Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học Quyền hiến tạng của trẻ em: Phân tích quy định của Luật quốc tế và so sánh quy định luật của Việt Nam với các quốc gia khác trên cơ sở tiêu chuẩn của Luật quốc tế
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
- -
TIỂU LUẬN MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: Quyền hiến tạng của trẻ em: Phân tích quy định của Luật
quốc tế và so sánh quy định luật của Việt Nam với các quốc gia khác trên cơ sở
tiêu chuẩn của Luật quốc tế
Họ và tên: Bùi Hoàng Vy
MSSV: LQT45B-051-1822
Học viện Ngoại Giao
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Giảng viên: Th.S Nguyễn Hải Duyên
T.s Trịnh Hải Yến
Hà Nội, 2020
Trang 2
và hiến xác sau khi chết vì đây được coi là một hành động mang tính nhân đạo , không những góp phấp cứu giúp người bệnh mà còn phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học giúp
y tế thế giới phát triển Tuy nhiên , đối với những các nhân chưa có đi nhận thức và năng lực hành vi pháp lý như trẻ em thì liệu quyền hiến xác và hiến tạng có được công nhận , Luật quốc tế đã quy định thế nào về quyền hiến tạng của trẻ em , Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền hiến tạng của trẻ em hay chưa và khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thế giới đã có những quy định khác nhau như thế nào về quyền của nhóm cá nhân này Trong bài luận này, người viết sẽ đi tìm hiểu về những vấn đề quan trọng được liệt kê trên
Trang 3
1 Phân tích cơ sở pháp lý của Luật quốc tế về Quyền trẻ em
Như đã dẫn dắt ở phần mở đầu thì sự phát triển của xã hội chính là cơ sở cho sự phát triển của nhân quyền thế giới, đặc biệt là nhóm quyền nhân thân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ dưới nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, được ghi nhận càng nhiều hơn trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế Pháp luật xét về tính giai câp luôn bảo vệ giai cấp thống trị, tuy nhiên xét đến cùng vẫn là một phần của kiến trúc thượng tầng, do đó luôn phải chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng Đáp ứng những nhu cầu như cầu khách quan, những mong muốn của các cá nhân trong xã hội, pháp luật hiện đại ngày càng ghi nhận và bảo vệ rộng rãi các quyền của cá nhân, trong đó có quyền hiến
mô, tạng
Hiến tạng được định nghĩa là khi một người cho phép một cơ quan của họ được cho tặng một cách hợp pháp hoặc bằng sự đồng ý khi người cho tặng còn sống hoặc sau khi chết với sự đồng ý của thân nhân bên cạnh Việc hiến tặng nội tạng có thể dùng để nghiên cứu hoặc các cơ quan và mô của người khỏe mạnh hơn có thể được cấy ghép vào
cơ thể người khác
Hiến tạng là một nghĩa cử cao đẹp và được hợp pháp hóa trên mọi quốc gia bao gồm cả luật quốc tế như một sự khuyến khích đối với những cá nhân đã trưởng thành Tuy nhiên, đối với nhóm cá nhân là trẻ em thì việc tồn tại những văn bản pháp luật quốc
tế nói chung và quốc gia nói riêng quy định cụ thể về quyền này vẫn còn vô cùng hạn chế
1.1 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1991
Nhánh chính của Luật Nhân quyền quốc tế tồn tại đến ngày hôm nay được sử dụng
để thông báo cách mà luật quốc gia thúc đẩy quyền trẻ em ở Vương quốc Anh Chắc chắn rằng, việc chuyển những ý tưởng ban đầu về quyền của trẻ em thành những quy định trong luật pháp nước Anh đã được đẩy nhanh bởi chính phủ Anh thông qua việc phê chuẩn một loạt các văn kiện quốc tế do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và Hội đồng Châu
Âu chuẩn bị Trong đó, công ước có tầm quan trọng nổi bật là Công ước Liên hợp quốc
về Quyền trẻ em (CRC) được Vương quốc Anh phê chuẩn năm 1991
Công ước này là một danh sách dài về quyền của trẻ em, thể hiện sự nỗ lực miệt mài để xác định nhu cầu và nguyện vọng của trẻ em Mặc dù không phải là một phần của Luật nước Anh, nhưng hiện tại nó có ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đối với sự phát triển
Trang 4của luật nhân quyền quốc tế và thường được sử dụng như khuôn mẫu của Luật quốc tế để
đo lường các tiêu chuẩn của luật quốc gia1
Hiện nay, tất cả các quốc gia trên thế giới là thành viên của Liên hợp quốc, ngoại trừ Hoa Kỳ, đều đã phê chuẩn công ước này Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990
Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định trong công ước này theo luật quốc tế2 Điều 1 của Công ước có định nghĩa “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.”3
Trong văn bản 20 trang này, nội dung chính của các quy định có thể được tóm lược như sau: Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó
về mọi vấn đề tác động đến trẻ em, và những quan điểm đó phải được coi trọng một cách thích đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em Tóm tắt lại thì trẻ
em có quyền sống trong một môi trường an toàn mà không bị phân biệt đối xử, trẻ em có quyền tiếp cận nước, thức ăn, được chăm sóc y tế, giáo dục và có tiếng nói trong các quyết định có ảnh hưởng đến hạnh phúc, phúc lợi của trẻ Những quyền được liệt kê trong công ước này đều là những quyền cơ bản và chung nhất của trẻ em mà các quốc gia thành viên có nghĩa vụ bảo vệ Tuy nhiên không có quy định cụ thể nào về độ tuổi mà trẻ
em có quyền hiến tạng cũng như điều kiện hay trường hợp ngoại lệ mà trẻ em được bày
tỏ nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể khi còn sống cũng như sau khi qua đời
1.2 Công ước châu Âu về Quyền con người (ECHR) năm 1953
Trong khuôn khổ của Hội đồng châu Âu, Công ước châu Âu về quyền con người
và các quyền tự do cơ bản (ECHR), có hiệu lực từ năm 1953, là một hiệp ước quốc tế nhằm bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ở châu Âu Không giống như CRC, ECHR không được thiết kế đặc biệt để bảo vệ trẻ em như một nhóm Nhưng họ, với tư cách là con người, dùng tiếng nói để kêu gọi và tuyên bố sự bảo vệ của mình, điều đó cũng đã thay đổi cách thức bảo vệ quyền trẻ em ở những đất nước này Thật vậy, kể từ năm 1959, khi Tòa án Nhân quyền Châu Âu được thành lập để xét xử các khiếu nại vi phạm Công ước Châu Âu, giới chuyên môn ở Vương quốc Anh biết rằng họ có thể sử
1Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the Developing
Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 31
Trang 5dụng một phương sách cuối cùng đó là tìm kiếm sự hỗ trợ của Tòa án để củng cố các khiếu nại của trẻ em rằng quyền của họ theo Công ước đã bị xâm phạm
ECHR chắc chắn sẽ gây ra những thay đổi mạnh mẽ hơn trong tương lai khi các quyền mà nó quy định đã được coi là một phần của luật trong nước Vào ngày 2 tháng 10 năm 2000, ngày mà Đạo luật Nhân quyền 1998 được thực thi, các quyền được liệt kê trong ECHR đã rời khỏi phạm vi quốc tế và trở thành một phần của luật lệ trong nước4 Mặc dù có vị thế mới là một phần của luật quốc gia của Vương quốc Anh, nhưng không có chương nào của văn bản này đề cập đến việc đánh giá quyền trẻ em từ góc độ quốc tế
Việc ban hành một số lượng lớn các human rights instruments (tạm dịch: văn bản
về nhân quyền) được coi là thiết yếu đối với cuộc sống văn minh Nỗ lực tăng cường đoàn kết quốc tế bao gồm thành lập Liên hợp quốc với các điều lệ có hiệu lực vào năm
1945, hoạt động này được coi là động thái nhằm tăng cường nhân quyền nói chung trên toàn thế giới5 Mặc dù trẻ em được hưởng lợi từ nó, nhưng những văn bản này không nhằm mục đích bảo vệ họ như một nhóm cụ thể Điều này rõ ràng được thể hiện từ Hiến chương Liên Hợp Quốc, việc họ tìm cách thúc đẩy và khuyến khích các quyền con người
và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo Mặc dù chắc chắn không loại trừ trẻ em khỏi phạm vi của nó, nhưng tài liệu trên cũng không đề cập cụ thể đến chúng và các quyền cụ thể đi kèm với nhóm cá nhân này
Tương tự, Tuyên ngôn Nhân quyền được thông qua năm 1948 (UDHR) có liên quan đến trẻ em và đảm bảo quyền bình đẳng và không thể thay đổi của loài người nói chung, song, văn bản này cũng không cố gắng cung cấp một loạt các quyền phù hợp hơn cho trẻ em có nhu cầu của riêng mình6
1.3 Tuyên ngôn về Quyền trẻ em năm 1924
Hiện nay có rất nhiều văn bản nhân quyền của Liên Hợp Quốc đề cập đến quyền trẻ em trong các bối cảnh khác nhau, nhưng một lần nữa, điểm nhấn chính của chúng không phải là trẻ em Phải thừa nhận rằng, một số, ví dụ như các giao ước song sinh được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) (Việt Nam gia nhập hai công ước này vào năm 1982), có đặc biệt đề cập đến
4
Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the Developing
Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 31
5 Như trên
6
Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the Developing
Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 34
Trang 6các nhu cầu đặc biệt của trẻ em7 Tuy nhiên, các tài liệu nhân quyền nói chung này không
cố gắng giải quyết một cách phổ rộng nhu cầu của trẻ em, cũng không khiến trẻ em trở thành tâm điểm chú ý chính của chúng
Mặc dù tính dễ bị tổn thương đặc biệt của trẻ em đã được công nhận sớm hơn nhiều so với hoạt động nhân quyền quốc tế do Chiến tranh thế giới thứ hai tạo ra, nhưng
có rất ít tiến triển trong việc tạo ra một công cụ điều chỉnh một nhóm cá nhân đặc biệt và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ
Vào năm 1924, tài liệu quốc tế quan trọng đầu tiên chỉ tập trung vào việc bảo vệ quyền trẻ em đã được Hội nghị thứ năm của Liên minh các quốc gia thông qua Văn bản này là Tuyên ngôn về quyền trẻ em hay còn được gọi là Tuyên bố Genève, trong đó bao gồm 5 nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm, nghĩa vụ chung của xã hội và gia đình đối với việc bảo vệ quyền của trẻ em8 Nguyên tắc đầu tiên của Tuyên ngôn đã quy nạp một cách chung nhất những phúc lợi mà một đứa trẻ có thể nhận được: “The child must be given the means requisite for its normal development, both materially and spiritually” 9(tạm dịch: Đứa trẻ phải được cung cấp các phương tiện cần thiết cho sự phát triển của nó, về
cả vật chất và tinh thần) Nguyên tắc thứ hai cũng khẳng định: “The child that is hungry must be fed; the child that is sick must be nursed ”10 (tạm dịch: Đứa trẻ khi bị đói phải được ăn và được chăm sóc khi bị ốm) Nguyên tắc thứ ba thậm chí còn đi thẳng vào vấn
đề và nêu rõ: “The child must be the first to receive relief in times of distress.”11 (tạm dịch: Trẻ em phải là đối tượng đầu tiên nhận được sự giúp đỡ trong lúc khó khăn)
Tuyên bố Genève nhìn chung rất ngắn gọn, thậm chí quá ngắn gọn và chỉ mang tính lý tưởng, vì nó chỉ khiến các quốc gia thành viên phải gồng mình thực hiện các nguyên tắc trong công tác phúc lợi trẻ em
1.4 Tuyên bố về Quyền trẻ em năm 1959
Tài liệu có tầm quan trọng lớn hơn đối với việc thúc đẩy quyền trẻ em là Tuyên bố
về Quyền trẻ em, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1959 Đây là một tài liệu dài hơn chứa mười nguyên tắc, nhưng một lần nữa, vì nó mang những hạn chế của một tuyên bố nên văn bản này đã không nêu rõ được rằng những "quyền" được liệt kê cấu thành nghĩa vụ pháp lý gì Thay vào đó, các quốc gia chỉ đơn thuần là cần lưu ý các nguyên tắc có trong đó, trên cơ sở thừa nhận rằng chúng được áp dụng trên phạm vi tất cả
7
Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the Developing
Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 34
Trang 7trẻ em không phân biệt quốc tịch, tuổi tác, màu da, địa vị xã hội Một số nguyên tắc được nêu trong Tuyên bố năm 1959 hiện có vẻ bị lý tưởng hóa, một số khác đơn giản là đã lỗi thời12
Ví dụ, nội dung của nguyên tắc 6 đề cập đến nhu cầu “yêu thương và hiểu biết” của trẻ, và “in any case, in an atmosphere of affection and of moral and material security”13 (tạm dịch: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, được lớn lên trong bầu không khí yêu thương và đạo đức, đảm bảo về vật chất), vô cùng mơ hồ Các phần khác cũng phản ánh những ý tưởng rập khuôn đã lỗi thời về vai trò của những người mẹ và người cha trong cuộc sống của con cái của họ Nguyên tắc 6 cũng khẳng định rằng “a child of tender years shall not, save in exceptional circumstances, separated from his mother” Những khía cạnh sau này của Tuyên bố năm 1959 cho thấy nó quá lỗi thời để bất kỳ quốc gia nào có thể chấp nhận trong hệ thống pháp luật trong nước
Sự liên quan về mặt giá trị và thời điểm của Tuyên bố Liên Hợp Quốc 1959 là quá
xa cách với thời điểm hiện tại Về mặt chính sách xã hội có liên quan, có thể nói là gần như cổ xưa vì nó đã gần 61 tuổi, về mặt phát triển xã hội và về sự hiểu biết đối với sự phát triển và phúc lợi của trẻ em cũng đã là một thời gian quá dài Mặc dù cách diễn đạt
có phần lỗi thời, song, tầm quan trọng của Tuyên bố 1959 nằm ở chỗ nó thể hiện nỗ lực nghiêm túc trong những năm đầu tiên để mô tả một cách hợp lý và chi tiết những gì cấu thành nên yêu sách và quyền lợi của trẻ em14 Việc áp dụng nhiều nguyên tắc của nó là quá rõ ràng để biện minh cho việc đưa vào bất kỳ tài liệu nào trong tương lai nhằm mang tầm vóc của luật pháp quốc tế
Tuy nhiên, một số ý tưởng chứa trong đó hiện đại một cách đáng ngạc nhiên và xuất hiện trở lại một cách chi tiết hơn trong CRC, được áp dụng sau 30 năm vào năm
1989 Ví dụ như việc nó đề cập đến quyền không bị phân biệt đối xử của trẻ, về cả vật chất và tinh thần, đối với các quyền kinh tế xã hội, như nhà ở, chăm sóc y tế và thực phẩm, và quyền giáo dục và bảo vệ khỏi sự bóc lột, bỏ bê và đối xử tàn ác Nó cũng là một tham chiếu đối với quyền đặt tên và quốc tịch của trẻ15
Có lẽ tính tổng quát của Tuyên bố năm 1959 và việc thiếu sót sự ràng buộc về mặt pháp lý của nó đã dẫn đến việc nhiều quốc gia tiếp tục phớt lờ các tình trạng kinh khủng
mà số lượng lớn trẻ em phải chịu Cụ thể, không có sự thừa nhận rằng trẻ em có quyền, như người lớn, đối với quyền con người thế hệ đầu tiên, các quyền tự do khỏi sự áp bức
12
Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the
Developing Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 35
13
Declaration of the Rights of the Child (1959), United Nations General Assembly, Principle 6
14 Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the
Developing Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 35-36
15
Như trên
Trang 8của nhà nước Thật vậy, việc cấm tham chiếu đến tên và quốc tịch, không hề có đề cập đến quyền dân sự và chính trị của trẻ em CRC đã được kêu gọi để có một cách tiếp cận
có hệ thống hơn để bảo vệ quyền trẻ em
Đến thập niên 1970, mối lo ngại ngày càng tăng đối với việc vi phạm quyền trẻ em trên toàn thế giới cuối cùng đã dẫn đến một động thái thiết lập một tài liệu quốc tế bảo đảm quyền trẻ em thông qua việc áp dụng các nghĩa vụ pháp lý Năm 1976, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, đã thực hiện một yêu cầu từ Ban điều hành của UNICEF, tuyên bố International Year of the Child (tạm dịch: Năm quốc tế của trẻ em) năm 1979 và kêu gọi các chính phủ kỷ niệm năm đó bằng cách thực hiện những đóng góp đặc biệt để cải thiện phúc lợi của trẻ em Chính vì thế, chính phủ Ba Lan năm 1978, đã đệ trình lên ban Nhân quyền Quốc gia Hoa Kỳ dự thảo về CRC mới Nó có hình thức gần giống với Tuyên bố năm 1959 và được kỳ vọng rằng nó có thể được Liên Hợp Quốc thông qua vào năm sau, như một tài liệu mang tính rang buộc về mặt pháp lý quốc tế Gần mười năm đã trôi qua trước khi bản dự thảo cuối cùng của CRC được hoàn thành vào năm 1988 và đệ trình lên
Ủy ban Nhân quyền và phê duyệt năm 1989, cuối cùng, nó đã được Đại hội đồng thông qua vào tháng 11 năm 1989, bắt đầu có hiệu lực vào năm 1990 Dự thảo được Vương quốc Anh phê chuẩn vào năm 1991 và có hiệu lực tại Vương quốc Anh vào tháng 1 năm
199216
1.5 Nhận xét các quy định của Luật quốc tế về quyền hiến tạng của trẻ em
Trong suốt khoảng thời gian hậu Thế chiến thứ II, có thể thấy Luật nhân quyền quốc tế đã có những bước chuyển mình đáng kể, thể hiện nỗ lực miệt mài của các quốc gia trong Hội đồng Liên hợp quốc nói riêng và các quốc gia trên toàn thế giới nói chung nhằm nâng cao giá trị của mỗi cá nhân trong xã hội và bảo vệ những nhóm người yếu thế như trẻ em Tuy nhiên, với những quyền cụ thể như quyền hiến tạng của trẻ em thì vẫn chưa có văn bản Luật quốc tế nào ghi nhận và quy định rõ ràng Do vậy, để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta cần tra cứu và đối chiếu vào Luật quốc gia để tìm câu trả lời chi tiết, minh bạch hơn
2 Pháp luật của một số nước trên thế giới về quyền hiến tạng, hiến xác của trẻ em:
2.1 Bối cảnh quốc tế
Trong khoa học pháp lý, “quyền” là khái niệm dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế Như vậy, quyền
16
Jane Fortin LLB, Solicitor (2005) International Children’s rights Children’s Rights and the
Developing Law, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 36
Trang 9chính là sự tự do trong ý chí quyết định hành động của một chủ thể mà dấu hiệu nhận biết tối quan trọng chính là sự ghi nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các quy định của pháp luật Dấu hiệu thứ hai đó là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định Theo đó, quyền của cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội17
Đối với cá nhân, từ khi cá nhân đó sinh ra đã có những quyền cơ bản nhất định và những quyền cụ thể khác phát sinh khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định Vậy đối với nhóm cá nhân là trẻ em, những người chưa phát triển toàn diện từ thể chất đến tâm lý, đồng thời chưa có đầy đủ năng lực thực hiện hành vi dân sự thì có nên có quyền tự định đoạt đối với thân thể mình, cụ thể là hiến tạng hay không ?
Trao tặng một phần cơ thể của mình nhằm đem lại nguồn sống và một cuộc đời mới cho ai đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp những mặt trái của câu chuyện cấy ghép nội tạng là có những cá nhân vì lợi ích của bản thân mà hoạt động trong đường dây mua bán nội tạng trẻ em Ở Mỹ hiện có khoảng hơn trăm nghìn người đang chờ được cấy ghép nội tạng, nhiều “con buôn” nhẫn tâm bắt cóc trẻ em từ những quốc gia lân cận và sẵn sàng bán lại sang Mỹ với giá hàng chục ngàn USD để tước đoạt nội tạng của các em
Đối với người dân Việt Nam thì vấn nạn bắt cóc trẻ em để lấy nội tạng bán sang Trung Quốc vẫn hàng ngày hàng giờ là nỗi lo đối với các bậc phụ huynh mỗi khi để trẻ ra đường một mình mà không có sự giám sát của người lớn Tại Syria, bất ổn chính trị kéo dài cũng đã đẩy người dân của đất nước này rơi vào thảm họa nhân đạo, trong đó có nỗi
ám ảnh mang tên “bắt cóc trẻ em lấy nội tạng”
Tại quận al-Qadam, phía Nam thủ đô Damascus, Syria, một bà mẹ tên Nidia Kamal đã tường thuật lại việc con gái chị mất tích 10 ngày Ngay khi nhận được cuộc điện thoại đến nhận con, niềm vui chưa kịp vỡ òa thì chị Nidia xót xa phát hiện trên người cô con gái tám tuổi của mình có dấu hiệu của việc cắt mổ Bác sĩ quận sau đó xác nhận cô bé đã bị đánh cắp một quả thận18
Những tiêu cực xảy ra gây rối loạn trật tự an toàn xã hội do sự thiếu chặt chẽ của
hẹ thống pháp luật, những ác mộng đối với nhiều gia đình khi con cái của họ bất cứ khi nào đều có thể trở thành một mặt hàng được giao dịch tại các “chợ đen” bởi những kẻ bất
17
Minh Khuê (2019) Quyền là gì? Khái niệm quyền được hiểu như thế nào theo quy định pháp luật?,
< https://journal.hiu.vn/vi/the-le-viet-va-gui-bai/cach-trich-dan-tai-lieu-tham-khao >, xem 11/6/2020 18
Anh Thông (2015) Trẻ em và quyền được hiến tạng, < duoc-hien-tang-c919a2015051612412391.htm >, xem 11/6/2020
Trang 10http://ongbachau.vn/doi-song/tre-em-va-quyen-lương, đòi hỏi các quốc gia phải đề ra những nguyên tắc và rà soát lại các quy định pháp luật sao cho phù hợp với bối cảnh xã hội và hạn chế tiêu cực tiếp diễn
2.2 Luật Cấy ghép nội tạng của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, hàng năm có khoảng 50-60 ca ghép tạng từ người chết não được thực hiện, tuy nhiên, rất hiếm (0 - 6%) ca ghép tạng như vậy được thực hiện ở trẻ em mỗi năm Trong khi đó, theo số liệu thống kê thì những bệnh nhân đang nằm trong danh sách chờ nhận phổi, tim và thận tại đất nước này nhiều hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới19 Rất ít nguồn tạng có sẵn được hiến bởi những người bị chết não hoặc được cấy ghép lại cho người trưởng thành kể cả khi đã có sẵn, bao gồm cả những đứa trẻ phải tạm biệt cuộc sống trong quá trình đợi nguồn tạng phù hợp từ những bệnh nhân chết não
Khi nhu cầu quá lớn mà nguồn cung không được quản lý chặt chẽ dẫn đến nhiều vấn đề tiêu cực phát sinh Luật Cấy ghép nội tạng có hiệu lực từ năm 1977 của Nhật Bản từng cấm sử dụng nguồn hiến tạng từ trẻ em dưới 15 tuổi để đề phòng trường hợp biến tướng hoặc trường hợp người dân phải tìm đến nguồn cung cấp nội tạng bất hợp pháp từ những “chợ đen” của nước ngoài Những thách thức đang tồn tại, đòi hỏi những nhà làm luật của nước này phải hợp lý hóa khuôn khổ pháp luật hiện hành để thúc đẩy việc hiến tạng cho trẻ em, của trẻ em và giữa trẻ em với nhau
Năm 2010, Luật Cấy ghép nội tạng của nước này đã được sửa đổi với những quy định nghiêm ngặt, theo đó cho phép trẻ em được xác nhận chết não có thể hiến tạng và
mở rộng giới hạn biên độ tuổi để hợp pháp hóa việc hiến tạng của trẻ em dưới 15 tuổi20 Điều kiện để những đứa trẻ này có thể thực hiện quyền hiến tạng của mình đó là khi có văn bản ghi rõ tâm nguyện của mình và có sự đồng ý của gia đình21 Điều này đã tạo cơ hội cho khả năng cấy, ghép nội tạng trong nước cho trẻ em bị suy nội tạng thay vì phải chi trả cho những ca phẫu thuật ghép tim đắt đỏ và các bộ phận quan trọng khác ở nước ngoài, điều mà vẫn xảy ra trong nhiều năm trước đó Với sự thay đổi trong quy định pháp luật này, Nhật Bản đã thể hiện những tiến bộ rõ rệt trong công nghệ y tế chuyên sâu trong thập kỷ vừa qua, đồng thời là nỗ lực thúc đẩy số người tình nguyện hiến tạng ở đất nước này bao gồm cả trẻ em
Trong khi các số liệu được báo cáo cho thấy việc sử dụng tim của trẻ em trong các phẫu thuật cấy ghép nội tạng nhi khoa đang là một vấn đề gây tranh cãi thì vẫn có những
19 Nao Nishimura, Mureo Kasahara, Kenji Ishikura and Satoshi Nakagawa (2017) Current status of
pediatric transplantation in Japan, <https://link.springer.com/article/10.1186/s40560-017-0241-0 >, xem 12/6/2020
20
Như trên
21 Kaoruko Aita (2012) The Family-oriented priority Organ Donation Clause in Japan: Fair Or Unfair,
Proceedings of 2012 Uehiro -Carnegie-Oxford Ethics Conference
Trang 11trường hợp cả hai bên thận của một người lớn được nhận từ người hiến là trẻ em vẫn được ghi nhận Trường hợp này không phải là hiếm, không chỉ bởi tỉ lệ thành công và sống sót cao hơn khi một người lớn được ghép thận từ một đứa trẻ mà còn bởi vai trò của những ca phẫu thuật như vậy trong việc duy trì chức năng thận đầy đủ cho người nhận về lâu dài
Tuy nhiên, có các bác sĩ và chuyên gia lưu ý rằng, việc ưu sử dụng thận từ những người hiến tặng là trẻ em trong các phẫu thuật nhi khoa là rất quan trọng Khi đứa trẻ đã nằm trong danh sách chờ cấy ghép tạng quá lâu thì nguy cơ ảnh hưởng xấu đến thành công của phẫu thuật cũng như sự phát triển của thận được ghép càng lớn, rủi ro này sẽ được giảm thiểu nếu thận được ghép là của trẻ em Trong phẫu thuật cấy ghép phổi cũng vậy, sự cân nhắc luôn được đề cao hơn bao giờ hết đẻ đảm bảo sự ưu tiên sử dụng nguồn phổi được hiến từ trẻ em trong các phẫu thuật cấy ghép cho trẻ em (dưới 18 tuổi)22
Mặc dù có rất nhiều những hạn chế trong việc sẵn có những nguồn hiến tạng từ những trẻ em bị chết não, song, việc chú ý đến công tác hợp lý hóa hệ thống pháp luật là cần thiết đối với đất nước này nhằm ưu tiên phân bổ nguồn hiến phù hợp cho trẻ em để tăng cường cơ hội sử dụng, từ đó cứu sống càng nhiều trẻ em trên đất nước càng tốt
Một trong những lý do quan trọng để người viết chọn pháp luật của Nhật Bản làm
ví dụ so sánh tiêu biểu đại diện cho Châu Á đó là vì Bộ luật sửa đổi năm 2010 này còn bao gồm chính sách đặc biệt là chính sách hiến tặng ưu tiên đối với những cá nhân có cùng quan hệ huyết thống, cụ thể là giữa cha mẹ, con cái và các cặp vợ chồng hợp pháp Trường hợp con nuôi thì chỉ có đủ điều kiện khi họ đã cắt bỏ mối quan hệ pháp lý với cha
mẹ ruột mình theo Special Adoption System (tạm dịch: Hệ thống nuôi con nuôi đặc biệt)
Hệ thống này được thiết kế để hỗ trợ bảo vệ an toàn sức khỏe và quyền của những trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ ruột, những đứa trẻ dưới sáu tuổi tại thời điểm nhận nuôi và được đăng ký trong hệ thống đăng ký gia đình (family registry system) với tư cách là con nuôi tự nhiên (adoptees’ natural (biological) children)23 Những người được nhận nuôi ngoài hệ thống này thì chỉ được công nhận là con nuôi và do đó không có đủ điều kiện áp dụng chính sách hiến tạng ưu tiên Sự giới hạn nghiêm ngặt này nhằm ngăn chặn trường hợp lạm dụng chế độ hiến tạng ưu tiên, bao gồm việc bí mật mua bán nội tạng dưới vỏ bọc là con nuôi
22Nao Nishimura, Mureo Kasahara, Kenji Ishikura and Satoshi Nakagawa (2017) Current status of
pediatric transplantation in Japan, <https://link.springer.com/article/10.1186/s40560-017-0241-0 >, xem 12/6/2020
23Kaoruko Aita (2012) The Family-oriented priority Organ Donation Clause in Japan: Fair Or Unfair,
Proceedings of 2012 Uehiro -Carnegie-Oxford Ethics Conference
Trang 12Sự ưu tiên này được thừa nhận khi người mất để lại văn bản ghi rõ tâm nguyện của mình về việc hiến tạng Người viết văn bản này không thể chỉ định rõ một cá nhân nào đó trong gia đình mà chỉ có thể viết là ưu tiên hiến tặng cho những người trong gia đình Trường hợp người hiến có ghi nguyện vọng ưu tiên hiến tạng cho người thân nhưng không ai trong gia đình đủ điều kiện nằm trong danh sách chờ của cơ quan bán chính phủ tại thời điểm đó thì đối tượng được nhận sẽ là những người khác trong danh sách chờ trên
cơ sở nhu cầu y tế và thời gian chờ, phù hợp với hướng dẫn của chính phủ Trừ trường hợp cá nhân nói trên đã nêu rõ trong văn bản rằng họ chỉ đồng ý việc hiến tạng cho thân nhân, thì sẽ không có cuộc phẫu thuật lấy tạng nào được tiến hành24
Chính sách ưu tiên nhìn chung là một biện pháp nhằm thu hút sự đồng cảm của công chúng để nhiều người suy nghĩ tích cực về việc hiến tạng Một số nhà chuyên môn cho rằng chính sách ưu tiên này có liên quan đến một số vấn đề về đạo đức cũng như ý thức về sự công bằng của người Nhật Quan niệm này được thể hiện trong lý thuyết về mặt đạo đức của sự “thống nhất” và “khác biệt”, được khái niệm hóa bởi một triết gia người Nhật Chính sách này có thể là một ví dụ giải thích cho quy tắc “cơ hội công bằng”, một quy tắc cơ bản của ghép tạng trên “Xứ sở hoa anh đào”, đồng thời thể hiện cả
sự khác biệt giữa những nền văn hóa
2.3 Luật Cấy ghép nội tạng của Vương quốc Anh
Trong các bộ luật các nước đã ban hành đều nằm ở một trong hai hệ thống: hệ thống suy đoán đồng ý (presumed consent system hay opting-out system), và hệ thống chủ động đồng ý (express consent system hay opting-in system) Ở các nước theo hệ thống suy đoán, pháp luật coi những người không thể hiện quan điểm đối lập là học sẵn sàng đồng ý hiến tạng sau khi chết Còn những nước theo chế độ chủ động đồng ý trái lại chỉ những bện nhân trước khi chết thể hiện nguyện vọng muốn được hiến tạng thì mới được coi là người hiến Trong thời gian vừa qua, nhằm thúc đẩy con số những người hiến tạng tăng cao, Vương quốc Anh đã từ hệ thống chủ động đồng ý sang hệ thống suy đoán đồng ý, song song với việc phát triển hàng loạt các chiến dịch đã khiến cho bối cảnh hiến tạng, đặc biệt là hiến tạng ở trẻ em ở quốc gia này có nhiều thay đổi đáng kể
Ở Anh hiện đã có hẳn Luật Cấy ghép nội tạng quy định rất rõ ràng và cụ thể về việc cho và nhận các bộ phận trên cơ thể, luật này cũng nới rộng độ tuổi người có thể tham gia hiến tạng, theo đó bất kể một ai từ 12 tuổi trở lên cũng có quyền đưa ra quyết định về việc hiến một hay nhiều bộ phận trên cơ thể mình Những đứa trẻ có nguyện vọng muốn cho đi bộ phận cơ thể mình phải đăng ký với Trung tâm Y tế quốc gia (NHS)
và được chấp thuận bởi bố mẹ hoặc người giám hộ Quy trình và thủ tục từ lúc người hiến
24Kaoruko Aita (2012) The Family-oriented priority Organ Donation Clause in Japan: Fair Or Unfair,
Proceedings of 2012 Uehiro -Carnegie-Oxford Ethics Conference