Tổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thíchTổng hợp 9 bài tập tình huống môn luật hợp đồng có giải thích
Trang 1Tổng hợp 9 bài tập tình huống có giải thích cá nhân
Môn: Luật Hợp đồng
Bài tập 1
Từ đầu năm 2017, Giám đốc Trần Công của Công ty TNHH Trùng Dương, saunhiều lần trao đổi với Vũ Minh (trưởng phòng xuất khẩu, kiêm trợ lý giám đốc củacông ty xuất nhập khẩu Toca), đã gửi Toca 74 lô hàng may mặc xuất khẩu sang Nga.Hai bên không ký kết một văn bản hợp đồng nào cả Tháng 11 năm 2017, Toca thanhtoán cho Trùng Dương tiền bán 02 lô hàng trong số 74 lô hàng đã nói Sau một thờigian dài Toca không thanh toán nốt cho Trùng Dương số 72 lô hàng còn lại, với lý dokhông có quan hệ hợp đồng giữa Toca và Trùng Dương
Giữa năm 2018, Trùng Dương kiên quyết đòi Toca phải thanh toán cho mình
(2) Các phiếu xuất kho, vận đơn đều ghi tên người gửi là Toca, dù TrùngDương và Toca không ký hợp đồng bằng văn bản
Giám đốc mới của Toca cho rằng:
(1) Không có một hợp đồng nào giữa Toca và Trùng Dương được ký kết, bởitrong sổ sách của Toca chỉ đề cập tới hợp đồng giữa Toca và Trùng Dương về hai lôhàng đã thanh toán cho Trùng Dương;
(2) Vũ Minh- người giao dịch trực tiếp với Trùng Dương trước kia, đã nghỉhưu, và tại thời điểm giao dịch đó không được uỷ quyền của giám đốc Bùi Phùng, bởicác quyết định nói trên là văn bản phân công nội bộ, còn đối với từng việc giao dịch
cụ thể với bên ngoài cần có uỷ quyền cụ thể, hơn nữa trong Điều lệ của Toca có quiđịnh đối với những hợp đồng có giá trị lớn từ 02 tỉ đồng trở lên phải do giám đốc trựctiếp ký kết hoặc phải uỷ quyền cụ thể bằng văn bản, trong khi đó 74 lô hàng nói trêntrị giá lớn hơn hàng chục lần mức qui định;
(3) mặc dù sổ sách kế toán của Toca có ghi khoản thanh toán trả Trùng Dương
02 lô hàng đã nói, nhưng đó là việc riêng của Vũ Minh và Trùng Dương, không phải
là việc của hai công ty, bởi công ty không được một khoản lợi nào từ giao dịch này và
Vũ Minh chỉ lợi dụng tư cách của Toca;
(4) Người lao động tại Toca phản đối vì cho rằng, công ty và họ không phảichịu trách nhiệm về các giao dịch tư giữa Vũ Minh và Trùng Dương;
Trang 2(5) báo chí bênh vực quyền lợi của người lao động lên tiếng đòi không thể coi
vụ việc làm ăn chui này là hợp đồng của Toca và Trùng Dương, và còn lập luận, nếukhông phải là vụ làm ăn chui, thì tại sao kể từ khi giao hàng mãi tới giờ mới đòi tiền?
Câu hỏi 1: Có tồn tại quan hệ hợp đồng có hiệu lực giữa Toca và Trùng
Dương không? Vì sao?
Câu hỏi 2: Tranh chấp này là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về kinh
doanh thương mại? Tại sao?
Bài làm:
Câu hỏi 1: Có tồn tại quan hệ hợp đồng có hiệu lực giữa Toca và Trùng
Dương không? Vì sao?
Trả lời:
Theo Điều 117 (Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự) Bộ luật dân sự
2015 quy định
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Ngoài ra tại Điều 24 (Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa) Luật thương mạiquy định:
1 Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2 Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.
(i) Giao dịch mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Trùng Dương vớiCông ty xuất nhập khẩu Toca là giao dịch thể hiện bằng hình thức lời nói và hành vichính là các vận đơn và phiếu xuất kho đều ghi tên người gửi là Toca cho các lần giaohàng
(ii) Về chủ thể ký kết hợp đồng:
- Công ty TNHH Trùng Dương: ông Trần Công – Giám đốc Công ty, làm đạidiện
Trang 3- Công ty xuất nhập khẩu Toca: ông Vũ Minh - Trưởng phòng xuất khẩu,kiêm trợ lý giám đốc, làm đại diện (không có ủy quyền).
Khoản 1 Điều 143 (Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập,thực hiện vượt quá phạm vi đại diện) Bộ luật dân sự 2015 quy định:
1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: a) Người được đại diện đồng ý;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
Mặc dù ông Vũ Minh - Trưởng phòng xuất khẩu, kiêm trợ lý giám đốc Công tyxuất nhập khẩu Toca giao kết với Công ty TNHH Trùng Dương không có ủy quyềncủa đại diện pháp luật của Công ty xuất nhập khẩu Toca ký kết hợp đồng (Phạm vi uỷquyền cho ông Vũ Minh giải quyết mọi công việc liên quan tới kinh doanh xuất nhậpkhẩu trong thời gian giám đốc đi công tác mà không đề cập đến ông Vũ Minh được kýkết hợp đồng) Nhưng vào tháng 11 năm 2017, Toca thanh toán cho Trùng Dương tiềnbán 02 lô hàng trong số 74 lô hàng (sổ sách kế toán của Toca có ghi nhận khoản thanhtoán trả Trùng Dương 02 lô hàng) Như vậy, người đại diện theo pháp luật biết việc
Vũ Minh - trưởng phòng xuất khẩu, đại diện Công ty XNK Toca ký kết hợp đồngCông ty TNHH Trùng Dương
Như vậy: Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 143 Bộ luận dân sự 2015 thì có tồn tại
quan hệ hợp đồng có hiệu lực giữa Toca và Trùng Dương
Tại khoản 1 Điều 13 (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) Luật
doanh nghiệp 2014 quy định: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật.
Trong Điều lệ của Toca có qui định đối với những hợp đồng có giá trị lớn từ 02
tỉ đồng trở lên phải do giám đốc trực tiếp ký kết hoặc phải uỷ quyền cụ thể bằng vănbản, trong khi đó 74 lô hàng nói trên trị giá lớn hơn hàng chục lần mức qui định
Văn bản ủy quyền từ giám đốc Toca cho Vũ Minh mà giám đốc Trùng Dươngchưa đủ cơ sở để khẳng định Vũ Minh được ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch 74
lô hàng
Đại diện theo pháp luật Công ty Toca biết nhưng chỉ đồng ý thanh toán đối với
lô hàng từ 2 tỷ trở xuống và thực tế công ty Toca đã thanh toán 2 lô hàng (giả sử 2 lô
Trang 4hàng trị giá 2 tỷ đồng) cho công ty Trùng Dương => 72 lô hàng còn lại vượt quá phạm
vi ủy quyền ký kết của ông Vũ Minh
Hợp đồng bị vô hiệu đối với 72 lô hàng còn lại mà Toca chưa thanh toán, theoĐiều 130 BLDS 2015 quy định về việc giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi mộtphần của nội dung giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực củaphần còn lại của giao dịch
Hậu quả pháp lý của việc hợp đồng bị vô hiệu với 72 lô hàng Toca từ chốithanh toán được quy định tại khoản 2 Điều 131 BLDS2015, các bên khôi phục lại tìnhtrạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu Toca không hoàn trả được 72
lô hàng đã nhận thì trị giá lô hàng thành tiền để hoàn trả
Như vậy: Căn cứ khoản 2 Điều 131 nêu trên các bên khôi phục lại tình trạng
ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu Toca không hoàn trả được 72 lôhàng đã nhận thì trị giá lô hàng thành tiền để hoàn trả
Câu hỏi 2: Tranh chấp này là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về kinh
doanh thương mại? Tại sao?
Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty XNK Toca và Công tyTNHH Trùng Dương là tranh chấp kinh doanh thương mại:
- Thứ nhất, Trùng Dương và Toca là những pháp nhân thương mại TrùngDương sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, còn Toca có chức năng xuất nhập khẩu
- Thứ hai, Trùng Dương bán hàng cho Toca vì mục tiêu lợi nhuận Tocamua hàng của Trùng Dương cũng không phải vì mục đích tiêu dùng, mà là vì mụcđích để kinh doanh (xuất khẩu đi Nga, thu lợi nhuận) :
- Tại khoản 1 Điều 75 BLDS 2015 quy định : pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chai cho các thành viên
- Tại khoản 3 Điều 1 (Phạm vi điều chỉnh) Luật thương mại quy định: Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.
- Tại Điều 2 (Đối tượng áp dụng) Luật thương mại quy định:
1 Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.
2 Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
3 Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc
áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.
Trang 5Bài tập 2
Ngày 26/02/2017, Công ty TNHH May Mặc Thương Tín (Thương Tín) có gửimột yêu cầu đến Công ty liên doanh dịch vụ giao nhận quốc tế ABC (ABC), theo đóCông ty ABC sẽ chở một lô hàng may mặc mà Thương Tín gia công cho công tyMega Textile (MT) từ thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam sang Miami, Florida, Hoa
Kỳ Yêu cầu này được thể hiện bằng một Phiếu yêu cầu chuyên chở ngày 26/02/2017của công ty Thương Tín, tại điều khoản thanh toán của phiếu yêu cầu chuyên chở cóghi “cước phí trả trước bởi Công ty Mega Textile” ABC trả lời chấp thuận yêu cầutrên bằng thư xác nhận ngày 28/02/2017, tuy nhiên kèm theo trả lời có yêu cầu phíaThương Tín cung cấp thư xác nhận của Mega Textile đối với nghĩa vụ thanh toáncước phí thì ABC mới tiến hành thực hiện hợp đồng Ngày 1/3/2017, Thương Tíncung cấp hợp đồng gia công giữa Thương Tín và Mega Textile để xác nhận tổng số lôhàng mà Thương Tín gia công cho MT là phù hợp với khối lượng hợp đồng chuyênchở theo yêu cầu Trong hợp đồng gia công không có điều khoản về trách nhiệm chitrả phí vận chuyển
Thực hiện yêu cầu trên, ABC đã vận chuyển lô hàng đi Miami, Florida, Hoa
Kỳ, theo vận đơn hàng không (AWB) số TFS-400053 ngày 03/3/2017 trên chuyến bay0Z392 và OZ222 ngày 03/3/2017 đến Hoa Kỳ và giao cho người nhận hàng ghi trênvận đơn một cách an toàn Tổng cước phí vận chuyển lô hàng trên là 61.395,20 USD.Sau khi ABC hoàn tất nghĩa vụ giao hàng, nhưng mới nhận được thanh toán tiền cướcvận chuyển được 33.000 USD (hóa đơn xuất cho Mega Textile) Hiện còn nợ28.395,20USD chưa thanh toán
Ngày 21/10/2017, ABC có văn bản yêu cầu Thương Tín phải chịu trách nhiệmtrả số tiền 28.395,20USD và lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán,nhưng Thương Tín từ chối thanh toán vì cho rằng đây không phải là nghĩa vụ củamình
Câu hỏi: Xác định bằng chứng chứng minh các bên có giao kết hợp đồng vận
chuyển hàng hóa? Trình bày quan điểm của chị (anh) về giải quyết tranh chấp hợp đồng trên.
Trang 6- Ngày 26/2/2017, Công ty TNHH May Mặc Thương Tín gửi phiếu yêucầu đến Công ty liên doanh dịch vụ giao nhận quốc tế ABC chuyên chở lô hàng maymặc cho Công ty Mega Textile từ TP.HCM (Việt Nam) sang Miami (Hoa Kỳ) Trongphiếu yêu cầu chuyên chở có ghi “cước phí trả trước bởi Công ty Mega Textile”
- ABC có thư chấp thuận hợp đồng ngày 28/2/2017 kèm theo yêu cầu Thương Tín cung cấp thư xác nhận của MegaTextitle đối với nghĩa vụ thanh toán cước phí thì ABC mới tiến hành thực hiện hợp đồng
- Thương Tín cung cấp hợp đồng gia công giữa Thương Tín và MegaTexttile nhưng hợp đồng không có điều khoản về trách nhiệm chi trả chi phí vậnchuyển
- ABC thực hiện hợp đồng vận chuyển, bằng chứng là vận đơn hàng không(AWB) số TFS-400053 ngày 3/3/2017 cho biết lô hàng đã được giao cho MegaTexttile an toàn
- ABC nhận thanh toán 33.000USD/61.395,20 USD giá trị hợp đồng vậnchuyển từ Mega Textile
Theo khoản 2 Điều 533 BLDS2015: Bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển sau khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Như vậy, ABC đòi khoản thanh toán 28.395,20USD
cộng với lãi phát sinh do chậm thanh toán là có cơ sở Vấn đề còn lại là chủ thể nào
có nghĩa vụ thanh toán, là Thương Tín hay Mega Textile?
Rõ ràng là Thương Tín đã cố tình không cung cấp thư xác nhận của MegaTextile nghĩa vụ thanh toán cước phí vận chuyển lô hàng từ TP.HCM đến Miami mặc
dù ABC đã có yêu cầu
ABC ký hợp đồng với Thương Tín chứ không ký hợp đồng với Mega Textile.Việc Mega Textile thanh toán một phần giá trị của hợp đồng (33.000 USD) xuất phát
từ thỏa thuận với Thương Tín Điều 283 BLDS2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ
thông qua người thứ ba như sau: “Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
Với yêu cầu của ABC: Yêu cầu Thương Tín cung cấp thư xác nhận của MegaTextitle đối với nghĩa vụ thanh toán cước phí Bản chất ABC (bên có quyền)
đồng ý để Mega Texttile (bên thứ ba) thay Thương Tín thực hiện nghĩa vụ Việc MegaTexttile chậm thanh toán phần còn lại của giá trị hợp đồng (28395,20USD) thìThương Tín phải có trách nhiệm thanh toán
Trang 7Về phần “Cước phí trả trước bởi MT” trong phiếu yêu cầu có hiệu lực haykhông?
Vì không có cơ sở và bằng chứng chứng minh nghĩa vụ thanh toán của MT nênđiều khoản trên không có giá trị và Thương Tín phải chịu trách nhiệm
Bài tập 3
Công ty TNHH Bích Đào (Công ty Bích Đào) vay của Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh Long Điền (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền là 3 tỷđồng trên cơ sở Hợp đồng tín dụng ngày 8/4/2017, thời hạn cho vay là 24 tháng kể từ9/4/2017 đến ngày 9/4/2019 (Hợp đồng tín dụng) Kèm theo đó là Hợp đồng thế chấpquyền sử dụng đất số 080701.0457 ngày 8/4/2017 (Hợp đồng thế chấp QSDĐ) giữa
03 bên là Ngân hàng (bên nhận thế chấp), bà Nguyễn Bạch Vân (bên thế chấp) vàCông ty Bích Đào (bên vay vốn) Theo đó, bà Nguyễn Bạch Vân sử dụng quyền sửdụng mảnh đất có diện tích 11.079m2 để đảm bảo cho nghĩa vụ vay vốn của Công tyBích Đào Tổng giá trị tài sản bảo lãnh là 5.983.000.000 đồng Tuy nhiên, trong quátrình thực hiện Hợp đồng vay thì công ty Bích Đào vì không thực hiện đúng nghĩa vụ
bổ sung các giấy tờ như đã cam kết nên vào ngày 09/10/2017 Ngân hàng đã khởi kiệnCông ty Bích Đào tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Trong quá trình giải quyết vụ kiện thì ông Vũ Phiến (là chủ sở hữu hợp phápquyền sử dụng đất hợp pháp của mảnh đất trên) đã tố cáo bà Nguyễn Thị Duyên (condâu) đã giả mạo chữ ký của ông để lập hợp đồng ủy quyền tặng cho mảnh đất Sau đó,
bà Nguyễn Bạch Vân (lúc này đã được ghi tên trong giấy CN QSDĐ) đem thế chấpcho Công ty Bích Đào để vay vốn Ngân hàng Căn cứ trên quyết định trưng cầu giámđịnh chữ ký của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: chữ
ký của ông Vũ Phiến và bà Vũ Thị Thảo (vợ ông Phiến) trên hợp đồng ủy quyền là giảmạo, tòa án tuyên bản án sơ thẩm số 37/2017/KDTM-ST ngày 17/12/2017 với nộidung: hợp đồng ủy quyền tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Phiến và bàNguyễn Thị Duyên là vô hiệu
Câu hỏi 1: Hợp đồng thế chấp giữa Công ty Bích Đào, Bà Bạch Vân và Ngân
hàng có vô hiệu không? Vì sao?.
Câu hỏi 2: Có cơ sở để ông Vũ Phiến đòi lại tài sản của mình không? Vì sao?
Bài làm:
Câu hỏi 1: Hợp đồng thế chấp giữa Công ty Bích Đào, Bà Bạch Vân và Ngân
hàng có vô hiệu không? Vì sao?
Trả lời:
Tình hống:
Trang 8Mặc dù Tòa án tuyên bản án sơ thẩm số 37/2017/KDTM-ST ngày 17/12/2017với nội dung: Hợp đồng ủy quyền tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Phiến và
bà Nguyễn Thị Duyên là vô hiệu nhưng tài sản là quyền sử dụng mảnh đất có diện tích11.079m2 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho bàNguyễn Bạch Vân
Bà Nguyễn Thị Bạch Vân ký hợp đồng thế chấp để đảm bảo khoản vay choCông ty Bích Đào tại Ngân hàng Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, chứng thực
và đăng ký giao định bảo đảm theo quy định
(3) Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Như vậy: Căn cứ khoản 2 Điều 133 nêu trên thì Hợp đồng thế chấp giữa Công
ty Bích Đào, Bà Bạch Vân và Ngân hàng không bị vô hiệu
Câu hỏi 2: Có cơ sở để ông Vũ Phiến đòi lại tài sản của mình không? Vì sao?
Như vậy: Căn cứ khoản 3 Điều 133 thì ông Vũ Phiến không đòi lại được tài sản
của mình từ bà Bạch Vân mà chỉ yêu cầu Nguyễn Thị Duyên bồi thường thiệt hại
Theo Hợp đồng, việc thanh toán được tiến hành làm 3 đợt:
Trang 9+ Đợt 1 (40 triệu) vào ngày ký hợp đồng;
+ Đợt 2 (40 triệu) vào ngày giao hàng;
+ Đợt 3 (40 triệu) sau khi đưa máy vào sử dụng 3 tháng
Thời gian bảo hành là 12 tháng kể từ ngày lắp đặt Hợp đồng được ký bởi ÔngPhạm Hồng Ngọc và Giám đốc Công ty Thiết San (là đại diện theo pháp luật củaCông ty)
Thực hiện hợp đồng Ông Ngọc đã thanh toán cho Công ty Thiết San 86 triệuđồng
và đã mua hóa chất xử lý nước thải để đảm bảo tiêu chuẩn nước thải nhưng khi tiếnhành thẩm định cơ quan chức năng đã có kết luận kết quả thẩm định kỹ thuật hệ thống
xử lý nước thải tại cơ sở sản xuất của ông Ngọc không đạt yêu cầu
Mặc dù đã khiếu nại nhưng Công ty Thiết San vẫn không cử người đến kiểm tra
và sửa chữa hệ thống xử lý nước thải Ngày 18/5/2018, qua kiểm tra, cơ quan Nhànước có thẩm quyền đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với chủ cơ sở PhạmHồng Ngọc vì gây ô nhiễm môi trường do không xử lý nước thải, yêu cầu cơ sở ngừnghoạt động sau 20 ngày kể từ ngày 18/5/2018
Ông Ngọc đã đề nghị Công ty Thiết San phải lắp đặt máy mới đúng tiêu chuẩn
kỹ thuật hoặc trả lại 86 triệu đồng và tháo dỡ toàn bộ hệ thống mà Công ty này đã lắpđặt để ông thuê đơn vị khác thiết kế và lắp đặt hệ thống mới nhưng Công ty Thiết Sankhông có ý kiến trả lời Giữa hai bên phát sinh tranh chấp Ông Ngọc có ý định khởikiện Công ty Thiết San ra Tòa án
Ông Ngọc xác định những thiệt hại mà ông phải gánh chịu như sau:
- Nộp phạt hành chính: 1 triệu đồng;
- Mua hóa chất xử lý nước thải: 18 triệu đồng;
- Trả lãi vay cho ngân hàng: 13 triệu đồng;
- Thiệt hại cho những ngày tạm ngừng sản xuất: 20 triệu đồng;
- Phí tư vấn pháp luật: 3 triệu đồng
Trang 10Nay, Ông muốn khởi kiện đòi lại 86 triệu đồng đã thanh toán cho Công ty ThiếtSan và đòi bồi thường thiệt hại với những khoản nói trên bồi thường những thiệt hạinêu trên.
Câu hỏi : Các yêu cầu trên của ông Ngọc có thể được Tòa án chấp thuận hay
không? Giải thích cụ thể từng yêu cầu.
Bài làm:
Câu hỏi : Các yêu cầu trên của ông Ngọc có thể được Tòa án chấp thuận hay
không? Giải thích cụ thể từng yêu cầu.
Trả lời:
Ông Sơn có 2 yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu thứ nhất: yêu cầu Công ty Thiết San trả lại số tiền đã thanh toán là
86 triệu đồng
- Yêu cầu thứ hai: yêu cầu Công ty Thiết Sani bồi thường thiệt hại với nhữngkhoản nói trên bồi thường những thiệt hại nêu trên với tổng số tiền là 55 triệu đồng(Nộp phạt hành chính: 1 triệu đồng; Mua hóa chất xử lý nước thải: 18 triệu đồng; Trảlãi vay cho ngân hàng: 13 triệu đồng; Thiệt hại cho những ngày tạm ngừng sản xuất:
20 triệu đồng; Phí tư vấn pháp luật: 3 triệu đồng)
Xét yêu cầu thứ nhất của ông Sơn: yêu cầu Công ty Thiết San trả lại sốtiền đã thanh toán là 86 triệu đồng
Các căn cứ pháp lý: khoản 3 Điều 51; 312; 314; khoản 3.13 Luật thương mại;Điều 432; 446; 447 và 448 Bộ luật dân sự 2015
+ Về nghĩa vụ của ông Sơn: Ông sơ đã thanh toán tiền đúng như đã thỏa thuận,
cụ thể là đã thanh toán cho công ty hơn 80 triệu đồng
+ Về nghĩa vụ của Công ty Thiết san:
Công ty TNHH công nghệ xử lý nước thải và môi trường Thiết San đã vi phạmhợp đồng vì lắp đặt hệ thống dây chuyền xử lý nước thải không đúng chất lượng nhưhai bên đã thỏa thuận: Đảm bảo các thông số kỹ thuật của công trình, nước thải saukhi được xử lý phải đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 4945- 1995)
Hệ thống dây chuyền xử lý nước thải đã được Cơ quan chức năng kết luận kếtquả thẩm định kỹ thuật hệ thống xử lý nước thải tại cơ sở sản xuất của ông Ngọckhông đạt yêu cầu
Tại khoản 3 Điều 51 (Việc ngừng thanh toán tiền mua hàng) Luật thương mại
quy định: Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với
hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;
Trang 11Căn cứ khoản 3 điều 51 nêu trên ông Ngọc được quyền tạm ngừng thanh toán tiền đợt cuối cho Công ty Thiết San sau khi Công ty đã khắc phục lỗi kỹ thuật.
Ngoài ra, Ông Sơn cũng đã khiếu nại nhưng Công ty Thiết San vẫn không cửngười đến kiểm tra và sửa chữa hệ thống xử lý nước thải Đồng thời Ông Ngọc đã đềnghị Công ty Thiết San phải lắp đặt máy mới đúng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc trả lại 86triệu đồng và tháo dỡ toàn bộ hệ thống mà Công ty này đã lắp đặt để ông thuê đơn vịkhác thiết kế và lắp đặt hệ thống mới nhưng Công ty Thiết San không có ý kiến trả lời
Điều 448 (Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành) Bộ luật dân sự 2015 quy định:
1 Bên bán phải sửa chữa vật và bảo đảm vật có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết.
2 Bên bán chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển vật đến nơi sửa chữa và từ nơi sửa chữa đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua.
3 Bên mua có quyền yêu cầu bên bán hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn
do các bên thỏa thuận hoặc trong một thời gian hợp lý; nếu bên bán không thể sửa chữa được hoặc không thể hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn đó thì bên mua có quyền yêu cầu giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.
Căn cứ khoản 3 Điều 448 có cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Sơn làCông ty Thiết San phải hoàn trả lại cho ông Sơn số tiền là 86 triệu đồng
- Xét yêu cầu thứ hai của ông Sơn: Yêu cầu Công ty Thiết San bồi thườngthiệt hại với những khoản nói trên bồi thường những thiệt hại nêu trên với tổng số tiền
là 55 triệu đồng, cụ thể:
+ Nộp phạt hành chính: 1 triệu đồng;
+ Mua hóa chất xử lý nước thải: 18 triệu đồng;
+ Trả lãi vay cho ngân hàng: 13 triệu đồng;
+ Thiệt hại cho những ngày tạm ngừng sản xuất: 20 triệu đồng;
+ Phí tư vấn pháp luật: 3 triệu đồng
Điều 302 (Bồi thường thiệt hại) Luật thương mại quy định:
1 Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
2 Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên
bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Trang 12Điều 303 (Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) Luật thương mạiquy định:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2 Có thiệt hại thực tế;
3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Điều 304 (Nghĩa vụ chứng minh tổn thất) Luật thương mại quy định:
Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Như vậy, căn cứ Điều 303 Luật thương mại là cơ sở xem xét các yêu cầu đòibồi thường thiệt hại của ông Sơn:
+ Về nộp phạt hành chính: 1 triệu đồng;
Khoản này không có căn cứ để yêu cầu công ty Thiết San bồi thường thiệt hại:Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận hệ thống dây chuyền xử lý nước thải phảibảo đảm các thông số kỹ thuật của công trình, nước thải sau khi được xử lý phải đạttiêu chuẩn loại B (TCVN 4945- 1995)
Sau khi Công ty Thiết San lắp đặt xong, nhưng hai bên chưa ký biên bảnnghiệm thu và chưa có giấy chứng nhận bên thứ ba có chức năng thẩm định chấtlượng hệ thống máy đạt chất lượng như hai bên đã thỏa thuận mà ông Sơn đã tự ý vậnhành máy Đây là lỗi của ông Sơn chứ không phải lỗi của Công ty Thiết San
+ Mua hóa chất xử lý nước thải: 18 triệu đồng;
Khoản này không có sơ sở yêu cầu vì đây là chi phí sản sản xuất cấu thành nêngiá thành sản phẩm
+ Trả lãi vay cho ngân hàng: 13 triệu đồng;
Ông Sơn vay tiền ngân hàng để mua hệ thống dây chuyền xử lý nước thải Do
hệ thống máy không đảm bảo tiêu chuẩn, trong thời gian máy không hoạt động ôngSơn vẫn trả lãi vay cho Ngân hàng
Thiết nghĩ, ông Sơn chỉ yêu cầu công ty Thiết San bồi thường chi phí lãi suất
mà ông Sơn đã thanh toán cho Ngân hàng trên số tiền 86 triệu đồng
+ Thiệt hại cho những ngày tạm ngừng sản xuất: 20 triệu đồng;
Như đã phân tích ở trên, sau khi Công ty Thiết San lắp đặt xong, nhưng hai bênchưa ký biên bản nghiệm thu và chưa có giấy chứng nhận bên thứ ba có chức năng
Trang 13thẩm định chất lượng hệ thống máy như hai bên đã thỏa thuận để đủ điều kiện máyvận hành.
Hai bên cũng không thỏa thuận buồi thường trong trường hợp này Thiết nghĩkhoản này Tòa án cũng không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Sơn
+ Phí tư vấn pháp luật: 3 triệu đồng
Khoản này cũng không có sở chấp nhận
Bài tập 5
Công ty TNHH Hùng Minh có địa chỉ tại Phường Thanh Xuân Nam, QuậnThanh Xuân, Hà nội; Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là mua bán máy móc,vật tư thiết bị, phụ tùng ngành nước
Công ty TNHH công nghệ môi trường Trường Tín có địa chỉ tại Quận Hai BàTrưng, Hà Nội Ngành nghề kinh doanh chính là tư vấn kỹ thuật về công nghệ môitrường, xây dựng công trình cấp thoát nước, kỹ thuật môi trường, hạ tầng kỹ thuật đôthị
Đầu năm 2017, hai bên ký hợp đồng mua bán máy bơm nước thải và máy bơm
ly tâm trục ngang, theo đó bên bán là Công ty Hùng Minh, bên mua là Công tyTrường Tín với các nội dung đáng chú ý sau:
- Công ty Hùng Minh bán cho Công ty Trường Tín: Máy bơm chìm nướcthải hiệu LOWARA- Italy, Model DL 109, số lượng 10 cái, đơn giá 800 USD/cái;Máy bơm ly tâm trục ngang, hiệu SAER- Italy, model CB 40, số lượng 5 cái, đơn giá
300 USD/cái;
- Phương thức thanh toán: Công ty Trường Tín đặt cọc 500 USD khi kýhợp đồng Số tiền còn lại sẽ thanh toán sau khi có biên bản nghiệm thu giữa hai bên
- Thời gian giao hàng: 4- 6 tuần kể từ ngày ký hợp đồng;
- Địa điểm giao hàng: Tại Công ty Trường Tín;
- Bảo hành 2 năm Trong thời gian bảo hành, nếu có bất kỳ sự cố kỹ thuậtnào xảy ra, Công ty Trường Tín không được tự ý tháo rời hoặc sửa chữa khi chưa cóvăn bản cho phép của Trung tâm bảo hành của Công ty Hùng Minh mà phải thông báongay cho Công ty Hùng Minh để kịp thời khắc phục sự cố
- Điều khoản phạt:
Phạt 0,1% giá trị hợp đồng cho mỗi ngày chậm giao hàng;
Phạt 100% giá trị hợp đồng nếu tự ý hủy bỏ hợp đồng;
Phạt 0,1% giá trị hợp đồng cho mỗi ngày chậm thanh toán;