1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Hoạt động kiểm sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

97 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 449,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Hoạt động kiểm sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Luận văn Hoạt động kiểm sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN (TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 5

1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA 5

1.1.1 Nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát điều tra 6

1.1.2 Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra trong hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự 7

1.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY VÀ ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 12

1.2.1 Đặc điểm pháp lý các tội phạm về ma túy 12

1.2.2 Đặc điểm về điều tra tội phạm về ma túy 16

1.3 NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KSĐT TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ 19 1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, đăng ký, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về ma tuý 19

1.3.2 Kiểm sát khởi tố vụ án ma tuý 20

1.3.3 Kiểm sát việc khởi tố bị can 21

1.3.4 Kiểm sát việc áp dụng, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn 30

1.3.5 Kiểm sát việc áp dụng một số hoạt động điều tra 37

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA

CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 43

2.1 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 43

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ 46

2.2.1 Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tiếp nhận, đăng ký giải quyết tin báo tố giác tội phạm về ma tuý 46

2.2.2 Kiểm sát khởi tố, không khởi tố vụ án ma túy của cơ quan điều tra 48 2.2.3 Hoạt động kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra các tội phạm về ma tuý 63

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN MA TÚY 74

3.1 CƠ SỞ ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KSĐTCTPMT 74

3.1.1 Cơ sở pháp lý 74

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 75

3.2 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 75

3.2.1 Các kiến nghị Hoàn thiện pháp luật 75

3.2.2 Các giải pháp khác 80

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự

KSVTTPL Kiểm sát việc tuân theo pháp luậtKTVA, KTBC Khởi tố vụ án, khởi tố bị canQĐKTBC Quyết định khởi tố bị can

QĐKTVA Quyết định khởi tố vụ án,

VKSND Viện Kiểm sát nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự là một trongnhững công tác thể hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân(VKSND) theo qui định của Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung Hoạt độngKSĐT có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình điều tra trong hành Tố tụnghình sự (TTHS) nhằm bảo đảm cho quá trình chứng minh vụ án do Cơ quanđiều tra (CQĐT) thực hiện được khách quan, toàn diện và đầy đủ Tại Điều 23

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định: “Viện kiểm sát (VKS) thực hành

quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật (KSVTTPL) trong TTHS, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.

Khẳng định tầm quan trọng của hoạt động KSĐT nói chung và các tội phạm

về ma túy (TPVMT) nói riêng, chỉ thị 53/CT ngày 21.3.2000 của Bộ chính trị

đã xác định rõ: “Để xảy ra sai sót ở địa phương nào trong việc bắt, tạm giữ,

tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử thì trước hết VKSND ở nơi đó phải chịu trách nhiệm” Trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội nước ta hiện nay đang đổi

mới theo hướng mở cửa, hội nhập, trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng caocủa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoạt động KSĐT các vụ ánhình sự, nhất là các TPVMT tại TP.Hồ Chí Minh chưa đáp ứng được yêu cầuđấu tranh phòng ngừa tội phạm, luôn rơi vào tình trạng quá tải, hiệu quả hoạtđộng không cao, còn vấp nhiều sai sót dẫn đến việc truy tố, xét xử cácTPVMT gặp nhiều khó khăn, đôi khi còn dẫn đến sai lầm, làm oan người vôtội, bỏ lọt tội phạm Việc nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động KSĐT các vụ ánhình sự hay các TPVMT cũng như các công tác kiểm sát khác để có thể xác

Trang 7

định rõ thực trạng yếu kém, tìm ra và thực hiện được những giải pháp nhằmnâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động KSĐT góp phần làm tốt chức năngnhiệm vụ mà pháp luật đã trao cho VKSND, được xác định là yêu cầu mangtính cấp bách của công cuộc cải cách tư pháp theo đường lối đổi mới của

Đảng Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác giả chọn đề tài: “Hoạt động kiểm

sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các

số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)” làm luận văn tốt nghiệp.

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Ở nước ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu ở bậc thạc sỹ vềcác đề tài liên quan đến tổ chức, hoạt động của VKSND trong TTHS như:

Quyền công tố của VKSND; Địa vị pháp lý của VKSND trong TTHS;Quan hệ giữa CQĐT và VKSND trong giai đoạn khởi tố, điều tra; chức năngcủa VKSND trong giai đoạn xét xử của VKSND … và một số bài viết đăngtrên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí kiểm sát; Tạp chí pháp luật; Tạpchí Toà án của một số tác giả Đối với hoạt động KSĐT án hình sự: có giáotrình công tác KSĐT của trường Cao đẳng kiểm sát Hà nội và một số nghiêncứu nhỏ được trình bày ở một số hội thảo khoa học về công tác kiểm sát,nhưng đều dừng lại ở mức độ khái quát chung, thiếu sự đúc kết, đánh giábằng kinh nghiệm thực tiễn Ở bậc thạc sỹ luận văn cao học: “Công tác kiểmsát điều tra án trị an tại thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 - 2000 - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn.” của thạc sĩ Đoàn Tạ Cửu Long Luận văn cao học:

“Khởi tố bị can và hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can – Thực trạng và một

số kiến nghị” của Thạc sĩ Phạm Văn Đức Đây là hai công trình nghiên cứuchuyên sâu về hoạt động KSĐT án hình sự Đối với hoạt động KSĐT các vụán hình sự, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậccao học Đề tài: “Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểmsát nhân dân cụ thể là các tội phạm về ma tuý tại thành phố Hồ Chí Minh.” là

Trang 8

một nghiên cứu chuyên sâu ở bậc cao học về một công tác kiểm sát cụ thểtrong bối cảnh kinh tế xã hội của TP Hồ Chí Minh thời gian qua.

3 MỤC ĐÍCH

Nghiên cứu hoạt động KSĐT các các vụ án hình sự nói chung và cácTPVMT nói riêng một cách có hệ thống, dưới góc độ một quan hệ xã hội,quan hệ pháp luật, để xác định rõ cơ sở pháp lý cùng với thực trạng hiện naycủa hoạt động kiểm sát này Trên cơ sở đó, tìm ra giải pháp khắc phục nhượcđiểm, phát huy ưu điểm để góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả cho côngtác KSĐT, tăng cường năng lực hoạt động hiệu quả cho VKS trong công tácđấu tranh phòng, chống tội phạm

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn nghiên cứu về hoạt động KSĐT các vụ án hình sự với giớihạn: hoạt động kiểm sát của VKSND đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự

ma tuý do Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc lực lượng cảnh sát nhân dân thựchiện Luận văn lựa chọn địa bàn nghiên cứu là TP Hồ Chí Minh - một trungtâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nước, một điểm nóng của tội phạm, mang nhiềusắc thái tiêu biểu, có thể xem là một trong những đại diện cho cả nước Việcnghiên cứu về tội phạm, quá trình điều tra, truy tố các TPVMT tại TP Hồ ChíMinh có thể khái quát hóa ở mức độ nhất định đặc điểm chung của hoạt độngKSĐT trên phạm vi toàn quốc Giới hạn về thời gian nghiên cứu của luận văn

là khoảng gần 5 năm Đây là khoảng thời gian có ý nghĩa cho việc đánh giáthực trạng, đúc kết kinh nghiệm về hoạt động KSĐT loại tội phạm này, đảmbảo tính thời sự, giá trị thực tiễn cho kết quả nghiên cứu của luận văn

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở: Phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, chính sách củaĐảng, pháp luật Hình sự, Tố tụng hình sự của Nhà nước về nhiệm vụ đấu

Trang 9

tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đồng thời,luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học nhưthống kê, phân tích, so sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận vàthực tiễn của đề tài.

6 CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và các tội phạm về ma tuý

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm về ma

tuý tại thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm

sát điều tra các vụ án hình sự (các tội phạm về ma túy)

Trang 10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA

Hoạt động điều tra các vụ án hình sự là một trong những công tác thựchiện chức năng của Viện kiểm sát, là giai đoạn mở đầu thực hành quyền công

tố nhà nước mà nội dung của nó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronghoạt động điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra, các Điều traviên, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và nhữngngười có liên quan khác bảo đảm cho việc điều tra tiến hành khách quan, toàndiện và đầy đủ

Phạm vi hoạt động kiểm sát là tội phạm thực tế có xẩy ra không do conngười thực hiện được quy định trong Bộ luật hình sự Thứ hai là dấu hiệu tộiphạm được đánh giá một cách khách quan, chính xác từ các nguồn thông tin

về tội phạm như đơn tố cáo, thông tin đại chúng, tin báo của các cơ quan nhànước tổ chức xã hội, việc xác minh ra quy định khởi tố và quyết định khôngkhởi tố bị can…

Hoạt động kiểm sát điều tra luôn phải đảm bảo hai yêu cầu đó là phảiđược tiến hành đúng thủ tục tố tụng, thứ hai là phải thu thập chứng cứ có tội

và chứng cứ xác định vô tội làm rõ những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội để có biện pháp đấutranh phòng ngừa tội phạm

Hoạt động kiểm sát điều tra là bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với bị can là có căn cứ hợp pháp, phải có căn cứ chứng minh bị can dãthực hiện tội phạm và không có các tình tiết để loại trừ trách nhiệm hình sựđối với bị can [17]

Trang 11

1.1.1 Nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát điều tra

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002, vai trò chủ đạo, quyết định củaVKS trong hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT nói chung và cụ thể

là kiểm sát việc KTBC được thể hiện cụ thể hơn và đầy đủ hơn, rõ nét hơn vàđầy đủ hơn ở các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệmcủa cơ quan này Theo quy định của BLTTHS năm 2003 (Điều 112), khi thựchành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Điều 126), VKS có quyền quyếtđịnh việc KTVA, KTBC Đồng thời khi tiến hành hoạt động kiểm sát việctuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, theo quy định tại Điều 113BLTTHS 2003, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc khởi tố

Tại khoản 2, Điều 36 Điếu 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quyđịnh nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân như sau:

Kiểm sát việc khởi tố vụ án của các cơ quan điều tra, Hải quan, Bộ ĐộiBiên phòng, Kiểm lâm, Tòa án (tòa án điều tra trong trường hợp khi xét xửphát hiện ra tội phạm mới)

Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra

Quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn yêu cầu

cơ quan điều tra truy nã bị can

Đề ra yêu cầu điều tra lại hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung, yêucầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm viphạm pháp luật của Điều tra viên

Kiểm sát việc khởi tố bị can, hỏi cung bị can và các hoạt động điềutra khác của cơ quan điều tra, trực tiếp khởi tố bị can, hỏi cung bị can khithấy cần thiết

Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, chuyển vụ án, hủy

bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra

Trang 12

Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên đã vi phạmpháp luật trong khi tiến hành điều tra

Theo điều luật thì ta thấy Hoạt đông kiểm sát điều tra các vụ án hình sựcủa Viện kiểm sát nhân dân có sáu nhiệm vụ rất quan trọng đòi hỏi các Kiểmsát viên, chuyên viên phải có kỷ năng nghiên cứu các vụ án đảm bảo khônglàm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm Đồng thời, để bảo đảm việc giảiquyết vụ án được khách quan, chính xác, bảo đảm sự vô tư của những ngườitiến hành tố tụng trong giai đoạn KTVA, KTBC, khi phát hiện ĐTV đượcphân công giải quyết vụ án hình sự thuộc trường hợp phải thay đổi (Điều 43

và 44 BLTTHS 2003) thì VKS kịp thời yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổiĐTV Trong trường hợp xét thấy hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm thìyêu cầu CQĐT có thẩm quyền xem xét để khởi tố về hình sự

1.1.2 Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra trong hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự

* Khái niệm về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ

quan điều tra

Trong triết học, phép duy vật biện chứng đã khẳng định các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan không tồn tại biệt lập mà chúng tồn tại trongmối quan hệ tác động qua lại và ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau Các mối quan

hệ này được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức conngười Mối quan hệ giữa VKS với CQĐT trong giải quyết các vụ án hình sựkhông nằm ngoài quy luật này

Trong quá trình tiến hành tố tụng đã làm nảy sinh các quan hệ giữa các

cơ quan THTT, bao gồm: mối quan hệ trong nội bộ cơ quan THTT, mối quan

hệ giữa các cơ quan THTT với những người tham gia tố tụng và các cơ quan

tổ chức có nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết vụ án

Quan hệ phối hợp giữa VKS với CQĐT có đặc điểm chung nhưng

Trang 13

trong mỗi loại tội, mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng Vì vậy quan hệphối hợp giữa hai cơ quan trong việc giải quyết từng loại tội cụ thể, mỗi giaiđoạn tố tụng cũng có những nét khác nhau Vấn đề tăng cường mối quan hệphối hợp giữa VKSND và CQĐT trong quá trình giải quyết các vụ án, phảiđược đặt trong từng vụ án cụ thể mới đem lại hiệu quả.

Từ nhận thức trên, khái niệm về mối quan hệ giữa VKS và CQĐT có

thể được hiểu là: Mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo luật định để hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng giải quyết các vụ án hình sự nhằm đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

* Cơ sở pháp lý của mối quan hệ

Từ khi VKS được thành lập theo Hiến pháp năm 1959 đã xuất hiện mốiquan hệ giữa CQĐT với VKS Mối quan hệ này được thể hiện trong Luật tổchức VKSND năm 1960, 1981 và 2002; Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976của Hội đồng chính phủ quy định về việc bắt, giam, khám người, khám nhàở…và một số Thông tư liên ngành cũng quy định về mối quan hệ này Vănbản pháp luật đầu tiên quy định riêng về mối quan hệ phối hợp giữa VKS vàCQĐT trong các giai đoạn tố tụng để giải quyết vụ án hình sự là Thông tư liêntịch số 472/TT-LB ngày 28/06/1963 của Bộ công an, VKSND Tối cao quyđịnh tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ giữa VKSND Tối cao và Bộ công

an trong công tác điều tra các vụ án hình sự Ngoài ra còn có rất nhiều vănbản quy định về mối quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan này Gần đây nhất, đểhoàn thiện mối quan hệ phối hợp trong giải quyết các vụ án hình sự, ngày7/9/2005 liên ngành VKSND Tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng đã banhành thông tư liên tịch số 05/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về quan hệ phốihợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHSnăm 2003 Trong đó có những quy định về việc khởi tố và kiểm sát khởi tố

Trang 14

Thông tư này có một số hướng dẫn mới có liên quan đến KTBC như: Trườnghợp ra Quyết định thay đổi QĐKTBC (về tội danh) thì phải thay đổi QĐKTVA; nếu trong quá trình điều tra vụ án mà xác định được bị can thực hiệnhành vi phạm tội này để thực hiện hành vi phạm tội khác thì ra quyết định bổsung QĐKTBC…[33,Tr 23,24]

* Tính chất của mối quan hệ

VKS và CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra là các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau,độc lập với nhau Mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ riêng của mình đểthực thi quyền lực nhà nước Tuy nhiên, trong lĩnh vực hình sự, các cơ quannày đều có chung một nhiệm vụ và mục đích là đấu tranh phòng, chống tộiphạm, giữ gìn an ninh chính trị và bảo đảm an toàn xã hội Mối quan hệ giữacác cơ quan này trong việc khởi tố vụ án hình sự, KTBC là đều phải có tráchnhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, khởi tố điều tramột cách nghiêm minh, kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội,không làm oan người vô tội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phảiđược tôn trọng

Chính từ mục đích chung này đã gắn kết VKS và CQĐT trong quá trìnhđiều tra Để giải quyết mối quan hệ trên trong tố tụng hình sự, pháp luật đãquy định cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơquan trong từng giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm và người phạm

tội Mối quan hệ đó vừa mang tính quyết định - chấp hành vừa mang tính

phối hợp trong hoạt động tố tụng hình sự.

- Tính quyết định - chấp hành:

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, như BLTTHS, Luật tổchức VKSND, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự… thì CQĐT có quyền vàtrách nhiệm khởi tố điều tra tội phạm; VKS có quyền và trách nhiệm thực

Trang 15

hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT Các quy địnhcủa pháp luật là có căn cứ, là nguyên tắc để triển khai và thực hiện mối quan

hệ giữa VKS và CQĐT

Nếu đem so sánh mối quan hệ do pháp luật TTHS quy định giữa VKS

và CQĐT với mối quan hệ giữa VKS và Tòa án thì rõ ràng khác nhau về bảnchất Ở giai đoạn xét xử, tuy Tòa án (hoặc Hội đồng xét xử) là cơ quan có vaitrò chỉ đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá trình xét xử, nhưng VKS vàToà án lại hoàn toàn độc lập với nhau Mỗi cơ quan đều tự chịu trách nhiệm

về công việc của mình Tòa án không làm thay hay can thiệp vào công việccủa VKS và ngược lại, VKS cũng không can thiệp vào công việc xét xử củaTòa án, mặc dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử củaTòa án Khi Tòa án có vi phạm pháp luật, thì VKS chỉ có quyền kiến nghị,kháng nghị, yêu cầu khắc phục sửa chữa vi phạm Trong khi đó, mối quan hệgiữa VKS và CQĐT thì khác hẳn về chất Tuy CQĐT có quyền KTBC, độclập điều tra, hoạch định phương hướng, đề ra các chiến thuật điều tra cụ thể,CQĐT có quyền ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra…, nhưngVKS có quyền can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều tra của CQĐT Trongtrường hợp cần thiết, VKS ra các quyết định tố tụng và yêu cầu CQĐT phảithực hiện Nhưng ngược lại, CQĐT không có quyền can thiệp vào hoạt độngthực hành quyền công tố và KSĐT của VKS Các kiến nghị của CQĐT đốivới hoạt động của VKS cũng do VKS cấp trên giải quyết, quyết định Vàtrong khi chờ quyết định của VKS cấp trên, thì CQĐT vẫn phải chấp hànhquyết định, yêu cầu bị kiến nghị đó CQĐT không thể lấy lý do chờ quyếtđịnh của VKS cấp trên mà trì hoãn việc chấp hành các quyết định, yêu cầucủa VKS (Điều 114 BLTTHS)

Trong quá trình điều tra, CQĐT có quyền ban hành Quyết định Khởi tốvụ án hình sự, QĐKTBC Nhưng các quyết định của CQĐT đều nằm dưới sự

Trang 16

kiểm sát chặt chẽ của VKS Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát hoạt động tư pháp, VKS có quyền và trách nhiệm hủy bỏ QĐKTBC củaCQĐT nếu không có căn cứ và trái pháp luật.Thay vào đó, VKS có quyền raQĐKTBC và giao cho CQĐT thực hiện CQĐT có trách nhiệm thực hiện,chấp hành nghiêm chỉnh yêu cầu về điều tra của VKS Đồng thời trong một sốtrường hợp nhất định, những lệnh, quyết định của CQĐT liên quan đến hạnchế các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và phápluật, thì phải có sự phê chuẩn của VKS Nếu những lệnh, quyết định đó màkhông được VKS phê chuẩn thì không có giá trị thi hành.

Pháp luật quy định thẩm quyền phê chuẩn của VKS đối với QĐKTBCcủa CQĐT không có nghĩa là để VKS “chứng thực” QĐKTBC có giá trị thihành, mà pháp luật đã chuyển vai trò quyết định, chuyển trách nhiệm từCQĐT sang VKS để xem xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định doCQĐT ban hành

Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định rằng, ở giai đoạn điều tra, mốiquan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ tố tụng hình sự mang tính quyếtđịnh - chấp hành Trong đó VKS giữ vai trò rất quan trọng, vai trò chính, cótính quyết định toàn bộ quá trình điều tra và CQĐT có trách nhiệm chấp hànhcác quyết định, yêu cầu về điều tra của VKS

- Tính phối hợp của mối quan hệ giữa VKS với CQĐT:

Về mặt pháp luật, tuy mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong việcKTBC đã được pháp luật TTHS quy định như đã nêu ở trên, nhưng vì VKS vàCQĐT thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau, không

có sự ràng buộc trong quan hệ hành chính Pháp luật TTHS cũng không cónhững quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của ngườitiến hành tố tụng, của KSV, của ĐTV một cách cụ thể, rõ ràng để đảm bảothực hiện mối quan hệ này Do đó, trong quá trình điều tra, thực hành quyền

Trang 17

công tố và kiểm sát việc KTBC của CQĐT, thì khía cạnh phối hợp giữa hai cơquan là không thể thiếu.

Thực tế đã chứng minh, đã biến các quy định của pháp luật về mốiquan hệ tố tụng giữa VKS và CQĐT trong hoạt động thực tiễn là hoàn toànkhông đơn giản Vùng khuôn khổ pháp luật như vậy, nhưng có nơi thực hiệntốt, có nơi thực hiện chưa tốt, thậm chí còn tạo nên sự trì trệ cho hoạt động tốtụng của hai cơ quan Mối quan hệ giữa hai cơ quan có phát triển tốt haykhông phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tương tác giữa hai bên Trong đó mỗibên đều phải tác động vào đối tác của mình theo hướng tích cực để nhận được

sự đáp ứng tích cực trở lại, tránh tình trạng “quyền anh, quyền tôi” mà bỏ mặcđối tác hoặc thỏa hiệp vô nguyên tắc Mỗi bên phải tạo điều kiện cho nhau đểhoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm được giao Do đó, chất lượng và hiệuquả của mối quan hệ tố tụng này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức,phương pháp công tác, uy tín của tập thể và cá nhân tham gia mối quan hệ đó,thông qua hoạt động cụ thể của thủ trưởng mỗi cơ quan, của KSV, Điều traviên và của những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng

Qua phân tích trên có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa VKS và

CQĐT là mối quan hệ vừa mang tính quyết định - chấp hành vừa mang tính phối hợp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Nhưng trong đó, tính quyết

định chấp hành là chủ yếu, cốt lõi.[ 36, tr.46]

1.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY VÀ ĐIỀU TRA CÁC

TỘI PHẠM VỀ MA TÚY

1.2.1 Đặc điểm pháp lý các tội phạm về ma túy

Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất

ma túy của Nhà nước Cơ sở pháp lý các tội phạm về ma túy được quy địnhtrong Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2000), các tội phạm

về ma túy được qui định tại Chương XVII Ban đầu có 10 điều luật (từ điều

Trang 18

192 đến điều 200) qui định về 10 tội danh khác nhau Sau khi được sửa đổi,

bổ sung (6/2009) còn 9 điều luật qui định về 9 tội danh (Điều 199 về “Tội sửdụng trái phép chất ma túy” đã được bãi bỏ) Cụ thể là các tội danh sau:

- Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy.(Điều 192);

- Tội sản xuất trái phép chất ma túy (điều 193);

- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất matúy (điều 194);

- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chấtdùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (điều 195);

- Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụdùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 196);

- Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197);

- Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 198);

- Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.(điều 200);

- Tội vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặccác chất ma túy khác (điều 201)

Các tội phạm về ma túy có các yếu tố cấu thành tội phạm đó là kháchthể, khách quan, chủ quan, chủ thể;

1.2.1.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể chung của các tội phạm về ma túy là chế độ quản lý các chất

ma túy của Nhà nước ở tất cả các khâu của quá trình quản lý Các tội phạmnày có đối tượng là các chất ma túy và các vật dụng phục vụ sản xuất và sửdụng chất ma túy

* Các chất ma túy là đối tượng của các tội phạm về ma túy bao gồm cácchất ma túy theo nghĩa hẹp; các chất hướng thần; các tiền chất ma túy và

Trang 19

hướng thần (gọi tắt là các tiền chất ma túy); các cây trồng hoặc nguyên liệuthực vật có chứa chất ma túy.

Ờ nước ta, việc xác định các chất ma túy, các chất hướng thần và cáctiền chất ma túy và hướng thần được dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quyđịnh về các chất ma túy và các chất hướng thần của 3 công ước Liên hợp quốc

về kiểm soát ma túy

Chất ma túy (theo nghĩa hẹp) và các chất hướng thần là các chất gâynghiện ở dạng tự nhiên hay tổng hợp

Đặc tính nguy hiểm của chất ma túy về chất hướng thần thể hiện ở khảnăng gây nghiện cho người sử dụng chất này Con người chỉ cần vài lần sửdụng chất ma túy hoặc chất hướng thần sẽ có nhu cầu cung cấp thường xuyên

và với liều lượng ngày càng cao hơn Khi không đáp ứng được nhu cầu, họ sẽlên cơn vật vã, đâu đớn về thể xác… và có thể làm tất cả những gì, kể cả tộiác mà họ cho là cần thiết nhằm giải tỏa cơn nghiện Sự lệ thuộc ngày cảng lớnvào chất ma túy hoặc sử dụng chất hướng thần chính là tác hại gây nghiện củachất ma túy hoặc chất hướng thần đối với con người dùng chất đó

- Các chất ma túy và hướng thần thường gặp và là đối tượng phổ biếncủa các tội phạm về ma túy bao gồm:

+ Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện, còn gọi là nhựa đặc của cây anh túc);+ Cần sa (phần ngọn mang hoa và quả của cây cần sa mà nhựa chưađược chiết ra);

+ Nhựa cần sa (nhựa đã được tách ra ở dạng thô hoặc đã được tinh chế

từ cây cần sa)

+ Lá coca (lá của cây coca – lá chưa dùng để chiết xuất);

+ Moocphin (chất chiết từ cây thuốc phiện)

+ Côcain;

+ Hêroin;

Trang 20

+ Các chất hướng thần như amphetamin…

- Các tiền chất ma túy và hướng thần là các chất dùng để tổng hợp racác chất ma túy và các chất hướng thần

- Cây trồng có chứa chất ma túy là cây thuốc phiện hoặc các cây khácnhư cây coca và cây cần sa

- Các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy được quy định là đốitượng của 1 số tội phạm về ma túy là quả thuốc phiện ở dạng khô và tươi

Các vật dụng phục vụ sản xuất và sử dụng chất ma túy là các công cụ,phương tiện dùng vào việc sản xuất và sử dụng chất ma túy

1.2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy tuy khác nhau về hìnhthức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưnggiống nhau ở chỗ đều là hành vi vi phạm các qui định của Nhà nước về chế

độ quản lí các chất ma túy Đó có thể là những hành vi thực hiện những điều

mà Nhà nước cấm các cá nhân làm (như hành vi khách quan của các tội quyđịnh từ điều 192 đền điều 200 BLHS) hoặc có thể là những hành vi củanhững người có trách nhiệm được Nhà nước giao đã không thực hiện, thựchiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định vềquản lý, sử dụng chất ma túy (như hành vi khách quan của tội được quy địnhtạo Điều 201 BLHS)

* Hầu hết các tội phạm về ma túy đều được quy định là những tội cócầu thành hình thức Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thànhtội phạm (CTTP) của những tội phạm này Tội phạm được coi là hoàn thành

từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan

1.2.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Đối với đa số các tội phạm về ma túy, lỗi của người thực hiện là lỗi cố

ý trực tiếp (các tội phạm quy định ở các điều từ Điều 192 đến Điều 197 và

Trang 21

Điều 200 BLHS) Lỗi của người phạm các tội quy định tại Điều 198 và Điều

201 có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp

1.2.1.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của hầu hết các tội phạm về ma túy là chủ thể thường đó làngười từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệmhình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng, riêng tội quy định tại Điều 201 đòi hỏi chủ thể đặc biệt đó làngười trong cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý các chất gâynghiện - người có chức vụ [18]

1.2.2 Đặc điểm về điều tra tội phạm về ma túy

* Tính cấp bách: Tính cấp bách của hoạt động điều tra, KSĐT các

TPVMT xuất phát từ chính tính chất khép kín, có tổ chức cao của loại tộiphạm này Bản thân thông tin về loại tội phạm này rất ít ỏi và rất dễ bị tiêuhủy, che giấu, kẻ phạm tội luôn ý thức trước về tính nghiêm khắc của hìnhphạt nên thường tìm mọi cách để lẩn tránh trách nhiệm hình sự Do vậy khi cónhững thông tin ban đầu về TPVMT các CQĐT phải tiến hành ngay các hoạtđộng điều tra ban đầu Đây là đòi hỏi khách quan, bất kỳ sự chậm trễ nào để

có thể dẫn đến hậu quả khó khăn trong việc điều tra, đôi khi việc điều tra lâmvào tình trạng bế tắc Việc xử lý thông tin ban đầu, thu thập chứng cứ vềTPVMT phải được tiến hành nhanh chóng kịp thời thì các thông tin về tộiphạm không bị các tác động khách quan, chủ quan làm biến mất, biến dạng,mai một đi Thí dụ như sự chậm trễ trong việc xác định nhân chứng, lấy lờikhai của nhân chứng có thể dẫn đến hậu quả là nhân chứng từ chối hợp tácvới cơ quan tiến hành tố tụng, thay đổi lời khai do bị tổ chức TPVMT đe dọa,mua chuộc Đồng bọn chưa bị bắt có điều kiện nhanh chóng tẩu thoát, tiêuhủy dấu vết tội phạm Công tác thu nhận thông tin ban đầu về các loại tội

Trang 22

phạm an ninh, kinh tế tuy cũng mang tính cấp bách nhưng không cao bằngTPVMT Nếu tính cấp bách trong điều tra của nhóm tội phạm an ninh, kinh tế

là do tính “không bền vững” của dấu vết tội phạm thì tính cấp bách trong điềutra của nhóm TPVMT là tính khép kín, tính có tổ chức của nó

* Hoạt động trinh sát có vai trò to lớn trong điều tra tội phạm về ma túy: Đấu tranh chống tội phạm ở bất kỳ nhà nước nào cũng đều sử dụng hoạt

động trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng Đây là hai hoạt động có chungmục đích nhưng nhiệm vụ, phương thức và thẩm quyền hoạt động khác nhau

do các cơ quan nhà nước khác nhau tiến hành Sự phối hợp hoạt động giữa hai

cơ quan này trong quá trình phát hiện tội phạm và điều tra truy tố vụ án hình

sự là cần thiết và bình thường; Đối với một số loại tội phạm như các tội xâmphạm an ninh quốc gia, TPVMT… do tính nguy hiểm và tính có tổ chức cao,tính quốc tế…thì vị trí của hoạt động trinh sát đóng vai trò quyết định trongviệc phát hiện tội phạm Thông tin trinh sát nguồn sản xuất, trồng cây có chất

ma tuý, công tác sưu tra; thông tin về người sử dụng ma tuý, các ổ nghiện hút,

tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý… là căn cứ để khởi tố vụ án (KTVA)lần ngược tìm ra đầu mối buôn bán ma tuý Thực tiễn điều tra các TPVMT nóichung, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nóiriêng, cho thấy bắt quả tang chiếm tỷ lệ cao Điều này nói lên vai trò của hoạtđộng trinh sát trong phát hiện tội phạm Việc bắt đối tượng có thể bằng haihình thức: theo dõi bắt quả tang hoặc tạo cớ kiểm tra hành chính để phát hiện

ma tuý bắt giữ người phạm tội Hoạt động này là sự kết hợp nhuần nhuyễnnghiệp vụ trinh sát với hoạt động điều tra để không chỉ bắt được kẻ phạm tội,thu giữ được chất ma tuý mà còn không để lộ các nghiệp vụ trinh sát

* Tính phổ biến của hoạt động điều tra hỏi cung, đối chất trong quá trình điều tra các TPVMT: Các đối tượng trong loại tội phạm này thường có

mối quan hệ gia đình họ hàng, dòng tộc, có những luật chơi hà khắc nên khi

Trang 23

bị bắt, bọn chúng không chịu khai ra đồng bọn Do vậy, hỏi cung bị can, đốichất giữa các bị can với nhau, giữa bị can với nhân chứng không chỉ là hoạtđộng tố tụng, nghiệp vụ đơn thuần mà là một nghệ thuật, phải có phươngpháp và chiến thuật phù hợp với từng đối tượng, đồng thời phải có sự hỗ trợcủa những biện pháp trinh sát.

Hoạt động hỏi cung đối chất ở các TPVMT thường áp dụng đối với cácđối tượng bị bắt dạng truy xét, vì dạng này bị bắt qua lời khai của đồng bọnkhông có vật chứng

* Tính phổ biến áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt động điều tra các TPVMT: Xuất phát từ đặc điểm tội phạm học của nhóm

TPVMT là tính khép kín, có tổ chức cao nên việc áp dụng biện pháp ngănchặn với hình thức tạm giam trong quá trình điều tra nhóm tội này là phổ biếnthường được áp dụng trên thực tế với tỉ lệ gần như 100% Trong số các biệnpháp ngăn chặn thì tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất nhưng đồng thờicũng là biện pháp hiện tỏ ra hữu hiệu nhất để ngăn chặn không cho kẻ phạmtội tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho quá trình tiến hành tố tụng Đây

là điểm giống nhau giữa nhóm TPVMT và nhóm tội phạm an ninh Chủ thểnhóm tội phạm kinh tế chức vụ thường có những đặc điểm về thân nhân đặcbiệt như: có trình độ học vấn, có nghề nghiệp, tài sản… vì vậy họ thường cónhiều mối quan hệ xã hội có tính ràng buộc khiến họ ít khi bỏ trốn sau khiphạm tội, trừ trường hợp đặc biệt Do vậy đối với nhóm tội này áp dụng biệnpháp ngăn chặn tạm giam không có tính phổ biến bằng

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật các TPVMT khi KTBC hầu như bịáp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam Trừ một số trường hợp cácTPVMT nằm ở khoản 1 và khoản 2 của một số tội thì được tại ngoại phục vụđiều tra, đối tượng thường là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.Điều này nói lên tính nhân đạo của nhà nước ta đối với các loại tội phạm nóichung và TPVMT nói riêng

Trang 24

* Tính bắt buộc của hoạt động trưng cầu giám định chất ma túy: Theo

Luật và Thông tư 01 ngày 02/01/1998 của TANDTC – VKSNDTC – BNV thìtrưng cầu giám định chất ma túy là hoạt động điều tra bắt buộc nhằm xác định

số lượng và thành phần, chủng loại, hàm lượng Điều này có thể giải thích bởihai lý do sau đây: Thứ nhất, theo quy định của pháp luật không phải bất kỳ chấtgây nghiện và chất hướng thần nào cũng đều là ma túy do vậy phải có giámđịnh để xác định chất gây nghiện, hướng thần đó có nằm trong danh mục vềchất ma túy theo quy định của Chính phủ hay không Thứ hai là trong nhiềucấu thành TPVMT thì số lượng và chủng loại ma túy là yếu tố định khung tăngnặng Thí dụ cùng ở khoản 2 Điều 193 (sản xuất trái phép chất ma túy) thì đốivới nhựa thuốc phiện là từ 500 gam đến dưới một kílogam, cịn đối với heroin

là từ 5gam đến dưới 30gam Vì vậy, công tác giám định về ma tuý có tính phổbiến, có ý nghĩa to lớn và không thể thiếu được trong quá trình điều tra các vụán ma túy Không trưng cầu giám định chất ma túy trong các vụ án này sẽ là viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ được coi là một trong những căn cứ đểtrả hồ sơ điều tra bổ sung, để hủy bản án

1.3 NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KSĐT TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ 1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, đăng ký, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về ma tuý

Bộ luật TTHS năm 2003 quy định VKS có trách nhiệm tiếp nhận tốgiác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhưng không quy định VKSphải xác minh, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm mà nhiệm vụ này thuộc tráchnhiệm của CQĐT Ở TP.Hồ Chí Minh cơ quan cảnh sát điều tra về TPVMT lànơi tiếp nhận, đăng ký giải quyết tin báo tố giác TPVMT Trong hoạt độngnày VKS kiểm tra ba nội dung chủ yếu sau đây:

+ Về nghĩa vụ của CQĐT tiếp nhận và đăng ký tin báo về tội phạm vàbảo vệ người tố giác tội phạm

Trang 25

+ Về nghĩa vụ của CQĐT kiểm tra xác minh nguồn tin để QĐKT haykhông KTVA Luật không cho phép CQĐT tiến hành bất kỳ hoạt động điềutra nào ở thời điểm này trừ hoạt động khám nghiện hiện trường(Điều 150BLTTHS 2003).

+ Về thời hạn kiểm tra xác minh nguồn tin về tội phạm Luật quy định

là 20 ngày, trường hợp phức tạp là 2 tháng Hết thời hạn này CQĐT phải ramột trong hai quyết định: quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định khôngkhởi tố vụ án

1.3.2 Kiểm sát khởi tố vụ án ma tuý

Xét ở góc độ giai đoạn thì KTVA ma tuý là giai đoạn đầu tiên của quátrình tố tụng Theo quan điểm phổ biến giai đoạn này bắt đầu từ khi cơ quan

có thẩm quyền tiếp nhận những thông tin đầu tiên về tội phạm và kết thúcbằng việc ban hành quyết định khởi tố (QĐKT) hoặc không KTVA dựa trênnhững căn cứ luật định Xét ở hành vi tố tụng thì KTVA là hệ quả logic củaviệc xác minh giải quyết tin báo về tội phạm Quyết định KTVA là sự kiệnpháp lý kết thức giai đoạn này đồng thời mở đầu cho giai đoạn tiếp theo làgiai đoạn điều tra vụ án Khởi tố đúng đắn kịp thời là một trong những bảođảm quan trọng để phát hiện, ngăn chặn nhanh chóng, kịp thời đối với hành viphạm tội đã xảy ra Ngược lại, có thể dẫn đến kết quả để lọt tội phạm hoặc tộiphạm không bị phát hiện kịp thời tiếp tục gây tác hại, thực hiện tội phạmmới… Căn cứ khởi tố là khi thông tin về dấu hiệu tội phạm từ những nguồn

do luật định đã được xác minh là phù hợp với thực tế

Kiểm sát KTVA nhằm bảo đảm mọi TPVMT bị phát hiện đều bị khởi

tố, việc KTVA có căn cứ và hợp pháp Căn cứ duy nhất để quyết định khởi tốvụ án (QĐKTVA) hình sự là khi đã xác định sự kiện có dấu hiệu tội phạm,dựa trên năm cơ sở quy định tại điều 100 BLTTHS 2003 Bản chất của QĐKThay không KTVA hình sự chỉ là sự ghi nhận có hay không có sự kiện phạm tội

Trang 26

xảy ra trong thực tế chứ không đòi hỏi phải xác định được người thực hiệnhành vi phạm tội; QĐKTVA là cơ sở pháp lý cho CQĐT áp dụng các biệnpháp do luật định truy tìm thủ phạm cũng như làm sáng tỏ các tình tiết khácliên quan đến vụ án QĐKTVA phải nói rõ điều khoản của BLHS được ápdụng (Điều 104 BLTTHS 2003) khác với BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 đượcquy định về khả năng thay đổi QĐKTVA trong trường hợp có sự thay đổikhách quan về định tội danh trong quá trình điều tra tiếp theo Khi có căn cứxác định tội phạm được khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặccòn có tội phạm khác thì CQĐT, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sungQĐKTVA (Điều 106 BLTTHS 2003).

Quyết định không KTVA hình sự là hành vi pháp lý của người có thẩmquyền KTVA hình sự biểu hiện bằng một văn bản quyết định không tiến hànhhoặc chấm dứt mọi hoạt động TTHS đã hoặc đang tiến hành đối với sự kiệnpháp lý hoặc những thông tin thu được về những vụ việc, hành vi con ngườinào đó bị nghi vấn là tội phạm (Điều 107; 108 BLTTHS năm 2003)

1.3.3 Kiểm sát việc khởi tố bị can

Khi có đủ căn cứ xác định một người nào đó phạm tội thì tiến hànhkhởi tố bị can theo điều 126 BLTTHS QĐKTBC là việc CQĐT trong hìnhthức văn bản chính thức đưa ra lời cáo buộc đối với cá nhân cụ thể về nhữnghành vi có dấu hiệu tội phạm của người đó QĐKTBC là cơ sở pháp lý để ápdụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều trađối với người đó theo quy định của BLTTHS

Hoạt động kiểm sát KTBC thơng qua hình thức phê chuẩn với cácnội dung:

+ Kiểm sát nội dung của QĐKTBC phải đáp ứng khoản 2 Điều 126;+ Kiểm sát tính hợp pháp của quyết định: hình thức phải theo mẫu vàphải do người có thẩm quyền ra quyết định - Thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng

Trang 27

cơ quan điều tra chuyên trách, với các CQĐT không chuyên trách như Hảiquan, Biên phòng … phải phối hợp với Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự;

Tính hợp pháp cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc đảm bảo choviệc KTBC đúng pháp luật Chính vì vậy trong quá trình kiểm sát việc tuântheo pháp luật, KSV phải kiểm tra thẩm quyền của cơ quan và người raQĐKTBC có đúng theo quy định của pháp luật hay không: Trình tự ra quyếtđịnh; hình thức, nội dung của quyết định như: Họ tên, ngày tháng năm sinh,nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can; bị khởi tố về tội gì, theo điềukhoản nào của BLHS, thời gian địa điểm phạm tội, danh chỉ bản của bị can vàcác tình tiết khác có liên quan Nếu như bị can bị khởi tố về nhiều tội khácnhau thì trong QĐKTBC có ghi đủ tội danh và điều khoản của BLHS được ápdụng hay chưa

Sau khi nhận được QĐKTBC và các tài liệu kèm theo, KSV được phâncông phải trực tiếp kiểm tra và đánh giá các tài liệu chứng cứ do CQĐTchuyển đến Các tài liệu đó bao gồm:

- Các tài liệu do cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân kèm theo tin báo tốgiác tội phạm

- Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản và kết luận của giámđịnh viên về đối tượng được giám định

- Biên bản nhận dạng

- Lời khai của người bị hại, người làm chứng

- Biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ

- Biên bản hỏi cung bị can

- Biên bản đối chất

- Biên bản khám xét, thu giữ

Khi kiểm tra, đánh giá các tài liệu chứng cứ nêu trên, KSV cần kiểm tracác vấn đề sau:

Trang 28

* Kiểm tra về thủ tục tố tụng (để đảm bảo tính hợp pháp)

* Kiểm tra tính xác thực (để đảm bảo tính khách quan)

* Kiểm tra nội dung các tài liệu chứng cứ (để đảm bảo giá trị chứngminh của tài liệu, chứng cứ về hành vi phạm tội của bị can)

Sau khi đã nghiên cứu, kiểm tra xem xét các tài liệu và QĐKTBC, KSVphải báo cáo đề xuất với Viện trưởng để:

- Ra quyết định phê chuẩn QĐKTBC nếu xác định QĐKTBC củaCQĐT là có căn cứ và đúng pháp luật Sau đó làm thủ tục chuyển ngay choCQĐT để tiến hành điều tra

- Kiến nghị yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm nếu thấy sự vi phạmpháp luật trong việc KTBC, tùy theo mức độ vi phạm, có thể yêu cầu Thủtrưởng CQĐT xử lý đối với ĐTV đã vi phạm pháp luật

Trong trường hợp vụ án có chứng cứ quá yếu, không có căn cứ thì phảikiên quyết hủy QĐKTBC Trường hợp chứng cứ có nhưng chưa đủ, chưavững chắc thì đề xuất những biện pháp như: Trao đổi lại trong tập thể lãnhđạo, đồng nghiệp cơ quan, họp liên ngành hoặc xin ý kiến, thỉnh thị của cơquan cấp trên để tìm ra căn cứ tốt nhất để phê chuẩn

+ Kiểm sát tính có căn cứ của quyết định: Luật quy định khi có đủ căn

cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT raQĐKTBC (Khoản 1 Điều 126 BLTTHS 2003) Cách diễn đạt của điều luật dễdẫn đến nhận thức cho rằng QĐKTBC l kết luận bị can là người có tội, hành vicủa bị can được coi là tội phạm Điều này không phù hợp với nguyên tắc suyđoán vô tội Mặt khác luật chỉ quy định “đủ căn cứ” một cách rất định tính nêntrong thực tế đánh giá như thế nào là đủ căn cứ để ra QĐKTBC rất khác nhaugiữa CQĐT và VKS Riêng về quy định này chúng tôi cho rằng là phù hợp vìluật không thể quy định bao nhiêu chứng cứ là đủ để KTBC Sự khác biệt trongđánh giá chứng cứ giữa cơ quan tiến hành tố tụng là chuyện hoàn toàn bình

Trang 29

thường Điều quan trọng là luật đã quy định cơ chế giải quyết xung đột quanđiểm trong đánh giá chứng cứ Trong trường hợp này đánh giá chứng cứ củaVKS về căn cứ KTBC có tính quyết định, CQĐT phải chấp hành;

Đây là yêu cầu đầu tiên xét về mặt nội dung của hoạt động kiểm sátviệc khởi tố vụ án và khởi tố bị can Việc xem xét, kiểm tra các tài liệu phảibào đảm tính khách quan, toàn diện và đầy đủ, phải xác định được các tài liệu

đó đã chứng minh người bị khởi tố chính là người thực hiện hành vi phạm tội;

có lý lịch tư pháp rõ ràng và các yếu tố về năng lực trách nhiệm hình sự cũngnhư các tình tiết loại trừ khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên việc xác định một con người cụ thể đã thực hiện hành viphạm tội ở giai đoạn KTBC trong thực tiễn hoàn toàn không đơn giản, ngoạitrừ những trường hợp quả tang Phần lớn trong các trường hợp còn lại sau khikhởi tố vụ án, CQĐT phải tiến hành các hoạt động điều tra khác nhau như lấylời khai người bị hại, người làm chứng; xác minh, tra cứu tàng thư lưu trữ kếthợp với các biện pháp nghiệp vụ khác mới có thể xác định người đó thực hiệnhành vi phạm tội Chính vì vậy đòi hỏi KSV phải thường xuyên bám sát, theodõi, kiểm tra ngay từ các hoạt động điều tra đầu tiên như: trực tiếp tham giakhám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực hiện tốt công tác nắm vàquản lý thông tin tội phạm, phân loại và xử lý tin báo, tố giác tội phạm để làm

rõ hành vi phạm tội đã xảy ra và người thực hiện hành vi phạm tội đó đã bịKTBC Chỉ trên cơ sở phân tích, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá các tài liệu đã

có kết hợp với kết quả của kiểm sát các hoạt động điều tra, KSV mới xác địnhđược QĐKTBC của CQĐT là có căn cứ hay không

Qua thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, khi nghiên cứu hồ sơ tài liệucủa CQĐT chuyển qua VKS để phê chuẩn quyết định khởi tố vu án,QĐKTBC, các Cán bộ, KSV cần lưu ý các vấn đề sau:

Trang 30

* Nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án:

- Cân nhắc tối đa công văn đề nghị phê chuẩn QĐKTBC của CQĐT:Đọc tham khảo nội dung tóm tắt trong công văn đề nghị, xem những căn cứ

để đề nghị phê chuẩn

- Khai thác sâu biên bản phạm tội quả tang, gồm có các nội dung:Thẩm quyền xử lý ban đầu; lời khai của người phạm tội, người bị hại,người làm chứng và những người có liên quan, tang vật thu giữ…Đặc biệtchú ý đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội Nếu biênbản phạm tội quả tang được lập đúng quy định tại Điều 84 BLTTHS, ghichép đầy đủ diễn biến khách quan của hành vi phạm tội, mô tả chứng cứ,thái độ của đối tượng có hành vi phạm pháp và có ý kiến của người làmchứng, người có mặt tại nơi lập biên bản thì dù bị can có chối tội, phảncung cũng không thể bác bỏ biên bản này

- Các Biên bản ghi lời khai đối tượng, biên bản hỏi cung bị can, người

bị hại, người làm chứng, người có liên quan… phải được sắp xếp, phân loạitheo từng đối tượng nghiên cứu, sắp xếp các biên bản theo trình tự thời giantiến lên để có thể nghiên cứu hồ sơ đạt hiệu quả cao nhất

- Đối chiếu các lời khai của bị can chủ mưu, đồng phạm (nếu có) Nếuthấy có nhiều mâu thuẫn trong lời khai của các bị can thì có thể tiến hànhphúc cung bị can để làm rõ vấn đề

* Các chứng cứ tài liệu có liên quan:

Khi nghiên cứu một vụ án hình sự để xác định căn cứ để phê chuẩnQĐKTBC thì ngoài việc làm rõ động cơ, mục đích, phương tiện phạm tội của

bị can,… các Cán bộ, KSV cần xác định rõ giá trị tài sản bị chiếm đoạt, thiệthại, hậu quả, thương tích, yêu cầu khởi tố theo yêu cầu của người bị hại…(trong các vụ án xâm phạm sở hữu, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm) hoặc về vấn đề định tính, định lượng trong các vụ án ma túy

Trang 31

thì cần có Kết luận giám định hợp pháp của các Cơ quan có chuyên môn, cóthẩm quyền Phải sử dụng những thành tựu, kỹ thuật chuyên môn của những

cơ quan này phục vụ cho việc làm rõ nội dung vụ án Đồng thời các Cán bộ,KSV trong quá trình KS KTBC và cả các giai đoạn điều tra tiếp theo cũngphải biết khai thác, nhờ sự trợ giúp của tất cả những cơ quan, tổ chức, cá nhân

ở những lĩnh vực khác có liên quan đến vụ án (Vd: Cơ quan Giám định pháp

y, Cơ quan Thuế, Tài chính, Hải Quan, Bưu điện, Điện lực…) nhằm xác địnhcăn cứ để phê chuẩn QĐKTBC và làm sáng tỏ vụ án

* Đặt giả thiết tình huống bị can phản cung.

Do trong quá trình điều tra ban đầu, có thể vì những lý do gì đó bị can

đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Tuy nhiên sau khi đã phê chuẩn khởi

tố, CQĐT kết thúc điều tra chuyển VKS đề nghị truy tố, đến khi ra trước Tòaán xét xử thì bị can phản cung, không thừa nhận hành vi phạm tội

Do đó để có thể đối phó, giải quyết tốt đối với những trường hợp nàythì trong giai đoạn phê chuẩn QĐKTBC, mặc dù đã có căn cứ xác định hành

vi phạm tội của bị can nhưng các Cán bộ, KSV cũng không được chủ quan, tựmãn mà nên tự đặt ra những giả thuyết, những tình huống nếu bị can phảncung thì chúng ta cũng sẽ buộc lại được và có căn cứ để khẳng định chính bịcan là người đã thực hiện hành vi phạm tội

+ Kiểm sát thời hạn 24h để phê chuẩn; Theo đó, trong thời hạn 24 giờ,

kể từ khi ra QĐKTBC các TPVMT, CQĐT phải gởi QĐKT và tài liệu liênquan đến việc KTBC đó cho VKS để xem xét quyết định việc khởi tố; sau khixem xét VKS phê chuẩn hoặc không phê chuẩn nếu xét thấy không đủ căn cứ;

+ Kiểm sát về nghĩa vụ của CQĐT tống đạt QĐKTBC, quyết định phêchuẩn, quyết định hủy bỏ QĐKTBC cho bị can, quyết định thay đổi bổ sungQĐKTBC, nghĩa vụ giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can, trong đó cóquyền tự bào chữa hoặc bào chữa thông qua người khác Trong nhóm TPVMT

Trang 32

có 3 tội có hình phạt cao nhất là tử hình Do vậy, VKS phải quan tâm đến việctuân thủ quy định về người bào chữa bắt buộc theo Khoản 2 Điều 57

+ VKS xử lý các vi phạm về KTBC: Khi nhận được hồ sơ vụ án và bảnkết luận điều tra đề nghị truy tố mà phát hiện có người khác thực hiện hành viphạm tội trong vụ án nhưng chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyếtđịnh KTBC hoặc tự mình ra QĐKTBC và chuyển quyết định cùng tài liệu cóliên quan cho CQĐT để tiến hành điều tra CQĐT phải giao ngay QĐKT hoặckhông KTBC được sự phê chuẩn hoặc huỷ bỏ của VKS cho bị can để đảmbảo cho bị can thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Nếu phát hiệnQĐKTBC không đúng như không có hành vi phạm tội, sai thẩm quyền thìVKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định trên

+ Viện kiểm sát - Chủ thể có thẩm quyền KS KTBC

Viện kiểm sát tổ chức thực hiện chức năng Kiểm sát khởi tố bị can

Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002:

“Trong phạm vi chức năng của mình, VKSND có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật…”(Luật tổ chức viện kiểm sát năm 2002)

Trong chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT trongviệc điều tra các vụ án hình sự và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra thì riêng việc tổ chức thực hiện chức năng KSKTBC của VKS, một giai đoạn kiểm sát quan trọng nằm trong hoạt độngThực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS cũng được Luật vàcác văn bản, quy chế của Ngành quy định rất cụ thể:

Trang 33

Theo quy định tại Điều 36 của BLTTHS năm 2003 thì khi trực tiếp thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tốtụng đối với các vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS có nhiệmvụ, quyền hạn ra các quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn QĐKTBC của CQĐT khi không có căn cứ và trái pháp luật Với những quy địnhmới sửa đổi bổ sung nêu trên, cho thấy pháp luật đòi hỏi VKS phải có tráchnhiệm rất cao trong việc phê chuẩn QĐKTBC để đảm bảo việc truy cứu tráchnhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tạo điều kiện thuận lợicho việc điều tra vụ án, đảm bảo được tiến độ điều tra, giải quyết vụ án.Ngược lại, nếu để ra sai sót trong việc phê chuẩn QĐKTBC thì có thể gây khókhăn trực tiếp cho quá trình điều tra, giải quyết vụ án và có thể gây hậu quảkhông tốt về mặt chính trị, pháp lý hoặc dẫn đến xâm phạm đến quyền và lợiích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, dẫn đến oan sai, để lọt tộiphạm.

Để Viện trưởng, Phó viện trưởng phê chuẩn hay không phê chuẩn QĐKTBC của CQĐT được chính xác hay không chính xác; các KSV khi đượcphân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronghoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự phải làm tốt nhiệm vụ kiểm sát việckhởi tố Để công tác này đạt được hiệu quả cao thì khi trực tiếp tiến hành cáchoạt động tố tụng, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS phải chú trọng đề caovai trò, trách nhiệm pháp lý của KSV; tuân thủ đúng các quy định củaBLTTHS về thực hiện quyền kiểm sát việc KTBC, quyết định phê chuẩn QĐKTBC, bảo đảm một cách thận trọng, nhanh chóng, tính có căn cứ và hợppháp của việc khởi tố, quyết định phê chuẩn đúng thời hạn luật định, đáp ứngkịp thời theo đề nghị của CQĐT Đồng thời các KSV của VKSND phải tíchcực, chủ động bám sát hoạt động của ĐTV, kiểm sát chặt chẽ việc thu thậpchứng cứ, thiết lập hồ sơ vụ án; chú trọng kiểm sát việc khởi tố của CQĐT

Trang 34

nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp khởi tố thiếu chính xác và bỏ lọt tộiphạm; nghiên cứu kỹ hồ sơ, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, tham mưu choLãnh đạo Viện phê chuẩn những quyết định pháp lý của CQĐT một cách cócăn cứ; khi cần thiết chủ động tiến hành một số hoạt động điều tra theo quyđịnh của pháp luật TTHS nhằm củng cố thêm chứng cứ hoặc để làm rõ việc viphạm pháp luật của ĐTV trong quá trình điều tra vụ án.

Đồng thời Điều 36, Điều 37 BLTTHS cũng có những quy định cụ thể

về nhiệm vụ quyền hạn của Viện trưởng, Phó viện trưởng, KSV Tuy nhiên

so với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS 2003 có sự phân định tương đối rõràng giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng tố tụng hình sự, phânđịnh rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của từng người tiến hành tố tụng, nhưphân định giữa Viện trưởng, Phó viện trưởng, giữa lãnh đạo VKS với KSVkhi KS KTBC cũng như khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.Việc phân định này nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ độngtích cực của từng người tiến hành tố tụng Qua đó đảm bảo cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao hơn, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân đảm bảo tốt hơn

Qua quy định của BLTTHS năm 2003, chúng ta thấy cùng với việc tiếptục quy định VKS có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xét phê chuẩn, khôngphê chuẩn các quyết định của CQĐT trong việc bắt khẩn cấp, việc gia hạntạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam; BLTTHS 2003 có mộtthay đổi rất quan trọng nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm pháp lý của VKStrong thực hành quyền công tố và KSĐT, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm vàngười phạm tội, không làm oan người vô tội Đó là việc quy định VKS cóquyền hạn KS KTBC, có nhiệm vụ xét phê chuẩn QĐKTBC của CQĐT; xétphê chuẩn QĐ thay đổi, bổ sung QĐKTBC

Hoạt động KSVTTPL trong việc KTBC không chỉ là quyền, mà còn là

Trang 35

nhiệm vụ của VKS nhằm đảm bảo CQĐT khởi tố đúng người, đúng tội, đúngpháp luật, đảm bảo hoạt động điều tra đúng đắn, kịp thời, chuẩn bị tốt cho giaiđoạn truy tố, xét xử sau này Quá trình hoạt động KSĐT sẽ bảo đảm cho việcKTBC chính xác, đúng theo quy định của pháp luật, khắc phục kịp thời những

vi phạm pháp luật, làm oan sai người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm

1.3.4 Kiểm sát việc áp dụng, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn

Biện pháp ngăn chặn là dạng biện pháp cưỡng chế do các cơ quan tiếnhành tố tụng áp dụng với người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bịkết án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng cần thiết phải ngăn chặn tộiphạm, ngăn chặn việc họ gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử, thi hànhán Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏinơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị Những biện pháp này bảođảm cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạtđộng của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi

Bắt bị can bị cáo để tạm giam (Điều 80 BLTTHS) là bắt người đã bị

khởi tố về hình sự hoặc người đã bị TA quyết định đưa ra xét xử, người có thể

bị bắt tạm giam chỉ có thể là bị can bị cáo Xuất phát từ đặc điểm, tính chất,phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi TPVMT, hình thức “bắt bị can đểtạm giam” chiếm đa số và được ban hành đồng thời với các QĐKTBC Docác TPVMT đều thực hiện có tổ chức, việc xem xét phê chuẩn lệnh bắt các bịcan cần tiến hành đồng loạt, tránh bắt lẻ tẻ, đánh động các bị can khác tìmcách đối phó, gây khó khăn cho quá trình điều tra Luật quy định tuỳ nghi “cóthể áp dụng”, nên cùng với việc xem xét các căn cứ luật định, điều không kémphần quan trọng là việc nhận định về sự cần thiết hay không cần thiết phảibắt Các đặc điểm nhân thân của bị can trong các TPVMT hỗ trợ cho nhậnđịnh này dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều so với án kinh tế

Bắt người có phải là biện pháp ngăn chặn độc lập hay không? Vấn đề

Trang 36

này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng; bắt không phải làbiện pháp ngăn chặn độc lập mà luôn gắn liền với giữ hoặc giam Theochúng tôi bắt người là biện pháp ngăn chặn độc lập Bắt gắn liền với giữhoặc giam Song, điều đó không có nghĩa trong mọi trường hợp bắt người làphải tạm giữ Đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tộiquả tang không nhất thiết phải tạm giữ Có những trường hợp sau khi nhậnngười bị bắt, CQĐT không ra lệnh tạm giữ mà trả tự do cho người bị bắt.Như vậy rõ ràng bắt người trong trường hợp khẩn cấp và phạm tội quả tangđộc lập với tạm giữ.

Đối với bắt bị can, bị cáo để tạm giam, trường hợp này được hiểu là haibiện pháp ngăn chặn được thực hiện đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại Đểtạm giam họ đòi hỏi phải tiến hành bắt Trong trường hợp này, bắt là điều kiệnáp dụng cho biện pháp tạm giam và tạm giam được thực hiện sau khi bắt Vìvậy, trong thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng thường ra một lệnh chung ápdụng hai biện pháp ngăn chặn “Lệnh bắt và tạm giam bị can (bị cáo)”

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 81, 82 BLTTHS).

- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS,thì trong hồ sơ phải có tài liệu chứng minh rằng, người đó đang thực hiệnphạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 BLTTHSthì trong hồ sơ đề nghị VKS phê chuẩn phải phản ánh hai điều kiện: Một là,người bị hại hoặc người có mặt ở nơi xảy ra tội phạm đã chính mắt trông thấyngười đó thực hiện tội phạm, nay gặp lại và xác nhận đúng là người thực hiệntội phạm Hai là, có tài liệu, chứng cứ thực hiện tội phạm này đang trốn hoặc

có thể trốn, thấy cần ngăn chặn ngay việc bỏ trốn của người đó

Trang 37

Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81 BLTTHS,thì trong hồ sơ phải thể hiện các tài liệu ghi nhận dấu vết, tài liệu, đồ vật liênquan đến tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc của người bị nghithực hiện tội phạm đó và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặctiêu huỷ chứng cứ.

- Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực

hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt Căn cứ bắt người trong trườnghợp khẩn cấp và phạm tội quả tang có nhiều điểm gần giống nhau, chỉ khác

về thủ tục tiến hành, nhưng được quy định tại hai điều luật khác nhau Đốivới tội phạm về kinh tế, do tội phạm thực hiện kín đáo, thủ đoạn tinh vi, khóphát hiện nên việc bắt người trong hai trường hợp này rất hạn chế CácTPVMT thường bị phát hiện thông qua các chuyên án, trinh sát, tin báo củacác quần chúng nên thường bắt người trong hai trường hợp này Đối tượng

bị bắt trong hai trường hợp này mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội, chưaphải bị can, việc bắt họ xuất phát từ sự cấp bách của tình thế buộc phải ngănchặn ngay hành vi đe dọa gây thiệt hại hoặc tiếp tục gây thiệt hại cho nhànước, công dân, ngăn ngừa người bị tình nghi phạm tội bỏ trốn hoặc tiêu huỷchứng cứ, tài liệu

- Bắt người đang bị truy nã: truy nã không phải là biện pháp ngăn chặn

mà là hoạt động truy tìm của CQĐT do sự trốn tránh của đối tượng, khôngxác định được bị can đang ở đâu; khi kiểm sát trong trường hợp này phảikiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng đã tiếnhành trước đó BLTTHS quy định duy nhất đối tượng bị truy nã là bị can,nhưng lại quy định việc bắt họ chung trong cùng điều luật với bắt người trong

trường hợp quả tang là người mới bị tình nghi phạm tội; Theo chúng tôi như

vậy là không hợp lý vì họ có địa vị tố tụng hoàn toàn khác nhau.

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ (Điều 86 BLTTHS); Tạm giữ

Trang 38

là biện pháp ngăn chặn do cơ quan có thẩm quyền quyết định tước đoạt tự do

có thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tanghoặc khẩn cấp nhằm thu thập thêm chứng cứ, tài liệu để đi đến QĐKT haykhông KTBC đối với người bị tạm giữ Hiện nay, còn cho phép tạm giữ người

bị bắt theo quyết định truy nã

Cơ quan điều tra chỉ ra lệnh tạm giữ sau khi có sự phê chuẩn của VKS

về việc bắt khẩn cấp Trường hợp CQĐT ra lệnh tạm giữ trước khi VKS phêchuẩn bắt khẩn cấp là vi phạm TTHS Điều này được khẳng định trong côngvăn số 2739/VKSTC-KSĐTTA ngày 4/10/2002 của VKSNDTC

Trong thực tiễn hoạt động kiểm sát còn có nhiều ý kiến khác nhau về bắt

và tạm giữ Vấn đề thứ nhất, sau khi bắt khẩn cấp (trường hợp được VKS phêchuẩn), chủ thể có thẩm quyền nhất thiết phải ra lệnh tạm giữ đối với người bịbắt không? Hiện có hai quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, sau khibắt khẩn cấp nhất thiết phải ra lệnh tạm giữ đối với người bị bắt; quan điểmkhác lại cho rằng, tạm giữ chỉ có thể được áp dụng đối với người bị bắt trongtrường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang Vấn đề thứ hai: Phê chuẩn củaVKS đối với trường hợp bắt khẩn cấp có bao gồm cả phê chuẩn lệnh tạm giữkhông? Hiện có hai quan điểm khác nhau: Thứ nhất; phê chuẩn của VKS đốivới trường hợp bắt khẩn cấp bao hàm cả phê chuẩn lệnh tạm giữ, nên việc tạmgiữ sau khi bắt khẩn cấp là bắt buộc Tác giả Trần Mạnh Hà là một trong nhữngngười có cùng quan điểm này Quan điểm hai cho rằng, phê chuẩn của VKS đốivới trường hợp bắt khẩn cấp không bao hàm phê chuẩn lệnh tạm giữ, mà đó chỉ

là phê chuẩn biện pháp ngăn chặn “bắt người” Theo chúng tôi quan điểm thứhai là có cơ sở, vì: nếu cho rằng, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp phải

bị tạm giữ trong mọi trường hợp, còn người bị bắt trong trường hợp phạm tộiquả tang thì chỉ “có thể” tạm giữ là không có cơ sở BLTTHS 2003 không cóđiều luật nào quy định và phân biệt đối với trường hợp bắt khẩn cấp thì bắt

Trang 39

buộc phải tạm giữ, còn trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì chỉ “có thể”tạm giữ Mà BLTTHS 2003 chỉ quy định có thể áp dụng biện pháp tạm giữ cho

cả hai trường hợp bắt khẩn cấp và quả tang

Bộ Luật TTHS 2003 không quy định VKS phê chuẩn lệnh tạm giữ.VKS chỉ phê chuẩn gia hạn tạm giữ Nếu xét thấy không cần thiết thì CQĐTkhông ra lệnh tạm giữ sau khi bắt khẩn cấp Nếu cho rằng việc phê chuẩn bắtngười trong trường hợp khẩn cấp được coi như cả phê chuẩn lệnh tạm giữ, thìđiều đó có nghĩa bắt buộc CQĐT phải ra lệnh tạm giữ trong mọi trường hợp.Nếu CQĐT căn cứ vào khoản 1 điều 79; khoản 1, 2 điều 86 BLTTHS không

ra lệnh tạm giữ người bị bắt, thì xét về góc độ quy định của pháp luật hiệnhành không thể nói CQĐT không ra lệnh tạm giữ là trái luật Do đó phê chuẩnbắt khẩn cấp không bao hàm cả phê chuẩn lệnh tạm giữ Cho rằng VKS phêchuẩn bắt khẩn cấp bao hàm cả lệnh tạm giữ nên theo tác giả Trần Mạnh Hàtrong thời gian tạm giữ nếu có căn cứ thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giữbằng biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnhthì do VKS quyết định Theo chúng tôi ý kiến của tác giả Trần Mạnh Hà làkhông phù hợp, vì BLTTHS 2003 không quy định việc thay đổi biện phápngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn khác mà chỉ quy định: “Nếu xétthấy việc tạm giữ không có căn cứ, thì VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết địnhtạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạmgiữ” Mặt khác, theo quy định tại điều 91,92 BLTTHS thì cấm đi khỏi nơi cưtrú và bảo lĩnh là hai trong những biện pháp ngăn chặn chỉ có thể áp dụng đốivới bị can, bị cáo Người bị tạm giữ là người chưa bị khởi tố về mặt hình sựnên họ khác bị can, bị cáo Do đó, không thể thay đổi biện pháp ngăn chặntạm giữ đối với người bị tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi

cư trú hoặc bảo lĩnh Nhưng ở góc độ thực tiễn chúng tôi cho rằng quan điểmcủa tác giả Trần Mạnh Hà là hợp lư vì khi CQĐT chuyển hồ sơ sang VKS

Trang 40

xem xét phê chuẩn thì có cả lệnh tạm giữ ở trong hồ sơ Nếu VKS phê chuẩnlệnh bắt khẩn cấp thì mặc nhiên VKS cũng đã đồng ý với quyết định tạm giữcủa CQĐT Thực tế hiện nay khi bắt giữ người có hành vi phạm tội CQĐTthường ra lệnh tạm giữ kèm theo hồ sơ gửi sang VKS để đề nghị phê chuẩnbắt khẩn cấp hoặc phê giam trong trường hợp bắt quả tang Cho nên, xét vềnguyên tắc tạm giữ là cái có trước mà khi đã phê chuẩn cái sau (tạm giam) thìđương nhiên là cái có trước cũng có hiệu lực thi hành.

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam và thời hạn tạm giam (Điều

88 BLTTHS); đây là biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắcnhất Những căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam cũng chính là biện pháp bắt

bị can để tạm giam và lệnh tạm giam chỉ có giá trị thi hành khi có sự phêchuẩn của VKS Theo chúng tôi, khi xem xét phê chuẩn lệnh tạm giam bị can

có thể chia thành các nhóm sau:

Nhóm những bị can không ổn định về nghề nghiệp hoặc nơi cư trú;nhóm này thường vi phạm ở các TPVMT ở mức độ nhỏ về quy mô cũng như

số lượng; ví dụ vận chuyển, tàng trữ, tổ chức, chứa chấp, sử dụng trái phépchất ma tuý Do thành phần nhân thân như trên, họ thường hay lẫn tránh bỏtrốn Phê chuẩn lệnh tạm giam đối với họ luôn đặt ra để loại trừ khả năng bỏtrốn hoặc tiếp tục phạm tội Qua quá trình kiểm sát, chúng tôi thấy tội phạmcủa nhóm người này có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ thuận với thành phầnngười nhập cư bất hợp pháp vào thành phố Thời hạn tạm giam để điều tra đốivới họ thường đảm bảo, ít phải gia hạn nhưng khó khăn lớn nhất với nhómnày là các quyết định uỷ thác điều tra về xác minh lý lịch tại địa phương nơi

họ đăng ký thường trú thường hay bị dây dưa kéo dài, do đường đi xa và cácCQĐT các tỉnh làm rất chậm Nhóm bị can là những Giám đốc công ty, Chủdoanh nghiệp tư nhân; nhóm người này thường lợi dụng danh nghĩa hợp phápcủa mình để thực hiện các hành vi phạm tội Nhóm này khi bị khởi tố thường

Ngày đăng: 16/06/2021, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Nguyễn Thị Mai Nga (2008),“Quan hệ phối hợp giữa VKSND với CQĐT trong giải quyết các vụ án ma túy”. NXB CAND. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Quan hệ phối hợp giữa VKSND với CQĐTtrong giải quyết các vụ án ma túy"”
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Nga
Nhà XB: NXB CAND. Hà Nội
Năm: 2008
25. Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT - BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẩn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cáctội phạm về ma túy
35. VKSND Tối cao - Viện Khoa học kiểm sát, (2006), Sổ tay KSV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay KSV
Tác giả: VKSND Tối cao - Viện Khoa học kiểm sát
Năm: 2006
1. Ban chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự. tài liệu tập huấn chuyên sâu về bộ luật hình sự năm 1999. Nhà in Bộ Công an Hà Nội, 2000 Khác
4. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2003 5. Mai Bộ (1995). Phân loại tội phạm trong Phần chung Bộ luật hình sự. Tạpchì Tòa án nhân dân, số 9 Khác
6. Lê Cảm (2001). Bàn về bất đắc dĩ phải gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong khi bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và mô hình lý luận của nó. – tạp chí Kiểm sát, số 11 Khác
7. Lê Cảm (2000). Chế định các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam – Tạp chí Luật học, số 3 Khác
8. Lê Cảm (2000). Đạo luật hình sự: Một số vấn đề lý luận cơ bản- Tạp chí Tóa án nhân dân, số 11 Khác
9. Lê Cảm (1999). Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung).NXB Công an nhân dân. Hà nội Khác
10. Lê Cảm (2005). Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Trên cơ sở BLHS năm 1999) – Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7(4) Khác
11. Lê Cảm (2005). Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Trên cơ sở BLHS năm 1999) – Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8(4) Khác
12. Lê Cảm (2002). Về bản chất pháp lý của các khái niệm: miễn trách nhiệm hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự - Tạp chí Kiểm sát số 01 Khác
13. Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt (2004). Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt – Tạp chí Khoa học pháp lý số 2 Khác
14. Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Bộ chính tri về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000 Khác
15. Công ước thống nhất các chất ma túy năm 1961, công ước về cá chất hướng thần năm 1971 và công ước về chống buôn bán bất hợp pháp về các chất gây nghiện và các chất hướng thần năm 1988 Khác
16. Nguyễn Ngọc Hòa (2000) Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. – Tạp chí Luật học số 2 Khác
17. Trần Quốc Hoàn. Một số nhận xét về trách nhiệm hình sự trong một vụ án có đồng phạm – Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/1995 Khác
18. Luật phòng chống ma túy. Nghị định số 133/2003/NĐ-CP (Bổ sung một số chất vào danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001) Khác
20. Nghị định của chính phủ số 67/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2001 ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất Khác
21. Nghị Quyết của Tòa án nhân dân tối cao số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 193; 194;278; 279 và 289 Bộ luật hình sự năm 1999 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w