Ở phương diện chủ quan, theo BLDS 2015 quy định tại điều 609: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Những vấn đề lý luận chung về thừa kế 3
1.1 Khái niệm thừa kế 3
1.2 Khái niệm quyền thừa kế 3
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của quyền thừa kế 4
1.4 Thừa kế theo pháp luật, phân biệt thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc 5 1.5 Khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam 8
1.6 Ý nghĩa của việc phân chia diện và hàng thừa kế 8
II Diện thừa kế và hàng thừa kế trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015 9
2.1 Diện thừa kế 9
2.2 Hàng thừa kế 11
III Những điểm hạn chế, nguyên nhân về tranh chấp, giải quyết tranh chấp về thừa kế theo diện và hàng thừa kế và một số phương hướng hoàn thiện quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật 15
3.1 Hạn chế của một số quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật 15
3.2 Nguyên nhân 16
3.3 Một số phương hướng nhằm hoàn thiện quy định về diện và hàng thừa kế trong pháp luật 18
C KẾT LUẬN 19
Trang 2A MỞ ĐẦU
Con người khi chết đi, những tài sản thuộc sở hữu còn lại của họ sẽ đượcdịch chuyển cho người khác Quá trình dịch chuyển tài sản này được gọi là thừa kế.Thừa kế là một hiện tượng xã hội và xuất hiện trong mọi chế độ xã hội, nơi nào có
sở hữu thì nơi đó có thừa kế Việt Nam ta có nền văn hóa với các truyền thống đạođức lâu đời Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục,tập quán, tình cảm cha con, vợ chồng đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảmbảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc Bên cạnh đó cónhững người đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho nhữngbản di chúc này không rõ ràng, dẫn đến những người thừa kế phải nhờ pháp luậtphân xử hộ làm rạn nứt đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có Vì lẽ đó, phầnlớn các vụ việc thừa kế ở Việt Nam được giải quyết theo quy định của pháp luật
Trong những giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp ở Việt Nam nóichung và dân luật Việt Nam nói riêng, các quan hệ thừa kế luôn là một trong nhữngmối quan hệ quan trọng, và thực tế đã cho thấy: rất nhiều BLDS được ra đời đều cónhững phương pháp điểu chỉnh riêng, tùy theo hoàn cảnh, và các bộ luật ra đời sau
có xu hướng hoàn chỉnh, chặt chẽ hơn Trong số đó, diện và hàng thừa kế luôn làvấn đề tốn không ít giấy mực của các nhà làm luật Sự dịch chuyển tài sản củangười chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, trình tự pháp luật tưởngchừng như đơn giản, nhưng lại chứa đựng nhiều luồng ý kiến khác nhau Trongviệc xác định diện và hàng thừa kế, chúng ta có thể thấy: đề ra được những điềuluật điều chỉnh một cách triệt để những vấn đề nảy sinh là không hề đơn giản Để
mở rộng kiến thức cho bản thân về vấn đề này, em tâm huyết thực hiện bài tiểuluận cá nhân với đề tài “Diện và hàng thừa kế theo pháp luật quy định của BLDS2015”
Trang 3B NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận chung về thừa kế.
1.1 Khái niệm thừa kế
Thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điềuchỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặctheo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền nghĩa vụ và phươngthức bảo vệ các quyền nghĩa vụ của người thừa kế
Đặc tính của thừa kế:
Thứ nhất, gắn bó chặt chẽ với sở hữu, sở hữu và thừa kế có quan hệ biện
chứng với nhau Sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đề thừa kế, thừa kế là cách thức
để duy trì và củng cố vấn đề sở hữu
Thứ hai, là hiện tượng mang tính khách quan, tất yếu hình thành và tồn tại
trong mọi hình thái kinh tế - xã hội
Có hai dạng thừa kế: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Việc thừa kế có sự điều chỉnh của pháp luật được gọi là quyền thừa kế Mỗichế độ khác nhau thì có sự khác nhau trong quy định của pháp luật về quyền thừa
kế Thậm chí, ngay trong cùng một chế độ xã hội nhưng ở mỗi giai đoạn khác nhaucũng có sự khác nhau trong quy định của pháp luật về quyền thừa kế
Với góc độ là một phạm trù pháp lí thì quyền thừa kế được hiểu trên haiphương diện khách quan và phương diện chủ quan
Ở phương diện khách quan, quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và thừa nhận nhằm điều chỉnh quá trìnhdịch chuyển tài sản từ người chết cho những người thừa kế
Ở phương diện chủ quan, theo BLDS 2015 quy định tại điều 609: “Cá nhân
có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”
Trang 4Nghĩa là dưới góc độ chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền để lại di sản thừa
kế và quyền hưởng thừa kế của một cá nhân
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của quyền thừa kế
Nguyên tắc bảo hộ về quyền thừa kế của cá nhân
Pháp luật đã ghi nhận và bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân trên cả haiphương diện, đó là quyền để lại di sản thừa kế và quyền hưởng di sản thừa kế
Ở khía cạnh là quyền để lại di sản thừa kế, cá nhân có quyền định đoạt tài
sản của mình cho người khác sau khi người đó chết theo ý chí của họ được thể hiệntrong di chúc, và không ai có quyền ngăn cản, cưỡng ép hay đe dọa việc định đoạtnày Tuy nhiên, nếu cá nhân trước khi chết không muốn lập di chúc thì pháp luậtcũng không bắt buộc họ phải lập di chúc Trường hợp này, khi người đó chết đi, disản thừa kế sẽ chia cho những người thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật
Ở phương diện là quyền hưởng di sản thừa kế, pháp luật bảo đảm cho cá
nhân có quyền hưởng di sản thừa kế do người chết để lại theo di chúc hoặc theopháp luật, trừ trường hợp họ bị truất quyền hưởng di sản hoặc không có quyềnhưởng di sản
Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, không phân biệt nam nữ tuổitác, thành phần tôn giáo, dân tộc, địa vị chính trị xã hội… đều có quyền để lại disản thừa kế và hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của chủ thể trong quan hệ thừa
kế.
Thứ nhất, tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản Theo đó, cá
nhân đã có đủ năng lực chủ thể đều có quyền bằng ý chí của mình quyết địnhkhông lập hoặc lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết Việc tôntrọng quyền định đoạt còn thể hiện ở việc người để lại di sản có quyền sửa đổi, bổsung, thay thế, hủy bỏ di chúc mình đã lập bất cứ khi nào người đó còn sống
Trang 5Thứ hai, tôn trọng ý chí của người thừa kế Theo đó, pháp luật quy định
người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo phápluật hoặc từ chối nhận di sản cả theo di chúc và theo pháp luật Pháp luật tôn trọngviệc từ chối nếu việc từ chối không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, đồng thờiviệc từ chối phải đúng trình tự, thủ tục, hình thức, thời hạn pháp luật quy định
1.4 Thừa kế theo pháp luật, phân biệt thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo
di chúc
Ta biết rằng, sự dịch chuyển di sản từ một người đã chết sang người cònsống được thực hiện theo hai căn cứ là ý chí của người thừa kế để lại di sản và quyđịnh của pháp luật
Nếu sự dịch chuyển của di sản đó căn cứ vào ý chí của người đã chết để lạithì được gọi là thừa kế theo di chúc, nếu sự dịch chuyển tài sản của người chết sangngười còn sống căn cứ vào quy định của pháp luật thì được gọi là thừa kế theo phápluật Theo quy định thực định tại Việt Nam, khái niệm thừa kế theo pháp luật quy
định tại điều 619 BLDS 2015, theo đó: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo
hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.Sau đây là
những điểm khác nhau cơ bản giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật:Điểm
nguyện vọng của người để
lại di sản trước khi chết
Là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện
và trình tự thừa kế do pháp luật quy định(Điều 649 BLDS 2015)
- Cha mẹ, vợ chồng, con chưa thành niênhoặc con đã thành niên nhưng mất khảnăng lao động được pháp luật bảo vệ
Trang 6quyền thừa kế mà không phụ thuộc vàonội dung di chúc (Điều 664)
- Con riêng và bố dượng, mẹ kế (Điều654)
3 Hình
thức
Phải được lập bằng văn
bản, nếu không lập được
- Nếu có tranh chấp thừa kế thì theo quyếtđịnh của tòa án về phân chia di sản
Các trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp quy định tạiĐiều 650, BLDS 2015 Và từ những quy định cụ thể này, ta có thể xác định nhữngtrường hợp chia thừa kế theo pháp luật bao gồm:
Trường hợp không có di chúc hoặc được coi là không có di chúc
Đây là trường hợp người có tài sản không lập di chúc trước khi chết hoặcmặc dù trước khi chết có lập di chúc nhưng người đó đã hủy bỏ di chúc đã lập.Ngoài ra các trường hợp quy định tại điều 642 và điều 648 của BLDS 2015 cũngđược coi là không có di chúc
Trường hợp di chúc không hợp pháp
Trường hợp này trước khi chết, người để lại di sản có để lại di chúc nhưng dichúc đó vô hiệu do vi phạm điều kiện về tính hợp pháp của di chúc Di chúc vôhiệu có hai trường hợp là di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc di chúc vô hiệu một phần
Trang 7 Trường hợp những người thừa kế theo di chúc chết hoặc chết cùng thời
điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Tại thời điểm mở thừa kế, tất cả cá nhân được chỉ định là người thừa kế theo
di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản; tất cả các
cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế trong di chúc đều không còn tồntại thì toàn bộ di sản của người chết ấy được chia cho những người thừa kế theopháp luật của người đó Trường hợp nếu chỉ có một hoặc một số người được thừa
kế được chỉ định trong di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại
di sản, một hoặc một số cơ quan, tổ chức được chỉ định trong di chúc không còntồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ có phần di sản liên quan đến cá nhân, cơquan, tổ chức này không có giá trị pháp luật và được chia thừa kế theo pháp luật
Trường hợp những người được chỉ định làm người thừa kế lại di chúc mà
không có quyền hưởng di sản
Đây là trường hợp người chết có để lại di chúc và di chúc ấy là hợp pháp chongười được nhận thừa kế Tuy nhiên, người được nhận quyền thừa kế ấy vi phạmKhoản 1, Điều 621, BLDS 2015 và bị pháp luật tước quyền hưởng di sản Nếu tất
cả những người được chỉ định thừa kế trong di chúc đều bị truất quyền thừa kế thìtoàn bộ di sản do người chết để lại được chia thừa kế cho những người thừa kế theopháp luật của người này Trường hợp chỉ có một hoặc một số người thừa kế không
có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng chia thừa kế theo pháp luật đối với phần disản liên quan đến những người này
Trường hợp những người thừa kế theo di chúc từ chối quyền nhận di chúcViệc từ chối quyền nhận di chúc của cá nhân, tổ chức được người chết chỉđịnh quyền thừa kế là hợp pháp và trong thời hạn luật định Theo đó, nếu tất cả cánhân, cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế trong di chúc đều từ chốiquyền hưởng di sản thì toàn bộ di sản của người chết được chia theo pháp luật.Trường hợp chỉ có một hoặc một số cá nhân, cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng
Trang 8thừa kế trong di chúc từ chối quyền nhận di sản thì chỉ có phần di sản liên quan đếnnhững cá nhân, cơ quan, tổ chức này được chia thừa kế theo pháp luật
Trường hợp phần tài sản được định đoạt trong di chúc
Trong trường hợp người để lại di chúc chỉ lập di chúc định đoạt một phần tàisản của mình trước khi chết thì chỉ phần tài sản này được chia thừa kế theo di chúc.Phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ thừa kế theo pháp luật
1.5 Khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
a Khái niệm diện thừa kế
Diện thừa kế được hiểu là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa
kế của người chết theo quy định pháp luật Diện thừa kế bao gồm cá nhân còn sống
có quan hệ hôn nhân, huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản đượctính đến thời điểm mở thừa kế của người đó và những cá nhân sinh ra và còn sốngtại thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
b Khái niệm hàng thừa kế
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế dựa trên sự phỏng đoán ý chí của người đểlại di sản Theo đó, các nhà làm luật phỏng đoán rằng, di sản của người chết để lạiphải được dịch chuyển cho người thân thích của người đó, những người này đượcgọi là diện thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, mức độ thân thích, gần gũi của mỗingười trong diện thừa kế với người chết là khác nhau Chính vì điều này, gây ra sựtranh cãi khi một người chết thì việc chia thừa kế có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh
vì người ấy có quá nhiều mối quan hệ thân thích, dễ gây ra mâu thuẫn và hiểu lầmkhông đáng có Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độthân thích, gần gũi với người chết và vì thế họ cùng được hưởng phần di sản dongười chết để lại ngang nhau
Trang 91.6 Ý nghĩa của việc phân chia diện và hàng thừa kế
Thứ nhất, việc phân chia diện và hàng thừa kế tạo ra sự chủ động cho cơ
quan xét xử trong quá trình áp dụng các chế định pháp luật về thừa kế để giải quyếtnhững tranh chấp từ quan hệ ấy Mang tính khái quát cao, vừa khoa học lại phù hợpvới đời sống thực tiễn cần giải quyết những tranh chấp liên quan đến thừa kế
Thứ hai, việc phân chia diện và hàng thừa kế cũng có ý nghĩa thiết thực, bảo
đảm để những người thừa kế cùng hàng hưởng phần di sản bằng nhau Tránh đượcnhững mâu thuẫn phát sinh phức tạp và chia rẽ giữa những người có mối quan hệgần gũi thân thuộc với nhau
Thứ ba, việc phân chia này là căn cứ bảo vệ quyền sở hữu và quyền thừa kế
của công dân một cách triệt để nhất phù hợp với đạo lý trong quan hệ huyết thống
và dòng tộc của người đã khuất
II Diện thừa kế và hàng thừa kế trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015
2.1 Diện thừa kế
Pháp luật thực định Việt Nam không trực tiếp đưa ra quy định cụ thể về diệnthừa kế theo pháp luật nhưng từ quy định cụ thể về hàng thừa kế theo pháp luật tạiĐiều 651 Bộ luật Dân sự 2015 có thể hiểu, diện thừa kế theo pháp luật là phạm vinhững người có ít nhất một trong ba mối quan hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyếtthống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản Ba mối quan hệ này giữa người
để lại di sản và người thừa kế chỉ là căn cứ xác định phạm vi những người thừa kếtheo pháp luật Phạm vi diện những người thừa kế theo pháp luật thừa kế ở nước ta
và được được thể hiện ở những mặt sau:
Đầu tiên, diện những người thừa kế được mở rộng theo số lượng hàng thừa
kế theo pháp luật đã bảo đảm cho việc phân chia di sản thừa kế của công dân đượcthực hiện triệt để nhất Di sản của người chết để lại phải được chia cho nhữngngười có quan hệ huyết thống gần gũi với người để lại di sản Việc áp dụng thừa kếtheo pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả hơn, hợp lí hơn và thuyết phục hơn
Trang 10Thứ hai, phạm vi thừa kế trong ba mối quan hệ là quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng đã giải quyết được nhiều tranh chấp dân sự cóliên quan đến lĩnh vực thừa kế theo pháp luật ở nước ta
Thứ ba, diện thừa kế theo pháp luật mở rộng là phù hợp với thực tiễn của đời
sống kinh tế - xã hội Góp phần làm hạn chế sự áp đặt khách quan, thiếu toàn diệntrong đời sống xã hội và quan hệ huyết thống giữa những người trong cùng dòngtộc
2.1.1 Diện thừa kế theo quan hệ hôn nhân
Quan hệ hôn nhân là quan hệ của vợ chồng cho tới thời điểm mở thừa kế vàphải được xác định là hôn nhân hợp pháp Để được thừa nhận là quan hệ hôn nhânhợp pháp thì về nguyên tắc, việc kết hôn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủtục kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của từng thời kì Sựthừa nhận của pháp luật đối với một cuộc hôn nhân chính là cơ sở tiền đề để bảo vệlợi ích chính đáng của vợ và chồng trong việc quản lí tài sản chung, nghĩa vụ của
vợ chồng đối với con cái, trách nhiệm của vợ hoặc chồng trong quan hệ với ngườithứ ba Hơn nữa, đây còn là cơ sở để xác định chủ thể sở hữu tài sản, về nghĩa vụ
và trách nhiệm dân sự mà vợ chồng phát sinh từ quan hệ đó
2.1.2 Diện thừa kế theo quan hệ huyết thống
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có chung dòng máu theotrực hệ hoặc theo bảng hệ trong phạm vi mấy đời theo quy định của pháp luật Trực
hệ là quan hệ họ hàng theo hàng dọc, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếpnhau Bảng hệ là quan hệ họ hàng theo hàng ngang trong đó người này không sinhngười kia nhưng cùng sinh ra từ một “gốc” như quan hệ anh, chị, em, với nhau…Quan hệ huyết thống là cơ sở pháp lý cũng như căn cứ quan trọng để xác định diệnthừa kế theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ hiệu quả hơn quyền thừa kếcủa công dân Ngoài ra, việc xác định thừa kế theo pháp luật trong quan hệ huyếtthống góp phần làm xã hội đất nước ổn định và củng cố nền móng đoàn kết toàndân – vốn được hình thành từ những tế bào gia đình với nhau