1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN.DOC

94 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Quyền Con Người Và Quyền Công Dân
Tác giả Đinh Thị Thu Trang
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Đăng Dung
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 484,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN.DOC Luận văn MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN.DOC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐINH THỊ THU TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ

QUYỀN CÔNG DÂN

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất

cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Thị Thu Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Hà NỘi - 2013 1

LỜI CAM ĐOAN 2

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội 2

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn 2

Tôi xin chân thành cảm ơn! 2

NGƯỜI CAM ĐOAN 2

Đinh Thị Thu Trang 2

Chương 1 7

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG NHẬN THỨC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 7

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Phạm trù quyền con người qua suốt chiều dài lịch sử đã tốn không ítgiấy mực của các học giả trên toàn thế giới Quyền con người, hay còn gọi là

“nhân quyền” - từ đồng nghĩa theo Đại từ điển Tiếng Việt là một từ hàm chứanhiều ý nghĩa to lớn; nó chứa đựng rất nhiều mồ hôi, nước mắt và có cảnhững giọt máu đấu tranh giành quyền lợi chính đáng của cộng đồng nhânloại trong đó Quyền con người được nhìn nhận như là các quyền tự nhiên củacon người trong xã hội, có thể hiểu đó là những quyền của con người ở trạngthái tự nhiên và sơ khai nhất Đó là các quyền thiêng liêng và bất khả xâmphạm mà mọi thể chế, nhà nước cần phải thừa nhận

Quyền con người đã dần được thừa nhận ở mỗi quốc gia và trên toàn thếgiới là một khái niệm toàn cầu mang tính chất quốc tế, được ghi nhận trongnhiều văn kiện – công trình nghiên cứu về quyền con người Đây cũng là đề tàithường nhật được bàn đến dưới nhiều góc độ: triết học, luật học, sử học, chínhtrị học, ngôn ngữ học…Từ xưa, quyền con người xuất hiện đã luôn gắn bó vớitừng cá thể con người cụ thể vừa với tư cách là một cá nhân vừa với tư cách làthành viên của một xã hội nhất định Vì thế, quyền con người vừa có tính chất

cá nhân lại vừa mang trong mình hơi thở của lợi ích cộng đồng, lợi ích quốcgia, lợi ích dân tộc Bên cạnh đó, mang tính toàn diện thì quyền con người phải

là những đặc quyền cần thiết của mỗi cá nhân không có sự phân biệt hay kỳ thị

về tôn giáo, dân tộc, giới tính Tự bản thân các đặc quyền tự nhiên của conngười chưa thể được gọi là quyền mà cần có yếu tố quyết định đó là yếu tốpháp lý Khi được chấp nhận, điều chỉnh, cưỡng chế hoặc ngăn cấm… thìnhững đặc quyền nói trên mới trở thành quyền con người Từ những phân tíchtrên, có thể hiểu khái quát về quyền con người là: Quyền con người là khả năng

Trang 5

tự nhiên, khách quan của con người, với tư cách là con người và với tư cách làthành viên xã hội, con người được đảm bảo bằng pháp luật quốc gia và cácthỏa thuận pháp lý quốc tế về quyền con người trong các quan hệ vật chất, vănhóa và tinh thần, các nhu cầu về tự do và phát triển.

Còn quyền công dân là các quyền con người được mỗi quốc gia thừanhận và thể chế hóa vào pháp luật làm cơ sở pháp lý điều chỉnh công dân củaquốc gia mình trong mối quan hệ với các đối tượng khác trong xã hội Quyềncông dân có đặc điểm gắn với từng hệ thống nhà nước và pháp luật nhất định,mang đặc thù và tính chất của hệ thống đó Quyền công dân là khả năng côngdân được thực hiện những hành vi nhất định theo ý chí, theo nguyện vọng,nhận thức, khả năng lựa chọn của chính mình mà pháp luật không cấm nhằmđáp ứng nhu cầu, lợi ích của chính công dân đó Hay nói khác đi, đó chính lànhững việc mà công dân - tự khả năng của mình, bằng khả năng của mìnhthực hiện một việc cụ thể nào đó ngoại trừ những việc mà pháp luật cấmkhông được thực hiện

Quyền con người và quyền công dân có mối quan hệ gắn bó mật thiếtnhau, không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng cũng không phủ nhận nhau.Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân là mối quan hệ biệnchứng vừa có điểm thống nhất lại vừa có nét khác biệt Đi sâu phân tích tínhthống nhất và sự khác biệt giữa quyền con người và quyền công dân để có cơchế pháp lý tốt nhất bảo vệ và thực thi các quyền này trên thực tế là vấn đềcấp thiết đặt ra trong bối cảnh hội nhập hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Vấn đề quyền con người và quyền công dân trong hơn ba thập kỷ gầnđây nhận được nhiều quan tâm của học giả trên thế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng Nhiều cơ quan, tổ chức ở nước ta cũng đã có các công trìnhnghiên cứu, tìm hiểu về quyền con người, quyền công dân cả ở mức độ tổng

Trang 6

quan lẫn cụ thể trong từng lĩnh vực Về quyền con người và mối quan hệ với

quyền công dân đã có một số công trình như: Quyền con người, quyền công

dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tư liệu trực

thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1993; Phạm Khiêm Ích, Trần Văn Hảo,

Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã hội,

1995; Phạm Văn Khánh, Góp phần tìm hiểu quyền con người, NXB Khoa học

xã hội, 2006; Nguyễn Đăng Dung, Tính nhân bản của hiến pháp và bản tính

của các cơ quan nhà nước, NXB Tư pháp, 2004; Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về xã hội của công dân Việt Nam, NXB Tư pháp, 2004;

Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, NXB Tư pháp 2006; Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Những nội

dung cơ bản về quyền con người, NXB Tư pháp 2007;…

Các công trình trên nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân ởmức độ tổng quan có, trong từng lĩnh vực cụ thể có Nhìn chung, các đề tàinghiên cứu về quyền con người, quyền công dân mới chỉ dừng lại nghiên cứu

về quyền con người hoặc một khía cạnh của quyền con người có liên quan vớicác phạm trù khác, chưa có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữaquyền con người và quyền công dân

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Sơ lược về lịch sử tư tưởng, nhận thức về quyền con người, quyềncông dân

Làm rõ khái niệm về quyền con người, tính chất, đặc điểm của quyềncon người

- Làm rõ khái niệm quyền công dân, đặc điểm, tính chất quyền Kháiniệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân trong hiến pháp

Trang 7

- Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người và quyềncông dân thể hiện ở tính thống nhất và khác biệt giữa chúng.

- Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở ViệtNam và một số phương hướng, giải pháp thúc đẩy và bảo vệ quyền conngười, quyền công dân ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được những mục đích đã đề ra ở trên, trong quá trình nghiêncứu, luận văn cần giải quyết được các vấn đề sau:

- Nghiên cứu làm rõ chiều dài lịch sử tư tưởng nhận thức về quyền conngười, quyền công dân qua các thời kỳ

- Nêu, phân tích được những khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyềncon người và quyền công dân

- Nêu, phân tích mối quan hệ biện chứng gần gũi mật thiết giữa quyềncon người và quyền công dân Chỉ rõ quyền con người và quyền công dânkhông hoàn toàn đồng nhất với nhau mà có tính thống nhất và cũng có nhữngđiểm khác biệt

- Nêu, phân tích thực trạng bảo vệ quyền con người, quyền công dân ởnước ta hiện nay, từ đó đề ra được những giải pháp phù hợp để việc bảo vệ vàthúc đẩy quyền con người hiệu quả nhất

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù lớn đã tốn nhiềugiấy mực của nhiều học giả trên thế giới, các vấn đề xoay quanh hai phạm trùnày cũng rất đa dạng nhận được nhiều sự quan tâm Với sự giới hạn củachương trình, thời gian, năng lực và khả năng tài chính, đề tài chỉ tập trung vàdừng lại ở phạm vi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người vàquyền công dân, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người và quyền công dântrong pháp luật Việt Nam

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để phù hợp với đề tài đã chọn, nội dung cần nghiên cứu, thời gian chophép, năng lực tài chính, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứutập hợp và phân tích văn bản Bên cạnh đó, dựa trên quan điểm của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có thêm một số phương phápđược sử dụng trong quá trình nghiên cứu: phương pháp lịch sử, phân tích,tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học

6 Điểm mới của đề tài

- Nghiên cứu một cách có hệ thống từ khái niệm, đặc điểm, tính chấtcủa quyền con người và quyền công dân cũng như mối liên hệ khăng khítkhông thể tách rời giữa quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam

- Phát hiện những khó khăn và thách thức còn tồn tại trong thực trạngbảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam, tìm ra nguyên nhâncủa thực trạng đó Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm bảo vệ vàthúc đẩy quyền con người, quyền công dân có hiệu quả trên thực tế

7 Nội dung nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

- Lịch sử tư tưởng về quyền con người, quyền công dân

- Khái niệm, đặc điểm quyền con người

- Khái niệm, đặc điểm quyền công dân

- Mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người và quyền công dân

- Những khó khăn và thách thức trong bảo vệ, thúc đẩy quyền conngười, quyền công dân

- Một số giải pháp đề ra để việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người,quyền công dân hiệu quả cao trên thực tế

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể

Trang 9

được khai thác, sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận về quyền conngười, quyền công dân và có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu vềquyền con người, quyền công dân và mối liên hệ giữa chúng ở nước ta

- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan hành pháp, các tổ chức nhân quyền

trong nước, các cán bộ công quyền có thể khai thác, vận dụng những kết quảnghiên cứu của luận văn để tập huấn, nâng cao chất lượng, hiệu quả trongcông tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn có bố cục như sau:

Chương 1: Lịch sử tư tưởng nhận thức về quyền con người, quyền công

dân

Chương 2: Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân

Chương 3: Thực trạng và một số phương hướng bảo vệ quyền con

người, quyền công dân

Trang 10

Chương 1 LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG NHẬN THỨC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI,

QUYỀN CÔNG DÂN

1.1 Các giai đoạn phát triển quyền con người, quyền công dân qua các chế độ xã hội

Ở bất cứ thời kỳ nào, nhân loại cũng luôn dành sự quan tâm tới vấn đềmang cả ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn: vấn đề quyền con người

và quyền công dân Sự phát triển của quyền con người, quyền công dân quatừng giai đoạn lịch sử là dấu ấn rõ nét ghi lại kết quả của các cuộc đấu tranhgiai cấp, cách mạng, xã hội Vì cho dù xét trên khía cạnh nào thì quyền conngười, quyền công dân cũng ít nhiều thể hiện lợi ích của các tầng lớp trong xãhội, và một khi đã liên quan tới lợi ích thì sẽ khó mà không xảy ra nhữngxung đột từ đó dẫn tới đấu tranh vì nó

Ăng ghen đã nói: “Lịch sử không làm gì hết, nó không có tính phong

phú vô cùng tận nào cả, nó không chiến đấu ở những trận nào cả Không phải lịch sử mà chính là con người, con người thực sự, con người sống mới

là kẻ làm ra tất cả những cái đó” [4, t2, tr141].

Như vậy, lịch sử chỉ đóng vai trò chứng kiến, ghi lại sự phát triển củaquyền con người, quyền công dân qua từng giai đoạn như nó đã làm đối vớicác sự vật hiện tượng khác vậy Câu hỏi đặt ra là: Lịch sử đã ghi lại từng thời

kỳ phát triển của quyền con người, quyền công dân, vậy những tư tưởng nàyxuất hiện từ khi nào và các giai đoạn phát triển của nó ra sao?

Theo một số học giả, những tư tưởng về quyền con người, quyền côngdân xuất hiện và được ghi dấu ấn đầu tiên cùng với sự xuất hiện của văn minh

cổ đại Văn kiện được chú ý nhất và được đánh giá là chứa đựng các tư tưởngthành văn rõ nét về quyền con người, quyền công dân là Bộ luật Hammurabi

Trang 11

do nhà vua Hammurabi xứ BaBylon ban hành (thời điểm vào khoảng năm

1780 trcn) Nhà vua xứ này đã thể hiện tấm lòng thương dân của một vị vuaanh minh khi thiết lập ra đạo luật để xác định ranh giới quyền của thần dân

vương quốc mình sử dụng nó như một công cụ để “ngăn ngừa những kẻ

mạnh áp bức kẻ yếu” [11,tr226]

Có thể nói đây là văn kiện đầu tiên thể hiện những tư tưởng về quyềncon người, quyền công dân phản ánh cái nhìn của giai cấp thống trị đối vớitầng lớp thấp quyền hơn, tuy rằng mới chỉ mang tính sơ khai

Sau bộ luật Hammurabi, nhân loại có thêm nhiều văn bản pháp luậtkhác đề cập tới những giá trị cơ bản của quyền con người, quyền công dân

Dù được thể hiện ở văn bản nào và là ý chí của nhà tư tưởng nào đi nữa thìquyền con người, quyền công dân cũng luôn gắn bó mật thiết với lập trưởng,lợi ích của giai cấp thống trị

Xét cho cùng thì vẫn là vấn đề lợi ích, ở chế độ nào thì giai cấp thống trịcũng luôn tìm mọi phương cách để xác lập quyền và lợi ích của mình đối vớitầng lớp bị trị và điều đó khiến chúng có nhiều cách giải thích khác nhau vềquyền con người, quyền công dân để hợp thức hóa và xác lập địa vị của mình

Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, người nô lệ là giai cấp bị trị với quyền và lợiích luôn bị chi phối bởi tầng lớp thống trị của chế độ này là giai cấp chủ nô.Đúng với quy luật của lịch sử, tầng lớp bóc lột khi bị đẩy vào đường cùng thìđấu tranh là hành động tất yếu xảy ra, và những cuộc khởi nghĩa giành lạinhững quyền chính đáng đã bị giai cấp thống trị tước mất nổ ra Xã hội chiếmhữu nô lệ - đại diện cho chế độ xã hội phân chia giai cấp đầu tiên đã bị sụp đổbởi sự đấu tranh giành lại quyền làm người, quyền tự do Sự kiện này đánh dấumốc rằng con người đã dần nhận thức được quyền của mình trong xã hội và bắtđầu đứng lên bảo vệ chúng với ý thức gìn giữ giá trị quyền cơ bản chứ khôngchỉ mang ý nghĩa đấu tranh vì những lợi ích kinh tế trực tiếp trong đời sống

Trang 12

Xã hội chiếm hữu nô lệ sụp đổ là thành quả đấu tranh của tầng lớp bị trị

mà không thiếu được sự kết hợp từ quá trình đào thải của xã hội khi một chế

độ không còn phù hợp Tưởng chừng như “con người nô lệ” sẽ được tậnhưởng những giá trị quyền mà mình đáng được có nhưng không, xã hội mới –

xã hội phong kiến cũng đi tiếp con đường mà xã hội chiếm hữu nô lệ để lại.Trong xã hội phong kiến cũng phân chia giai cấp thống trị và bị trị rõ rệt, vàtất nhiên quyền và lợi ích được nhắc đến và bảo vệ là của tầng lớp nắm quyềntrong xã hội Người nông dân cũng bị đàn áp và là tầng lớp “vô quyền” nhưngười nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ trước đó, có chăng chỉ khác nhau vềtên gọi và các hình thức bóc lột mà thôi Với tính chất của chế độ xã hội nhưvậy, tư tưởng về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do của conngười – công dân trong xã hội khó mà được thể hiện rộng rãi và chính thống.Chỉ có một số ít những văn kiện pháp lý thời kỳ này tồn tại được và để lại giátrị nghiên cứu tới thời điểm ngày nay, trong số đó không thể không nhắc tớiHiến chương Magra Carta do vua John của nước Anh ban hành năm 1215.Bản Hiến Chương được các nhà nghiên cứu về quyền con người, quyền côngdân đánh giá cao về giá trị nhân văn sâu sắc Khi có những quy định bảo vệquyền của tầng lớp yếu trong xã hội một cách rõ nét Dưới sự bóc lột, chèn épcủa tầng lớp chuyên chế, giai cấp bị trị một lần nữa đứng dậy đấu tranh giànhlại những đặc quyền mà đáng lý ra con người nào cũng được hưởng chứkhông phải chỉ dành riêng cho tầng lớp “bề trên” như hiện tại

Giai cấp tư sản với sự khôn khéo của mình đứng lên với khẩu hiệu sẽđem lại tự do bình đẳng cho mọi người trong xã hội để kêu gọi được ngườidân trong xã hội phong kiến lật đổ chế độ chuyên chế hiện tại

Với vũ khí là cam kết đem lại là một xã hội dân chủ, tự do, bình đẳng;mọi người được sống, được hưởng những quyền và lợi ích chính đáng, giaicấp tư sản đã giành được niềm tin của người dân Thời kỳ này, nhiều tư tưởng

Trang 13

về quyền con người, quyền công dân được đề cập và nhắc đến như những họcthuyết thực sự Trong các thế kỷ XVII – XVIII, nhiều nhà triết học mà tiêubiểu là Thomas Hobbes (1558 – 1679), John Locke (1632 – 1704), ThomasPaine (1731 – 1809), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), HenryDavid Thoreau (1817 – 1862)…đã đưa ra những luận giải về rất nhiều vấn đề

lý luận cơ bản của quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên vàquyền pháp lý, mà vẫn còn có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ và thúc đẩycác quyền con người trong thời đại ngày nay Các nhà tư tưởng học trênhướng sự nghiên cứu của mình tới quan điểm con người tự nhiên, ở đó conngười có quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền được chiếm hữutài sản…Quyền của con người theo quan điểm này là những quyền tự nhiênnhất có từ khi con người sinh ra nhưng nó cũng mang cả ý nghĩa về mặt pháp

lý và được coi là nền tảng của quyền lực nhà nước

Giai cấp tư sản đã đạt được điều mà nó muốn là lật đổ chế độ chuyênchế phong kiến dưới sự giúp sức to lớn của tầng lớp bị trị trong xã hội Khi

đã đạt được mục đích thì ít nhiều giai cấp tư sản cũng cần thực hiện nhữngcam kết về quyền cho giai cấp bị bóc lột Vì lẽ đó, các quyền con người,quyền công dân đã được ghi nhận và thể hiện tập trung ở chế định về quyền– địa vị pháp lý – vị trí xã hội của công dân trong Hiến pháp và pháp luậtcủa nhà nước Với hành động này thì dù biết rằng giai cấp thống trị nàocũng chỉ chăm chăm xác lập, bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình nhưngcũng không thể phủ nhận giai cấp tư sản đã ghi một dấu mốc khá quantrọng trong lịch sử: đưa quyền con người, quyền công dân tiến lên một nấcthang mới đó là được thừa nhận trong văn kiện có giá trị pháp lý lớn nhấtcủa quốc gia: Hiến pháp và luật

Điểm sáng nổi bật của giai cấp tư sản nắm quyền đó là đã xác lập vàthừa nhận quyền con người, quyền công dân tại hai bản Tuyên ngôn quan

Trang 14

trọng trong lịch sử tư tưởng về quyền con người, quyền công dân đó là Tuyênngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn nhân quyền và dânquyền của cách mạng Pháp năm 1789 Hai bản tuyên ngôn này được đánh giá

là những văn kiện quan trọng trong chiều dài phát triển của tư tưởng quyềncon người, quyền công dân, chúng được coi là bản cương lĩnh chính trị và làhình thức pháp lý thành văn rõ rệt nhất để khẳng định và bảo vệ quyền củagiai cấp tư sản

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 là văn bản chính trị tuyên bố lykhai khỏi Anh của 13 nước thuộc địa Bắc Mỹ được tuyên bố vào tháng 7 năm

1776 Nội dung chính của bản Tuyên ngôn được xây dựng dựa trên nhữngquan điểm và tư tưởng của một triết học gia người Anh John Locke Theo nhàtriết học này thì ba quyền cơ bản của loài người mang tính tự nhiên nhấtkhông đối tượng nào có thể tước bỏ được đó là quyền sống, quyền tự do vàquyền có tài sản Quyền sở hữu tài sản được Jefferson nói tới trong Tuyênngôn đó là quyền mưu cầu hạnh phúc Tuyên bố dõng dạc trong Tuyên ngôn:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những

quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [38,tr152] đã ghi một dấu ấn

đậm trong lịch sử nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân

Nếu ở Mỹ có cuộc cách mạng của 13 thuộc địa ở phía Bắc để tuyên bốđộc lập với đế chế Anh thì không lâu sau đó ở Pháp cũng đã nổ ra cuộc cáchmạng thứ hai của tầng lớp thợ thuyền, trí thức và một số thị dân đứng lên lật

đổ nền quân chủ chuyên chế Tuyên ngôn được công bố ngày 14/7/1789 baogồm 17 điều khoản Văn kiện này khẳng định quyền tự do bình đẳng của conngười Chủ quyền thuộc về nhân dân, quyền lực của nhà vua cùng chế độđẳng cấp trong xã hội phong kiến bị bãi bỏ; xác lập quyền sở hữu tài sản tưnhân, quyền tự do dân chủ… Các nội dung cơ bản của Tuyên ngôn đã phản

Trang 15

ánh ý chí nguyện vọng của cộng đồng nhân dân Pháp thời kỳ này và là bước

cụ thể hóa các ý tưởng của khẩu hiệu: “Tự do, bình đẳng, bác ái” Cho tới bảnTuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân này thì những quyền cơbản của con người không chỉ được gọi tên chung chung như trong bản Tuyênngôn của Mỹ năm 1776 nữa mà đã được cụ thể hóa thành các quyền nhấtđịnh, ví dụ: quyền được tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền được sởhữu tài sản, được đảm bảo an ninh và chống áp bức… Cho dù có thể thấy rõđiểm tiến bộ của văn kiện này so với các học thuyết khác thì nó cũng có điểmchưa làm được đó là: bản Tuyên ngôn đã chưa hề đề cập tới địa vị của ngườiphụ nữ cũng như người nô lệ - hai đối tượng được coi là “kẻ yếu” trong xãhội

Đạo luật cao nhất của một quốc gia là Hiến pháp dù là được hình thànhtrong chế độ xã hội nào: các nước tư bản, các nước đang phát triển, các nướcXHCN… thì cũng đều có điểm chung là xây dựng chế định về quyền conngười, quyền công dân Điều này chỉ ra rằng, gia cấp thống trị bằng nhữngcách nào đó, luôn nêu lên mục tiêu hướng tới là đảm bảo quyền con người,quyền công dân và cũng là để đảm bảo hợp thức hóa được sự thống trị củachúng Bên cạnh đó thì quyền con người, quyền công dân cũng luôn luôn làvấn đề được tầng lớp nắm quyền quan tâm và sử dụng như một phương tiện

để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội

Không nằm ngoài quy luật như giai cấp thống trị ở các thời kỳ xã hộikhác; giai cấp tư sản cũng chỉ đảm bảo quyền và lợi ích phần nhiều chochúng Còn quyền con người, quyền công dân đích thực và đầy đủ như chúngrêu rao thì hoàn toàn không được thừa nhận một cách toàn diện mà chỉ tronggiới hạn đảm bảo đủ quyền và vị thế thống trị của giai cấp chúng mà thôi

Cụ thể là, vào cuối thế kỷ 19, giai cấp tư sản đã lộ dần bản tính thamlam của mình khi có ý đồ xâm chiếm lãnh thổ mở rộng quyền cai trị hơn nữa

Trang 16

Để bành trướng được thuộc địa thì không thủ đoạn nào mà giai cấp cầmquyền lại không làm: áp bức bóc lột, chiến tranh vũ trang, nô dịch dân tộc bịchiếm đóng, ; với những hành động đó có thể thấy xét ở khía cạnh nào thìgiai cấp tư sản cũng đã phát động những cuộc đấu tranh chống lại loài người,lúc này quan niệm về quyền con người, quyền công dân mà chúng tạo nên đãdần lung lay.

Trải qua ba hình thái xã hội thì chế định về quyền con người, quyềncông dân đều đã bộc lộ những khiếm khuyết, cuối cùng hình thái nhà nước lýtưởng của các giai cấp xã hội cũng đã xuất hiện – hình thái nhà nước xã hộichủ nghĩa Sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội phần nào đã đáp ứng được mongđợi của các nhà tư tưởng học vì đã cải thiện được những hạn chế của các chế

độ xã hội trước đó trong việc giải quyết vấn đề quyền con người, quyền côngdân Trên thực tế, chủ nghĩa xã hội cũng ghi nhận và bảo đảm được quyền conngười, quyền công dân ở phạm vi rộng rãi hơn

Trong xã hội chủ nghĩa, các quyền con người và quyền công dân đượcthể hiện rộng rãi trong các quyền về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; đặcbiệt còn được ghi nhận trong các quyền độc lập và tự quyết của dân tộc

Chủ nghĩa xã hội đã khiến quyền con người và quyền công dân đượcghi nhận rộng rãi trong các văn bản pháp lý của các quốc gia Mỗi quốc gia có

hệ thống văn bản pháp luật riêng của mình để thể hiện chủ quyền độc lập, qua

đó khẳng định tư tưởng nhất định về quyền con người và quyền công dân

Về phương diện pháp lý, các nước xã hội chủ nghĩa đã có hệ thống cácvăn bản pháp luật quy định rộng rãi các quyền công dân; đặc biệt là trong Hiếnpháp – đạo luật cao nhất của mỗi quốc gia Các quyền con người, quyền côngdân đã thể hiện tính ưu việt hơn so với cũng các quyền này trong xã hội tư bản

Ví dụ cụ thể như các quyền: quyền bầu cử được áp dụng rộng rãi cho tất cả cácđối tượng công dân trong xã hội khi đáp ứng một số điều kiện cơ bản; những

Trang 17

người lao động bình thường trong xã hội tham gia vào các cơ quan quyền lựcnhà nước chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều trong các chế độ xã hội trước đó.

Tuy nhiên, cũng như các chế độ xã hội khác, chủ nghĩa xã hội cũng cónhững nhược điểm nhất định trong việc quy định và công nhận quyền conngười, quyền công dân Một trong những nhược điểm đó là sự hạn định củacác điều kiện kinh tế - xã hội; những hạn chế của cơ chế quản lý chính trị;quyền con người, quyền công dân ở các nước xã hội chủ nghĩa vẫn mang tínhhình thức Quyền và tự do của người dân chưa được tôn trọng triệt để Đócũng là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của các nước xã hội chủnghĩa Liên Xô và Đông Âu trong lịch sử

Chủ nghĩa xã hội ra đời dưới con mắt của giai cấp không nắm quyềnthế trong tay cũng như của các nhà phân tích thì đều được coi là hình thái xãhội tiến bộ và ưu việt hơn các nhà nước trước đó Vậy, với hình thái xã hộichủ nghĩa thì quyền con người, quyền công dân đáng lẽ sẽ có nền tảng vữngchắc để phát triển cả về phương diện lý luận và thực tiễn chế không phải vẫntồn tại những nhược điểm Vấn đề đặt ra ở đây là sự mâu thuẫn về phươngdiện lý luận và thực tiễn của mục đích hoạt động mà chủ nghĩa xã hội đề ra.Chủ nghĩa xã hội với phương châm đề ra là vì con người, vì hạnh phúc và cácquyền lợi chính đáng của con người mà đấu tranh và hoạt động cũng trênphương châm đó Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích đã chỉ ra rằng, trước đâytrong nhiều thập kỷ đầu của chủ nghĩa xã hội thì khái niệm quyền con ngườidường như bị phủ nhận Thời điểm này, thuyết pháp luật tự nhiên từng đưa raquan điểm rằng con người là sản phẩm của giới tự nhiên, bản thân con ngườikhi sinh ra đã mang các quyền tự nhiên vốn có Xét về mặt ưu điểm thì họcthuyết này đã rất tiến bộ so với các học thuyết trước đây khi công khai thừanhận quyền tự do và các quyền lợi chính đáng khác mà con người đượchưởng Bên cạnh ưu điểm đó thì học thuyết cũng có nhược điểm đó là đã

Trang 18

tuyệt đối hóa “tính tự nhiên” của quyền con người mà không đặt nó vào mộtkhuôn khổ pháp lý để được thừa nhận.

Từ các quan điểm của thuyết tự nhiên, có thể thấy rằng chỉ khi quanniệm quyền con người là thuộc tính chính đáng và vốn có của con người đượcthừa nhận và bảo vệ trong xã hội pháp lý để hình thành nên quyền công dânmới là quan điểm đúng đắn trong xã hội chủ nghĩa

1.2 Lịch sử quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Nước ta không phải là nơi sản sinh ra thuật ngữ nhân quyền nhưng rấtgiàu truyền thống nhân đạo, nhân văn và khái nhiệm nhân quyền đi liền vớitinh thần nhân đạo, tình cảm yêu thương con người, tính nhân nghĩa, nhân ái.Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, cởi mở với sự

đa dạng và dung hợp trong tiếp nhận giá trị từ bên ngoài Tư tưởng nhân quyền

ở Việt Nam bắt nguồn từ tinh thần nhân đạo Điều này đã tồn tại từ rất sớmtrong lịch sử thành văn của dân tộc Quyền con người, quyền công dân ở nước

ta cũng trải qua các thời kỳ tương tự như lịch sử phát triển các quyền này trênthế giới: Từ tư tưởng nhân quyền nhen nhóm trong văn học xưa, đến tư tưởngnhân quyền được cụ thể hóa trong các tập quán và bộ luật thời phong kiến, đến

tư tưởng nhân quyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (thời Pháp thuộc) và tưtưởng nhân quyền từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 tới nay

Bầu ơi thương lấy bí cùng.

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Ở hiền thì lại gặp lành

Ở dữ gặp ác tan tành như tro

Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

[14, tr121,122]

Tư tưởng về quyền con người ở nước ta đã được thể hiện từ rất sớm

Trang 19

qua các câu ca dao, tục ngữ Bên cạnh các thành ngữ, ca dao, tục ngữ cũng cómột số sự tích nói lên quyền tự do của con người cho dù chỉ là manh nha như

sự tích về Mai An Tiêm nêu lên quyền và khát vọng tồn tại của người Việt cổ,

sự tích về Tiên Dung và Chử Đồng Tử nói lên quyền tự do luyến ái của nam

nữ Nhiều truyện cổ tích, thần thoại hay truyền thuyết khác đều có nội dung

ca ngợi quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người

Đến thời kỳ trung đại, tư tưởng nhân quyền đã được nhắc đến trong

nhiều thể loại tác phẩm và có dạng thành văn hơn so với thời kỳ trước Cácdanh nhân và tác phẩm để lại của họ cũng đã mang đậm tính nhân quyền sâusắc Tiêu biểu thời kỳ này có thể kể đến một số tác giả nổi bật như: NguyễnTrãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…

Nguyễn Trãi – một anh hùng tân tộc của Việt Nam, một danh nhân văn

hóa thế giới - với tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” năm 1428 Tác phẩm này đãthể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làmgốc Cáo bình Ngô được nhiều học giả coi như bản “Tuyên ngôn độc lập” thứhai của nước ta (sau bài Nam quốc sơn hà)

Tác phẩm “Văn tế thập loại chúng sinh” hay còn gọi là Văn chiêu

hồn (chưa rõ thời điểm sáng tác) của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du thể

hiện rõ nét tính nhân ái và cái “tình trong” tác phẩm Tấm lòng nhân ái bao

la của đại thi hào chủ yếu hướng tới các thân phận bé nhỏ trong xã hội, tácgiả khóc cho những người đã khuất qua đó bàn về đời sống và khổ đau củachúng sinh thời bấy giờ

Hồ Xuân Hương cũng là một văn sĩ nổi tiếng với nhiều tác phẩm thể

hiện rõ quan điểm về các quyền con người thời kỳ này Từ cuộc đời tài hoanhưng nhiều bất hạnh của bà, bà đã có cái nhìn sâu sắc về thân phận ngườiphụ nữ trong xã hội, về những bất công họ phải chịu đựng và các quyềnchính đáng mà họ đáng được nhận Bà sống gần gũi với những người dân

Trang 20

lao động nghèo khổ, tiếp xúc với nhiều phụ nữ bị áp bức trong xã hội Một

số bài thơ đặc sắc của bà thể hiện tiếng nói phản kháng trật tự xã hội phongkiến bấy giờ và mang đậm tính nhân văn như: Lấy chồng chung, Thân phậnđàn bà, Bánh trôi nước…

Ở xã hội phong kiến, tư tưởng nhân quyền đã được thể hiện trong tập

quán và pháp luật thời kỳ này rõ nhất thông qua các bộ luật: Quốc Triều hìnhluật (thế kỷ XV), Hoàng Việt luật lệ (năm 1843), Lệ làng

Quốc Triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ XV) Là

bộ luật được ban hành để trừng trị những người có tội bằng những đạo luật hàkhắc, tuy nhiên bộ luật này cũng chứa đựng nhiều quy định rất nhân văn Bộluật đã có quy định về ân xá cho người phạm tội (Tại điều 15 chương DanhLệ); quy định xử phạt bằng tiền thay cho hình phạt hà khắc cho người già vàtrẻ em dưới 15 tuổi nếu họ phạm những tội không phải tội thập ác; con cháu

mà chịu tội thay cho bố mẹ, ông bà thì được giảm một bậc…

Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là Hoàng triệu Luật lệ hay Quốc triều

Điều luật là bộ luật chính thức của Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn do Bắcthành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn thảo và vua Gia Long cho banhành năm 1813 Bộ luật gồm 22 quyển và 398 điều Bộ luật này chứa đựngnhiều phần và quy định mang đậm tính nhân bản Bộ luật có quy định bảo

vệ thường dân cơ hàn bệnh tật qua luật về quan lại công chức, nếu biết dân

bị bệnh tật khổ sở mà không báo cáo thì quan lại ấy bị cách chức, nếu đãbáo cáo lên trên mà trên vẫn không xem xét thì quan trên ấy cũng bị cáchchức Bộ luật cũng có quy định nhân đạo ở chỗ nếu hai anh em trai tronggia đình đều bị phạm tội tử thì một người sẽ được ở lại để chăm cha mẹ saukhi đã tâu lên vua

Lệ làng Việt Nam được coi là tập quán pháp luật tồn tại song song với

hệ thống pháp luật của nhà nước Ở nước ta có câu “phép vua thua lệ làng”,

Trang 21

đây được coi là văn bản phản ánh nếp sống, suy nghĩ, quan hệ giữa con ngườitrong phạm vi làng xã cổ truyền, mang đậm tính nhân văn sâu sắc Lệ làngmỗi nơi mỗi khác, tuy nhiên nói chung đều có các quy định về việc ngườiđánh được kẻ gian thì được trọng thưởng; người nào chứa chấp kẻ gian dungtúng cho phường cướp bóc thì sẽ bị trừng trị; trong làng người nào không tuântheo Lệ làng thì sẽ bị phạt…

Giai đoạn cuối thế kỳ XIX đầu thế kỷ XX hay còn gọi là giai đoạn Pháp thuộc là giai đoạn nhân dân cả nước bất khuất kiên cường, biến đau thương

thành hành động chống lại đế quốc xâm lược Pháp Trong bối cảnh chiếntranh đó, tư tưởng về dân chủ, nhân quyền đã được nhiều nhà cách mạng yêunước kế thừa từ truyền thống văn hóa trong nước và tiếp thu nước ngoài Tưtưởng nhân quyền được phổ biến như là một vũ khí đấu tranh, một phươngtiện vận động nhân dân đứng lên giành và giữ độc lập dân tộc, bảo vệ chủquyền đất nước, bảo vệ phẩm giá cho con người Việt Nam Tiêu biểu trongthời kỳ này có thể kể đến các tổ chức và các tác phẩm nổi tiếng như: Đông

Kinh nghĩa thục với tác phẩm “Văn minh tân học sách” năm 1907; Phan Bội Châu với “Nam quốc dân tu tri” năm 1926; Phan Châu Trinh với “Đầu Pháp

chính phủ thư”, “Tây Hồ thi tập”; Nguyễn An Ninh; và tiêu biểu là Nguyễn

Ái Quốc với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”

Một phần là tiếp thu truyền thống văn hóa từ thời kỳ trước, một phần làảnh hưởng của tiến bộ cách mạng Pháp; trong thời kỳ này một số quyền tự do

cá nhân có thể kể đến như: quyền bình đẳng nam – nữ, quyền tự do ngôn luận,quyền bình đẳng trước tòa án, quyền được bào chữa trong tố tụng đã đượcthừa nhận và thực hiện

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm những người Việt Namyêu nước tại Pháp đã soạn và gửi yêu sách của nhân dân Việt Nam tới nghịviện pháp và tất cả các đoàn tham gia Hội nghị Véc xây (Pháp), Nội dung tác

Trang 22

phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt "dân bản xứ" phảiđóng "thuế máu" cho chính quốc để "phơi thây trên chiến trường Châu Âu";đày đoạ phụ nữ, trẻ em "thuộc địa"; các thống sứ, quan lại thực dân độc ácnhư một bày thú dữ, v.v Tác phẩm hướng các dân tộc bị áp bức đi theo conđường Cách mạng Tháng Mười Nga, tiêu diệt hai cái vòi của con đỉa đế quốc– một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào nhân dânthuộc địa Tác phẩm đề ra cho nhân dân Việt Nam con đường đấu tranh giảiphóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin Bản án đã lên án chế độ cai trịthuộc địa tàn bạo, vô nhân đạo của thực dân Pháp và đòi các quyền độc lập, tựquyết cho các dân tộc thuộc địa.

Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho tới nay Điểm

nổi bật trong giai đoạn này cần nhắc tới đó là bản Tuyên ngôn độc lập do Chủtịch Hồ Chí Minh soạn và đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 Bảntuyên ngôn trích dẫn những luận điểm bất hủ về quyền con người, quyền côngdân từ hai bản Tuyên ngôn của Pháp và Mỹ Sau đó là những tư tưởng quyềncon người trong Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta Ưuđiểm nổi bật của bản hiến pháp này là mặc dù được soạn thảo và thông quatrong những năm đầu của chính quyền nhân dân còn non trẻ mà đang phải tậptrung rất nhiều các công việc đối nội đối ngoại nhưng vẫn mang đậm dấu ấn

nhân văn Thể hiện rõ nhất trong Hiến pháp đó là Chương II “Nghĩa vụ và

quyền lợi công dân” Hiến pháp 1946 đã xác lập về mặt pháp lý thân phận của

người dân Việt Nam từ thân phận của những người nô lệ dưới chế độ đô hộthành công dân – người chủ của một quốc gia và trao cho họ những quyền vàlợi ích chính đáng

Đến giai đoạn từ năm 1954-1975, người dân cả nước chịu cảnh chia cắthai miền với hai chế độ xã hội khác nhau dẫn tới cách tiếp cận về quyền conngười mang hai dấu ấn khác nhau Ở miền Bắc các quyền tập thể được đề cao

Trang 23

còn một số quyền cá nhân bị hạn chế, ngược lại so với ở miền Nam quyền cánhân lại được coi trọng hơn do chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp quyền từcác nhà nước tư bản.

Từ năm 1975 cho tới nay, các tư tưởng về nhân quyền ở nước ta có mộtbước phát triển mới khi Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc năm 1977 và bắtđầu tham gia nhiều điều ước quốc tế về quyền con người trong đó có cả haicông ước cơ bản là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR)

và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR)

Giai đoạn bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 1986 tới nay, nước ta cónhiều nỗ lực hơn trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền côngdân qua các Nghị quyết của Đảng Cộng Sản Việt Nam Thời kỳ này Nhà nước

ta cũng chú trọng hoàn thiện hơn các chế định pháp luật về quyền con người,quyền công dân Điều này được thể hiện qua sự tiến bộ về quy định các quyềntrên qua các Hiến Pháp từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980, Hiến pháp

1992 sửa đổi bổ sung 2001 và sắp tới đây sẽ tiếp tục sửa đổi Hiến pháp 1992

1.2.1 Lý thuyết về quyền con người

Khái niệm về quyền con người

Lịch sử phát triển quyền con người cho thấy, quyền con người là mộtgiá trị nhân văn và tiến bộ gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người, trởthành tiếng nói cho tự do, bình đẳng và công bằng xã hội Xét về bản chất,quyền con người vẫn là động lực và mục tiêu đấu tranh của quần chúng nhândân lao động bị áp bức, bóc lột; của các phong trào giải phóng, của các lựclượng dân chủ, tiến bộ và hòa bình trên thế giới

Quyền con người có một số thuộc tính cơ bản mà đa số học giả trên thếgiới đều thừa nhận:

- Quyền con người luôn gắn bó chặt chẽ với từng con người vừa với tưcách là một cá nhân vừa với tư cách là thành viên của xã hội Vì thế, nó vừamang tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, cộng đồng, dân tộc

Trang 24

- Quyền con người phải là sự cần thiết cho từng cá nhân, không phânbiệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính…

- Quyền con người phải được pháp luật ghi nhận

Từ những đặc tính cơ bản của quyền con người như trên sẽ rút ra đượckhái niệm về quyền con người mà theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủyLHQ thì khái niệm này được công nhận rộng rãi nhất Quyền con người lànhững đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhómchống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm,những sự cho phép và tự do cơ bản của con người Như vậy, quyền con ngườiđều có khi con người vừa được sinh ra, bởi họ là con người và quyền đó đượccông nhận trên phạm vi toàn cầu

Quyền con người là khả năng tự nhiên, khách quan của con người, với

tư cách là con người và với tư cách là thành viên xã hội, con người được đảmbảo bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế về quyền conngười trong các quan hệ vật chất, văn hóa và tinh thần, các nhu cầu về tự do

và phát triển

Khái niệm quyền con người là sản phẩm của quá trình lịch sử và sựphát triển của tư duy nhân loại kể từ khi xã hội xuất hiện các giai cấp đốikháng Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc xác địnhnội hàm của khái niệm này một cách chính xác, do chỗ, vấn đề quyền conngười luôn gắn bó mật thiết với lập trường lợi ích của các giai cấp thống trị,mỗi giai cấp thống trị có cách giải thích riêng nội dung của quyền con người

để phù hợp với việc xác lập và củng cố địa vị thống trị của giai cấp mình

Cho đến Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định rằng:

“Quyền con người là quyền bẩm sinh vốn có, bình đẳng với tất cả mọi người.

Nó không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, Nhà nước nào,

nó không thể phân chia và hạn chế bất cứ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào” [36,tr48] Như vậy, quyền con người là phạm trù mang tính

Trang 25

chất quốc tế, vượt ra ngoài lãnh thổ một quốc gia nhất định và được toàn thểcộng đồng quốc tế thừa nhận.

Một số tính chất của quyền con người

Trong quan niệm của Mác – Ăngghen, quyền con người là một thực thểthống nhất, thực thể sinh học – xã hội Do đó, quyền con người là sự thốngnhất biện chứng giữa quyền tự nhiên và quyền xã hội – là sự chế định bằngcác quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Sự thống nhấtgiữa hai yếu tố này có thể tìm thấy trong lý luận Mác – Ăngghen về quyềncon người Các ông cho rằng, con người là sản phẩm cao nhất của tiến trìnhvận động và phát triển của lịch sử, một mặt là sản phẩm của những điều kiệnxung quanh trong suốt cuộc đời, và do đó lại là sự thống nhất giữa mặt tựnhiên và mặt xã hội Trong mọi trường hợp, con người luôn là động vật xãhội Từ đó, việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt

nó trong quan hệ xã hội, bởi vì, chỉ có trong cộng đồng thì mỗi cá nhân mới

có những phương tiện đẻ phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, chỉ

có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân

Như vậy, Mác – Ăngghen đã xuất phát từ quan niệm khoa học về quyềncon người để có cách hiểu đúng đắn về quyền con người Con người là “conngười – xã hội”, trong tính hiện thực của mình, bản chất con người là tổnghòa những quan hệ xã hội, do đó quyền con người thể hiện sâu sắc các giá trịcủa các quan hệ xã hội và hiển nhiên là mang bản chất đó

Quyền con người vừa mang tính phổ biến vừa mang tính cộng đồng;tính không thể chuyển nhượng; không thể phân chia; tính lịch sử đậm nét Do

đó, không nên nhấn mạnh quyền tự do chính trị hoặc quyền cá nhân riêng rẽ,hay cũng không thể chỉ nhìn thấy tính đặc thù dân tộc và các mối quan hệkinh tế - xã hội giữa các nước và các cộng đồng để xác định khái niệm quyền

Trang 26

con người Tính phổ biến và tính đặc thù là hai mặt gắn bó hữu cơ của quyềncon người Quyền con người cũng mang tính lịch sử, điều này được xác địnhrằng quyền con người luôn là sản phẩm của trình độ phát triển của một nềnsản xuất xã hội nhất định Bản thân quyền con người cũng luôn đồng hành với

sự phát triển của lịch sử nhân loại, xã hội loài người càng phát triển thì quyềncon người ngày càng được mở rộng

1.2.2 Lý thuyết về quyền công dân

Khái niệm về quyền công dân

Khái niệm về quyền công dân đã ra đời từ lâu trong lịch sử, được sửdụng rông rãi trong xã hội tư sản Trong sách báo pháp lý, khái niệm “quyềncông dân” là khái niệm cùng hàng với khái niệm quyền con người So với kháiniệm quyền con người, khái niệm quyền công dân mang tính xác định hơn, gắnliền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định Và do gắnvới đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, số lượng, chất lượng của quyềncông dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau Tuy nhiên, không có sự đốilập giữa quyền con người và quyền công dân trong quy định của các nước

Thực ra, khái niệm quyền công dân không phải dùng để chỉ các quyền

cụ thể của công dân là quyền nào mà là khái niệm có tính chất là tiêu chí đánhgiá, hàm ý chỉ rằng nhà nước đã ghi nhận và bảo đảm cho công dân, quyềncon người như thế nào trong các quyền và trong các nghĩa vụ cụ thể của côngdân Tính cụ thể của khái niệm chỉ là chỗ nó không tồn tại độc lập như kháiniệm quyền con người mà phải gắn với các quy định của pháp luật, phải quaviệc xem các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của một hệ thống phápluật như thế đã phản ánh quyền công dân như thế nào Thông qua quyền côngdân trong một hệ thống pháp luật, người ta có thể biết nó đã thể hiện quyềncon người như thế nào Quyền công dân khác với khái niệm “quyền cơ bản”của công dân được ghi nhận trong các bản hiến pháp, nó mang tính chất cụ

Trang 27

thể chỉ các lợi ích cơ bản mà pháp luật ghi nhận cho công dân Cần nhấnmạnh rằng “quyền cơ bản của công dân” là quyền được thể hiện trong các quy

định cụ thể cho cả quyền và cả nghĩa vụ cơ bản cho/đối với mỗi công dân.

“Công dân” là một khái niệm pháp lý được dùng để chỉ mối liên hệ đặcbiệt - mối liên hệ pháp lý giữa nhà nước và một cá nhân nhất định Đây làkhái niệm được dùng trong phạm vi hẹp so với khái niệm cá nhân và nó gắnliền với việc xác định quốc tịch của chính công dân đó

Ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành thì có hai nguyên tắc

cơ bản để xác định công dân Việt Nam Một là, theo nguyên tắc huyết thống,một người sẽ là công dân Việt Nam nếu cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.Hai là, theo nguyên tắc lãnh thổ, một người sinh ra hoặc được tìm thấy trênlãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai hay không thuộc một quốc tịchnào thì người đó vẫn là công dân Việt Nam Quốc tịch là một trạng thái pháp

lý xác định mối quan hệ giữa cá nhân một con người với một nhà nước nhấtđịnh Việc xác định quốc tịch là xác định mối quan hệ bền vững, lâu dài, ổnđịnh và không bị giới hạn giữa nhà nước và công dân

Hiến pháp Việt Nam đã quy định rõ Công dân Việt Nam là người cóquốc tịch Việt Nam Từ đó tại khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008

khẳng định lại một lần nữa "Người có quốc tịch Việt Nam là công dân nước

CHXHCNVN" [35, Điều 5] Như vậy, quốc tịch Việt Nam là cơ sở duy nhất để

xác định công dân Việt Nam Vì vậy, việc xác định quốc tịch liên quan trựctiếp đế việc xác định quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ với nhà nước

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Quyền công dân do pháp luật, mà trước hết thường được Hiến pháp đạo luật cơ bản của nhà nước ghi nhận, xác định Vì vậy, dưới góc độ này cóthể nói rằng, quyền công dân đó là sự thể chế hoá về mặt nước bằng pháp luậtđịa vị con người của cá nhân trong nước Quyền công dân là quyền lợi và

Trang 28

-trách nhiệm của cá nhân trong phạm vi một nước Quyền công dân được thựchiện trong phạm vi một nước, trong đó có trách nhiệm của nước đối với côngdân và nghĩa vụ, thái độ của công dân đối với nước Do đó:

Quyền công dân là khả năng công dân được thực hiện những hành vinhất định theo ý chí, theo nguyện vọng, nhận thức, khả năng lựa chọn củachính mình mà pháp luật không cấm nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của chínhcông dân đó Hay nói khác đi, đó chính là những việc mà công dân - tự khảnăng của mình, bằng khả năng của mình thực hiện một việc cụ thể nào đóngoại trừ những việc mà pháp luật cấm không được thực hiện

Nghĩa vụ công dân là sự tất yếu đòi hỏi công dân phải có những hành vinhất định nhằm đáp ứng yêu cầu vì lợi ích của nước, của xã hội theo quy địnhcủa pháp luật Hay nói khác đi đó là đòi hỏi có tính bắt buộc từ phía nước đốivới công dân; nghĩa là công dân phải thực hiện một hành vi nào đó hoặc khôngđược phép thực hiện một hành vi nào đó theo quy định của pháp luật nhằm đápứng nhu cầu, lợi ích chung của nước, của xã hội và của công dân khác

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền và nghĩa vụquan trọng, chủ yếu nhất của công dân thể hiện rõ nhất mối quan hệ pháp lýqua lại, bình đẳng giữa nước và công dân, những quyền tự do cơ bản của côngdân xuất phát từ các quyền tự do cơ bản của con người được các nước dânchủ, tiến bộ thừa nhận, được quy định, thể chế trong Hiến pháp - đạo luật cơbản của nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, là cơ sở, xuất phát điểm để cácvăn bản pháp luật khác cụ thể hóa chi tiết thành các quyền và nghĩa vụ cụ thểcủa công dân

Như vậy, địa vị pháp lý của công dân bao gồm những quyền và nghĩa

vụ do nước quy định cho công dân bất kể công dân đó ở trong hay ngoài lãnhthổ nước đó Địa vị pháp lý của công dân biểu hiện mối quan hệ giữa nước vàcông dân mang tính lâu dài, bền vững, khác hẳn với mối quan hệ giữa nướcvới những người không phải là công dân của nước đó

Trang 29

Quyền và nghĩa vụ của công dân tuy đối lập nhưng lại thống nhất vớinhau Đó là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Công dân đượchưởng những lợi ích nhất định từ phía nước và yêu cầu nước phải đáp ứngnhững đòi hỏi chính đáng của mình thì đồng thời họ phải thực hiện, tuân thủ

và chấp hành những quy tắc chung mà nước đặt ra và bắt buộc họ thực hiện.Cho nên, mối quan hệ giữa nước và công dân là mối quan hệ hai chiều, vừamâu thuẫn, vừa thống nhất

Đặc điểm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Trước tiên có thể thấy quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền và nghĩa vụ quan trọng nhất, xuất phát từ quyền cơ bản của con người Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người

mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế và văn hoá xã hộinhất định Theo quan điểm của Các Mác - Lênin, con người là sản phẩm caonhất của tiến trình vận động và phát triển của lịch sử Mác xuất phát từ nhìnnhận và đánh giá rằng con người là một thực thể thống nhất, không có sự

"tách đôi" mà "con người" đó phải được nhìn nhận là một "sinh vật xã hội"

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã thể hiện rõ tư tưởng này tại Chương

V với tổng số 34 điều quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước có giá trị pháp lý cao nhất trong hệthống pháp luật, là văn bản chủ yếu xác định địa vị pháp lý của công dân Cácvăn bản pháp luật khác trên cơ sở các quy định của Hiến pháp sẽ quy định quyền

và nghĩa vụ cụ thể Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở quy địnhcác quyền và nghĩa vụ cụ thể Nói khác đi, quyền và nghĩa vụ cụ thể của côngdân xuất phát từ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trongHiến pháp Đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp chỉ ở tầm khái quát và cô đọngnhất nên việc quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ công dân trong từng quan hệ

Trang 30

xã hội cụ thể là điều không thể có ở bất kỳ Hiến pháp của một quốc gia nào trênthế giới, cho dù đó là quốc gia phát triển, đang phát triển hay quốc gia có trình

độ, kỹ thuật lập hiến, lập pháp hiện đại và tiến bộ nhất

Tương ứng với quyền được nhà nước và pháp luật công nhận và đảm bảo thì công dân phải thực hiện các nghĩa vụ Việc thực hiện nghĩa vụ là

tiền đề để thực hiện các quyền Không bao giờ chỉ có người có nghĩa vụ màkhông được hưởng quyền gì và ngược lại Nếu chỉ có quyền mà không cónghĩa vụ thì bản thân quyền đó không được bảo đảm Đồng thời, việc thựchiện nghĩa vụ của một người là tiền đề cho quyền của người khác và cũngcho chính quyền của bản thân họ và nó phải mang tính cụ thể, hiện thực.Cho nên, các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể là sự cụ thể hoá các quyền

và nghĩa vụ cơ bản, nó tồn tại trong một thể thống nhất với các quyền vànghĩa vụ cơ bản Ngược lại, nhiều quyền và nghĩa vụ cơ bản chỉ có thể trởthành hiện thực và có điều kiện thực hiện khi nó được cụ thể hoá thành cácquyền và nghĩa vụ pháp lý

Quốc tịch là điều kiện duy nhất làm xuất hiện, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việc xác định quốc tịch chính là

xác định năng lực pháp luật của chủ thể; quốc tịch là căn cứ, điều kiện duynhất làm xuất hiện, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân còn điều kiện để xuất hiện, thay đổi hay chấm dứt các quyền vànghĩa vụ cụ thể của công dân chính là từ một sự kiện pháp lý cụ thể Trongkhi đó, quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân chỉ phát sinh hoặc chấm dứtkhi có một sự kiện pháp lý

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không chỉ phản ánh chất lượng cuộc sống của cá nhân mà còn thể hiện một cách tập trung nhất mức độ

tự do, dân chủ, tiến bộ của một chế độ nhà nước, thể hiện mối quan hệ pháp lýqua lại giữa nhà nước và công dân trong việc quy định và ghi nhận sự tươngxứng giữa quyền và nghĩa vụ của công dân và nhà nước Một nhà nước dân

Trang 31

chủ và tiến bộ không phải là nhà nước chỉ thừa nhận công dân chỉ có quyền

mà không phải thực hiện nghĩa vụ; sự ghi nhận quyền hoặc và nghĩa vụ cơbản từ một phía chủ thể nào đó là điều không tưởng

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở, xuất phát điểm cho các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân Tóm lại, một nhà nước dân chủ,

tự do là một nhà nước chính thức ghi nhận quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân trong Hiến pháp Tuy nhiên, việc ghi nhận đó không đồng thời đồngnghĩa với việc thừa nhận nhà nước đó là nhà nước tự do, dân chủ vì nhữngquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân còn phụ thuộc vào những điều kiện đểbảo đảm thực hiện từ phía nhà nước đó, phải dựa trên cơ sở kinh tế, trên thực

tế công dân được đáp ứng Chính vì lẽ đó, nhà nước cần phải tạo điều kiện đểcông dân thực hiện quyền tự do của mình chứ không đơn giản chỉ là việc ghinhận các quyền đó vào trong Hiến pháp

Trang 32

Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ

QUYỀN CÔNG DÂN

2.1 Quyền con người và một số phạm trù có liên quan

Quyền con người mang tính chất tự nhiên, gắn với những con người cụthể và có từ khi họ sinh ra Con người sống và chịu sự điều chỉnh của tổnghòa các mối quan hệ trong xã hội, như vậy quyền con người tất yếu dĩ ngẫu cóliên quan tới các phạm trù cơ bản

Quyền con người trong xã hội cũng như các phạm trù khác đều chịu sựđiều chỉnh của tổng hòa các quan hệ xã hội Quyền con người có mối quan hệgắn bó, tương hỗ với các phạm trù trong xã hội như: quyền con người vàphẩm giá con người; quyền con người và nhu cầu, khả năng của con người;quyền con người và phát triển con người; quyền con người và an ninh conngười; quyền con người và tự do của con người; quyền con người và dân chủ;quyền con người và quản trị tốt; quyền con người và tăng trưởng kinh tế;quyền co người và xóa đói, giảm nghèo; quyền con người và an ninh quốcgia; quyền con người và đặc thù văn hóa;

Quyền con người và phẩm giá con người, đây là mối quan hệ khăng

khít tương trợ nhau cùng phát triển Quyền con người bắt nguồn từ nhânphẩm và là những công cụ đặc biệt nhân loại sáng tạo ra để bảo vệ nhânphẩm Nhân phẩm hay còn gọi là phẩm giá con người là những phẩm chất, giátrị chỉ con người mới có và tạo nên tư cách, vị thế, sự khác biệt của con ngườitrong thế giới động vật Luật pháp bảo vệ nhân phẩm của con người bằngcách quyền con người được pháp điển hóa vào pháp luật quốc gia và pháp luậtquốc tế Ngay trong lời nói đầu của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

Trang 33

năm 1948 nhắc tới các phẩm giá của con người và khẳng định mọi người đều

tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền

Quyền con người và nhu cầu, khả năng của con người, nhu cầu của con

người có thể hiểu là những điều cần thiết cho con người để có cuộc sống thoảimái, mạnh khỏe Có hai loại nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, nhucầu vật chất ví dụ như nhu cầu về thức ăn, chỗ ở… hoặc tinh thần như là nhucầu được yêu thương, động viên, chia sẻ…Xét một cách tổng thể thì việc đápứng các nhu cầu của con người ở một khía cạnh nào đó cũng chính là bảo đảmquyền con người Việc xác định các nhu cầu con người, phản ánh các nhu cầu

đó bằng ngôn ngữ quyền con người chính là cách tiếp cận dựa trên quyền conngười Đây là cách tiếp cận đem lại kết quả toàn diện, ổn định và lâu dài hơncách tiếp cận dựa trên nhu cầu con người mà trước đây hay sử dụng

Quyền con người và phát triển con người, khái niệm phát triển con

người là một tiến trình mở rộng các quyền lựa chọn cho mọi người, trao cho

họ những cơ hội tốt hơn trong các vấn đề giáo dục, chăm sóc y tế, thu nhập,việc làm… Phát triển con người và quyền con người có mối liên hệ chặt chẽ

cả về động cơ và mục đích, có tác động bổ trợ lẫn nhau, tuy có những khácbiệt nhất định về chiến lược hành động Cả hai phạm trù này đều nhằm thúcđẩy cuộc sống và hạnh phúc của con người trên cơ sở khuyến khích sự tôntrọng nhân phẩm vốn có của các cá nhân và sự bình đẳng giữa các dân tộc.Phát triển con người và quyền con người đều nhằm hiện thực hóa sự tự do củacon người thông qua tăng cường các cơ hội và năng lực cho mọi người Cảphát triển con người và quyền con người đều lấy con người làm trung tâm,đều nhằm tăng cường các tiêu chuẩn sống của con người không chỉ thông quaviệc nâng cao thu nhập, mà còn qua việc cải thiện các thiết chế xã hội theohướng dân chủ hóa và tôn trọng các quyền con người Tuy có nhiều điểm

Trang 34

tương đồng nhưng quyền con người và phát triển con người cũng có một sốđiểm khác biệt, cơ bản nhất đó là chiến lược hành động.

Quyền con người và an ninh con người, thuật ngữ an ninh con người

được UNCP định nghĩa năm 1994 là sự cấu thành của hai điều kiện: Một là

“An toàn không bị đe dọa bởi đói nghèo, bệnh tật và sự đàn áp; hai là được

bảo vệ khi gặp những rủi ro bất thường trong cuộc sống, kể cả trong gia đình, trong công việc hay ngoài xã hội” [56,tr22] An ninh con người và quyền con

người có mối liên hệ mật thiết, tác động và hỗ trợ lẫn nhau Việc bảo đảm anninh con người cũng tương tự như bảo vệ các quyền con người Cả an ninhcon người và quyền con người đều hướng vào bảo vệ các nguyên tắc dân chủ

và sự phát triển về thể chế trong các xã hội như là những điều kiện để bảođảm an ninh và các quyền của con người một cách bền vững An ninh conngười và quyền con người cũng có điểm khác biệt với nhau trước tiên ở cáchtiếp cận, an ninh con người tiếp cận theo chiều dọc từ trên xuống chủ yếuthông qua các nhà nước; quyền con người trong khi đó tiếp cận theo chiềungang, thông qua cả nhà nước và xã hội An ninh con người giúp con ngườiđạt tự do về nhiều mặt còn quyền con người giúp con người đạt được tự dokhông bị đàn áp An ninh con người chú trọng cả hai khía cạnh bảo vệ và traoquyền, còn quyền con người tập trung vào bảo vệ con người là chính

Quyền con người và tự do của con người, tự do có thể hiểu là tình trạng

một các nhân có thể và có khả năng hành động theo đúng với ý chí, nguyệnvọng của mình Tự do thường được phân thành tự do chủ động và tự do bịđộng Trong các văn bản luật về quyền con người vẫn thường tồn tại songsong hai phạm trù quyền và tự do của con người, bởi lẽ các tự do cơ bản củacon người thường được diễn đạt như là các quyền

Quyền con người và quản trị tốt, quản trị tốt là khái niệm đề cập những

cơ chế, thể chế và tiến trình mà thông qua đó các nhà chức trách có thể giải

Trang 35

quyết hài hòa và thỏa đáng các vấn đề công cộng Quyền con người và quảntrị tốt có mối quan hệ tác động hỗ trợ lẫn nhau bởi cả hai đều dựa trên và cổ

vũ cho những nguyên tắc cốt lõi trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội Quảntrị tốt hỗ trợ quyền con người thông qua việc tăng cường tính hiệu quả, tráchnhiệm giải trình, sự minh bạch và trách nhiệm của hệ thống cơ quan nhà nước

từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền conngười Bên cạnh đó, quyền con người cũng giúp tăng cường và duy trì ổnđịnh những thành tựu thu được từ những chương trình quản trị tốt thông quaviệc thúc đẩy quá trình mở rộng và phát huy dân chủ và cải tổ các nhà nướctheo hướng nhà nước pháp quyền, cũng như trong việc củng cố cơ chế kiểmtra, giám sát, sự tham gia của công chúng, đấu tranh chống tham nhũng vàgiải quyết những xung đột trong các xã hội

Quyền con người và tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế được coi

là một phương tiện quan trọng để hiện thực hóa các quyền con người Quyềncon người cũng góp phần thúc đẩy và duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững,bởi lẽ, quyền con người giúp kiến tạo và duy trì sự quản lý tốt – yếu tố nềntảng cho sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, ở những xã hội nhất định, trongnhững giai đoạn nhất định, sự tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn đồng hànhvới việc thúc đẩy các quyền con người Cộng đồng quốc tế đã đúc rút ra kếtluận về tăng trưởng kinh tế và quyền con người: Tăng trưởng kinh tế phảiphục vụ cho việc thúc đẩy quyền con người của tất cả mọi người Tăng trưởngkinh tế không phải được thúc đẩy bằng mọi giá mà phải được thực hiện trên

cơ sở phù hợp phù hợp với các nguyên tắc cơ bản về quyền con người vàkhông được làm tổn hại đến các quyền con người

Quyền con người và việc xóa đói giảm nghèo, tình trạng đói nghèo có

thể khẳng định đó là kết quả của sự vi phạm quyền con người, còn nhữngthành tựu về quyền con người có thể góp phần xóa bỏ tình trạng đói nghèo

Trang 36

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người giúp các cá nhân phát triển năng lực củabản thân, trao cho họ cơ hội được tham gia vào các tiến th phát triển của xãhội từ đó đảm bảo và cải thiện điều kiện sống của mình và gia đình.

Quyền con người và an ninh quốc gia, trong khi luật quốc tế về quyền

con người thừa nhận nhu cầu chính đáng và tính chất hợp pháp của việc việndẫn lý do bảo vệ an ninh quốc gia để hạn chế và giới hạn áp dụng một sốquyền con người, luật cũng xác định những điều kiện chặt chẽ cho việc hạnchế và giới hạn như vậy và đòi hỏi các quốc gia phải tuân thủ nghiêm túc

Quyền con người và đặc thù văn hóa, tồn tại hai học thuyết là thuyếtphổ biến và thuyết tương đối về văn hóa Hai thuyết này tuy không thống nhấtnhưng cũng không phủ định hoàn toàn lẫn nhau Cụ thể, theo quan điểm củanhững người theo thuyết tương đối về văn hóa, không phải tất cả, mà chỉ một

số quyền con người phù hợp với truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dântộc; còn những người theo thuyết phổ biến, trong khi khẳng định quyền conngười là bẩm sinh, vốn có và cần áp dụng một cách bình đẳng cho mọi thànhviên trong gia đình nhân loại thì vẫn thừa nhận rằng việc thực thi các quyềncon người cần xét đến tính nhạy cảm về văn hóa và cần tương thích với nguồnlực của các quốc gia

Như vậy, cùng với mối quan hệ với quyền công dân, quyền con người

là một phạm trù có mối quan hệ mật thiết, qua lại với nhiều phạm trù kháctrong xã hội Để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của quyền con người có hiệuquả nhất thì cần nghiên cứu và hiểu rõ mối quan hệ giữa quyền con người vàcác phạm trù có liên quan đó

2.2 Tính thống nhất biện chứng giữa quyền con người quyền công dân

Theo nhiều nghiên cứu của các học giả trên thế giới đều khẳng địnhquyền con người và quyền công dân có mối quan hệ thống nhất biện chứng

Trang 37

với nhau Sự thống nhất ở đây không phải là sự đồng nhất giữa quyền conngười và quyền công dân mà sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ, trong mỗi quốcgia, quyền công dân trong nội dung là sự thể hiện cụ thể của quyền con người.

Ta khó có thể phân định một cách thật sự rạch ròi quyền con người, quyềncông dân theo quan điểm quyền con người là quyền tự nhiên, quyền công dân

là do pháp luật quy định; hay quyền con người là do luật quốc tế quy định,quyền công dân là do pháp luật quốc gia quy định Việc nhận thức giá trị vàbản chất của quyền con người có vai trò quyết định trực tiếp trong việc xâydựng các quy chế pháp lý về quyền công dân trong hệ thống pháp luật củamỗi quốc gia Việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền công dân chính

là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền con người Không thể tách bạchriêng rẽ quyền con người và quyền công dân, một cá thể sống trong xã hộikhó có thể là cá thể toàn diện nếu cá thể đó chỉ có quyền con người mà không

có quyền công dân hoặc ngược lại

Quyền con người và quyền công dân tuy không đồng nhất với nhaunhưng rất gần gũi với nhau cả về mặt khái niệm lẫn tính chất, đặc điểm Nếuquyền con người là các quyền tự nhiên vốn có được trao tặng ngay khi conngười sinh ra một cách vô điều kiện thì quyền công dân chính là các quyền đóđược thể chế hóa vào các quy định cụ thể của pháp luật

Về mặt chủ thể, Quyền con người và quyền công dân thống nhất với

nhau là đều có đối tượng điều chỉnh là con người Quyền con người được coi

là các đặc quyền tự nhiên vốn có của con người như các quyền sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc, còn quyền công dân là những quyền conngười của cá thể sống được một nhà nước cụ thể đảm bảo bằng hệ thống phápluật cũng như các cơ quan thi hành luật pháp Khi con người sinh ra đã mặcnhiên được hưởng các quyền trên một cách vô điều kiện chứ không cần ai bantặng cả Dĩ nhiên, việc đảm bảo quyền con người ở các chế độ các xã hội khác

Trang 38

nhau thì có sự khác nhau Phạm vi và chất lượng quyền con người được nânglên dần theo chiều dài lịch sử, có sự không đồng đều cả về mặt số lượng lẫnphạm vi quyền giữa các giai cấp trong xã hội Trong xã hội chiếm hữu nô lệ,chủ nô với quyền lực của mình bằng mọi cách hạn chế nhất có thể các quyềncủa giai cấp nô lệ, có như thế thì quyền và lợi ích của chúng mới được đảmbảo nhiều hơn Sự nổi dậy của giai cấp bị trị thời kỳ này để đòi lại quyền làmngười, quyền tự do chứ chưa phải là lợi ích kinh tế trực tiếp Đến xã hộiphong kiến, việc đảm bảo quyền con người trong chế độ này cũng chưa hề cóbước tiến đáng kể nào so với xã hội trước đó Nhu cầu được giải phóng khỏikìm kẹp của người nông dân trong xã hội ngày càng thôi thúc, nó tạo động lựccho tầng lớp bị áp bức nổi dậy dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản giành lạinhững quyền lợi chính đáng của giai cấp mình Giai cấp tư sản lên nắmquyền, từ đó quyền con người trong xã hội mà cụ thể là của tầng lớp thườngdân đã được ghi nhận ở một mức độ nhất định trong các văn bản pháp lý thờibấy giờ, lúc này quyền con người được công nhận mang tính chất pháp lýbằng Hiến pháp và luật Cụ thể đó là quy định về các quyền con người vàquyền công dân thể hiện trong chế định Hiến pháp và luật Tuy nhiên, giai cấp

tư sản cũng chỉ đảm bảo phần nào quyền của tầng lớp bị trị vì chúng vẫn phảiđảm bảo lợi ích và địa vị thống trị của chúng Con người trong chế độ nàychưa hề có tự do thực sự, nhu cầu về hưởng quyền ngày càng cao so với sựđáp ứng của chế độ xã hội cho họ Đến xã hội chủ nghĩa, con người đượchưởng nhiều quyền hơn chính họ trong các chế độ xã hội trước đó Đến chế

độ xã hội này thì con người đã dần tiếp cận được với khía cạnh “dân chủ”trong đời sống, trong việc thụ hưởng các quyền và thực thi các nghĩa vụ Về

lý thuyết, đây được coi là nấc thang cao nhất trong lịch sử xã hội sẽ khắc phụcđược những hạn chế trong xã hội trước đó và đảm bảo được một cách tối ưuquyền con người

Trang 39

Quyền con người và quyền công dân đều là phạm trù dùng để xác địnhmối quan hệ của cùng đối tượng điều chỉnh là con người trong mối quan hệ với

xã hội, với cộng đồng nhân loại và với chế độ nhà nước nơi người đó làm côngdân Con người là chủ thể có quyền trong xã hội, và chủ thể có nghĩa vụ đảmbảo các quyền đó là nhà nước Quyền con người và quyền công dân, xét về bảnchất đều là nội dung một cá nhân con người được phép làm và được tôn trọngbảo vệ bằng chế độ nhà nước và cộng đồng nhân loại Không có sự đối lậpquyền công dân nằm ngoài quyền con người hoặc ngược lại quyền con ngườimâu thuẫn với quyền công dân Quyền công dân chính là các quyền con người

cơ bản được thể chế hóa vào Hiến pháp và luật Như thế quyền con người mớiđược thừa nhận và bảo đảm một cách chính thống và toàn diện nhất

Chế định quyền con người và quyền công dân thống nhất ở chỗ cùng

có đối tượng hưởng quyền là con người sống trong xã hội, nhiều khi sựthống nhất giữa hai loại quyền này khiến ta khó tách bạch từng loại quyềncho một cá thể nhất định Chỉ trong một số hoàn cảnh đặc biệt thì hai loạiquyền này mới được phân biệt Ví dụ: một người nước ngoài hoặc ngườikhông mang quốc tịch tới Việt Nam người đó sẽ được hưởng đầy đủ cácquyền con người như quyền sống, quyền tự do, quyền đảm bảo an ninh cánhân… nhưng cùng người đó sẽ không có các quyền như công dân ViệtNam: quyền ứng cử, quyền bầu cử…

Quyền con người và quyền công dân đều được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật Dù là trong chế độ xã hội nào thì các quyền nếu

muốn được đảm bảo thực hiện và phát huy đầy đủ các nội dung của nó đềucần được thể chế trong các văn bản pháp luật nhất định Quyền con người vàquyền công dân tuy là hai phạm trù khác nhau nhưng không hề mâu thuẫn đốinghịch nhau mà có mối quan hệ biện chứng bổ sung, hỗ trợ cho nhau và đềuđược pháp điển hóa vào hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới

Trang 40

Mỗi quốc gia, mỗi thể chế nhà nước đều tạo cho mình cách lập pháp và hànhpháp riêng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của họ.Phạm trù quyền con người, quyền công dân khi được quy định trong hệ thốngpháp luật thì từng quốc gia cũng sẽ chọn cho mình cách xây dựng phù hợpnhất với sự phát triển xã hội mình Pháp luật là cái bảo đảm cho quyền côngdân, quyền con người và tự do cá nhân được thực hiện Pháp luật là “sự ổnđịnh hóa” các giá trị xã hội, chính thức hóa giá trị đó, tạo ra hành lang pháp lýcho mọi xử sự của các thành viên trong xã hội Đồng thời, pháp luật cũng làphương tiện bảo đảm cho dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, quyền đi đôivới nghĩa vụ và trách nhiệm Trong mối quan hệ ấy, pháp luật là một trongnhững nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự ổn định xã hội Không có pháp luậtbảo đảm thì quyền con người và quyền công dân khó có thể được tôn trọng vàthực thi trên thực tế Như đã phân tích, quyền con người là các đặc quyền tựnhiên mà không phải do một chủ thể nào ban phát, Nhà nước cũng không phải

là chủ thể trao tặng các quyền con người Vì thế, khi giá trị xã hội hiện thựccủa con người đòi hỏi phải được quy phạm hóa bằng pháp luật chưa xuất hiệntrong mối quan hệ cộng đồng, các quyền đó chưa ra đời Điều đó đòi hỏi Nhànước phải biết phát hiện nhu cầu hiện thực của việc thực hiện các quyền conngười để sớm thể chế và bảo vệ bằng pháp luật Mối quan hệ giữa Nhà nước

và cá nhân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ biệnchứng quy định lẫn nhau, trong đó trách nhiệm của Nhà nước nặng nề hơntrong việc thể chế và bảo đảm thực hiện một cách hiện thực các quyền đó.Trong xây dựng pháp luật nếu thấm nhuần về mối quan hệ biện chứng nóitrên thì mới xác định đúng đắn, đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

và cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền của con người

và quyền công dân trong xã hội

Mỗi quốc gia tự tạo cho mình cách lập pháp riêng phù hợp với các điều

Ngày đăng: 16/06/2021, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Bộ ngoại giao (2004), Sách trắng về thành tựu nhân quyền của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng về thành tựu nhân quyền của Việt Nam
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
11. Nguyễn Gia Phú dịch (2008), Bộ luật Hammurabi, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luậtHammurabi
Tác giả: Nguyễn Gia Phú dịch
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
29. Quốc hội, (1946), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1946
30. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1959
31. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1980
32. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
36. Trung tâm Thông tin Tư liệu trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, quyền công dântrong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Thông tin Tư liệu trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
37. Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 và hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngônnhân quyền thế giới năm 1948 và hai Công ước về các quyền dân sự,chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
38. Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Những nội dung cơ bản về quyền con người, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dungcơ bản về quyền con người
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
39. Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia.40. Trung tâm Thông tin, Thư viện và nghiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế vềquyền con người
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia.40. Trung tâm Thông tin
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w