- Chính vì không chấp nhận những lối mòn cổ điển, những kiểu cảm thụ chung chung, tan biến vào cái ước lệ, vĩnh hằng, thơ Lãng mạn thực sự giải phóng cái Tôi của chủ thể sáng tạo, làm bừ[r]
Trang 1NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LÃNG MẠN QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA XUÂN DIỆU, HUY CẬN, HÀN MẶC TỬ
Nguyễn Duy Dương
Bị kẹp chặt trong vòng kim cô của hệ thống nghệ thuật quy phạm gò bó bao thế kỉ, đến thơ ca lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 , thơ ca Việt Nam mới thực sự đập vỡ
sự kiềm tỏa của thi pháp trung đại, bừng tỉnh trong 1 cuộc cách tân về tư tưởng và nghệ thuật theo hướng hiện đại hóa Có thể nói đó là đóng góp lớn của Thơ Mới cho lịch sử văn học nước nhà
Dưới chế độ thuộc địa, thơ mới không tránh khỏi những hạn chế nhất định, song những giá trị tư tưởng và nghệ thuật to lớn của nó vẫn xứng đáng “nằm trong văn mạch dân tộc” (Xuân Diệu) Những thi phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử là sự minh chứng cho thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945
I Giá trị tư tưởng.
1 Yêu nước.
Chế Lan Viên từng thổ lộ tâm trạng chung của các nhà thơ lãng mạn: “Làm tất
cả , chỉ trừ không đổ máu” Đúng là thơ lãng mạn chưa đủ dũng khí ra sa trường như thơ ca cách mạng, nhưng từ trong thẳm sâu tâm hồn các thi nhân vẫn tha thiết nỗi niềm dành cho tình yêu quê hương xứ sở Bàn về VHLM ông Trường Chinh từng đánh giá một cách tinh tế và sâu sắc: “ Trong VHLM, có nỗi đau của người dân mất nước, có sự quằn quại của những suy nghĩ bị bóp nghẹt, lòng khao khát 1 cuộc sống chân thiện mĩ và tự do” Vì vậy, lòng yêu nước thầm kín
ấp ủ trong thơ Lãng mạn là không thể phủ nhận được
Có 2 biểu hiện của lòng yêu nước trong thơ lãng mạn 30 – 45
a Tình cảm gắn bó với thiên nhiên đất nước : Thiên nhiên đất nước VN nên
thơ nên họa trong những vần thơ lãng mạn đặc sắc của XD, HC, HMT Mỗi tác giả như muốn lấy lòng yêu mà chiếm giữ từng mảnh hồn xứ Việt, mỗi người có 1 cách thể hiện riêng
- Hàn Mặc Tử làm cho dải đất miền Trung cằn cỗi như sống lại trong một Huế Thơ và Mộng:
“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.
Mà cũng thật kì lạ, sông Hương lại sinh nở ra một vùng đất Vĩ giạ vừa dân giã vừa thần tiên đến thế Hàng cau, vườn cây, khuôn mặt người nhân ái giao hòa trong một bức tranh xôn xao sự sống Song bức tranh ấy không thể thiếu một vầng trăng để đưa Huế và thế giới mộng ảo: Thuyền ai tối nay
Đúng là 1 vầng trăng bí ẩn mà quyến rũ mê hồn
Trong thơ Hàn Mặc tử ta còn bắt gặp một mùa xuân tràn đầy thanh sắc:
“ Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang” (Mùa xuân chín).
Bốn câu thơ trên làm người đọc ngỡ ngàng, không biết bước chân mùa xuân đến từ giàn thiên lý hay từ tà áo biếc thiếu nữ miền Trung? Không đắm say với cảnh, với người quê hương, khó viết được những vần thơ vừa thực vừa ảo đến thế
- Nhà thơ miền Trung Xuân Diệu lại trót nặng lòng “dan díu” với mùa thu xứ Bắc trong bài thơ nổi tiếng “Đây mùa thu tới” Hồn thơ tinh tế đến run rẩy của Xuân Diệu ngơ ngác phát hiện những biến thái tinh vi của cuộc sống:
“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Trang 2Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò”.
Thật là một bức tranh thu đẹp mà buồn đến nao lòng Và buồn đấy mà mùa thu vẫn như bóng giai nhân sang trọng, quyền quý, mộng mơ biết chừng nào:
“Đây mùa thu tới mùa thu tới dệt lá vàng”
Thơ thu Việt Nam đã có 1 bề dày truyền thống, song chỉ mới đưa đưa vào 1 hình ảnh tang tóc mở đầu của rặng liễu, ĐMTT đã không chịu dẫm chân lên lối mòn của
cổ nhân: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang ngàn hàng”
- Khác với Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu, Huy Cận muốn tạo ra một vũ trụ rợn ngợp trong “Tràng giang” Bờ bãi sông Hồng ngàn năm bỗng thoắt lạ lùng qua cái nhìn độc đáo của thi sĩ:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”
Tình yêu quê hương đất nước của Huy Cận đi từ bờ bãi sông Hồng đến với những con sông trên mọi miền đất nước Huy Cận từng tâm sự: “ Tình yêu quê hương trong bài Tràng giang gợi lên và mở ra 1 tình yêu lớn lao hơn mỗi miền quê, mỗi cảnh vật Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn đất nước” Chính điều đó đã giúp nhà thơ thai nghén nên những câu thơ đạt đến trình độ cổ điển của thơ ca lãng mạn:
“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Nhận xét của Xuân Diệu sau đây về bài thơ Tràng giang cũng là lời đánh giá chung cho thơ Lãng mạn: “Tràng giang là 1 bài thơ ca hát non sông, đất nước,
do đó dọn đường cho tình yêu giang sơn, Tổ quốc”
b Tình yêu tiếng Việt: Là biểu hiện của tình yêu nước
- Ngôn ngữ thơ mới là ngôn ngữ tiếng Việt, đây là một biểu hiện của tình yêu
và ý thức bảo vệ tiếng mẹ đẻ của các thi sĩ thời đó
- Tiếng Việt vốn có sức mạnh riêng trong việc biểu hiện đời sống tinh thần của người Việt Nam Các nhà thơ nâng niu nó, trau chuốt nó làm giàu kho tàng ngôn ngữ dân tộc bằng những sáng tạo mới mẻ Trước Cách mạng tháng Tám, Huy Cận đã thay mặt các thi sĩ ca ngợi ngôn ngữ Việt Nam:
“Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương bao đời
Sơ sinh lòng Mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con
Tháng ngày con Mẹ lớn khôn
Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ”.
2 Yêu đời.
a Yêu đời chính là biểu hiện của cái Tôi đầy cảm xúc, khát khao giao cảm với đời:
- Huy Cận tác giả của những vần thơ ảo não nhất mà cũng không nén nổi bao rạo rực trước 1 chiều xuân:
“ Nhạc vươn lên trời
Trang 3Đời măng đang dậy
Tưng bừng muôn nơi
Mái rừng gió hẩy
Chiều xuân đầy lời”.
Mãi tới sau này, trong những năm đánh Mỹ, Xuân Diệu mới viết được: “Tôi nói mùa xuân líu lưỡi tôi”, thì câu thơ Huy Cận viết từ trước Cách mạng tháng Tám quả làm ta kinh ngạc: “Chiều xuân đầy lời” – cũng là 1 kiểu tình yêu đến líu lưỡi
- Nếu Huy Cận ham khái quát tình yêu đời thì Hàn Mặc Tử lại thả hồn ngây ngất trước 1 hình ảnh cụ thể - vầng trăng Vầng trăng vào thơ Hàn Mặc Tử không ngẩn ngơ như nàng trăng trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu (Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ) mà tắm trong một cảm giác nhục thể cuồng nhiệt:
“Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”.
Hình ảnh “bóng nguyệt” của Hàn Mặc Tử thật trẻ trung và phong tình đến lạ kỳ
- Lòng ham sống có lẽ được biểu hiện mãnh liệt nhất ở Xuân Diệu Xuân Diệu vừa có cái khái quát của Huy Cận vừa có cái cụ thể lẫn cảm giác nhục thể của Hàn Mặc Tử trong “Vội vàng”:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chuếnh choáng mùi thơm cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”.
Hệ thống động từ “ôm”, “riết”, “say”, “ thâu”, để đẩy tới “cắn” đã diễn tả đắc địa trạng thái tình cảm mê đắm đến vồ vập, cuống quýt của thi sĩ trước cuộc đời Xuân Diệu đã thành tình nhân cường tráng của vũ trụ
Nỗi khát đời đau đáu của Xuân Diệu đã đẩy cảm xúc thành triết lý, một kiểu triết
lý rất Xuân Diệu nghe như có nhịp tim đập hổn hển trong những dòng đầy triết lý
ở lời tuyên ngôn về lẽ sống này:
“Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn
Sống toàn thân! Và thức nhọn giác quan
Và thức cả trong giấc nồng phải ngủ
Sống, tất cả sống, chẳng bao giờ đủ” (Thanh niên).
Một con người khát sống đến như thế, nên luôn nhìn cuộc đời qua lăng kính của tuổi trẻ và xuân tình là điều dễ hiểu, tạo nên một cái Tôi nồng nàn, rạo rực và giàu giá trị nhân bản
b Yêu đời luôn gắn với đau đời.
- Sống trong xã hội cũ, mọi khát vọng chân chính của con người đều bị chặn đứng Nằm trong quy luật ấy, lòng yêu đời, khát đời của các thi sĩ lãng mạn luôn bị bế tắc, hóa thành nỗi đau đời
- Nỗi đau luôn bật thành những âm điệu bi thảm trong Thơ Mới Xuân Diệu có lúc phải quằn quại thốt lên:
“Có nhiều lúc gió kêu thê thiết quá
Như gió đau một nỗi khổ vô hình
Trang 4Như bao điều ảo não của nhân sinh
Đã in vết ở nơi hồn của gió
Gió vừa chạy vừa rên vừa tắt thở
Đem trái tim làm uất cả không gian” (Tiếng gió)
Hình tượng Tiếng gió thật khủng khiếp, vật vã, quằn quại như một linh hồn khổ nạn bị trúng mũi tên độc Đó là tiếng hồn bi thiết của Xuân Diệu – khát đời mà bị đời từ chối, tạo một âm thanh kêu cứu khẩn thiết, bức bối
II Giá trị nghệ thuật
1 Thơ Lãng mạn đã mang đến một cái Tôi cá thể hóa trong cảm thụ nghệ thuật
- Tư tưởng thẩm mỹ là chìa khóa cho người đọc mở cửa hòa nhập vào thế giới nghệ thuật của một thời đại, giai đoạn văn học nói chung, mỗi tác giả nói riêng Tư tưởng thẩm mỹ chi phối toàn bộ thơ lãng mạn chính là sự cảm thụ thế giới bằng cái Tôi cá thể hóa
- Nội dung của cái Tôi là nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã Với sự xuất hiện của cái Tôi cá thể như thế, thơ lang mạn đã có đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng dân tộc, lịch sử đi từ cái Ta thời trung đại sang cái Tôi thời hiện đại
- Cảm thụ thế giới qua lăng kính cái Tôi, thơ lãng mạn đã phá vỡ mọi hệ thống ước lệ của thơ cổ, tạo một dấu ấn chủ quan đầy riêng tư và nồng nàn lên bức tranh đời sống, phát hiện ra một thế giới mới lạ trong những hình ảnh kì thú Ví dụ: Xuân Diệu: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”- 1 câu thơ
đủ phản ánh 1 cuộc cách mạng nghệ thuật lớn Nguyễn Du lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp con người (Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh) thì Xuân Diệu đảo ngược cái nhìn ấy, lấy con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của vũ trụ, đưa con người vào trung tâm
vũ trụ
Hàn Mặc tử cũng đưa vào thơ Việt Nam một cảm xúc trẻ trung rạo rực hiếm
có trước 1 bắp chân trần thôn nữ: “ ống quần vo xắn lên đầu gối/ Da thịt, trời ôi! Trắng rợn mình” (Nụ cười)
- Chính vì không chấp nhận những lối mòn cổ điển, những kiểu cảm thụ chung chung, tan biến vào cái ước lệ, vĩnh hằng, thơ Lãng mạn thực sự giải phóng cái Tôi của chủ thể sáng tạo, làm bừng nở một mùa hoa đầy hương sắc của nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo Hoài Thanh nhận xét thật chí lý: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam, chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Thi nhân Việt Nam)
2 Thơ lãng mạn là sự chưng cất tinh hoa của thơ truyền thống với ảnh hưởng của thơ Đường, thơ lãng mạn và tượng trưng Pháp thế kỷ XIX
- Thơ XUân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng của các nhà thơ lãng mạn Pháp, đặc biệt là các nhà thơ tượng trưng Thơ tượng trưng quan niệm vạn vật trong vũ trụ có sự tương giao (có quan hệ hài hòa với nhau) Chỉ thi
sĩ với những phẩm chất đặc biệt của trực giác, ấn tượng mới phát hiện ra sự tương giao này
Ví dụ:
Trang 5+ Xuân Diệu nhìn ra trong thế giới những cặp sự sống sóng đôi như những cặp vần, hài hòa với nhau trong một bài thơ của mình:
“Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững thững chẳng theo gần
Vô tâm như giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần” (Thơ duyên).
+ Xuân Diệu cũng khám phá ra chất nhạc của vũ trụ, của lòng người và diễn tả cực kỳ tinh tế bằng chất nhạc của thơ:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Nhị hồ).
- Ảnh hưởng của thơ Đường in đậm nhất ở Huy Cận, Tràng giang tạo một nhịp điệu ngàn năm vĩnh viễn cho dòng sông không biết ở thời nào:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”
Huy Cận còn vận cả Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu vào thơ mình với tinh thần
“thách thức” cổ thi:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Cùng nói nỗi nhớ quê da diết, Thôi Hiệu mượn khói để bộc lộ tâm trạng mình Huy Cận phủ nhận khói để khẳng định nỗi niềm ở mức cao hơn Đó cũng chính là sự tài
ba của thi sĩ
Có thể nói rằng, toàn bộ giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ lãng mạn đạt trên nền tảng của ý thức thẩm mỹ mới mẻ: Sự giải phóng cái Tôi cá thể hóa Điều thú vị là cái Tôi cá thể ấy tạo ra một thế giới nghệ thuật khác với truyền thống mà không hề đoạn tuyệt với cổ nhân, đồng thời biết tỏa rộng để hút nhụy cả tinh hoa văn học thế giới
Chính ý thức thẩm mỹ mới mẻ này đã khiến cho thơ lãng mạn có sự đóng góp đáng ghi nhận cho bước phát triển của lịch sử văn học dân tộc theo hướng hiện đại hóa
Dù không tránh khỏi những hạn chế trong một hoàn cảnh đen tối của đất nước, nhưng tiếng thơ lãng mạn mãi mãi là siêu phẩm của một tinh thần Việt Nam yêu nước, yêu đời, khát sống, là sản phẩm ngôn ngữ Việt Nam trong sáng, tinh diệu trong việc khám phá những chiều sâu bí ẩn của đời sống và tâm hồn con người Tháng Quý Thu năm Nhâm Thìn (23/9/2012)