liệu bản đồ trong nghiên cứu này bao gồm bản đồ quy hoạch sử dụng đất của TPCT đến năm 2020 và bản đồ kịch bản ngập do biến đổi khí hậu (BĐKH) dự báo cho TPCT đến năm 2030, dựa trên kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng năm 2016.
+ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của TPCT tỷ lệ 1/650.000 năm 2016 (nguồn từ Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ).
+ Bản đồ kịch bản ngập cho TPCT tỷ lệ 1/650.000 (nguồn từ Bộ
- Dữ liệu điều tra Người dân, Nhà lãnh đạo, nhà đầu tư, nhà lập kế hoạch và khảo sát ý kiến chuyên gia:
Điều tra ý kiến người dân về việc thay đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất tại quận Cái Răng, huyện Phong Điền và huyện Vĩnh Thạnh.
+ Khảo sát ý kiến chuyên gia về so sánh mức độ quan trọng trong nội bộ các yếu tố con người.
- Dữ liệu thời tiết trong đó bao gồm các dữ liệu như sau:
Dữ liệu thống kê từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn TPCT đến năm 2015 cho thấy sự biến đổi của nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn của nước, và độ sâu ngập, cùng với các thông tin khí hậu quan trọng khác.
Tài liệu dự báo khí hậu cho thành phố Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được xây dựng, bao gồm các kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) qua các năm.
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: thành phố Cần Thơ (Hình 3.1).
- Thời gian: từ tháng 06 năm 2017 đến tháng 04 năm 2020.
Bao gồm các đối tượng như sau
- Nhà Lãnh đạo gồm: Văn phòng UBND TPCT, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền địa phương.
- Người sử dụng đất: là những hộ dân trong vùng quy hoạch.
- Nhà đầu tư gồm các chủ đầu tư về dự án công ích và dự án kinh tế.
- Nhà lập quy hoạch kế hoạch gồm các đơn vị tư vấn về lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất từ năm 2006 –
2010 và 2011 - 2015 Từ đó, đánh giá tính khả thi trong thực hiện kế hoạch sử dụng đất của thành phố Cần Thơ từ năm 2006 – 2015.
- Thu thập các chính sách, pháp luật có liên quan đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Dữ liệu trong bài viết được thu thập từ các nguồn chính như Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Xây dựng, cùng với Bộ môn Tài nguyên Đất đai thuộc Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Trường Đại học Cần Thơ.
- Các Báo cáo về phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ.
Các bản đồ chuyên đề bao gồm bản đồ địa giới hành chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, bản đồ đất, bản đồ đơn vị đất đai, bản đồ phân vùng thích nghi đất đai cho nông - ngư nghiệp, bản đồ cao độ, bản đồ nguồn tài nguyên nước mặt và bản đồ phân bố lượng mưa Những bản đồ này đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và quy hoạch sử dụng đất hiệu quả.
Để thu thập tài liệu về bản đồ đất và nước tại thành phố Cần Thơ, bạn có thể liên hệ với Bộ môn Tài nguyên đất đai Trường Đại học Cần Thơ Ngoài ra, bộ môn cũng cung cấp các tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm Mapinfo liên quan đến quản lý tài nguyên.
Xây dựng kế hoạch điều tra
Lựa chọn phương pháp điều tra
Chọn mẫu điều tra Điều tra
Xử lý kết quả điều tra
Hình 3.2 Các bước thực hiện điều tra Được thực hiện qua các phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước: a) Xây dựng kế hoạch điều tra
Phạm vi điều tra nghiên cứu được thực hiện tại quận Cái Răng, huyện Phong Điền và huyện Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Cần Thơ Đây là ba khu vực đại diện cho mẫu nghiên cứu trong vùng quy hoạch có đất bị thay đổi mục đích sử dụng, với sự chuyển đổi rõ rệt trong xu hướng và cách thức sử dụng đất Việc lựa chọn những địa phương này là phù hợp để nghiên cứu tác động của quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế - xã hội - tự nhiên và ngược lại, đồng thời đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ thành phố về cỡ mẫu và mục đích nghiên cứu, giúp thu hẹp phạm vi mà không bị dàn trải.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, cần lựa chọn phương pháp phù hợp với từng loại phiếu điều tra và đối tượng khảo sát khác nhau Người thực hiện khảo sát cần hiểu rõ cách thức và yêu cầu của phiếu điều tra nhằm đảm bảo thu thập thông tin chính xác và khách quan Việc chọn mẫu điều tra cũng rất quan trọng trong quá trình này.
Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn: Dùng công thức xác định cỡ mẫu n Trong đó: n: số mẫu cần điều tra khảo sát cho tính toán.
N: số quan sát tổng thể là 581.418 hộ dân (tổng số hộ dân ở 3 quận, huyện gồm: Cái Răng: 351.040 hộ, Phong Điền: 103.171 hộ, Vĩnh Thạnh: 127.207 hộ) e: sai số cho phép (trong thí nghiệm là 5%).
Tổng số phiếu điều tra nhà quản lý, người sử dụng đất, nhà đầu tư, nhà lập kế hoạch và chuyên gia là 400 phiếu.
Trong quá trình điều tra ý kiến người dân, 292 phiếu đã được thu thập, với mỗi vùng có 146 phiếu Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) qua các giai đoạn cho thấy rõ sự tác động đến đời sống người dân, đặc biệt là việc tuân thủ quy hoạch Những vùng thực hiện đúng quy hoạch và những vùng không thực hiện được đều phản ánh ý kiến của người dân về hiệu quả của KHSDĐ Việc điều tra nguyên nhân không tuân thủ quy hoạch sẽ cung cấp cơ sở vững chắc để xác định điểm yếu của kế hoạch và nâng cao hiệu quả cho việc lập KHSDĐ trong giai đoạn tiếp theo.
Vùng thực hiện đúng theo quy hoạch: 146 phiếu;
Vùng chưa thực hiện quy hoạch (bao gồm vùng chưa thực hiện theo quy hoạch và vùng thực hiện sai khác với quy hoạch): 146 phiếu.
- Nhà lập quy hoạch, kế hoạch: 30
Theo thông tin từ chuyên gia, có tổng cộng 18 phiếu được chia thành 2 đợt, mỗi đợt gồm 9 phiếu Các phiếu này bao gồm 03 chuyên gia từ Sở Tài nguyên và Môi trường, 03 chuyên gia tham mưu về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, và 03 chuyên gia từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Số phiếu thực tế trong quá trình điều tra chuyên gia nhiều hơn 18, nhưng sau khi xử lý và rà soát để đảm bảo tính nhất quán, sẽ chọn lọc 9 phiếu cho mỗi đợt để lấy ý kiến.
Dựa trên cỡ mẫu 400 phiếu khảo sát, việc thu thập dữ liệu là phù hợp với điều kiện của vùng nghiên cứu Phỏng vấn được tiến hành ngẫu nhiên với những người dân sống lâu năm tại địa phương và những cá nhân tham gia trực tiếp vào việc lập và thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
Người thực hiện điều tra là những cá nhân sử dụng đất bị ảnh hưởng bởi quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Họ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tác động của quy hoạch này Các nội dung điều tra được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1.
Điều tra Nhà lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là quá trình thu thập thông tin quan trọng nhằm đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất, với các nội dung điều tra được chi tiết trong Phụ lục 2.
- Điều tra Chính quyền địa phương (các nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua Phụ lục 3).
- Điều tra Nhà đầu tư (các nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua Phụ lục 4).
Bảng so sánh mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất được trình bày chi tiết trong Phụ lục 5 Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả và tính khả thi của kế hoạch, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất đai.
- Danh sách điều tra các chuyên gia về ảnh hưởng kế hoạch sử dụng đất (cụ thể qua Phụ lục 6).
Bảng so sánh mức độ quan trọng của các yếu tố thuộc yếu tố con người ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất được thể hiện rõ qua Phụ lục 7 Các yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo hiệu quả và thành công của kế hoạch, từ đó góp phần vào việc quản lý và phát triển bền vững nguồn tài nguyên đất đai.
- Danh sách điều tra các chuyên gia về các yếu tố con người ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất (cụ thể qua Phụ lục 8).
Phỏng vấn chuyên gia gồm 2 đợt, mỗi lần 9 phiếu dùng để áp dụng phương pháp đánh giá đa tiêu chí MCA. e) Xử lý kết quả điều tra
Sử dụng phần mềm Excel để phân tích biến động số liệu và thống kê mô tả dữ liệu điều tra Qua đó, xác định các yếu tố có sự tương tác lẫn nhau, giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các yếu tố trong nghiên cứu.
- Số liệu thu thập được định dạng thích hợp để nhập số liệu vào máy tính với dạng số hoặc không phải dạng số.
- Phân loại các loại biến: Các biến được phân loại thành biến định tính và biến định lượng.
- Mã hóa các biến định tính dưới dạng số.
- Dùng phương pháp logictic và suy luận để đánh giá số liệu thu thập được và đề xuất giải pháp.
Tổng hợp số phiếu và tính tỉ lệ phần trăm giữa các lựa chọn là cách xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố đối với quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của vùng nghiên cứu.
+ Dùng thuật toán để xử lý số liệu điều tra chuyên gia theo phương pháp đánh giá đa tiêu chí.
3.2.3 Phương pháp đánh giá đánh giá đa tiêu chí (Multi Criteria Evaluation)