Luận văn ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Luận văn ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Luận văn ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÃ THỊ ANH HOA
ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÃ THỊ ANH HOA
ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lã Thị Anh Hoa
Trang 5quốc gia
20
1.2.1 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Nhật Bản 201.2.2 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Liên bang Nga 221.2.3 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Thụy Điển 241.3 Khái quát về đăng ký bất động sản theo pháp luật Việt Nam
qua các thời kỳ
26
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995 271.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2005 27
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
Trang 62.1.1 Nhận xét chung về pháp luật đăng ký bất động sản của Việt
Nam hiện nay
đăng ký bất động sản
48
2.2.2 Tính thống nhất trong cách hiểu về bản chất và giá trị pháp
lý của hoạt động đăng ký bất động sản
49
2.2.3 Về tính công khai, minh bạch thông tin về bất động sản 522.2.4 Về nội dung đăng ký bất động sản 542.2.5 Về mô hình cơ quan đăng ký bất động sản 63
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
3.1.2 Kết hợp vai trò của Nhà nước trong hoạt động đăng ký bất
động sản với việc tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể có
Trang 73.1.5 Xây dựng thủ tục đăng ký bất động sản đơn giản, dễ áp
dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân
74
3.1.6 Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên
thế giới nhằm hoàn thiện pháp luật đăng ký bất động sản
Đối với các văn bản pháp luật chuyên ngành 78
3.2.2 Xây dựng văn bản pháp lý chuyên ngành về đăng ký bất
Tiến tới thống nhất một loại Giấy chứng nhận cho quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
85
3.2.2.5
Xây dựng hệ thống cơ quan đăng ký bất động sản thống
nhất, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về bất động
sản và chức năng của cơ quan đăng ký
86
3.2.2.6
Xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan
chuyên môn với nhau
88
3.2.2.7
Nâng cao trách nhiệm cung cấp thông tin về bất động sản
cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu
89
3.2.2.8
Đơn giản hóa trình tự, thủ tục đăng ký trong các quy định
của Luật Đăng ký bất động sản
90
Trang 8KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý giá và có vai tròquan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đó là tàinguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọngcủa môi trường sống, là địa bàn để phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh
Hệ thống quản lý đất đai chặt chẽ và chính sách đất đai phù hợp sẽ tácđộng tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong đóhoạt động đăng ký bất động sản là công cụ cốt lõi, thiết thực của hệ thốngquản lý đất đai và bất động sản, là phương tiện hữu ích giúp công tác nàyđược thực hiện có hiệu quả, điều tiết hoạt động của thị trường bất động sản và
là công cụ không thể thiếu được để xác định các nguồn thu từ đất đai và tàisản gắn liền với đất Phát triển và quản lý tốt các thông tin và hoạt động liênquan đến bất động sản, đặc biệt là đất đai là điều kiện quan trọng để sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá của đất nước
Chính do tầm quan trọng đó mà trong thời gian qua đã có một số côngtrình đề cập đến hệ thống đăng ký đất đai và bất động sản ở các góc độ vàmức độ chi tiết khác nhau Đặc biệt là việc năm 2008, Bộ Tư pháp, Bộ Tàinguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng đã họp bàn về việc xây dựng Dự thảoLuật đăng ký bất động sản và lấy ý kiến của các chuyên gia Các chuyên gia,các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và xây dựng ýkiến đóng góp cho dự thảo Tuy nhiên, đến nay, việc trình Quốc hội thông quavẫn còn gặp nhiều vướng mắc
Trên thực tế, hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản của nước tacòn thiếu và chưa thống nhất Mặt khác, pháp luật chưa phân biệt đăng ký bất
Trang 10động sản hay đăng ký quyền đối với bất động sản nên thẩm quyền của cơquan đăng ký nhà nước trong việc xác định tài sản và đăng ký giao dịch về tài
sản chưa được xác định cụ thể Đề tài "Đăng ký bất động sản theo pháp luật
Việt Nam" của luận văn thạc sĩ Luật học thuộc chuyên ngành Luật dân sự và
tố tụng dân sự, mã số 60.38.01.03 góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luậncủa các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký bất động theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành Đồng thời qua phân tích, nghiên cứu thực tiễn ápdụng pháp luật phát hiện và chỉ rõ những điểm còn bất cập, vướng mắc, chưathống nhất của các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này Từ đó đưa ranhững kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật đăng
ký bất động sản tại Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề đăng ký bất động sản hiện nay,nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến vấn đề này và có nhiều công trìnhnghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Một số công trình nghiên cứutiêu biểu có thể kể đến như:
- TS Nguyễn Minh Tuấn, "Đăng ký bất động sản - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn", Nxb Chính trị quốc gia, 2011;
- TS Nguyễn Minh Tuấn, "Đăng ký bất động sản - những vấn đề lý
luận và thực tiễn", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (Trường Đại học
Luật Hà Nội), 2010;
- Bùi Thị Liên, "Đăng ký bất động sản - một số vấn đề lý luận và thực
tiễn", Khóa luận tốt nghiệp (Trường Đại học Luật Hà Nội), 2010;
- TS Nguyễn Ngọc Điện, "Đăng ký bất động sản và vấn đề xác lập,
công nhận các quyền liên quan đến bất động sản", Kỷ yếu Hội thảo: Pháp
luật về đăng ký bất động sản, Hà Nội, 2007
Trang 11Ngoài ra còn có nhiều bài viết về đề tài này của các nhà nghiên cứu.Các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, toàn diện và đề cập đến một
số vấn đề hoạt động đăng ký bất động sản hiện nay Các công trình nghiêncứu nêu trên đã bước đầu đưa ra những nghiên cứu, đánh giá ban đầu về phápluật đăng ký bất động sản hiện hành của Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nayhầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có nội dung cập nhật với cácquy định hiện hành liên quan đến đăng ký bất động sản và thực trạng của việc
đăng ký bất động sản trong bối cảnh hiện nay Với đề tài "Đăng ký bất động
sản theo pháp luật Việt Nam" tác giả tập trung nghiên cứu một cách toàn diện,
có tính hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng về đăng
ký bất động sản hiện nay, để từ đó đưa ra những giải pháp cho vấn đề này
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, đa số các quốc gia như Nhật Bản, Thụy Điển, Đức,Pháp đều có hệ thống đăng ký bất động sản hình thành sớm và đã trải quamột quá trình phát triển lâu dài Nhật Bản ban hành Luật đăng ký bất độngsản năm 1899; Hàn Quốc ban hành Luật đăng ký bất động sản năm 1960;Pháp ban hành nghị định về cơ chế công bố các giao dịch về bất động sảnnăm 1955 v.v Các quốc gia này đã đều ban hành một đạo luật thống nhất vềđăng ký bất động sản đồng thời xây dựng được một hệ thống đăng ký bấtđộng sản tập trung, thuận tiện và hiệu quả
Đối với vấn đề đăng ký bất động sản, các quốc gia trên thế giới trongquá trình xây dựng hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản cũng đã tổchức những hội thảo quy mô, tập hợp các công trình nghiên cứu, lý luận củanhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có thể kể đến như Hội thảo về Cải cáchđất đai, bao gồm pháp luật đất đai và hệ thống đăng ký đất đai, tại Stockholmvào ngày 16-17 tháng 6 năm 1996; các hội thảo của Ủy ban kinh tế của Liênhợp quốc tại Châu Âu bàn về chính sách đất đai và hệ thống quản lý đất đaitại Châu Âu trong tiến trình phát triển
Trang 12Như vậy, có thể thấy các quốc gia trên thế giới đã quan tâm phát triển
hệ thống đăng ký bất động sản một cách toàn diện Việc nghiên cứu đưa rabức tranh toàn cảnh về pháp luật đăng ký bất động sản tại Việt Nam trên cơ sởđánh giá, phân tích, so sánh các quy định về đăng ký bất động sản của một sốquốc gia là hoạt động cần thiết để tiến tới hoàn thiện pháp luật đăng ký bấtđộng sản của Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề liênquan đến các quy định về hoạt động đăng ký bất động sản, phương thức quản
lý và ý nghĩa của việc đăng ký bất động sản hiện nay theo quy định của Bộluật dân sự năm 2005, Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thihành Qua đó có sự so sánh, đối chiếu với các quy định trước đây của phápluật Việt Nam và quy định của pháp luật một số quốc gia về vấn đề này nhằmchỉ ra những điểm cần học hỏi để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng kýbất động sản ở Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận vềđăng ký bất động sản, qua đó xây dựng các khái niệm, các đặc điểm, vai trò
và ý nghĩa của việc đăng ký bất động sản hiện nay Đồng thời tìm hiểu và có
sự so sánh một cách có hệ thống về các quy định của pháp luật hiện hành điềuchỉnh vấn đề này so với các quy định của pháp luật trước đó và hệ thống phápluật về đăng ký bất động sản của các quốc gia khác
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký bấtđộng sản Từ đó phân tích cụ thể các nội dung của hoạt động đăng ký bất độngsản Qua phân tích, luận văn cũng chỉ ra những điểm bất cập, chưa hợp lý,chưa thống nhất của các quy định pháp luật từ đó làm cơ sở cho các kiến nghịnhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này
Trang 13- Trên cơ sở phân tích nội dung và thông qua tìm hiểu thực tiễn ápdụng những quy định của pháp luật của các cơ quan và các cá nhân, doanhnghiệp trong việc đăng ký bất động sản, luận văn đưa ra một số kiến nghị và
đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật
về vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với việc sử dụng phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra trong quátrình nghiên cứu đề tài những phương pháp khoa học như: So sánh, phân tích,tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tàiđặt ra
6 Những điểm mới của luận văn
- Luận văn khái quá hóa và liên hệ so sánh với pháp luật về đăng kýbất động sản ở các nước
- Luận văn phân tích những vướng mắc trong quá trình thực hiện việcđăng ký bất động sản
- Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập của những quy định phápluật về đăng ký bất động sản, từ đó làm cơ sở cho những kiến nghị nhằm hoànthiện những quy định của pháp luật về vấn đề này
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khái quát
và cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làmcông tác áp dụng pháp luật trong hoạt động đăng ký bất động sản Trên cơ sở
đó giúp cho cá nhân, tổ chức nắm được các quy định của pháp luật về đăng kýbất động sản để bảo vệ quyền và lợi ích của mình đối với bất động sản thôngqua việc đăng ký nhà nước Góp phần hạn chế những tranh chấp và vướng
Trang 14mắc có thể xảy ra trong quá trình quản lý bất động sản của các cá nhân, tổchức và của nhà nước.
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đăng ký bất động sản.
Chương 2: Pháp luật và áp dụng pháp luật về đăng ký bất động sản ở
Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các biện pháp hoàn thiện pháp luật đăng
ký bất động sản ở Việt Nam
Trang 15Tài sản có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau do cùng là tàisản nhưng do tính chất, đặc điểm và phương cách sử dụng khác nhau nên việcphân loại sẽ giúp hoạt động quản lý và sử dụng tài sản được thực hiện một cáchhiệu quả hơn Dựa trên các cách thức phân loại tài sản khác nhau, nhà làmluật sẽ xác lập các quyền và biện pháp quản lý đối với từng loại tài sản đó
Đối với tài sản, có thể tiếp cận theo hướng tài sản được hình dung nhưmột quyền Tùy theo quyền có thể được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua vaitrò của một chủ thể khác, người ta phân biệt giữa vật quyền và trái quyền Dotính chất quan trọng của vật quyền, đặc biệt là do ảnh hưởng sâu rộng của nóđối với đời sống xã hội và giao lưu dân sự nói riêng, người làm luật có xuhướng đòi hỏi vật quyền phải được luật ghi nhận mới được coi là tồn tại hợppháp và được bảo vệ Cũng bằng phương pháp loại suy, người ta nói rằngnhững tài sản không phải là vật quyền, thì được gọi là trái quyền Theo thời
Trang 16gian, có một loại quyền thứ ba, gắn với giá trị kinh tế của các công trình laođộng trí óc như tác phẩm văn chương, khoa học, nghệ thuật, gọi là quyền sở hữutrí tuệ, đứng bên cạnh vật quyền và trái quyền như một loại tài sản đặc thù.
Tuy nhiên, xét về mặt tài sản hữu hình, pháp luật lại có sự phân loạitài sản thành động sản và bất động sản Đây là cách phân loại đã có từ thời La
Mã cổ đại và pháp luật của hầu hết các nước đều coi đây là sự phân loại phổbiến và cơ bản nhất Theo Luật La Mã, bất động sản không chỉ bao gồm đấtđai và của cải trong lòng đất mà còn bao gồm cả những thứ được tạo ra do sứclao động của người khác trên đất của mình Bất động sản bao gồm các côngtrình xây dựng, mùa màng, cây trồng và tất cả những gì liên quan trên đấthay gắn liền với đất, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấuthành nên lãnh thổ (khoảng không, lòng đất)
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thống nhất ở chỗ coi bất độngsản gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai, không tách rời với đấtđai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật dân sự Cộnghòa Pháp, Điều 86 Luật dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật dân sự Liên bangNga, Điều 94, 96 Luật dân sự Cộng hòa liên bang Đức ) Trong khái niệm vềbất động sản, đa số các quốc gia không đưa định nghĩa cụ thể về bất động sản
mà sử dụng phương pháp liệt kê các loại tài sản là bất động sản dựa trên tínhchất không di dời được của tài sản, mục đích, phương thức sử dụng tài sản vàgiá trị của tài sản Tuy vây, riêng Luật dân sự của Liên bang Nga đưa ra kháiniệm về bất động sản vừa theo phương pháp liệt kê theo cách của Luật dân sựtruyền thống vừa đưa ra định nghĩa chung về bất động sản là "những đốitượng mà dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị của chúng" (Điều 130) và cáctrường hợp đặc biệt như máy bay, tàu biển, phương tiện hàng không vũ trụ cũng được coi là bất động sản
Ở Pháp và một số quốc gia khác, việc phân loại tài sản cũng dựa trênviệc phân chia tài sản thành động sản và bất động sản Theo quy định tại
Trang 17Điều 517 Bộ luật dân sự Pháp thì có ba căn cứ, cơ sở để phân loại tài sản đó
là tính chất, mục đích sử dụng và đối tượng gắn liền với tài sản Dựa trên batiêu chí này, pháp luật Pháp quy định cụ thể tài sản nào là bất động sản, tài sản
nào là động sản Bất động sản có thể được phân chia thành các dạng gồm: (i)
Bất động sản xác định dựa trên đặc tính vật lý thực tế như đất đai, nhà cửa,công trình, cây cối và các đồ vật không thể tách rời với bất động sản (Điều 517
Bộ luật dân sự Pháp); (ii) Bất động sản do công cụ, các vật động sản hữu hình
nhưng được gắn với loại bất động sản nêu trên do có ý thức của con ngườinên được coi là động sản Dựa vào những tiêu chí như trên, pháp luật Phápquy định cụ thể tài sản nào là bất động sản, tài sản nào là động sản Điều 520
Bộ luật dân sự Pháp quy định: "Mùa màng chưa gặt, trái cây chưa hái cũng làbất động sản, các loại hạt đã gặt và trái cây đã hái, dù chưa được đem đi đượccoi là động sản" [28]
Hay như việc phân loại tài sản theo pháp luật Nhật Bản là dựa trêntính chất không di dời và giá trị kinh tế của tài sản Pháp luật Nhật Bản quanniệm rằng bất động sản có vị trí cố định và giá trị kinh tế cao hơn động sản
Do đó sự quản lý của Nhà nước cũng như các quyền đối với bất động sản quyđịnh tương đối chặt chẽ, bất động sản được pháp luật bảo vệ như nền tảng củagia đình và xã hội (Điều 86, khoản 1, Điều 12 Bộ luật dân sự Nhật Bản)
Như vậy, có thể thấy hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới
đa phần xác định bất động sản theo phương thức miêu tả cụ thể những tài sảnđược coi là bất động sản, những tài sản còn lại được coi là động sản Sở dĩphương thức này được sử dụng rộng rãi là do những tài sản được coi là bất độngsản có phạm vi tương đối hẹp, và có thể xác định được một cách tương đối
Việc phân loại bất động sản và động sản theo pháp luật Việt Namđược xác định dựa trên tính chất, tính năng sử dụng của tài sản Bộ luật dân sựnăm 1995 đã quy định về bất động sản dựa theo tính chất của tài sản, khoản 1Điều 181 quy định:
Trang 18Bất động sản là các tài sản không di, dời được bao gồm:a) Đất đai;
b) Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cảcông trình gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định [32]
Theo quy định trên thì việc xác định tài sản là bất động sản chủ yếu làdựa vào đặc tính không di dời được của tài sản Tuy nhiên, Bộ luật dân sựnăm 1995 không quy định về bất động sản do công dụng Bộ luật dân sự năm
2005 đã quy định một cách bao quát và sử dụng phương pháp liệt kê mở vàkhông giới hạn bất động sản chỉ là những "tài sản không di, dời được" như Bộluật dân sự năm 1995, điều này làm mở rộng phạm vi bất động sản là nhữngtài sản về bản chất là có thể di dời được, nhưng do công dụng, mục đích sửdụng mà nó gắn liền với đất hoặc công trình xây dựng và được xác định là bấtđộng sản
Theo qui định nêu trên, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhậncác loại bất động sản sau đây:
- Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của
nó, bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; cây cối,hoa màu và các tài sản khác trên đất
- Các động sản được coi là bất động sản vì phương thức sử dụngchúng: đó là các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi làbất động sản Ví dụ như hệ thống điện được lắp đặt trong tường nhà, hệ thốngđường nước trong nhà
- Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất độngsản kể trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thểquy định những tài sản khác là bất động sản Điểm d, khoản 1 Điều 174 Bộ
Trang 19luật dân sự đã quy định: "… bất động sản có thể còn là các tài sản khác dopháp luật quy định" [36] Ví dụ quyền sử dụng đất được xác định là bất độngsản (Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản), đây chính là việc thừa nhận kháiniệm quyền có tính chất bất động sản.
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể khái quát khái niệm bất động
sản như sau: Bất động sản là đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai, gắn
liền với nhà, công trình xây dựng được sử dụng để phục vụ cho việc khai thác đất đai, nhà, công trình xây dựng đó.
Bất động sản hầu hết là những tài sản có giá trị lớn và về bản chất làloại tài sản cố định trong không gian do đó việc đăng ký tài sản là bất độngsản có vai trò quan trọng trong việc quản lý, minh bạch hóa và ghi nhậnquyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản
1.1.2 Khái niệm đăng ký bất động sản
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bất động sản đặc biệt là đấtđai người sử dụng hầu hết chỉ được thực hiện các quyền năng sau khi đã đượcNhà nước công nhận thông qua hoạt động cấp Giấy chứng nhận, đồng thờicác giao dịch về liên quan đến bất động sản thường chỉ có hiệu lực pháp lýsau khi có sự đồng ý (chấp thuận) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Dovậy, đăng ký bất động sản được hiểu là một trong những nội dung của hoạtđộng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bất động sản
Tại Việt Nam hiện chưa có quy định riêng về đăng ký bất động sản, vìvậy, tuy các quyền liên quan đến bất động sản cũng như trình tự, thủ tục xáclập quyền được quy định trong các luật chuyên ngành như Bộ luật dân sự,Luật đất đai, Luật nhà ở nhưng khái niệm "đăng ký bất động sản" hầu nhưchưa được sử dụng Khái niệm này được hiểu cụ thể trong từng văn bản phápluật khác nhau và theo các loại bất động sản khác nhau Vậy đăng ký bất độngsản cần phải hiểu như thế nào?
Trang 20Trước khi nghiên cứu khái niệm đăng ký bất động sản, cần làm rõ kháiniệm "đăng ký" Khái niệm này được giải thích cụ thể trong các công trình
nghiên cứu cụ thể Theo Từ điển Tiếng Việt thì "đăng ký" nghĩa là "Ghi vào
sổ của cơ quan quản lý" [1, tr 286] Đại từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa:
"Đăng ký: đứng ra khai báo để được cấp giấy công nhận về quyền hạn, nghĩa
vụ nào đó" [46, tr 601] Hay như Từ điển Giải thích thuật ngữ giải thích:
"Đăng ký quyền sở hữu là công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý
về quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Đăng ký quyền sở hữu là thủ tục dopháp luật quy định Tùy thuộc từng loại tài sản và tại cơ quan có thẩm quyềnkhác nhau" [24]
Theo các định nghĩa trên, có thể thấy đặc điểm chung của đăng ký làhành vi ghi nhận quyền hoặc sự kiện pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhânvào sổ sách để từ đó có cơ sở xác định hoặc công nhận quyền và nghĩa vụnhất định của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đối với Nhà nước và/hoặc đối vớichủ thể khác
Như vậy, từ việc tìm hiểu khái niệm "đăng ký" có thể hiểu đăng ký bấtđộng sản là việc ghi nhận của cơ quan nhà nước các thông tin liên quan vềmặt pháp lý của bất động sản
Trên thế giới, các quốc gia đều thống nhất cách hiểu về đăng ký bấtđộng sản là hoạt động đăng ký quyền đối với bất động sản đó Luật đăng kýnhà nước đối với các quyền về bất động sản và các giao dịch về bất động sảnnăm 1997 của Liên bang Nga quy định:
Đăng ký nhà nước đối với các quyền về bất động sản và cácgiao dịch về bất động sản là sự kiện pháp lý công nhận và chứngthực bởi nhà nước, sự phát sinh, hạn chế, chuyển dịch hoặc chấmdứt các quyền về bất động sản theo quy định của Bộ luật dân sựLiên bang Nga Đăng ký nhà nước là chứng cứ duy nhất về sự tồntại của quyền đăng ký [44, Điều 4]
Trang 21Một số quốc gia khác như tại Pháp thì việc ghi nhận tình trạng pháp lýcủa bất động sản được gọi là hoạt động công bố quyền đối với bất động sản
và được quy định tại Bộ luật dân sự Hoặc Luật đăng ký bất động sản củaNhật Bản quy định việc đăng ký hiện trạng bất động sản và đăng ký các vậtquyền, quyền liên quan đến bất động sản đều phải được thực hiện nghiêm túc.Việc đăng ký bất động sản có giá trị pháp lý đối với người thứ ba và thôngqua việc đăng ký cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quản lý được việc xâydựng, cải tạo, phá dỡ bất động sản, từ đó sẽ xây dựng các chính sách pháttriển và bảo tồn đối với bất động sản đặc biệt là đất đai
Ở nước ta, đăng ký bất động sản chưa được khái quát cụ thể, mà chỉquy định tản mạn trong nhiều văn bản luật khác nhau về từng đối tượng bấtđộng sản cần phải được đăng ký Năm 2008, Dự thảo Luật đăng ký bất độngsản được trình Quốc hội xem xét và lấy ý kiến rộng rãi, tại Dự thảo đã nêukhái niệm đăng ký bất động sản như sau:
Đăng ký bất động sản là việc cơ quan có thẩm quyền đăng
ký bất động sản ghi vào Sổ đăng ký bất động sản việc xác lập, thayđổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng,quyền sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, quyền sở hữutài sản gắn liền với đất nhằm phát sinh giá trị pháp lý theo quy địnhcủa pháp luật [11, Khoản 1 Điều 4]
Thông qua đăng ký bất động sản, một mặt Nhà nước công nhận quyền
sở hữu, quyền sử dụng của cá nhân, tổ chức đối với bất động sản, mặt khác,Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với loại hình tài sản có giá trị lớn
về kinh tế, quy mô và tính chất là bất động sản Như vậy, xét về bản chất,đăng ký bất động sản là việc công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý củabất động sản, phục vụ cho sự vận hành một cách minh bạch của thị trường bấtđộng sản và đảm bảo yêu cầu về mặt quản lý nhà nước Về nội dung, đăng kýbất động sản là việc công bố sự tồn tại của các quyền đối với bất động sản
Trang 22Theo đó, đăng ký bất động sản được thừa nhận rộng rãi là một dạng đăng kývật quyền (quyền của các chủ thể đối với bất động sản), chứ không phải đơnthuần là đăng ký đối với vật là bất động sản.
Từ những phân tích, so sánh pháp luật các nước và trên cơ sở nghiêncứu pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể đưa ra định nghĩa về đăng ký bấtđộng sản như sau:
Đăng ký bất động sản là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận các thông tin về hiện trạng và lý lịch pháp lý của bất động sản của cá nhân,
cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bất động sản
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp đối với bất động sản đó.
1.1.3 Mục đích của đăng ký bất động sản
Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường với đa dạng các loạihình sở hữu, các hoạt động giao dịch sôi động, việc đăng ký bất động sảnngày càng đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước và của ngườidân Muốn hoạt động đăng ký bất động sản đạt được hiệu quả trên thực tế, trướchết các quy định về đăng ký bất động sản phải đạt được các mục đích sau:
Thứ nhất, đăng ký bất động sản nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với các tài sản này.
Tại Việt Nam, với đặc thù đất đai và các tài sản gắn liền với đất đóngvai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế Riêng đối với bất độngsản là đất đai còn là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý đất đai, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọngtrong hoạt động đăng ký bất động sản đối với đất đai và tài sản gắn liền vớiđất đai Do tầm quan trọng của những tài sản là bất động sản đối với nền kinh
tế, vì thế hoạt động quản lý nhà nước đặt ra yêu cầu phải giám sát chặt chẽ đốivới các hoạt động và tình trạng pháp lý liên quan đến loại tài sản này Cơ quannhà nước có thẩm quyền sẽ ghi lại hiện trạng của bất động sản đó vào sổ đăng
Trang 23ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, côngtrình xây dựng Kể từ thời điểm đó, chủ sở hữu được xác lập tính hợp phápcủa các quyền với bất động sản và có quyền khai thác, thực hiện các giao dịchliên quan đến bất động sản đó Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng bất độngsản cũng phải được thông báo và cho phép của cơ quan nhà nước có thẩmquyền
Mặt khác, đăng ký bất động sản tạo nên một môi trường quản lý chặtchẽ cho các giao dịch về bất động sản, một mặt giúp cho Nhà nước thực thihoạt động quản lý, một mặt giúp cho hoạt động liên quan đến bất động sảnđược thực hiện một cách minh bạch góp phần phát triển nền kinh tế thị trườngcủa đất nước
Thứ hai, nhằm xác lập quyền, ghi nhận và công khai hóa các thông tin pháp lý về quyền của chủ sở hữu đối với bất động sản.
Đối với hầu hết các quy định về hoạt động đăng ký bất động sản củacác quốc gia trên thế giới, việc đăng ký bất động sản được thừa nhận là hoạtđộng xác lập quyền của chủ sở hữu đối với bất động sản Hệ thống này chophép các chủ sở hữu đăng ký quyền đối với bất động sản tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và được bảo hộ với hệ thống pháp lý do Nhà nước xây dựng.Đồng thời với việc xác lập quyền, hoạt động đăng ký bất động sản còn là cáchthức ghi nhận thông tin về bất động sản vào hệ thống quản lý của cơ quan nhànước Điều này giúp cho các chủ thể khác có thể tiếp cận thông tin liên quanđến bất động sản và đưa ra quyết định phù hợp với định hướng và nhu cầucủa mình
Pháp luật về đăng ký của các nước đều khẳng định quyền được tiếpcận thông tin về bất động sản của các tổ chức, cá nhân trong sổ đăng ký vàtrong cơ sở dữ liệu được lưu giữ tại cơ quan đăng ký bất động sản Tại ViệtNam, mặc dù việc truy cập, tra cứu các thông tin về bất động sản và các hoạtđộng giao dịch liên quan đến bất động sản còn hạn chế Tuy nhiên, sau khi
Trang 24Luật đất đai năm 2003 được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội
vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BNTMT-BNV hướng dẫn
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất và tổ chức phát triển quỹ đất, theo đó Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất có nhiệm vụ cung cấp bản đồ địa chính thửa đất, trích sao lục hồ
sơ về địa chính và các thông tin khác về đất đai phục vụ nhu cầu quản lý nhànước và nhu cầu của cộng đồng Như vậy, quy định này cho phép các chủ thể
có nhu cầu tìm hiểu thông tin giao dịch quyền sử dụng đất có thể tiếp cậnthông qua Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Thứ ba, đăng ký bất động sản nhằm đảm bảo an toàn về mặt pháp lý đối với các giao dịch về bất động sản cho chủ sở hữu và các chủ thể khác liên quan.
Như đã nêu tại phần trên, đăng ký bất động sản là một trong nhữnghoạt động ghi nhận quyền đối với bất động sản Tuy nhiên, không phải mọiloại bất động sản đều có thể được đăng ký, việc đăng ký một bất động sảnphải đáp ứng những điều kiện nhất định như điều kiện về chủ sở hữu hợppháp của bất động sản, tình trạng pháp lý của bất động sản v.v… Đối với bấtđộng sản đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xem làtài sản hợp pháp có thể thực hiện giao dịch trên thị trường Việc đăng ký sẽtạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể tham gia giao dịch
Ngoài ra, việc các thông tin về bất động sản được đăng ký công khai,minh bạch đặc biệt có ý nghĩa đối với các bên tham gia giao dịch Khi bên thứ
ba muốn tham gia giao dịch có thể tiếp cận với hệ thống đăng ký bất động sảnvới những thông tin cần thiết giúp họ có thể xác định được tính an toàn củagiao dịch và tăng cường bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
Hệ thống đăng ký bất động sản còn ghi nhận các hoạt động giao dịch
cụ thể của các bên đương sự như mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảolãnh, góp vốn Việc ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên
Trang 25được thực hiện và trong một số trường hợp nhằm xác lập hiệu lực của giaodịch (ví dụ quy định tại Khoản 4 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP:
"Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợpđồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh,góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Vănphòng đăng ký quyền sử dụng đất" [7])
Như vậy, việc đăng ký bất động sản ngoài việc giúp Nhà nước quản lýbất động sản một cách chặt chẽ, thì còn giúp các chủ thể trong giao dịch cóthể tiếp cận một cách công khai các thông tin về tình trạng pháp lý của bấtđộng sản, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật và giúp thị trường bất độngsản trở nên minh bạch hơn
1.1.4 Ý nghĩa và vai trò của đăng ký bất động sản
- Đối với Nhà nước
Các quan điểm lập pháp hiện hành đều cho rằng đăng ký bất động sản
là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý đối với đất đai và thị trường bấtđộng sản Về cơ bản, những lợi ích mà Nhà nước mong muốn đạt được thôngqua hệ thống đăng ký bất động sản bao gồm: (1) Đảm bảo nguồn thu thuế từbất động sản; (2) Ngăn ngừa giao dịch bất hợp pháp về bất động sản; (3) Thựchiện quy hoạch, quy chế xây dựng và bảo vệ môi trường [19, tr 16]
Thông qua hoạt động đăng ký bất động sản hàng năm của các cá nhân,
tổ chức, Nhà nước sẽ thu được những khoản tài chính về thuế bất động sảnnhư thuế nhà đất, thuế chuyển nhượng bất động sản Các khoản thuế này lànguồn thu không nhỏ vào ngân sách nhà nước Từ những nguồn thu này, Nhànước lại tái đầu tư vào các công trình công cộng, phúc lợi và các hoạt độngkhác của quốc gia
Cũng thông qua hoạt động đăng ký bất động sản, Nhà nước cũng xácđịnh được hiện trạng sử dụng bất động sản của từng vùng, từng địa phương
Trang 26nhất định để đưa ra chính sách điều chỉnh phù hợp, đưa ra những biện phápthiết thực trong công tác phòng chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũngtrong việc sử dụng bất động sản, đặc biệt là đất đai.
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện chủ sở hữu
là Nhà nước, do đó việc đăng ký bất động sản còn tạo thuận lợi cho việc thựchiện các thủ tục hành chính để cấp quyền sử dụng đất và lưu giữ thông tin vềcấp quyền Đồng thời, đảm bảo duy trì mối quan hệ giữa Nhà nước - với tưcách chủ sở hữu đất đai với người dân - với tư cách người sử dụng đất trongquá trình quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng này
- Đối với các cá nhân, tổ chức
Đăng ký bất động sản là hoạt động xác lập quyền của chủ sở hữu vàcác chủ thể liên quan Việc đăng ký bất động sản của cá nhân, tổ chức sẽ là cơ
sở để Nhà nước bảo đảm cho quyền và lợi ích được thực hiện Nếu có tranhchấp xảy ra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể căn cứ vào thông tin vàhiện trạng của bất động sản để giải quyết và đảm bảo cho lợi ích hợp pháp củacác bên
Đăng ký bất động sản có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc côngkhai và minh bạch tình trạng pháp lý của bất động sản, giúp cho cá nhân, tổchức có nguồn thông tin cần thiết để xem xét kỹ lưỡng các điều kiện về mặtpháp lý trước khi thực hiện các giao dịch Với việc không hạn chế tiếp cận cácthông tin về bất động sản đã được đăng ký, người dân có thể dễ dàng tìm hiểu
và nắm bắt các thông tin cơ bản về bất động sản để thực hiện các hoạt độngđầu tư phù hợp
- Đối với thị trường bất động sản
Trong những năm qua, thị trường bất động sản đã cho thấy những ảnhhưởng rất lớn của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là thời điểm
mà nền kinh tế thế giới và Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng nhưhiện nay Theo đánh giá chung, thị trường bất động sản của nước ta vẫn còn
Trang 27tồn tại những biểu hiện thiếu minh bạch, bất ổn, tiềm ẩn nhiều rủi ro và cónhững tác động không thuận lợi đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội củađất nước Thực tế này đòi hỏi nhiều hơn sự kịp thời và nhạy bén trong cácbiện pháp quản lý và điều hành của Nhà nước nhằm tạo lập môi trường minhbạch, an toàn đảm bảo cho sự vận hành hiệu quả, bền vững và lành mạnh củathị trường bất động sản Để làm được điều này, Nhà nước cần tạo hành langpháp lý đầy đủ cho hệ thống thông tin, dự báo về thị trường bất động sản,trong đó đăng ký bất động sản sẽ phải được chú trọng theo đúng vai trò của
nó là một trong những biện pháp quan trọng nhất góp phần minh bạch hóa thịtrường bất động sản
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc đăng ký bất động sản là xu hướngtất yếu để có một thị trường minh bạch, an toàn, công khai Đảm bảo an toànpháp lý cho các bên tham gia giao dịch; cung cấp chứng cứ để giải quyết cáctranh chấp thông qua cơ chế công khai, minh bạch quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu tài sản gắn liền với đất và các quyền khác có liên quan; góp phần nângcao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thịtrường bất động sản Là nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh bất động sảnbao gồm các hoạt động đầu tư tạo lập bất động sản đến các hoạt động giaodịch như mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp… cùng các dịch vụ hỗtrợ như môi giới, định giá, tư vấn, quản lý sử dụng bất động sản, thị trườngbất động sản sẽ không thể vận hành một cách bình thường trong điều kiệnthông tin về bất động sản thiếu tính minh bạch và chính thống Vì vậy, để thịtrường bất động sản hoạt động hiệu quả, đòi hỏi thông tin về bất động sảnphải được cung cấp đầy đủ, kịp thời, khách quan và đúng pháp luật
Lợi ích đem lại từ một thị trường bất động sản lành mạnh đó là việcthu hút tốt hơn các nguồn đầu tư vào thị trường, các chủ thể có thể thực hiệncác giao dịch một cách an toàn và tăng nguồn lợi cho quốc gia, xã hội
Từ những phân tích trên cho thấy, giá trị tổng quát nhất của việc đăng
Trang 28ký bất động sản, về phía Nhà nước chính là sự kiểm soát thông tin về bất độngsản làm cơ sở cho việc quản lý và điều hành thị trường bất động sản Về phíachủ sở hữu, đăng ký bất động sản là sự khẳng định trước cơ quan nhà nước vềtình trạng pháp lý của bất động sản mà mình đang sở hữu hoặc chiếm hữu nhằmtạo ra những bảo đảm về mặt pháp lý cần thiết cho việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình đối với bất động sản đó Về phía các bên liên quan, đăng
ký bất động sản tạo ra sự an toàn về mặt pháp lý khi thiết lập giao dịch bằngbất động sản thông qua việc xác định chính xác chủ thể quyền cũng như tìnhtrạng quyền tồn tại từ trước đối với bất động sản Như vậy, hoạt động đăng kýbất động sản đã cho thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của nó trong việc thúcđẩy sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường bất động sản Với ýnghĩa đó, đăng ký bất động sản được xem là giải pháp quan trọng đảm bảo cho
sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản và của nền kinh tế hiện nay
1.2 PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA
1.2.1 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Nhật Bản
Tại Nhật Bản thừa nhận sở hữu tư nhân đối với bất động sản Mọi cánhân tổ chức đều có quyền sở hữu bất động sản Đặc điểm cơ bản của hệthống pháp luật đăng ký bất động sản của Nhật Bản là việc đăng ký không cógiá trị xác lập quyền mà chỉ nhằm công khai hóa thông tin về hiện trạng vàcác quyền liên quan đến bất động sản
Các nội dung về đăng ký bất động sản của Nhật Bản được quy địnhtrong một số văn bản như: Bộ luật dân sự, Luật đăng ký bất động sản, Nghịđịnh về đăng ký bất động sản và một số văn bản chuyên ngành khác Trong đó
Bộ luật dân sự và Luật đăng ký bất động sản được coi là các đạo luật quy địnhmang tính nguyên tắc về đăng ký bất động sản
Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Bộ luật dân sự Nhật Bản thì: "Đất
Trang 29đai và các vật gắn liền với đất là bất động sản" Tuy nhiên, Luật đăng ký bấtđộng sản của Nhật chỉ quy định hai loại bất động sản phải đăng ký là đất đai
và công trình xây dựng Pháp luật Nhật Bản coi đất đai và công trình trên đất
là hai bất động sản độc lập với nhau và là đối tượng đăng ký quyền sở hữuriêng biệt, những tài sản khác trên đất như tường rào, cây lấy gỗ, hệ thốnggiao thông đường sắt, sản nghiệp của doanh nghiệp là một khối thống nhấtgắn liền với đất đều được coi là một phần của đất, còn các tài sản như đườngống nước, đường dây điện trong nhà được coi là một phần của công trìnhxây dựng trên đất
Về phạm vi nội dung đăng ký bất động sản, Luật đăng ký bất động sảnNhật Bản quy định bao gồm đăng ký hiện trạng của bất động sản như loại bấtđộng sản, diện tích, vị trí, mục đích sử dụng (Điều 50) và đăng ký các quyền
về bất động sản hoặc đăng ký thay đổi các quyền đó, Điều 1 quy định:
Việc xác định hiện trạng của bất động sản hay xác lập, bảolưu, chuyển giao, thay đổi, hạn chế quyền định đoạt hoặc chấm dứtmột trong các quyền liên quan đến bất động sản sau đây đều đượcđăng ký: quyền sở hữu, quyền sử dụng bề mặt, quyền thuê đất dài hạn
để chăn nuôi, canh tác; quyền địa dịch, quyền ưu tiên, quyền cầm
cố, quyền thế chấp, quyền thuê bất động sản, quyền khai thác đá [43] Tuy nhiên, việc đăng ký hiện trạng của bất động sản được coi là nộidung bắt buộc phải đăng ký đối với cả đất đai và công trình xây dựng; cònđăng ký các quyền liên quan đến bất động sản sẽ được thực hiện theo yêu cầucủa người đăng ký
Đăng ký bất động sản theo pháp luật Nhật Bản được coi là tiền đềquan trọng để xác lập quyền của chủ sở hữu và thiết lập sự bảo hộ của Nhànước đối với quyền của chủ sở hữu như Điều 177 Bộ luật dân sự Nhật Bảnquy định: "Chủ nhân của bất động sản không được chống lại bên thứ ba, nếukhông thực hiện đăng ký việc sở hữu, thất lạc hoặc thay đổi của Luật đăng ký
Trang 30bất động sản" [20].
Việc đăng ký bất động sản, theo quy định của Luật đăng ký bất độngsản Nhật Bản sẽ được thực hiện theo cơ chế đăng ký ghi nhận vào sổ sách, cơquan đăng ký sẽ kiểm tra hồ sơ đăng ký gồm đơn yêu cầu đăng ký và các loạigiấy tờ liên quan đến bất động sản, điều kiện về mặt chủ thể của người yêucầu đăng ký v.v Trường hợp xét thấy cần thiết, cơ quan đăng ký có thể kiểmtra thực tế bất động sản (Điều 50) hoặc yêu cầu chủ sở hữu của khu đất haycông trình được đăng ký cung cấp các tài liệu liên quan hoặc trả lời chất vấn.Luật cũng quy định việc đăng ký bất động sản được thực hiện tại Cơ quanđăng ký thuộc hệ thống cơ quan tư pháp như: Sở Pháp vụ hoặc Cục Pháp vụđịa phương hoặc Chi nhánh của Cục nơi có bất động sản (Điều 8) Cơ quanđăng ký bất động sản của Nhật Bản được tổ chức thống nhất từ Trung ươngxuống địa phương Hệ thống cơ quan này độc lập với cơ quan quản lý về bấtđộng sản như quản lý việc sử dụng đất đai, quản lý về chất lượng công trìnhxây dựng v.v Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đăng ký bất động sản là cungcấp các thông tin liên quan đến bất động sản cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu
Như vậy, pháp luật Nhật Bản đã xây dựng được hệ thống các quy địnhchặt chẽ và cụ thể trong hoạt động đăng ký bất động sản, tạo tiền đề cung cấpnhững thông tin về hiện trạng và quyền liên quan đến bất động sản một cáchđầy đủ và chính xác cho các cá nhân, tổ chức Hệ thống cơ quan đăng ký bấtđộng sản được xây dựng độc lập với cơ quan quản lý bất động sản là một môhình đáng được học hỏi của Nhật Bản, nó đảm bảo cho cơ quan đăng ký bấtđộng sản tập trung vào hoạt động ghi nhận và cung cấp thông tin chính xác,tránh tình trạng chồng chéo nhau về thẩm quyền từ đó góp phần giúp Nhànước Nhật Bản nắm bắt thông tin và có chính sách hiệu quả để thúc đẩy sựphát triển của thị trường bất động sản
1.2.2 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Liên bang Nga
Trang 31Theo quy định của pháp luật Liên bang Nga thì tài sản được coi là bấtđộng sản gồm:
Các thửa đất, vùng lòng đất, công trình độc lập dưới nước
và tất cả các vật gắn liền với đất ở dưới nước mà nếu di chuyểnchúng thì không thể không gây tổn hại nghiêm trọng đến công dụngcủa chúng, bao gồm cả nhà, công trình xây dựng, phòng ở và phòngkhông phải để ở, cây rừng và cây lâu năm, khu chung cư, doanhnghiệp như một khối tài sản thống nhất [44, Điều 1]
Dựa trên tính chất không di dời của bất động sản, pháp luật Liên bangNga đưa ra khái niệm bất động sản theo hướng liệt kê các loại tài sản là bấtđộng sản Ngoài ra, pháp luật còn quy định thêm doanh nghiệp cũng là bấtđộng sản khi là một khối tài sản thống nhất gồm đất đai, tư liệu sản xuất, vốn,công nghệ, thương hiệu, danh tiếng của doanh nghiệp Việc đăng ký loại tàisản này sẽ tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thể kiểm tra, giám sát hoạtđộng của các doanh nghiệp, tránh tình trạng hoạt động gian dối trên thị trường
Việc đăng ký bất động sản sẽ ghi nhận hiện trạng về bất động sản, loạibất động sản, diện tích, vị trí, chất lượng, nguồn gốc bất động sản, các thôngtin liên quan đến bất động sản Trên cơ sở này, chủ thể sẽ xác lập quyền sởhữu đối với bất động sản Theo quy định tại Điều 12 Luật đăng ký bất độngsản thì "sổ đăng ký chứa các thông tin về quyền đang tồn tại hoặc đã chấmdứt đối với bất động sản, các số liệu về bất động sản và các thông tin vềnhững người có quyền" [44] Việc đăng ký bất động sản theo pháp luật Liênbang Nga sẽ được ghi nhận trong sổ đăng ký bất động sản và sổ này cũng sẽtiếp tục cập nhật các thông tin liên quan như thay đổi, chấm dứt, chuyểnnhượng quyền đối với bất động sản Thông qua đó, Nhà nước nắm bắt đượccác thông tin cần thiết về bất động sản và quá trình thay đổi các quyền củachủ sở hữu và người liên quan
Trang 32Ngoài việc đăng ký để xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khácđối với bất động sản, các chủ thể còn phải đăng ký việc hạn chế quyền sửdụng bất động sản và các quyền khác Theo đó:
Đăng ký nhà nước các quyền đối với bất động sản và cácgiao dịch về bất động sản là sự kiện pháp lý công nhận và chứngthực bởi Nhà nước sự phát sinh hạn chế, chuyển dịch hoặc chấmdứt các quyền đối với bất động sản theo quy định của Bộ luật dân
sự Liên bang Nga [44, Điều 3]
Việc đăng ký nhà nước các quyền đối với bất động sản sẽ được tiếnhành bởi cơ quan tư pháp về đăng ký nhà nước các quyền đối với bất độngsản và các giao dịch về bất động sản trên lãnh thổ khu vực đăng ký tại nơi cóbất động sản đó
Như vậy, đăng ký bất động sản theo pháp luật Liên bang Nga là hoạtđộng bắt buộc đối với các chủ sở hữu bất động sản Từ việc đăng ký bất độngsản sẽ phát sinh, xác lập quyền sở hữu và các quyền liên quan đối với chủ sởhữu đó Trên cơ sở đó nếu có tranh chấp phát sinh thì Tòa án sẽ căn cứ vàocác thông tin đã đăng ký để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu
1.2.3 Đăng ký bất động sản theo pháp luật Thụy Điển
Theo pháp luật Thụy Điển, khái niệm bất động sản được hiểu là sự kếthợp giữa một đơn vị đất đai (unit land) với các công trình kiến trúc, kết cấu hạtầng gắn liền với nó Các cá nhân, tổ chức, chính quyền địa phương hoặc Nhànước đều có thể là chủ sở hữu của đất đai Chính sách của Thụy Điển là đảmbảo sự ổn định trong quản lý đất đai, tạo điều kiện cho các chủ sở hữu có thểhưởng lợi ích lâu dài với tài sản của mình [41, tr 105]
Bất động sản trên lãnh thổ Thụy Điển được Nhà nước chia thành cácđơn vị đất đai nhất định, các chủ sở hữu có trách nhiệm kê khai, đăng ký bấtđộng sản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngoài việc ghi nhận vào sổ
Trang 33địa chính và bản đồ địa chính, việc đăng ký đất đai hoặc quyền sở hữu đất đainói riêng còn phải được Tòa án địa phương chứng thực
Hoạt động địa chính tại Thụy Điển bao gồm sự hình thành và đăng kýbất động sản, đăng ký đất đai, đăng ký quyền sở hữu và những hạn chế trongviệc thực hiện quyền Các hoạt động này do Cơ quan khảo sát đất đai quốc gia(National Land Survey) và Tòa án hành chính quốc gia (National CourtAdiministration) thực hiện Cơ quan khảo sát đất đai quốc gia có nhiệm vụthu thập và cung cấp thông tin về đất đai đã được đăng ký cho nhu cầu của tổchức, cá nhân trong xã hội Riêng các hoạt động đăng ký quyền sở hữu và cácquyền khác cũng như hoạt động mua bán, thế chấp hoặc các giao dịch khác sẽthực hiện bởi cơ quan đăng ký đất đai được tổ chức trong 7 Tòa án cấp huyệndưới sự giám sát của Tòa án hành chính quốc gia [50] Hiện nay, hai cơ quannày không còn hoạt động độc lập mà sáp nhập thành Cơ quan Khảo sát đất đaiquốc gia, chịu trách nhiệm tiếp nhận, quản lý thông tin về đất đai, công trìnhxây dựng và cung cấp các thông tin cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu
Hiện nay, hầu hết các hoạt động đăng ký bất động sản tại Thụy Điểnđều được thực hiện trên hệ thống đăng ký trực tuyến, cho phép các chủ sởhữu, người mua hoặc người có quyền liên quan có thể nộp đơn có chữ ký điện
tử tới hệ thống đăng ký Mỗi năm, theo khảo sát, Thụy Điển có khoảng hơn 2triệu giao dịch, chuyển nhượng bất động sản được đăng ký vào hệ thống vitính với thời gian giải quyết cho mỗi giao dịch chỉ trong vòng một đến haingày [41, tr 112]
Có thể thấy hệ thống đăng ký bất động sản cũng như pháp luật điềuchỉnh về đăng ký bất động sản tại Thụy Điển đã được hình thành từ rất sớm
và được xây dựng một cách chặt chẽ, hiện đại giúp cho người dân có thể thựchiện hoạt động đăng ký và tiếp cận các thông tin cần thiết một cách nhanhchóng, thuận lợi nhất
Như vậy, từ những nội dung khái quát về hệ thống pháp luật về đăng
Trang 34ký bất động sản của một số quốc gia trên thế giới nêu trên, có thể thấy tuypháp luật các nước xây dựng một hệ thống đăng ký bất động sản riêng biệt vàđặc thù, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng với nhau Điểm nổi bật là cácquốc gia nêu trên đều đề cao vai trò của hoạt động đăng ký bất động sản đốivới việc quản lý nhà nước về đất đai và tài sản gắn liền với đất, thiết lập một
hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương cho việc đăng ký bấtđộng sản, đặc biệt là hoạt động công khai hóa các thông tin liên quan đến bấtđộng sản một cách rộng rãi cho các chủ thể có thể tiếp cận để thực hiện giaodịch Qua nội dung này, chúng ta sẽ có cơ sở để so sánh và chọn lọc những ưuđiểm của hệ thống pháp luật đăng ký bất động sản của các quốc gia trên thếgiới để hoàn thiện hệ thống đăng ký bất động sản của Việt Nam
1.3 KHÁI QUÁT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1975
Tại Việt Nam giai đoạn những năm 1945 trở về trước, việc đăng kýbất động sản được thực hiện theo phương pháp khoán điền thổ, bất động sảnđược chia theo từng hộ gia đình hoặc cá nhân, bất động sản được đăng kýquyền sở hữu cho người nào thì thuộc về người đó Theo chế độ quản thủ điềnthổ thì những bất động sản thuộc sở hữu tư nhân mang tính cá nhân ngườiđược đăng ký
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Miền Bắc vẫn áp dụng chế độ đăng
ký khoán điền thổ Tại Miền Nam, trước năm 1975, chủ sở hữu bất động sản khiđăng ký quyền sở hữu thì được chính quyền Sài Gòn cấp cho giấy xác nhậnđiền thổ Theo Bộ luật dân sự năm 1972 quy định: "đặc quyền trên đất chỉ có
hiệu lực nếu đã đăng ký vào sổ địa điền" (Điều 1429) Thời hạn đăng ký là trong
vòng 1 tháng, nếu quá thời hạn đăng ký thì đặc quyền trên không còn nữa
Giai đoạn sau năm 1954, Nhà nước bắt đầu tiến hành cách mạng Xã
Trang 35hội chủ nghĩa ở Miền Bắc, chuyển chế độ tư hữu về đất đai, nhà cửa thànhchế độ công hữu của toàn dân Nhà nước sẽ thay mặt nhân dân quản lý, sửdụng, phân phối nhà cửa Người sử dụng đất không phải trả tiền thuê đất choNhà nước mà chỉ phải nộp thuế thổ trạch hay thuế nông nghiệp Việc đăng kýđất đai, nhà cửa hầu như không còn cần thiết trong chế độ sở hữu tập thể này
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995
Sau năm 1975 khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước bắt tayvào thực hiện công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Chế độ kinh tế đượcxác định là "một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phầnkinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã
thuộc sở hữu tập thể" [30, Điều 18] Hiến pháp năm 1980 bước đầu quy định
về việc sở hữu đất đai, nhà ở:
Công dân có quyền có nhà ở Nhà nước mở rộng việc xâydựng nhà ở, đồng thời khuyến khích, giúp đỡ tập thể và công dânxây dựng nhà ở theo quy hoạch chung, nhằm thực hiện từng bướcquyền đó Việc phân phối diện tích nhà ở do Nhà nước quản lý phảicông bằng, hợp lý [30, Điều 62]
Năm 1987, Luật đất đai ra đời quy định cụ thể hơn về việc quản lýNhà nước với đất đai như lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho những cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụngđất hợp pháp
Từ sau năm 1992, sự ra đời của Hiến pháp mới với quan điểm xâydựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lýcủa Nhà nước Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 1992, các văn bản điềuchỉnh về bất động sản lần lượt ra đời như Luật đất đai 1993, Pháp lệnh nhà ởnăm 1991, 1994, Nghị định 60/CP ngày 05/07/1994 về cấp giấy chứng nhậnquyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Nghị định 61/CP về mua bánkinh doanh nhà ở Các văn bản này đã ghi nhận hoạt động đăng ký bất động
Trang 36sản thông qua việc cấp giấy chứng nhận và quản lý các giao dịch liên quan,tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường bất động sản các thời kỳ sau này.
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2005
Năm 1995, Bộ luật dân sự đầu tiên của nước ta ra đời, đây là dấu mốcquan trọng cho việc xác định tài sản là bất động sản theo đó bất động sản baogồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất và các bộ phậnkhông thể tách rời đất đai và vật kiến trúc cùng những thứ dùng để nâng caogiá trị sử dụng của bất động sản Việc đăng ký tài sản nói chung được bộ luậtxác định: "Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữuthì phải được đăng ký", tuy nhiên, lại không nêu rõ tài sản nào là tài sản phảiđăng ký
Các văn bản điều chỉnh về bất động sản và các giao dịch liên quan đếnbất động sản cũng được ban hành như Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQHngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ởđược xác lập trước ngày 01/07/1991; Nghị định 17/CP ngày 29/3/1999 củaChính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại thừa
kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;Luật đất đai 2003; Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đấtđai 2003; Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/07/2005 về cấp Giấy chứngnhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng v.v
Tuy ở giai đoạn này, pháp luật Việt Nam cũng đã có những bước tiếnnhất định trong việc pháp điển hóa các quy định về đăng ký bất động sản, tuynhiên, một số loại hình bất động sản vẫn chưa được quy định cụ thể như quyđịnh về đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại nông thôn hoặcnhững tài sản khác gắn liền với đất như nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinhdoanh, rừng tự nhiên, công trình giao thông, thủy lợi Mặt khác, các quyđịnh trong giai đoạn này hầu hết còn chưa chặt chẽ về mặt thủ tục, dẫn đếntình trạng có địa phương thực hiện, có địa phương không thực hiện; hệ thống
Trang 37giấy tờ sổ sách ghi nhận về đăng ký bất động sản còn chồng chéo Nguyênnhân chủ yếu là do việc ghi nhận đăng ký bất động sản trong các văn bản quyphạm pháp luật còn tản mạn, chưa đầy đủ và chưa đi sâu vào tình hình thực tếcủa thị trường bất động sản Việt Nam thời điểm đó Tuy vậy, bước đầu nhữngquy định này cũng là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật
về đăng ký bất động sản sau này
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhữngbước chuyển biến quan trọng, thị trường bất động sản cũng trở nên sôi độnghơn Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động đăng ký bất động sản đối vớinền kinh tế thị trường ở Việt Nam, từ năm 2005 đến nay, Đảng và Nhà nước
đã dành nhiều sự quan tâm đến vấn đề này Trong Nghị quyết Đại hội Đảngkhóa X đã xác định mục tiêu:
Phát triển thị trường bất động sản bao gồm thị trường quyền
sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, bảo đảm quyền sửdụng đất chuyển thành hàng hóa một cách thuận lợi, làm cho đất đaithực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển thị trường bất động sảntrong nước có sức cạnh tranh so với thị trường khu vực, có sức hấpdẫn các nhà đầu tư [15]
Nghị quyết số 16/2007/NĐ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ banhành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết lần thứ tưcủa Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X nêu rõ chủ trương: "Xây dựng
cơ chế, quy trình đăng ký bất động sản thống nhất, công khai, minh bạch, tạođiều kiện lành mạnh hóa và đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch bấtđộng sản, qua đó thúc đẩy kinh doanh, đầu tư" [9]
Những quy định trên thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhànước trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản hiệnnay đáp ứng nhu cầu cần thiết của thị trường bất động sản và xã hội
Trang 38Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có tínhnền tảng trong việc thiết lập thị trường bất động sản nói chung và điều chỉnh
hệ thống đăng ký bất động sản nói riêng như Bộ luật dân sự năm 2005, Luậtnhà ở năm 2005; Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 Theo đó, đất đai
và quyền sử dụng đất được đăng ký theo quy định của Bộ luật dân sự, Luậtđất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Còn việc đăng ký sở hữu nhà ởđược quy định tại Luật nhà ở và các văn bản hướng dẫn Ngoài ra, đối với cáccông trình xây dựng không phải là nhà ở, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữurừng sản xuất là rừng trồng sẽ đăng ký theo Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày15/07/2005 (đối với công trình xây dựng); Luật Bảo vệ và phát triển rừng vàcác văn bản hướng dẫn (đối với tài sản gắn liền với đất là rừng)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, mặc dù những hệ thống quy định về đăng ký bất động sản đãđược thiết lập một cách tương đối đầy đủ, tuy nhiên các quy định còn tảnmạn, rải rác trong nhiều văn bản khác nhau, gây nhiều khó khăn cho ngườidân và cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng
Thực tế thị trường bất động sản trong những năm gần đây, đặc biệt làcuộc khủng hoảng nghiêm trọng do suy thoái kinh tế, cho thấy những bất cậptrong việc quản lý thị trường bất động sản mà nguyên nhân chủ yếu là do việcquản lý nhà nước đối với thị trường còn lỏng lẻo, thông tin thiếu minh bạch
về bất động sản dẫn đến tình trạng đầu cơ, lừa đảo làm thị trường mất dần sựcân bằng vốn có Thực tế này càng đòi hỏi tính cấp thiết của việc cần cónhững quy định chung thống nhất về đăng ký bất động sản để thị trường bấtđộng sản Việt Nam có thể phát triển một cách bền vững và lành mạnh trongtương lai
Trang 39Chương 2
PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN
2.1.1 Nhận xét chung về pháp luật đăng ký bất động sản của Việt Nam hiện nay
Hoạt động đăng ký bất động sản có ý nghĩa quan trọng trong việccông khai và minh bạch quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền vớiđất và các quyền khác liên quan đến bất động sản của cá nhân, tổ chức, góp phầnbảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, ngăn ngừa tranh chấp
và cung cấp chứng cứ để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này, đồngthời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triểnlành mạnh của thị trường bất động sản Thông qua việc đăng ký một mặt Nhànước thực hiện chức năng quản lý về bất động sản, mặt khác người sử dụngđất, chủ sở hữu bất động sản thuận lợi hơn trong việc thực hiện và bảo vệ cácquyền, lợi ích hợp pháp của mình về bất động sản cũng như tạo nguồn thôngtin cung cấp cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu về bất động sản
Trước khi đi sâu tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về vấn
đề đăng ký bất động sản cũng như những thực trạng về đăng ký bất động sảntại Việt Nam hiện nay, có thể khái quát một số nét cơ bản về pháp luật đăng
Trang 40pháp nhân và chủ thể trong xã hội Trong hệ thống pháp luật nước ta, sauHiến pháp 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005 giữ vị trí đặc biệt quan trọng Bộluật dân sự đóng vai trò trong việc điều chỉnh các quan hệ sở hữu và các giaodịch dân sự, trong đó có các giao dịch về bất động sản Đây là những quy địnhchung mang tính nguyên tắc, là cơ sở nền tảng để xây dựng các quy định vềbất động sản và đăng ký bất động sản trong các văn bản luật như Luật đất đai,Luật nhà ở, Luật Bảo vệ và phát triển rừng…
Theo quy định của pháp luật dân sự, đăng ký bất động sản lần đầu làđăng ký quyền sở hữu bất động sản, quyền sử dụng đất Để xác lập quyền sởhữu đối với bất động sản Điều 167 Bộ luật dân sự quy định: "Quyền sở hữuđối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật
về đăng ký bất động sản Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [36]
Theo quy định tại Điều 167 thì việc đăng ký quyền sở hữu là đăng kývật quyền, trên cơ sở đó chủ sở hữu có quyền định đoạt đối với bất động sảncủa mình Tuy nhiên, để có bất động sản đăng ký quyền sở hữu lần đầu thì tàisản đó phải được hình thành hợp pháp Đối với nhà ở, công trình xây dựngphải có giấy phép xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất v.v
Trong trường hợp bất động sản được chuyển nhượng cho người khác, thìthời điểm chuyển quyền sở hữu với bất động sản được xác định: "Việc chuyểnquyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền
sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [36, Khoản 1 Điều 168].
Người được chuyển quyền sở hữu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữucủa mình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thủ tục sang tên bất động sản)
Kể từ thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu bất động sản thì ngườinhận chuyển giao bất động sản được xác lập các quyền đối với bất động sản
đó Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo quy định tại Điều 692 Bộluật dân sự sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quyđịnh của pháp luật đất đai