1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của bộ tài nguyên và môi trường

101 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 511 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đời sống hàng ngày, các tổ chức, cá nhân khi giao dịch công việc phải tuân thủ rất nhiều quy định về thủ tục hành chính. Thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực thực tế đang chồng chéo, rườm rà phức tạp, có khi là rào cản đối với nhiều hoạt động của đời sống, xã hội, gây ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Để giải quyết vấn đề trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 302007QĐTTg ngày 1012007 phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 2010 (gọi tắt là Đề án 30) và Quyết định số 072008QĐTTg ngày 412008 ban hành kế hoạch thực hiện Đề án 30. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách. Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, trong thời gian qua cùng với các Bộ, ngành nói chung cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng không ngừng đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính. Đội ngũ thực hiện cải cách thủ tục hành chính của bộ từng bước định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triền ngành tài nguyên và môi trường nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội đất nước nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh đó công tác cải cách thủ tục hành chính ở nước ta nói chung và Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng còn tồn tại nhiều bất cập, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho người dân, đồng thời cũng là rào cản cho các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của nền kinh tế. Cải cách thủ tục hành chính cách tốt nhất là xác định số lượng thủ tục cần thiết và loại bỏ những thủ tục rườm rà gây phiền hà cho dân. Công tác cải cách hành chính trong thời gian qua đã được quan tâm thực hiện, song sự cải thiện chỉ ở mức độ nhất định. Vì vậy việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong thời gian tới vẫn là việc làm cần thiết ở nước ta hiện nay nói chung và Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng.

Trang 1

NGUYỄN QUỲNH NHƯ

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

hành chính trong thời gian qua

19

Chương 2: CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

30

2.1 Tổng quan về Bộ Tài nguyên và Môi trường và thủ tục hành chính

thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường

30

2.1.1 Ví trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và 30

Trang 3

Môi trường

2.1.2 Các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài

nguyên và Môi trường

32

2.1.3 Nhu cầu cải cách thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản

lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường

36

2.2 Thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc cải

cách thủ tục hành chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường

39

2.2.1 Một số thành tựu nổi bật trong cải cách hành chính tại Bộ Tài

nguyên và Môi trường trước Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày

10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn

giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà

nước giai đoạn 2007 - 2010 (gọi tắt là Đề án 30)

39

2.2.2 Thành tựu đạt được trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính

tại Bộ Tài nguyên và Môi trường theo tinh thần Đề án 30

(Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính

trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010)

44

2.3 Một số kết quả đạt được trong công tác cải cách thủ tục hành

chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường

62

2.4 Những hạn chế và nguyên nhân trong cải cách thủ tục hành

chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường

76

Trang 4

3.1 Một số giải pháp cải cách hành chính nói chung và cải cách

hành chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng trong

thời gian hiện nay

76

3.1.2 Những giải pháp về tổ chức bộ máy nhà nước 783.1.3 Những giải pháp về nguồn nhân lực 793.1.4 Những giải pháp về tài chính công 803.1.5 Những giải pháp về khoa học công nghệ 813.2 Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành

chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm

quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường

82

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách hành chính nhà nước là một trong những nội dung cơ bảncủa khoa học hành chính, luôn là một vấn đề được quan tâm phổ biến ở hầuhết các nước trên thế giới nhằm làm đòn bẩy để nâng cao hiệu quả quản lýcủa nhà nước trong việc phát triển kinh tế, phát huy dân chủ và tiếng nói củangười dân trong hoạt động của bộ máy công quyền, củng cố và tăng cườngtiềm lực về mọi mặt cho đất nước

Ở Việt Nam, song song với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cáchhành chính cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm kịp thời Ngay trong vănkiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định rõ: "Để thiếtlập cơ chế quản lý mới, cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộmáy của các cơ quan" [24], Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trungương Đảng tháng 1/1995 cũng đã khẳng định lại một lần nữa tầm quan trọngcủa cải cách hành chính: "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hộichủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính" [25]

Cải cách hành chính ở Việt Nam phải bắt đầu với việc cải cách mộtbước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổchức Thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lýhành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chínhbao gồm trình tự thủ tục, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạtđộng cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chínhnhà nước

Thủ tục hành chính rất đa dạng, nhưng có thể phân thành hai loại cơ bản:

- Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ nội bộ các

cơ quan nhà nước

Trang 7

- Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ của cơ quannhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội Mỗi loại thủ tục bao gồmnhiều thủ tục riêng áp dụng trong từng loại việc, từng lĩnh vực quản lý Thủtục hành chính trong quan hệ với công dân gồm hai loại quan trọng.

+ Thủ tục hành chính trong việc các cơ quan nhà nước xét, giải quyếtnhững quyền chủ quan hợp pháp của công dân, trong việc công dân kiện một

cơ quan nhà nước

+ Thủ tục hành chính trong việc các cơ quan có thẩm quyền xét vấn đềtrách nhiệm hành chính và xử phạt các vi phạm của công dân Loại thủ tục nàycòn được gọi là thủ tục xử lý vi phạm hành chính, hoặc tố tụng hành chính

Trong đời sống hàng ngày, người dân và doanh nghiệp phải tuân thủrất nhiều các quy định về thủ tục hành chính Thủ tục hành chính trên nhiềulĩnh vực đang là rào cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân,gây tốn kém, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Đơn giản hóa thủ tục hành chính đang là mục tiêu của Chính phủ, cácngành, các cấp, các địa phương, trong đó, mục tiêu chính là bảo đảm sự thuậntiện, giảm thiểu được thời gian cũng như chi phí cho người dân, tổ chức khitiến hành các thủ tục hành chính

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ được thànhlập theo Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên vàMôi trường, theo đó, Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnhvực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; địa chất; môi trường;khí tượng thủy văn; đo đạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển vàhải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm viquản lý của Bộ Công cuộc cải cách hành chính của Bộ mang đặc thù riêngcủa ngành

Trang 8

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tích cực tiến hành đổimới, cải cách thủ tục hành chính theo chủ trương chính sách pháp luật củaĐảng và Nhà nước cũng như phù hợp với tính đặc thù riêng của ngành Tuynhiên trên thực tế thủ tục hành chính hiện nay trong lĩnh vực tài nguyên vàmôi trường vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc gây không ít khó khăn, phiền

hà cho người dân đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hơn nữa để thủ tụchành chính thực sự đơn giản góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ,chuyên nghiệp, hiệu quả và có hiệu suất cao, góp phần phòng chống thamnhũng và lãng phí thông qua việc đơn giản hoá loại bớt các thủ tục hành chínhrườm rà, không cần thiết, cắt giảm đáng kể chi phí trong thực hiện các thủ tục

hành chính cho người dân và doanh nghiệp Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: "Cải

cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường" làm đề tài nghiên

cứu luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn hẹp, luận văn chỉ giớihạn phần lớn vấn đề nghiên cứu tập trung vào công tác triển khai Đề án 30 với

hy vọng đóng góp một cách nhìn mới trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn vềcải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thông quaviệc nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp và tiếp thu các báo cáo chuyên ngành

2 Phạm vi nghiên cứu

- Vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên

và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Thực tiễn công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tàinguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môitrường: thành tựu đạt được, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của nhữnghạn chế

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của cải cách thủtục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền

Trang 9

quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường qua đó làm rõ vai trò của côngcuộc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này đối với sự phát triểnchung của đất nước.

Nghiên cứu những bất cập của thủ tục hành chính trong lĩnh vực tàinguyên và môi trường qua thực tiễn thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên vàMôi trường Qua đó đưa ra các giải pháp, yêu cầu cụ thể, cũng như những kiếnnghị nhằm thúc đẩy hơn nữa tiến trình cải cách hành chính trong toàn ngành

4 Phương pháp nghiên cứu

- Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng phép duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu

- Luận văn cũng đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểkhác như: nghiên cứu lý thuyết, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh

5 Điểm mới của luận văn

Luận văn sẽ có những đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn choviệc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trườngthuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay để thủ tục hànhchính luôn phát huy hết vai trò trong quản lý nhà nước đối với các hoạt độngkinh tế xã hội của đất nước

6 Ý nghĩa của luận văn

Hoàn thành luận văn này, tôi hy vọng những kiến thức khoa học trongnội dung luận văn sẽ là tài liệu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiêncứu khoa học tại các cơ sở đào tạo Luật, Hành chính ở Việt Nam

Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết, là tàiliệu tham khảo hữu ích cho cá nhân, tổ chức trong, ngoài ngành tài nguyên vàmôi trường

Trang 10

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ

tục hành chính ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng công cuộc cải cách thủ tục hành chính trong

lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tàinguyên và Môi trường

Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành

chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 11

Theo Điều 3 "Giải thích từ ngữ" của Nghị định số 63/2010/NĐ-CPngày 08 tháng 6 năm 2010 về Kiểm soát thủ tục hành chính lại có cách hiểukhác về thủ tục hành chính:

"Hồ sơ" là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tụchành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho các cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực

Trang 12

hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cánhân, tổ chức.

"Yêu cầu, điều kiện" là những đòi hỏi mà đối tượng thựchiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiệnmột thủ tục hành chính cụ thể [21]

Theo cách hiểu này, thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thểcho cá nhân, tổ chức, tức là thủ tục hành chính giải quyết một công việc cá biệt,

cụ thể Tuy nhiên, hạn chế của định nghĩa này là ở chỗ không được áp dụngtrong một số trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 1 Phạm vi điều chỉnh:

"Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa

cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyếtthủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức; Thủ tục xử lý vi phạm hành chính;thủ tục thanh tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước" [21]

Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết Đại hộilần thứ VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa VII, Nghị quyếtĐại hội lần thứ VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quyết của Chính phủ

số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việcgiải quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTgngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thểcải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010) thì thủ tục hành chính

có nội dung rất rộng, bao gồm:

- Số lượng các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó;

- Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó;

- Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;

- Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể

Đây có thể nói là cách hiểu đầy đủ nhất về thủ tục hành chính Cách hiểunày cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chính trong quản

Trang 13

lý nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướngbiện pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng nền hànhchính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện hiện nay.

Do tính chất đa dạng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nênkhông thể có thủ tục hành chính duy nhất mà có rất nhiều thủ tục hành chínhkhác nhau tương ứng với từng hoạt động quản lý cụ thể Tùy từng trường hợp

mà thủ tục hành chính được dùng để tổ chức, điều hành các hoạt động mangtính nội bộ trong bộ máy nhà nước hay để trực tiếp giải quyết các công việcliên quan đến quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội nên thủ tụchành chính không chỉ định ra cho các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nướccách thực hiện nhiệm vụ trong quá trình giải quyết công việc thuộc thẩmquyền mà còn chỉ ra cho các cá nhân, tổ chức có liên quan các quyền, nghĩa

vụ và cách thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó trong mối quan hệ với cơquan, cán bộ, công chức nhà nước Vì vậy, thủ tục hành chính hợp lý sẽ tạonên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, rút ngắn thời gian giảiquyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Thủ tục hành chính bấthợp lý là mảnh đất tốt cho tệ tham nhũng, cửa quyền, làm giảm lòng tin củanhân dân vào chính quyền

1.1.2 Vị trí, vai trò của thủ tục hành chính trong hệ thống hành chính nước ta

Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sốngnhân dân Thông qua thủ tục hành chính, cá nhân, tổ chức thực hiện đượcquyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời, các cơ quan hành chính nhà nướcthực hiện chức năng quản lý nhà nước Do đó, "cải cách thủ tục hành chínhliên tục được Chính phủ xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trìnhcải cách hành chính của nước ta" [12] Vai trò đó thể hiện trên những nét chủyếu sau đây:

Trang 14

Thứ nhất: Thủ tục hành chính bảo đảm cho các quy phạm vật chất quy

định trong các quyết định hành chính được thi hành thuận lợi Ví dụ, các quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường phải tuân thủ quyđịnh do các cơ quan quản lý về môi trường ban hành đồng thời không trái vớiquy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính Do đó, trình tự, thủ tục trongcác quyết định này càng rõ dàng, đơn giản thì việc đánh giá tính khả thi củaquyết định càng cao

Thứ hai: Thủ tục hành chính bảo đảm cho việc thi hành các quyết định

được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp lý cũng như các hệ quả doviệc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra Thủ tục hành chính sẽ làmcho tính chất nghiêm minh của pháp luật được nâng cao Nó sẽ cho phép các

cơ quan hành chính áp dụng các biện pháp thích hợp và thống nhất để thihành một công vụ nhất định

Điều này được thể hiện rõ trong Nghị định số 63/2010/NĐ-CP TheoKhoản 2, Điều 8:

2 Việc quy định một thủ tục hành chính cụ thể chỉ hoànthành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:

a) Tên thủ tục hành chính;

b) Trình tự thực hiện;

c) Cách thức thực hiện;

d) Hồ sơ;

đ) Thời hạn giải quyết;

e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;

g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính;

h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính;

i) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờkhai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu,

Trang 15

điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kếtquả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là

bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính [21]

Như vậy, các cơ quan có thẩm quyền muốn quy định trong các vănbản quy phạm pháp luật một thủ tục hành chính cụ thể thì bắt buộc phải cóđầy đủ các bộ phận trên Điều này một mặt tránh được tình trạng ban hànhtràn lan các thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời cóthể kiểm tra được tính hợp lý, hợp pháp của một thủ tục hành chính sau khi nóđược ban hành, mặt khác nó cũng giúp cho người dân tiếp cận với thủ tụchành chính được dễ dàng hơn

Thứ ba: Thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách

hợp lý, sẽ tạo khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý

đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước Thủ tụchành chính liên quan đến quyền lợi của công dân Do vậy, khi được xây dựnghợp lý và vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ tạo ra mối quan hệ tốt giữa nhànước và nhân dân

Trên thực tế, để giảm nhẹ thủ tục hành chính các cơ quan nhà nướctập trung vào thực hiện cơ chế "Một cửa" đã đạt được những kết quả đáng kể.Người dân tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và tiền của mỗi khi cónhu cầu thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan nhà nước ở những nơinày, căn bệnh cửa quyền, quan liêu cũng dần được cải thiện Hiệu quả quản lýnhà nước được nâng cao rõ rệt, công việc được giải quyết nhanh chóng, thuậnlợi Mối quan hệ của nhà nước và nhân dân đã bắt đầu được củng cố

Thứ tư: Thủ tục hành chính cũng là một bộ phận của pháp luật về

hành chính nên việc xây dựng và thực hiện tốt các thủ tục hành chính sẽ có ýnghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và triển khai luật pháp Hay nói cáchkhác thủ tục hành chính cũng là sự hướng dẫn một cách trình tự, cụ thể việcthực hiện những quy định của pháp luật Ví dụ, khi Luật Khoáng sản quy định

Trang 16

các điều kiện để tổ chức hành nghề thăm dò khoáng sản thì cũng đồng thờiquy định giao Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết điều kiện hànhnghề thăm dò khoáng sản Tức là khi các doanh nghiệp muốn nghiên cứu, tìmhiểu để hành nghề thăm dò khoáng sản thì trước hết phải nghiên cứu LuậtKhoáng sản, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và cụ thể hơn nữa là cácvăn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực khoáng sản của Bộ Tài nguyên vàMôi trường.

Thủ tục hành chính có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa

cơ quan nhà nước với dân và các tổ chức khác Chiếc cầu này có khả nănglàm bền chặt các mối quan hệ, làm cho nhà nước ta thực sự là của dân, dodân, và vì dân Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa học, áp dụng tùy tiện vàođời sống thì chính thủ tục hành chính sẽ làm khoảng cách dân với nhà nước

xa dần

1.1.3 Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính

Xây dựng thủ tục hành chính là nghiên cứu để đề ra những cách thứcgiải quyết công việc nhằm thực hiện các quy định nội dung của lập pháp vàđáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế Việc xây dựng các thủ tục hành chínhđược đặt trên những nguyên tắc cơ bản do Hiến pháp quy định Nhữngnguyên tắc này có thể trực tiếp liên quan đến việc xây dựng các thủ tục hànhchính, nhưng cũng có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung vàđòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các văn bản luật khác

Một là, nguyên tắc pháp chế.

Theo nguyên tắc này chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnmới được ban hành thủ tục hành chính Đồng thời các thủ tục hành chính dùthuộc ngành nào cũng phải đảm bảo rằng chúng không trái hiến pháp, luật vàkhông mâu thuẫn với văn bản của nhà nước cấp trên Phải thực hiện đúngtrình tự, phương thức, biện pháp và hình thức theo quy định của pháp luật

"Thủ tục hành chính phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do

Trang 17

Chính phủ ban hành hoặc trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội banhành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành" [21] Hiện nay,thẩm quyền quy định thủ tục hành chính tập trung vào các cơ quan nhà nước

ở Trung ương Đối với các bộ, ngành Trung ương có thẩm quyền ban hànhmột số quy định thủ tục hành chính tuy nhiên cần phải có quy định riêng đểphù hợp với đặc điểm của một số địa phương thì các bộ, ngành có văn bản ủyquyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.Các quy định này phải có sự thống nhất của các Bộ, ngành quản lý về cùngmột lĩnh vực đó và phải được công bố công khai như quy định thủ tục hànhchính của Bộ, ngành Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi có sự thống nhất tương đốigiữa các thủ tục hành chính của những hoạt động quản lý tương tự nhau

Về mặt lý thuyết, tất cả các thủ tục hành chính được pháp luật quyđịnh đều là cần thiết và là quy trình hợp lý nhất để thực hiện các hoạt độngquản lý trên thực tế Mỗi thủ tục hành chính được thực hiện nhiều lần ở nhữngthời điểm khác nhau, bởi các chủ thể khác nhau, sự tuân thủ các thủ tục hànhchính tạo nên tính khoa học, đồng bộ, thống nhất trong quản lý hành chínhnhà nước

Hai là, nguyên tắc khách quan.

Việc ban hành thủ tục hành chính phải xuất phát từ nhu cầu kháchquan không chỉ của hoạt động quản lý mà còn phải phù hợp với nhu cầukhách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm đưa ra quytrình hợp lý, thuận tiện nhất, mang lại kết quả cao nhất cho hoạt động quản lý.Những hoạt động quản lý phức tạp, có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếpđến quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức, cá nhân

mà những sai sót cũng có thể gây hậu quả bất lợi cho xã hội thì thủ tục cầnchặt chẽ, chi tiết để định ra từng khâu, từng bước, từng giai đoạn cụ thể củahoạt động đó Và ngược lại những hoạt động quản lý đơn giản, gián tiếp tác

Trang 18

động đến những lợi ích khác nhau thì các thủ tục hành chính không cần quyđịnh ở mức chi tiết, hạn chế khả năng sáng tạo của các chủ thể quản lý.

Nguyên tắc này còn đòi hỏi khi thực hiện thủ tục hành chính ở tất cảcác khâu, các bước, các giai đoạn đều phải dựa trên những căn cứ khoa học.Những quyết định đưa ra phải phù hợp với quy luật khách quan về sự tồn tại,vận động của các sự việc, các hiện tượng, các lĩnh vực xã hội Thực hiện thủtục hành chính phải đặt lợi ích của quản lý lên hàng đầu, không được tuyệtđối hóa lợi ích của chủ thể quản lý cũng như đối tượng quản lý Thủ tục hànhchính càng không được sử dụng để phục vụ những mục đích mang tính chủquan của chủ thể quản lý

Ba là, nguyên tắc công khai, minh bạch, thuận lợi cho việc thực hiện.

Hiện nay, đất nước ta đang trên con đường hội nhập quốc tế, nguyêntắc công khai, minh bạch thủ tục hành chính được coi là một trong nhữngnguyên tắc pháp lý được nêu trong các văn bản pháp luật và các điều ước quốc

tế mà Việt Nam là thành viên hoặc thừa nhận Do đó yêu cầu về tính công khai,minh bạch của thủ tục hành chính càng cấp bách, đặc biệt là để thu hút đượcđông đảo nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Nguyên tắc này được thể hiện trước hết trong xây dựng thủ tục: Thứ nhất trong trường hợp cần thiết Nhà nước tạo điều kiện cho những đối tượng thực hiện thủ tục đóng góp ý kiến Thứ hai, nội dung các thủ tục phải rõ ràng,

dễ hiểu, dễ thực hiện Thủ tục hành chính cần quy định rõ trình tự, cách thứcthực hiện thủ tục; hồ sơ, biểu mẫu, các tài liệu cần thiết khác có liên quan…

Thứ ba, các thủ tục hành chính phải được công bố cho người thực hiện thủ tục

biết để có thể thực hiện một cách dễ dàng như quy định tại Khoản 2, Điều 78Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định:

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; vănbản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lựcthi hành, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước

Trang 19

và các trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biệnpháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành đểkịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh [30].

Bốn là, nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời

Thủ tục hành chính cần được xây dựng và thực hiện xuất phát từ yêucầu khách quan của hoạt động quản lý Mỗi thủ tục hành chính chỉ bao gồmnhững khâu, bước, giai đoạn với sự tham gia của những chủ thể thực sự cầnthiết để việc thực hiện thủ tục không bị lãng phí thời gian, trí tuệ, công sứcvào những hoạt động không thiết thực Như vậy, thủ tục hành chính vừa dễthực hiện vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý

Trong điều kiện xã hội phát triển nhanh chóng như ngày nay, khảnăng thích ứng của nền hành chính trước những thay đổi của xã hội là yếu tốquan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả của quản lý Vì vậy Chương trìnhtổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 ban hành kèmtheo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2001/QĐ-TTg ngày17/9/2001 đã nhấn mạnh "mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ

mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết cáccông việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống" [12]

Năm là, các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật.

Theo nguyên tắc này, các cơ quan hành chính nhà nước phải giảiquyết quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ cóđầy đủ điều kiện do luật định và yêu cầu đối với các bên hữu quan bảo đảmquyền, sự tự do, lợi ích hợp pháp của các đương sự

1.1.4 Các loại thủ tục hành chính

Có thể phân loại thủ tục hành chính theo các tiêu chí sau:

- Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước

Theo cách phân loại này, các thủ tục hành chính được xác định chotừng chức năng của bộ máy quản lý hiện hành Ví dụ: thủ tục hành chính

Trang 20

trong lĩnh vực đăng ký và hoạt động kinh doanh, trong xuất khẩu và nhập khẩuhàng hóa, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai… (đây là sự phân loại màNghị quyết 38/CP của Chính phủ ngày 4/5/1994 đã áp dụng) Đồng thời giúpcho người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách Từ

đó đề ra yêu cầu xây dựng những thủ tục hành chính cần thiết, thích hợp

- Phân loại theo các loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan nhà nước được giao thực hiện trong quá trình hoạt động của mình.

Theo cách phân loại này thì thủ tục hành chính bao gồm rất nhiềuloại như:

+ Thủ tục tuyển dụng cán bộ công chức;

+ Thủ tục đăng ký kinh doanh…

Trong mỗi loại hình trên có thể phân chia thành các loại thủ tục liênquan đến hoạt động cụ thể hơn như:

Thuộc loại thủ tục tuyển dụng cán bộ có thể có:

+ Tuyển dụng cán bộ kỹ thuật

+ Tuyển dụng cán bộ quản lý…

Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng bởi vì nó giúp chongười thừa hành công vụ và những người thi hành các thủ tục trong thực tếđịnh hướng được công việc một cách dễ dàng và chính xác hơn

- Phân loại theo chức năng hoạt động của các cơ quan

Các cơ quan chuyên môn có chức năng thực hiện các hoạt động thuộclĩnh vực mình phụ trách thì cần phải đảm bảo những thủ tục cần thiết theo yêucầu của nhà nước để mọi hoạt động liên quan đến chuyên môn có thể đạtđược hiệu quả và đúng pháp luật.Ví dụ: các thủ tục hành chính trong lĩnh vựcmôi trường do cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ban hành và quản lýthực hiện

Trang 21

Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý khi giải quyết công việcchung có liên quan đến các tổ chức khác hoặc với công dân, tìm được cáchình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơquan mình.

- Phân loại dựa trên quan hệ công tác

Theo cách phân loại này, có thể phân chia thủ tục hành chính thành banhóm: Thủ tục nội bộ, thủ tục liên hệ và thủ tục văn thư

+ Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục thực hiện các công việc nội bộtrong cơ quan, công sở nhà nước trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộmáy nhà nước nói chung Nó bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tracủa cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới, quan hệ công tác, phối hợp giữacác cơ quan nhà nước cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền, quan hệ công tác giữachính quyền cấp tỉnh với các bộ… Đây là vấn đề được quy định còn lỏng lẻo

và những thủ tục đang có hiệu lực thi hành chưa được thi hành nghiêm Vì thế

có thể tìm thấy những thủ tục hành chính trong các mối quan hệ trên còn rườm

rà, trùng lặp, chồng chéo và thậm chí sai nguyên tắc của quan hệ hành chính

+ Thủ tục hành chính liên hệ là thủ tục tiến hành giải quyết các côngviệc liên quan đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp, phòng ngừa, ngăn chặn, xửphạt các vị phạm hành chính; trưng thu, trưng mua các động sản và bất độngsản của nhân dân Thủ tục hành chính liên hệ thường được thể hiện dưới một

số dạng sau: Thủ tục cho phép; thủ tục ngăn chặn hay cưỡng chế thi hành; thủtục trưng thu, trưng dụng, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính…

+ Thủ tục văn thư là toàn bộ các quy định liên quan đến hoạt động lưutrữ, xử lý, cung cấp công văn, giấy tờ và đưa ra quyết định dưới hình thức vănbản liên quan chặt chẽ đến hoạt động văn thư Thủ tục văn thư khá tỉ mỉ, phứctạp và tính chất của loại thủ tục này phụ thuộc vào từng công việc cần giảiquyết Có vụ việc đòi hỏi ít các loại công văn, giấy tờ và được quyết định nhanhchóng, nhưng cũng có những công việc khi giải quyết nó đòi hỏi phải có nhiều

Trang 22

giấy tờ cần đăng ký, chứng nhận, công chứng nhà nước một cách thận trọng

và đúng trình tự Vì thế cải cách hành chính không có nghĩa là trong mọi trườnghợp đều phải giảm bớt giấy tờ, công văn, mà là đảm bảo đủ giấy tờ làm căn

cứ để giải quyết công việc Tùy theo chuyên môn cụ thể của từng cơ quan nhànước mà các cơ quan này xây dựng các thủ tục văn thư, lưu trữ phù hợp [36]

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính

Đất nước đang vừa vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội kéodài, nền kinh tế đã bắt đầu bước sang một giai đoạn mới; giai đoạn phát triểnnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết củaNhà nước Trong khi đó, bộ máy hành chính của nước ta là bộ máy hànhchính đã được vận hành qua nhiều thời kỳ, đứng trước đòi hỏi của nền kinh tếmới nó càng ngày càng bộc lộ những khuyết tật cố hữu không những khôngtheo kịp mà còn tụt hậu so với yêu cầu phát triển của đất nước, so với yêu cầu

và sự kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp Tổ chức bộ máy vẫn cồng kềnh,hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả, thủ tục điều hành rất nặng nề, gây phiền

hà cho dân Chế độ và trách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch,năng lực và trình độ của công chức, viên chức còn thấp, đặc biệt nghiêm trọng

là vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực như nhũng nhiễu, gây phiền hà,tham nhũng v.v trong một bộ phận công chức, viên chức

Đứng trước thực trạng như vậy không có cách nào khác là phải đẩymạnh cải cách hành chính Cải cách hành chính là điều kiện cần thiết để tăngcường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự điềutiết của Nhà nước với nền kinh tế Khi đó, trong nhiều văn kiện của mình,Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhận định rằng, nếu không cải cách nền hànhchính thì sự tồn vong của chế độ sẽ bị ảnh hưởng là điều chắc chắn Vì vậy,Đảng cũng nhấn mạnh: "Đảng phải thay đổi, phải đổi mới, đất nước phải tiếnhành cải cách nhiều mặt" [35]

Trang 23

Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng (tháng 4/2001), Thủ tướngChính phủ đã chỉ đạo phải nhanh chóng xây dựng cho được một chương trìnhcải cách hành chính có tính chiến lược, dài hạn của Chính phủ Sau một thờigian chuẩn bị, ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001 - 2010.

Chương trình đặt ra mục tiêu chung là:

Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vữngmạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quảtheo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sựlãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩmchất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, pháttriển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản đượccải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa [12]

Cụ thể hơn nữa cho mục tiêu này là: phải phát hiện và xóa bỏ nhữngthủ tục hành chính thiếu đồng bộ, chồng chéo, rườm rà, phức tạp, đã và đanggây cản trở trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa các cơ quan nhà nướcvới nhau, giữa cơ quan nhà nước với công dân, tổ chức xây dựng và thực hiệncác thủ tục giải quyết công việc đơn giản, rõ ràng, thống nhất, đúng pháp luật

và công khai; vừa tạo điều kiện thuận tiện cho công dân và tổ chức có yêu cầugiải quyết công việc, vừa có tác dụng ngăn chặn tệ quan liêu cửa quyền, sáchnhiễu và tham nhũng trong công chức nhà nước, đồng thời bảo đảm đượctrách nhiệm quản lý nhà nước, giữ vững kỷ cương pháp luật [12]

Để đạt được mục tiêu trên, kể từ khi có chủ trương cải cách thủ tụchành chính đến nay trong hệ thống hành chính nhà nước đã và đang tiến hànhcác công việc:

Trang 24

- Chấn chỉnh thủ tục quan hệ nội bộ trong các cơ quan nhà nước khigiải quyết công việc cho tổ chức và công dân.

- Tinh giản thủ tục hành chính, loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệtkhông cần thiết, giảm phiền hà, tạo thuận tiện, ít tốn kém cho nhân dân và cácnhà kinh doanh

- Lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục hành chính, chỉ các cơquan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật quy định mới được ban hànhthủ tục; các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục không được tùy tiệnđặt thêm các thủ tục thiếu căn cứ

- Tập trung cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tác động trựctiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh của nhân dân đang có nhiều vướngmắc, nhiều hiện tượng tiêu cực

- Thống nhất vấn đề quản lý và lệ phí, xây dựng một cơ chế thích hợptrong cải cách thủ tục hành chính

1.2.2 Đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua

Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trongđiều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nướctrong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinhnghiệm.Việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo côngcuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phươnghướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trìnhtìm tòi, sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhấttrong tiến trình đổi mới được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm1986

1.2.2.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách thủ tục hành chính trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1996)

Sau Đại hội VII, từ năm 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh

Trang 25

tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cảicách hành chính Hội nghị Trung ương khóa 8 (1/1995) đánh dấu bước pháttriển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước Cải cách mộtbước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hànhchính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiệnđại hóa để quản lý có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiệnđại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy

xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân,xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Lần đầu tiên banội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách

hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hànhchính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa VIII đã mở ra một giai đoạnmới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta Cóthể nói Nghị quyết Trung ương 8 khóa VIII có ý nghĩa quan trọng thúc đẩytiến trình cải cách hành chính của 20 năm đổi mới vừa qua

1.2.2.2 Đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách thủ tục hành chính trong những năm tiếp theo (1996 - 2000)

Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xâydựng hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cảicách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơbản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000

Với tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính được đề ra trong Nghịquyết Trung ương 8 Khóa VII một cách tích cực theo chương trình, kế hoạch,Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật

Trang 26

phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và banh hành văn bảnpháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hànhchính, sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, hợpnhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ vàthực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành Theo đó, 4 điểm

bổ sung quan trọng trong định hướng cải cách được Nghị quyết đề ra là:

- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính;

- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hóa sự phân cấp quản lý nhà nướcgiữa các cơ quan của Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương;

- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thituyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức, kiênquyết xử lý và sa thải những người thoái hóa, biến chất, tăng cường biện pháp

và phối hợp lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửaquyền trong bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước);

- Thành lập Tòa án hành chính và thực hiện xã hội hóa đối với một sốhoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ công

Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng6/1997) đưa ra Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tụcxây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Một trong nhữngchủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính được nhấn mạnh trongNghị quyết này là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xãhội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làmchủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ nhà nước, trong giám sát hoạtđộng của bộ máy hành chính nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức

Từ đó, Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương 3

Trang 27

đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩmchất và năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộ máy nhà nước.Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bốtrí, điều động theo nhu cầu là lợi ích của đất nước.

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII),

đã biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành cải cách hànhchính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị

Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII) đã đề ra chủ trương tiến hànhsắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liềnvới cải cách hành chính theo hướng tinh giảm hoạt động có hiệu lực, hiệuquả Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chứctrong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiềnlương

1.2.2.3 Đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách thủ tục hành chính từ năm 2001 đến nay

Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh,từng bước hiện đại hóa là mục tiêu mà Đại hội IX (năm 2001) đã khẳng định.Đại hội cũng đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọngtrong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiếnphương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đalĩnh vực, phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổchức sự nghiệp, dịch vụ công, tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách

rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, thamnhũng

Để thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đãchỉ đạo phải nhanh chóng xây dựng cho được một chương trình cải cách hành

Trang 28

chính có tính chiến lược, dài hạn của Chính phủ Sau một thời gian chuẩn bị,ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTgphê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

Cơ chế "Một cửa" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, côngdân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu,

hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là "Bộ phận tiếp nhận và trảkết quả" tại cơ quan hành chính nhà nước Với việc thực hiện cơ chế này, các

bộ, ngành và địa phương đã tích cực rà soát, sửa đổi nhiều thủ tục hành chínhliên quan đến người dân, doanh nghiệp Đặc biệt, thủ tục hành chính trênnhững lĩnh vực có nhiều bức xúc như: đất đai, hộ tịch, đầu tư, đăng ký kinhdoanh, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu… được rà soát nhiều lần, loại

bỏ những thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà, bước đầu tạo lập lại niềmtin của người dân và doanh nghiệp vào hoạt động của các cơ quan công quyền

Có thể thấy cơ chế "Một cửa" là giải pháp đổi mới hữu hiệu vềphương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cáccấp, tạo nên bước đột phá đầu tiên trong cải cách thủ tục hành chính Trên cơ

sở thực hiện hiệu quả cơ chế "Một cửa" ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chínhphủ tiếp tục ban hành Quy chế thực hiện cơ chế "Một cửa", "Một cửa liênthông" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo quyết định số

Trang 29

93/2007/QĐ-TTg "Một cửa liên thông" là cơ chế giải quyết công việc của tổchức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chínhnhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy

tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước.Mục đích của thực hiện cơ chế "Một cửa", "Một cửa liên thông" nhằm đạtđược bước chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việcgiữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân; giảm phiền hà cho

tổ chức, công dân; chống tệ quan liêu, tham những, cửa quyền của cán bộ,công chức, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước Đồng thời, đổi mới

cơ bản phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước, trên cơ sở sắp xếp lại tổchức theo hướng gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Tuy cải cách thủ tục hành chính đã có bước tiến đáng kể nhưng nhiềunơi, nhiều chỗ kết quả giải quyết hồ sơ hành chính trên một số lĩnh vực cho tổchức, công dân vẫn còn thấp so với yêu cầu đề ra Việc triển khai thực hiện cơchế "Một cửa", "Một cửa liên thông" còn thiếu đồng bộ, thủ tục giải quyết một

số loại hồ sơ hành chính còn bị cắt khúc theo cấp hành chính, chưa tạo thành quytrình giải quyết thống nhất từ Trung ương đến địa phương Quan hệ phối hợptrong giải quyết hồ sơ giữa các cấp, các ngành tuy có tiến bộ nhưng ý thức cộngđồng trách nhiệm giữa các bên chưa cao, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm…

Triển khai "Một cửa" cơ bản chúng ta đã cắt được tình trạng nhũngnhiễu dân, nhưng trong một số trường hợp lại tăng thêm quy trình và thờigian Ví dụ: theo quy định, thời gian hẹn trả kết quả tính từ lúc nộp hồ sơ,nhưng trên thực tế phải mất rất nhiều thời gian để hoàn chỉnh hồ sơ; các thủtục hành chính liên quan đến chính sách xã hội, thay vì chuyển thẳng cho bộphận chuyên môn (Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội) xử lý, trình lãnhđạo ký, đóng dấu thì người dân lại phải qua bộ phận "một cửa" rất mất thờigian đi lại và thời gian chờ đợi

Về thực chất, bộ phận "Một cửa" chỉ là nơi tiếp nhận và trả kết quả,

Trang 30

chưa trực tiếp thực hiện việc giải quyết thủ tục hành chính mà phải chuyển tớicác bộ phận chuyên môn thực hiện nên nó chỉ mang hình thức "bình mới -rượu cũ", cản trở tính minh bạch của thủ tục hành chính.

Tinh thần làm việc, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở

bộ phận "Một cửa" cứng nhắc, vô cảm, chưa tận tình Một phần cũng vì áplực công việc khá lớn vì "Một cửa" là nơi thường xuyên va chạm, tiếp xúctrực tiếp với dân phải nói nhiều, giải thích nhiều, khối lượng công việc phảigiải quyết hàng ngày lại quá lớn mà chế độ, chính sách, quyền lợi lại không

có gì khác biệt so với các chuyên môn khác dẫn đến tâm lý chán nản trongcông tác Bên cạnh đó, cũng còn một bộ phận cán bộ công chức hành chínhchưa từ bỏ được bản tính cố hữu là cơ chế "xin cho"

Nhận thức rõ thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính vànguyên nhân của những hạn chế, ngày 10/1/2007, Thủ tướng Chính phủ đãban hành Quyết định số 30/2007/QQD-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủtục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọitắt là Đề án 30) Kế hoạch thực hiện Đề án này nhằm tạo bước chuyển biếncăn bản trong cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ,đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính; tạo môi trường thuậnlợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tụchành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy pháttriển kinh tế xã hội, góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí

Đề án 30 bao gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Thống kê thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai

hành chính; yêu cầu hoặc điều kiện để được cấp giấy phép, giấy chứng nhận,giấy đăng ký, chứng chỉ hành nghề, thẻ, phê duyệt, chứng chỉ, văn bản xácnhận, quyết định hành chính, giấy xác nhận, bản cam kết, biển hiệu, bằng, vănbản chấp thuận và các loại khác

Trang 31

- Giai đoạn 2: Rà soát thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành

chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính

- Giai đoạn 3: Thực thi các khuyến nghị đơn giản hóa thủ tục hành

chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiệnthủ tục hành chính sau khi đã được Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chính phủ, Thủ tướngChính phủ xem xét, quyết định [16]

Để đảm bảo thực hiện thành công Đề án 30, đổi mới cách làm, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/01/2008phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án 30, trong đó có quyết định thành lập các

tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong việc triển khai các hoạt động cải cách: Tổcông tác Chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ;Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính; Tổ công tác thực hiện Đề án 30của các Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh [16]

Với cách thức tổ chức công việc khoa học, nhận thức đúng về cải cáchthủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và huy động được sự thamgia tích cực của người dân, doanh nghiệp vào quá trình cải cách thủ tục hànhchính, nhờ chủ trương và cách làm đúng đắn, Đề án 30 đã được triển khaiđồng loạt tại các bộ, ngành, địa phương, đã huy động được sự vào cuộc củatất cả các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương

Từ kết quả đạt được, Báo cáo số 888/BC-VPCP tổng kết hoạt độngcủa Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướngChính phủ và Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính ngày 16/2/2011 đãnhấn mạnh:

Với nỗ lực chung của toàn bộ hệ thống chính quyền, lần đầutiên sau 65 năm thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, đã tập hợp, xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ

Trang 32

tục hành chính áp dụng tại bốn cấp chính quyền với hơn 5.400 thủtục hành chính, trên 9.000 văn bản quy định; đồng thời chuẩn hóathu gọn từ 10.000 bộ thủ tục cấp xã, 700 bộ thủ tục hành chính cấphuyện xuống còn 63 bộ thủ tục hành chính cấp xã và 63 bộ thủ tụchành chính cấp huyện tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

để thống nhất thực hiện tại từng địa phương [40]

Theo báo cáo môi trường kinh doanh năm 2011 của Ngân hàng Thế giớicông bố ngày 04 tháng 11 năm 2010, thông qua hoạt động cải cách đã đưa ViệtNam vào nhóm 10 nền kinh tế có nhiều sự cải thiện môi trường kinh doanh nhất

và tăng 10 lần trong bảng xếp hạng các nền kinh tế (đứng thứ 78 trong số 183nền kinh tế) Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) đánh giá Đề án 30 củaViệt Nam cho rằng "Chính phủ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trongviệc cải thiện quản trị công, nâng cao chất lượng thể chế, kích thích năng lựccạnh tranh và tăng trưởng bình đẳng" OECD cho rằng rất ít quốc gia trên thếgiới thực hiện được chương trình cải cách có quy mô như đề án 30 [40, tr 3]

Giai đoạn 2 của Đề án 30 Chính phủ đã ban hành 25 nghị quyết đơngiản hóa gần 5000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của

24 bộ, ngành làm cơ sở để thực thi phương án đơn giản hóa các thủ tục hànhchính này Sau khi các phương án đơn giản hóa này được thực thi trên thực tế

dự kiến sẽ cắt giảm 37,31% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho người dân

và doanh nghiệp, ước đạt gần 30.000 tỷ đồng mỗi năm Theo đó, dự kiến các

cơ quan trung ương phải sửa đổi trên 1.000 văn bản; cấp địa phương phải sửađổi khoảng 3.000 văn bản (ước tính mỗi tỉnh sửa khoảng 50 văn bản) Thôngqua đó giúp Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương phát hiện những bất cậpcủa hệ thống các quy định pháp luật về thủ tục hành chính đang gây khó khăn,cản trở cho người dân, doanh nghiệp cần phải được tháo gỡ kịp thời, hiệnthực hóa quyết tâm chính trị của Đảng, nhà nước về cải cách thủ tục hànhchính [40, tr 4]

Trang 33

Thông qua việc triển khai đề án, đã tổ chức nhiều lớp tập huấn vàhướng dẫn nghiệp vụ cho hàng chục nghìn cán bộ, công chức các ngành, cáccấp về nghiệp vụ thống kê, rà soát thủ tục hành chính Riêng Tổ công tácchuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ trong hơnmột năm qua đã tổ chức trên 20 khóa tập huấn cho 87 tổ công tác của 24 bộ,ngành và 63 địa phương, hướng dẫn trực tiếp hàng ngàn cán bộ chủ chốt củacác đơn vị thuộc bộ, ngành, địa phương về cách thức thống kê và rà soát thủtục hành chính Công tác này không chỉ có tác dụng phục vụ trực tiếp cho giaiđoạn thống kê, rà soát thủ tục hành chính mà còn có tác dụng thiết thực trongviệc góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cũng là bướcchuẩn bị chủ động cho việc triển khai giai đoạn đơn giản hóa thủ tục hànhchính tới đây [40].

Nhìn một cách tổng thể, Đề án 30 được triển khai hết sức khẩn trương,nghiêm túc, bảo đảm đúng tiến độ theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt.Những kết quả tích cực đã đạt được trong giai đoạn thống kê và rà soát thểhiện rõ bước chuyển cơ bản của khâu đột phá, đánh dấu bước tiến mới trongquá trình cải cách thủ tục hành chính, đưa nhiệm vụ cải cách thủ tục hànhchính đi vào chiều sâu

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai Đề án

không tránh khỏi những tồn tại và nhược điểm Thứ nhất, do chưa nhận thức

đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của Đề án nên vẫn có tình trạng lãnh đạomột số bộ, ngành và địa phương, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa dành

sự quan tâm thỏa đáng, cần thiết để chỉ đạo triển khai; thứ hai, chất lượng

thống kê, rà soát chưa đồng đều, tiến độ còn chậm so với thời gian quy định;

thứ ba, do thời gian triển khai ngắn, khối lượng công việc nhiều, công việc lại mới mẻ, phức tạp nên phải vừa làm vừa điều chỉnh, rút kinh nghiệm; thứ tư,

nguồn lực cả về con người cũng như tài chính chậm được bố trí kịp thời.Chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích và thu hút cán bộ có

Trang 34

chuyên môn cao tham gia Đề án Ở một số bộ, ngành, địa phương, vẫn còntình trạng cán bộ không muốn về làm việc tại Tổ công tác thực hiện đề án 30;

Thứ năm, công tác truyền thông phục vụ cho Đề án còn chậm, hiệu quả sự

tham gia trực tiếp của người dân và doanh nghiệp vào quá trình triển khaithống kê, rà soát chưa cao [40, tr 4]

Từ những kết quả đạt được mà Báo cáo 888/BC-VPCP đã thống kê vàdựa trên thực tế có thể thấy một thực trạng là trước đây công cuộc cải cáchhành chính đã được chú trọng nhưng không đạt được kết quả cao Chỉ đến khi

Đề án 30 ra đời công cuộc này mới đạt được những kết quả vượt bậc Bởi cầnphải xác định cải cách thủ tục hành chính là một khâu có thể nói là quan trọngnhất trong công cuộc cải cách hành chính, muốn cải cách hành chính thành côngphải thực hiện cải cách thủ tục hành chính mà phải xem xét thủ tục dưới giácngộ quy định hình thức - giải quyết phần ngọn Cách tiếp cận của Đề án 30

mà đặc biệt là sự ra đời của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 củaChính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính đã từng bước giải quyết tận gốcvấn đề cả về thủ tục lẫn chính sách bao gồm trình tự, cách thức, hồ sơ, thờihạn giải quyết, đối tượng thực hiện, cơ quan thực hiện, kết quả thực hiện, mẫuđơn, mẫu tờ khai hành chính, kết quả và thời hạn có hiệu lực của kết quả, phí,

lệ phí Với một nguồn lực hạn chế và vẫn còn những khó khăn trước mắtnhưng chỉ trong một thời gian ngắn, công tác cải cách thủ tục hành chính theo

đề án 30 đã đạt được các mục tiêu đề ra gắn với những kết quả cụ thể đạtđược Kết quả này đã khẳng định tính đúng đắn của một cách làm mới trongviệc triển khai hoạt động cải cách

Trang 35

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

2.1 TỔNG QUAN VỀ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN

vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ [23]

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quyđịnh trong Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 của Chính phủ vềquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tàinguyên và Môi trường Theo đó, Bộ có nhiệm vụ chỉ đạo, kiểm tra và tổ chứcthực hiện các chiến lược, chương trình quốc gia, kế hoạch dài hạn về quản lý,

sử dụng các tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địachất, môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, viễn thám, đo đạc

và bản đồ, biển và hải đảo [23]

Đối với lĩnh vực đất đai Nghị định khẳng định và làm rõ vai trò của

Bộ trong quản lý nhà nước về đất đai Phân định rõ nhiệm vụ của Bộ với BộTài chính trong nhiệm vụ định giá đất, trong đó Bộ sẽ xây dựng, trình Chínhphủ ban hành, điều chỉnh khung giá các loại đất, nguyên tắc, phương pháp xác

Trang 36

định giá đất, hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng bảng giá đất và định giá đất

cụ thể, Bộ hướng dẫn thẩm định giá đất

Đối với lĩnh vực tài nguyên nước, Bộ chịu trách nhiệm trước Chínhphủ trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý lưu vực sông trongphạm vi cả nước, Nghị định đã cụ thể hóa nhiệm vụ của Bộ về lập quy hoạch tổngthể điều tra cơ bản tài nguyên nước; lập kế hoạch phòng, chống ô nhiễm, suythoái, cạn kiệt nguồn nước; lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước…

Về lĩnh vực khoáng sản, nghị định cũng phân định rõ trách nhiệm của

Bộ với các Bộ, ngành và địa phương, như: Khoanh định, công bố khu vực cókhoáng sản phân tán nhỏ lẻ; khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia; khu vực cókhoáng sản độc hại; khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản…

Đối với lĩnh vực môi trường, nghị định đã làm rõ và phân định tráchnhiệm của Bộ trong quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, bảo tồn và sửdụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học, sức khỏe môi trường, quản lý chấtlượng môi trường nước, quản lý chất lượng môi trường không khí và phát thảihóa chất tại đô thị, lưu vực sông, vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế, khucông nghiệp, khu sản xuất dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng,

cơ sở y tế, làng nghề và khu dân cư nông thôn

Bộ cũng là cơ quan chịu trách nhiệm quy định việc đăng ký, cấp, thuhồi các loại giấy phép về khí tượng, thủy văn; phát hành và quản lý việc sửdụng phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tàisản gắn liền với đất; cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước; tổ chức việccấp, gia hạn và thu hồi giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; hướng dẫn,thực hiện việc đăng ký, công nhận, cấp, thu hồi các loại giấy phép, giấychứng nhận về môi trường và đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật

Bộ Tài nguyên và Môi trường là đầu mối hợp tác quốc tế trong cáclĩnh vực: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường,khí tượng thủy văn, đo đạc, bản đồ, biển và hải đảo; tổ chức đàm phán, ký

Trang 37

điều ước quốc tế theo ủy quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ký kếtcác thỏa thuận quốc tế nhân danh Bộ và tham gia các tổ chức quốc tế theo sựphân công của Chính phủ Riêng đối với lĩnh vực biến đổi khí hậu là một vấn

đề đang dành được rất nhiều sự quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn trêntoàn thế giới Bộ cũng là cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện các Điều ướcquốc tế, Nghị định thư có liên quan như Nghị định thư Kyoto về biến đổi khíhậu, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn

Trong nghị định cũng chỉ ra nhiệm vụ của Bộ Tài nguyên và Môitrường về cải cách hành chính: "Tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình cảicách hành chính của Bộ phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình cảicách hành chính nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt" [23].Như vậy có thể thấy được tầm quan trọng của nhiệm vụ cải cách thủ tục hànhchính đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.1.2 Các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn

vị Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Cục Môi trường (BộKhoa học, Công nghệ và Môi trường), Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

và Viện Địa chất và Khoáng sản (Bộ Công nghiệp) và bộ phận quản lý tàinguyên nước thuộc Cục quản lý nước và công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn) Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năngquản lý nhà nước trong các lĩnh vực: quản lý tài nguyên đất, địa chất và khoángsản, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ, tài nguyên nước, môi trường, biển và hảiđảo Do đó các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên

và Môi trường là những thủ tục hành chính về 6/7 lĩnh vực nêu trên, riêng lĩnhvực biển và hải đảo hiện nay chưa có thủ tục hành chính Cụ thể như sau:

Lĩnh vực tài nguyên nước bao gồm các thủ tục hành chính: cấp giấyphép, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử

Trang 38

dụng nước mặt; cấp giấy phép, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dunggiấy phép thăm dò nước dưới đất; cấp giấy phép, gia hạn, thay đổi thời hạn,điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất; cấp giấyphép, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép xả nước thảivào nguồn nước; cấp giấy phép, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép hànhnghề khoan nước dưới đất, xét duyệt quy hoạch các lưu vực sông lớn.

Lĩnh vực khoáng sản bao gồm các thủ tục hành chính: cấp, gia hạn, trảlại giấy phép khảo sát khoáng sản; cấp, gia hạn, trả lại, hoặc trả lại một phầndiện tích thăm dò khoáng sản; chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản;tiếp tục thực hiện quyền thăm dò khoáng sản; cấp, gia hạn, trả lại giấy phépkhai thác khoáng sản hoặc trả lại một phần diện tích khai thác khoáng sản;chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản; tiếp tục thực hiện quyền khaithác khoáng sản; cấp, gia hạn, trả lại giấy phép chế biến khoáng sản; chuyểnnhượng quyền chế biến khoáng sản; tiếp tục thực hiện quyền chế biến khoángsản; giải quyết thủ tục tham khảo, sao chụp tài liệu địa chất; hồ sơ thẩm định,xét và phê duyệt trữ lượng khoáng sản trong báo cáo thăm dò khoáng sản; hồ

sơ báo cáo công nhận kết quả chuyển đổi cấp trữ lượng và cấp tài nguyênkhoáng sản rắn, hồ sơ thẩm định báo cáo trình công nhận chỉ tiêu trữ lượng;xác nhận tính hợp pháp của tài liệu, mẫu vật địa chất và khoáng sản đưa ranước ngoài; tham khảo, cung cấp tài liệu địa chất và khoáng sản; giao nộp báocáo địa chất, đóng cửa mỏ

Lĩnh vực môi trường bao gồm các thủ tục hành chính: cấp mới, giahạn hoặc điều chỉnh giấy phép hành nghề xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại;cấp mới, gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép hành nghề vận chuyển chất thảinguy hại; cấp mới, điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại;thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), môi trường chiếnlược (ĐMC), môi trường bổ sung (ĐTM bổ sung); xác nhận việc thực hiệncác nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánhgiá tác động môi trường; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế

Trang 39

liệu; xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường

bổ sung

Lĩnh vực đo đạc bản đồ bao gồm các thủ tục hành chính: cấp, bổ sung,gia hạn, cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; đăng ký, bổ sung nộidung đăng ký hoạt động đo đạc và bản đồ; thẩm định việc thể hiện đường địagiới và các yếu tố liên quan đến đường địa giới hành chính trên bản đồ trướckhi xuất bản hoặc giao nộp để lưu trữ; thẩm định việc thể hiện đường biêngiới và các yếu tố liên quan đến biên giới, biển đảo trên các loại bản đồ, hải

đồ trước khi xuất bản hoặc giao nộp để lưu trữ; cung cấp thông tin tư liệu đođạc và bản đồ; cung cập thông tin tư liệu đo đạc và bản đồ; thẩm định hồ sơnghiệm thu, hồ sơ quyết toán công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ

Lĩnh vực đất đai bao gồm các thủ tục hành chính: cấp, đổi, thu hồigiấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cho thuê đất; giao đất; đăng ký biến động

sử dụng đất; bồi thường giải phóng mặt bằng; chuyển mục đích sử dụng đất;đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; gia hạn sử dụng đất; xóađăng ký cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; xóa đăng ký thế chấp, bảolãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thẩm định quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất

Lĩnh vực khí tượng thủy văn bao gồm một số các thủ tục hành chính:cấp, gia hạn, cấp lại, điều chỉnh nội dung giấy phép hoạt động của công trìnhkhí tượng thủy văn chuyên dùng; cấp, cấp lại, gia hạn, bổ sung giấy phép hoạtđộng báo áp thấp nhiệt đới, bão lũ; cấp thư xác nhận hoặc thư phê duyệt dự ántheo cơ chế phát triển sạch (CDM); cung cấp thông tin, tư liệu khí tượng thủyvăn; đánh giá chất lượng tư liệu khí tượng thủy văn; xác nhận chất lượngphương tiện đo khí tượng thủy văn; đăng ký nhập, xuất khẩu, tạm nhập - táixuất các chất làm suy giảm tầng ô-dôn

Để người dân cũng như các tổ chức có thể dễ dàng tiếp cận với cácthủ tục hành chính trong các lĩnh vực do Bộ quản lý, các thủ tục tục hành

Trang 40

chính được quy định cụ thể và rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật.Song hành cùng hoàn thiện cơ cấu tổ chức công tác xây dựng văn bản quyphạm pháp luật luôn được Lãnh đạo Bộ quan tâm chỉ đạo sát sao đảm bảophục vụ tốt mục đích quản lý nhà nước cũng như thuận tiện nhất cho ngườidân Theo đó, trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành,

Bộ đã trình Chính phủ một số các văn bản mới sửa đổi, bổ sung các văn bản

đã ban hành hoặc hoàn thiện hệ thống văn bản trong một số lĩnh vực chưa có.Trong lĩnh vực đất đai hiện nay Bộ đã trình và đang lấy ý kiến góp ý đối với

dự thảo Luật Đất đai sửa đổi; lĩnh vực địa chất và khoáng sản Bộ đã ban hànhLuật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành; lĩnh vực biển và hải đảo

Bộ đang hoàn thiện Luật Bảo vệ Môi trường biển và hải đảo để trình Quốchội trong thời gian tới; lĩnh vực Môi trường Bộ đang xây dựng Luật Môitrường sửa đổi; lĩnh vực Tài nguyên nước Bộ đã ban hành Luật Tài nguyênnước nhưng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành; lĩnh vực khí tượng thủyvăn và biến đổi khí hậu hiện nay Bộ cũng đang triển khai việc xây dựng Luật.Một thực tế đặt ra là việc xác định thẩm quyền quy định thủ tục hành chính có

ý nghĩa rất quan trọng nó vừa đảm bảo nguyên tắc khách quan trong xây dựngthủ tục hành chính vừa phù hợp với nhu cầu thực tế của đời sống hiện tại Nếucác cơ quan quản lý nhà nước một mặt quy định các thủ tục, một mặt lại tựmình quản lý, thực hiện các thủ tục đó liệu việc quản lý và thực hiện này cóđược "vô tư" không? Nhận thức được vấn đề này, đồng thời xác định vai trò,trách nhiệm của Bộ là một Bộ "đa ngành, đa lĩnh vực" các lĩnh vực thuộc quyềnquản lý là những lĩnh vực gắn liền với dân, đáp ứng đời sống hàng ngày củadân, Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường luôn đặc biệt quan tâm đến việcxác định "sự can thiệp" của mình đến đâu trong giải quyết các thủ tục hànhchính

Hiện nay, việc thực hiện các thủ tục hành chính được phân cấp mạnhcho các địa phương mà cụ thể là cấp tỉnh, cấp huyện và thậm chí là cấp xã Bộchỉ quản lý trên cơ sở hướng dẫn, kiểm tra và bằng các báo cáo định kỳ trong

Ngày đăng: 16/06/2021, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thiệu Anh (2009), "Công bố Bộ thủ tục hành chính của ngành Tài nguyên và Môi trường", www.cchc.monre.gov.vn, ngày 10/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố Bộ thủ tục hành chính của ngành Tài nguyênvà Môi trường
Tác giả: Thiệu Anh
Năm: 2009
2. Nguyễn Hoàng Anh (2011), Một số vấn đề về cải cách thủ tục hành chính, Báo cáo tổng thuật đề tài cấp khoa, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cải cách thủ tục hành chính
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2011
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Quyết định số 366/QĐ-BTNMT ngày 26/3 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế "Một cửa" về thủ tục hành chính tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cửa
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Quyết định số 1355/QĐ-BTNMT ngày 4/7 về việc thành lập Tổ công tác thực hiện Đề án 30, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1355/QĐ-BTNMTngày 4/7 về việc thành lập Tổ công tác thực hiện Đề án 30
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Quyết định số 1527/QĐ-BTNMT ngày 7/8 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố Bộ thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1527/QĐ-BTNMTngày 7/8 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố Bộthủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tàinguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Báo cáo sơ kết thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết thực hiện Đề án đơngiản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn2007 - 2010
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Quyết định số 1226/QĐ-BTNMT ngày 24/6 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành Quy chế thống kê, công bố, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1226/QĐ-BTNMTngày 24/6 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành Quychế thống kê, công bố, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hànhchính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài nguyên và Môitrường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Quyết định số 1227/QĐ-BTNMT ngày 24/6 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1227/QĐ-BTNMTngày 24/6 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành Quychế tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy địnhhành chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2007 - 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cải cách thủ tục hànhchính giai đoạn 2007 - 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
11. Chính phủ (1994), Nghị quyết số 38/CP ngày 04/05 về cải cách một bước thủ tục hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 38/CP ngày 04/05 về cải cách một bướcthủ tục hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
12. Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giaiđoạn 2001-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
13. Chính phủ (2003), Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg Ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế "Một cửa" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộtcửa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
14. Chính phủ (2004), Nghị định số 149/NĐ-CP ngày 27/7 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 149/NĐ-CP ngày 27/7 quy định việc cấpphép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồnnước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
15. Chính phủ (2005), Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủvề tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
16. Chính phủ (2007), Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 10/01 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 10/01 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trêncác lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Chính phủ (2007), Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính ở địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ về ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liênthông tại các cơ quan hành chính ở địa phương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
18. Chính phủ (2008), Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/01 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án 30, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/01 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án 30
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
19. Chính phủ (2008), Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02 về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02 về việc tiếpnhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hànhchính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
20. Chính phủ (2010), Nghị quyết số 25/NĐ-CP ngày 02/6 về phương án đơn giản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 25/NĐ-CP ngày 02/6 về phương án đơngiản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý củaBộ, ngành
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
21. Chính phủ (2010), Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6 về kiểm soát thủ tục hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6 về kiểm soátthủ tục hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w