1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thị trường điện bán lẻ cạnh tranh – áp dụng cho công ty điện lực thừa thiên huế

92 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 8,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù còn một số hạn chế trong việc sử dụng dữ liệu thống kê cũng nhưng dự báo tài chính, nhưng kết quả của nghiên cứu này đạt được phần nào giúp cho các nhà quản lý trong Điện lực Nam

Trang 1

-

NGÔ MINH ĐOÀN

NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG ĐIỆN BÁN LẺ CẠNH TRANH – ÁP DỤNG CHO CÔNG TY

ĐIỆN LỰC THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

ĐÀ NẴNG, THÁNG 10 NĂM 2019

DUT.LRCC

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Xây dựng và phát triển thị trường điện theo định hướng thị trường, cải thiện

cơ chế cạnh tranh là chiến lược phát triển dài hạn của một Quốc gia, mặc dù những bước đầu có thể gặp những khó khăn nhưng về lâu dài có thể mang lại nhiều lợi ích tích cực hơn cho sự phát triển của nền kinh tế, ngành công nghiệp điện lực và đặc biệt

là khách hàng sử dụng điện Theo dự báo hiện nay thì nhu cầu về điện tại Việt Nam

dự kiến vẫn duy trì mức tăng trưởng cao đến 2030 Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm vẫn

là khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cung, đảm bảo công suất dự phòng hợp lý để bảo đảm chuyển đổi thị trường điện từ cơ chế độc quyền sang cơ chế cạnh tranh hoàn hảo

Xuất phát từ thực trạng trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất mô hình vận hành thị trường bán lẻ điện và tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện với quy mô giới hạn ở khu vực Điện lực Nam Sông Hương trực thuộc Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế

Kết quả mà nghiên cứu đạt được là đã đưa ra được phương pháp tính toán chi phí vận hành phân phối điện bằng phương pháp thống kê và phân tích xu hướng dựa trên những số liệu thực tế tại Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế và Điện lực Nam Sông Hương Phương pháp tính toán này có có ưu điểm là dễ tính toán và bám sát vào quy định tính toán mức giá bán lẻ điện bình quân của Bộ Công Thương; do đó, tính ứng dụng thực tế của nghiên cứu này vào tính toán chi phí vận hành cũng nhưng

là cơ sở để định giá giá bán lẻ điện trong thị trường bán lẻ điện giai đoạn thử nghiệm

2021 – 2023 và từ năm 2023 là rất cao

Mặc dù còn một số hạn chế trong việc sử dụng dữ liệu thống kê cũng nhưng

dự báo tài chính, nhưng kết quả của nghiên cứu này đạt được phần nào giúp cho các nhà quản lý trong Điện lực Nam Sông Hương nói riêng và các Điện lực khác nói chung thuộc công ty Điện lực Thừa Thiên Huế hiểu rõ hơn quy trình vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh cũng như các hạng mục chi phí trong tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện, để qua đó có những chính sách phù hợp hơn nhằm vận hành cũng như tính toán chi phí hiệu quả hơn trong thị trường bán lẻ điện Ngoài

ra, kết quả của nghiên cứu này cũng có thể một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các công ty Điện lực khác ở Việt Nam

DUT.LRCC

Trang 5

is expected to maintain high growth rates until 2030 Thus, the key task is still to overcome the shortage of supply, ensure adequate reserve capacity for securing the transition of the electricity market from monopoly to perfect competition

Based on the above situation, this study was conducted to propose a model of electricity retail market operation and to calculate the operating cost of electricity retail market with a limited scale in the Nam Song Huong Power Region directly under Thua Thien Hue Power Company

The results achieved by the study are the method of calculating electricity distribution operating cost by statistical method and trend analysis is based on actual data at the Nam Song Huong Power and the Thua Thiên Hue Power Company This calculation method has the advantage of being easy to calculate and adheres to the regulations on calculating the average electricity retail price of the Ministry of Industry and Trade; therefore, the practical applicability of this study to operating cost calculation is also the basis for electricity retail pricing in the electricity retail market in the experimental period of 2021 - 2023 and from 2023 is very high

Although there are some limitations in the use of statistical data as well as financial forecasts, the results of this study have partly helped managers in the Nam Song Huong Power in particular and the other Powers of Thua Thien Hue Power Company have a better understanding of the operation process of the competitive electricity retail market as well as the cost items in calculating the operating cost of electricity retail market, so that more appropriate policies to operate and calculate costs more effectively in the electricity retail market In addition, the results of this study can be a valuable reference source for other Power Companies in Vietnam

DUT.LRCC

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN VĂN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

ABTRACT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

Lý do hình thành đề tài 1

Mục tiêu nghiên cứu 2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Phương pháp nghiên cứu 2

Ý nghĩa của nghiên cứu 2

Bố cục của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN 4

1.1 Tổng quan về ngành điện và thị trường điện Việt Nam 4

1.1.1 Tổng quan về ngành điện ở Việt Nam 4

1.1.2 Tổng quan về thị trường điện ở Việt Nam 5

1.2 Sự cần thiết cần phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh 6

1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh 6

1.2.2 Mục tiêu xây dựng thị trường điện cạnh tranh 7

DUT.LRCC

Trang 7

1.2.3 Những yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển thị trường điện

cạnh tranh 9

1.3 Các thị trường ở một số nước trên thế giới và bài học đối với thị trường điện ở Việt Nam 10

1.3.1 Thị trường điện Singapore 10

1.3.2 Thị trường điện ở Úc 16

1.3.3 Thị trường điện New Zealand 17

1.3.4 Thị trường điện ở Trung Quốc 19

1.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 22

1.5 Giới thiệu về mô hình thị trường điện cạnh tranh phát triển theo các cấp độ24 1.5.1 Cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh 25

1.5.2 Cấp độ thị trường bán buôn điện cạnh tranh 26

1.5.3 Cấp độ thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 26

1.6 Kết luận chương 1 27

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN ÁP DỤNG CHO THỊ TRƯỜNG ĐIỆN Ở ĐIỆN LỰC NAM SÔNG HƯƠNG 28

2.1 Mô hình và quá trình phát triển thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam 28

2.1.1 Mô hình thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam 28

2.1.2 Vai trò của các đơn vị chính trong mô hình 30

2.2 Cơ sở hạ tầng và điều kiện thiết yếu cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 31

2.2.1 Các điều kiện để hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 32

2.2.2 Vận hành thí điểm thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 34

2.2.3 Vận hành chính thức thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (sau 2023) 34

DUT.LRCC

Trang 8

2.3 Đề xuất mô hình bán lẻ điện cạnh tranh áp dụng tại Điện lực Nam Sông

Hương: 35

2.3.1 Mô hình hiện trạng 35

2.3.2 Mô hình đề xuất 37

2.4 Kết luận chương 2 40

CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN CHI PHÍ VẬN HÀNH CHO HỆ THỐNG LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA ĐIỆN LỰC NAM SÔNG HƯƠNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN CẠNH TRANH 41

3.1 Vai trò của chi phí vận hành trong thị trường điện 41

3.2 Mục tiêu của chi phí vận hành trong thị trường điện 41

3.2.1 Mục tiêu về hiệu quả kinh tế 42

3.2.2 Mục tiêu về doanh thu đủ lớn 42

3.2.3 Mục tiêu về điều tiết một cách có hiệu quả 42

3.3 Ý nghĩa của chi phí vận hành trong thị trường điện 42

3.4 Nguyên tắc tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 43

3.4.1 Tính minh bạch và tính khả thi 43

3.4.2 Khả năng thu hồi vốn 43

3.4.3 Tính hiệu quả trong vận hành thị trường điện 43

3.4.4 Tính bình đẳng đối với các đối tượng tham gia trong thị trường điện 43

3.4.5 Thúc đẩy sự phát triển tối ưu trong đầu tư đối với thị trường điện 44

3.4.6 Các thành phần chính của chi phí vận hành trong thị trường điện 44

3.4.7 Phương pháp tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 44

3.5 Cơ sở tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 45

3.5.1 Phương pháp xác định chi phí vận hành trong thị trường điện 46

DUT.LRCC

Trang 9

3.5.2 Phương pháp xác định doanh thu bán lẻ điện 47

3.5.3 Phương pháp xác định hệ số hiệu quả 51

3.5.4 Tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện bản lẻ điện ở Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế 53

3.5.5 Thu thập và xử lý dữ liệu về tài chính 56

3.5.6 Chi phí vốn phân phối điện 58

3.5.7 Chi phí vận hành và bảo dưỡng 58

3.5.8 Kết quả tính toán 60

3.6 Kết luận chương 3 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

Kết luận 62

Kiến nghị 63

Khả năng ứng dụng của luận văn 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 66

Phụ lục 1: Tổng hợp chi phí vốn phân phối điện năm 2021 68

Phụ lục 2: Tính toán xác định hệ số hiệu quả 68

Phụ lục 3: Tổng hợp chi phí tiền lương 69

Phụ lục 4: Tổng hợp chi phí dịch vụ mua ngoài 70

Phụ lục 5 Tổng hợp chi phí bằng tiền khác 70

Phụ lục 6: Tính chi tiết chênh lệch doanh thu phân phối 71

DUT.LRCC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng hợp các hạng mục khối lượng tài sản Điện lực Nam Sông Hương

quản lý năm 2021 54

Bảng 3.2: Tổng hợp các hạng mục chi phí của Điện lực Nam Sông Hương 56

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả tính toán các hạng mục chi phí 59

Bảng 3.4: Kết quả tính toán chi phí phân phối điện 60

DUT.LRCC

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Quá trình phát triển của thị trường điện cạnh tranh ở Singpare 11

Hình 1.2: Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore ảnh 11

Hình 1.3: Thị trường điện bán lẻ của Singapore 13

Hình 1.4: Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore 14

Hình 1.5: Các cấp độ xây dựng thị trường điện tại Việt Nam 24

Hình 2.1: Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ở Việt Nam 28

Hình 2.2: Mô hình quản lý và vận hành hoạt động kinh doanh điện hiện tại ở Điện lực Nam Sông Hương 35

Hình 2.3: Mô hình đề xuất cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ở Điện lực Nam Sông Hương 37

DUT.LRCC

Trang 12

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CTĐL: Công ty Điện lực

EU: Liên minh Châu Âu

EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

DN: Doanh nghiệp

MGP: Thị trường ngày trước

MI: Thị trường liên ngày

MPE: Thị trường giao ngay

MTE: Thị trường tương lai

NLTT: Năng lượng tái tạo

TCTĐL: Tổng Công ty Điện lực

TTĐ: Thị trường điện

DUT.LRCC

Trang 13

MỞ ĐẦU

Lý do hình thành đề tài

Tính đến nay, hầu hết các ngành trong nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, còn ngành Điện là một trong những ngành vẫn còn ở thế độc quyền và đang được vận hành theo mô hình liên kết dọc truyền thống Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hiện đang sở hữu phần lớn các nhà máy điện, nắm giữ toàn

bộ khâu truyền tải, phân phối và kinh doanh bán lẻ điện Tổng Công ty mua bán điện thuộc EVN là đơn vị duy nhất mua điện của tất cả các nhà máy điện (trong và ngoài EVN) và bán điện cho tất cả các hộ tiêu thụ điện trên toàn quốc Như vậy, với cơ chế hoạt động như vậy thì EVN được xem vừa là độc quyền mua và vừa độc quyền bán

và chưa có sự cạnh tranh ở bất cứ hoạt động nào trong các khâu của ngành Điện [1]

Một đặc điểm đáng quan tâm là trong những năm gần đây, hoạt động của EVN kém hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, nợ nần, dẫn tới thiếu nguồn vốn cho đầu

tư phát triển, vay vốn rất khó khăn, thiếu minh bạch và tạo sự không hài lòng của khách hàng mỗi khi đề xuất việc tăng giá điện Việc EVN hoạt động yếu kém nguyên nhân có thể thuộc về cơ chế quản lý vi mô của doanh nghiệp và quản lý vĩ mô của Bộ chủ quản và Nhà nước, cùng với sự phát triển chậm chạp thị trường điện cạnh tranh

vô hình chung để EVN nắm giữ độc quyền kinh doanh điện quá lâu [1]

Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới, là động lực làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh điện và phát triển kinh tế xã hội trở nên hiệu quả hơn Đồng thời, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được việc hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh là chiến lược phát triển dài hạn của ngành điện Việt Nam, đã thể hiện trong Luật Điện lực năm 2004 và được cụ thể hóa trong Quyết định 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lộ trình và các điều kiện hình thành phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam [1] Theo quyết định trên, thị trường điện Việt Nam sẽ hình thành và phát triển theo 3 cấp độ:

 Thị trường phát điện cạnh tranh (giai đoạn 2005-2014)

 Thị trường bán buôn cạnh tranh (giai đoạn 2014-2022)

 Thị trường bán lẻ cạnh tranh (giai đoạn sau năm 2022)

Với thực trạng như hiện tại thì ngành Điện Việt Nam không còn con đường nào khác mà phải nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy nhanh phát triển thị trường điện cạnh tranh Đứng trước xu hướng hình thành thị trường bán

DUT.LRCC

Trang 14

lẻ điện giai đoạn sau năm 2022, thì từ bây giờ các công ty Điện lực ở các tỉnh, thành

ở Việt Nam phải có chiến lược cụ thể và với mong muốn góp phần trong việc giải

quyết vấn đề này, do đó nghiên cứu “Nghiên cứu thị trường điện bán lẻ cạnh tranh – Áp dụng cho Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế” được hình thành

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:

 Đề xuất mô hình vận hành thị trường bán lẻ điện với quy mô giới hạn

ở Điện lực Nam Sông Hương trực thuộc Công ty Điện lực TT Huế

 Tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện ở Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế

 Đề xuất các hàm ý quản trị trong việc tối ưu quy trình vận hành và tính toán chi phí của thị trường bán lẻ điện ở Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chi phí của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian và chi phí, vì vậy trong nghiên cứu này chỉ thực hiện tính toán chi phí vận hành trong thị trường bán lẻ điện Điện lực Nam Sông Hương thuộc Công ty Điện lực tỉnh Thừa Thiên Huế

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh bằng phương pháp tổng hợp với phần mềm Excel

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:

 Ý nghĩa lý thuyết: Kết quả đạt được của nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp tính chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện

 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý trong Điện lực Nam Sông Hương nói riêng và các Điện lực khác thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế hiểu rõ hơn quy trình vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh cũng như các hạng mục chi phí trong tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện, để qua đó có những chính sách phù hợp hơn nhằm vận hành cũng như tính toán chi phí hiệu quả hơn trong thị trường bán lẻ điện Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này cũng có thể

DUT.LRCC

Trang 15

một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các Điện lực khác ở Việt Nam

Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chương chính:

 Chương 1: Tổng quan về thị trường điện

 Chương 2: Đề xuất mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh áp dụng cho Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế

 Chương 3: Tính toán chi phí phân phối điện cho hệ thống lưới điện phân phối của Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế trong điều kiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

DUT.LRCC

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN

Tổng quan về ngành điện và thị trường điện Việt Nam 1.1.1 Tổng quan về ngành điện ở Việt Nam

Ngành điện Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển trải qua trên 60 năm, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ và Nhà máy điện Yên Phụ

Kể từ đây, ngành điện luôn duy trì được sự tăng trưởng ổn định, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội Quốc gia Sau giai đoạn 1975, Nhà nước quản lý trực tiếp ngành điện, với 03 công ty điện lực miền trực thuộc Bộ Năng lượng (cũ) Các công ty điện lực chịu trách nhiệm về sản xuất, truyền tải và phân phối trong phạm vi địa lý được giao phụ trách Tuy nhiên các công ty điện lực được sáp nhập vào một công ty độc quyền duy nhất, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) trong năm 1995 Việc sáp nhập này đã chính thức tách hoạt động quản lý nhà nước ra khỏi khâu sản xuất và vận hành hệ thống điện Bộ Năng lượng (sau đó được sáp nhập vào Bộ Công nghiệp, sau này là Bộ Công Thương) là cơ quan chủ quản, ban hành các chính sách, quy định để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành Điện [2]

Sau giai đoạn này, ngành điện tiến hành cải cách khi Luật Điện lực được ban hành vào năm 2004 - trong vai trò là bộ luật đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực điện năng của Việt Nam Bộ luật này cung cấp cơ sở pháp lý chung cho quá trình cải cách và cấu trúc lại ngành điện, tạo hành lang pháp lý cho việc từng bước thành lập thị trường điện cạnh tranh với mục đích thu hút đầu tư tư nhân và giảm đầu tư Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành điện và phát triển một thị trường điện cạnh tranh minh bạch, công bằng và không phân biệt đối xử Luật cũng quy định về các hoạt động điện lực trong việc lập kế hoạch và đầu tư phát triển điện lực, sản xuất điện, truyền tải, phân phối và bán lẻ điện, và các quy định của thị trường điện [2]

Kể từ khi ban hành Luật Điện lực, Chính phủ đã triển khai và ban hành các quy định, hướng dẫn để tái cấu trúc ngành điện và xây dựng lộ trình cải cách Trọng tâm của cải cách được đặt vào hai nhiệm vụ: xây dựng thị trường điện cạnh tranh theo

ba cấp độ và tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) từ mô hình độc quyền tích hợp dọc sang mô hình cạnh tranh, giúp tăng hiệu quả, minh bạch trong hoạt động sản xuất và kinh doanh điện, bắt đầu bằng việc lựa chọn và cổ phần hóa một số đơn

vị phát điện thuộc tập đoàn EVN Định hướng chung là EVN tiếp tục sở hữu 100%

và giữ kiểm soát hoàn toàn với các thủy điện lớn và cổ phần hóa các nhà máy còn lại Trong các năm tiếp theo, một số nhà máy thuộc diện cổ phần hóa đã lần lượt được

DUT.LRCC

Trang 17

chào bán và niêm yết như các công ty đại chúng Tuy nhiên, đối với hầu hết các nhà máy cổ phần hóa, EVN vẫn giữ cổ phần chi phối và cơ cấu công suất thuộc sở hữu của EVN cho đến 2017 vẫn chiếm trên 55% tổng công suất thị trường [2]

Hiện nay, EVN đã được chia tách và không còn là doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc, hoạt động chủ yếu như là một công ty đầu tư, không trực tiếp sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ mà chỉ nắm giữ cổ phần chi phối hoặc sở hữu tại các công ty khác trong ngành điện Các bộ phận kinh doanh chiến lược được chia tách thành các đơn vị phân phối điện, hạch toán độc lập và các đơn vị phát điện và truyền tải điện Công ty Truyền tải điện quốc gia là một pháp nhân riêng biệt chịu trách nhiệm về các hoạt động của lưới điện truyền tải, có tài khoản, chế độ quản lý và ban giám đốc hoạt động riêng biệt Chức năng phân phối và bán lẻ của EVN đã được chia tách và giao

về các công ty điện lực Năm Công ty Điện lực (CTĐL) trong số này thực hiện chức năng công ty điện lực có cổ đông thiểu số ngoài EVN nhưng EVN vẫn giữ cổ phần chi phối Các EVNPC có trách nhiệm quản lý tài sản lên đến cấp điện áp 110 kV, và mua điện từ EVN với giá nội bộ của EVN và bán điện cho khách hàng nhượng quyền của họ ở mức phí do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt [2]

1.1.2 Tổng quan về thị trường điện ở Việt Nam

Với mục đích nhằm từng bước phát triển thị trường điện lực cạnh tranh một cách ổn định, xoá bỏ bao cấp trong ngành điện, tăng quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho khách hàng sử dụng điện; thu hút vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế trong

và ngoài nước tham gia hoạt động điện lực, giảm dần đầu tư của Nhà nước cho ngành điện; tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện, giảm áp lực tăng giá điện; đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy và chất lượng ngày càng cao Thủ tướng Chính Phủ đã có quyết định số 63/2013/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 phê duyệt lộ trình và các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam, Theo đó thị trường điện lực tại Việt Nam được hình thành và phát triển như sau:

 Từ năm 2012 đến nay: Đưa vào vận hành thị trường phát điện cạnh tranh;

 Từ năm 2017 đến năm 2019: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm;

 Từ năm 2019 đến năm 2021: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh;

 Từ năm 2021 đến năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ cạnh tranh thí điểm;

 Từ sau năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ cạnh tranh hoàn chỉnh

DUT.LRCC

Trang 18

Về cơ cấu tổ chức của các Tổng Công ty Điện lực để hình thành thị trường bán

lẻ điện cạnh tranh, Quyết định 63 quy định như sau:

 Giai đoạn bán buôn thí điểm: các Tổng Công ty Điện lực (TCTĐL), CTĐL được lựa chọn tham gia phải tách bạch cả bộ máy và hạch toán phân phối và bán lẻ điện

 Giai đoạn bán buôn chính thức: CTĐL thuộc các TCTĐL được tổ chức thành đơn vị hạch toán độc lập, phải tách bạch cả tổ chức bộ máy và hạch toán của các bộ phận phân phối và bán lẻ điện

 Giai đoạn cạnh tranh bán lẻ thí điểm: Bộ phận bán lẻ thuộc các CTĐL lựa chọn được tách thành đơn vị bán lẻ điện hạch toán độc lập

 Giai đoạn cạnh tranh bán lẻ hoàn chỉnh: Bộ phận bán lẻ thuộc các CTĐL được tách thành đơn vị bán lẻ điện hạch toán độc lập

Đến thời điểm hiện tại, sau 6 năm vận hành thị trường điện Việt Nam đã có được những thành công cơ bản Hệ thống điện tiếp tục được vận hành an toàn tin cậy, cung cấp đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không có sự cố phát sinh từ việc vận hành thị trường điện Quy mô của thị trường phát điện cạnh tranh cũng không ngừng mở rộng Tháng 7/2012, chỉ có 31 đơn vị phát điện trực tiếp tham gia thị trường phát điện cạnh tranh, đến cuối năm 2017, con số này đã tăng lên 80 Điều này là minh chứng rõ nét nhất về hiệu quả vận hành, cũng như chủ trương hình thành và phát triển thị trường điện Việt Nam là hoàn toàn phù hợp

Đặc biệt, các thông tin về vận hành thị trường điện được công bố đầy đủ đã góp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng trong việc huy động nguồn điện; tạo được môi trường cạnh tranh công khai, bình đẳng, lành mạnh giữa các đơn vị tham gia; tạo động lực cho các nhà máy phát điện chủ động trong vận hành, rút ngắn thời gian sửa chữa bảo dưỡng, giảm chi phí vận hành, chủ động chào giá, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí phát điện, nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống Bên cạnh đó, thị trường điện cũng bước đầu đã tạo được những tín hiệu tích cực, thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện năng Cùng với sự phát triển của thị trường điện, hệ thống văn bản pháp lý phục vụ vận hành thị trường điện cũng ngày càng được hoàn thiện [3]

Sự cần thiết cần phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh 1.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh

Trong bối cảnh thị trường điện chưa được hình thành đầy đủ, cần duy trì biểu giá điện lũy tiến Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng một thị trường điện cạnh tranh khi đã chính thức đưa thị trường bán buôn vào vận hành từ đầu năm 2019

DUT.LRCC

Trang 19

Việc cần sớm hoàn thiện thị trường này là yêu cầu rất cấp bách Bởi giá điện bậc thang lũy tiến chỉ tồn tại trong giai đoạn phát triển ban đầu của thị trường điện cạnh tranh, còn khi đã tiến vào thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, bậc thang cuối trong thị trường điện cạnh tranh thì sẽ không thể duy trì cách tính giá điện như hiện nay

Lúc ấy, thị trường sẽ có nhiều người bán và vạn người mua theo đúng nghĩa

và thế độc quyền của EVN cũng sẽ không còn tồn tại

Nhìn lại sự vận hành của thị trường điện cạnh tranh hiện nay vẫn rất chậm chạp Theo lộ trình, lẽ ra năm 2015 - 2016 phải chuyển sang thị trường bán buôn nhưng đến nay dù đã chính thức vận hành nhưng thị trường bán buôn điện cạnh tranh vẫn còn "ngổn ngang" nhiều việc phải làm

Hiện các Tổng Công ty Điện lực được quyền mua bán điện, nhưng xây dựng

và vận hành mô hình này thế nào?

Rồi các tổng công ty phân phối trước nay kinh doanh không phải trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, mà được sử dụng cơ chế giá điện nội bộ thì khi vận hành thị trường bán buôn cạnh tranh sẽ giải quyết bài toán này ra sao?

Do đó, cần sớm đẩy nhanh thực hiện thị trường điện cạnh tranh, hoàn thiện thị trường trên cơ sở xây dựng cơ chế, chính sách, giải quyết bài toán trợ giá giữa các đơn vị liên quan; hoàn thiện hạ tầng cơ sở như công cụ đo đếm, xử lý thông tin cũng

là vấn đề phức tạp và cần có sự đầu tư lớn, là những bài toán mà Nhà nước và ngành Điện cần giải quyết để có thị trường điện cạnh tranh và giá điện theo thị trường, giải tỏa bớt bức xúc của người dân với ngành điện như vừa qua [4]

1.1.4 Mục tiêu xây dựng thị trường điện cạnh tranh

Việc xây dựng thị trường điện được thực hiện nhằm đáp ứng một số mục tiêu như sau:

Thứ nhất, từng bước phát triển thị trường điện TTĐ cạnh tranh một cách ổn định, xóa bỏ bao cấp trong ngành điện, tăng quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho khách hàng sử dụng điện Trong tương lai do nhu cầu sử dụng điện tăng nhanh cùng với giá nhiên liệu tăng cao sẽ làm cho giá điện có thể tăng và tốc độ tăng giá có thể giảm vào giai đoạn cuối khi thị trường điện cạnh tranh được hoàn thiện Tuy nhiên phải chỉ ra rằng biểu giá điện dành cho một số nhóm khách hàng tiêu thụ điện (ví dụ biểu giá dành cho điện sinh hoạt) sẽ không giảm ngay khi hình thành thị trường điện cạnh tranh Nguyên nhân là do các nhóm khách hàng này đang được trợ giá Cải cách giá hướng tới định giá trên cơ sở chi phí và thị trường sẽ đòi hỏi đầu tiên phải tăng các mức giá đối với các nhóm khách hàng đang được trợ giá Sự tăng giá ban đầu này

là cần thiết để bù đắp hoàn toàn chi phí và thu hút đầu tư vào ngành điện để tránh xảy

DUT.LRCC

Trang 20

ra thiếu hụt công suất và duy trì sự phát triển của ngành điện Sau khi tăng mức giá đầu tiên, hiệu quả từ hoạt động thị trường điện cạnh tranh sẽ giúp làm chậm việc tăng giá trong tương lai và về lâu dài có thể là giảm giá Hoạt động điện lực trong môi trường cạnh tranh có sự kiểm tra giám sát của cơ quan điều tiết sẽ tạo ra các dịch vụ khách hàng và bảo vệ lợi ích tốt hơn cho khách hàng, quyền lựa chọn nhà cung cấp điện của khách hàng sử dụng điện ngày càng được tăng thêm Một trong những chức năng của cơ quan điều tiết là bảo vệ lợi ích của khách hàng bằng cách thiết lập và đảm bảo thực thi các tiêu chuẩn hoạt động dịch vụ khách hàng và giải quyết các tranh chấp của khách hàng

Thứ hai, thu hút vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia hoạt động điện lực, giảm dần đầu tư của Nhà nước cho ngành điện Khi xây dựng và phát triển thị trường điện cạnh tranh đồng thời với nó là một khuôn khổ pháp

lý và điều tiết rõ ràng, lành mạnh được xây dựng và các mức giá đầy đủ được thiết lập để thu hút các nhà đầu tư mới, các nhà đầu tư phi chính phủ sẽ tin tưởng hơn và yên tâm hơn khi đầu tư vào ngành điện Việt Nam Với lộ trình xây dựng thị trường điện cạnh tranh phù hợp, sẽ có cơ hội tốt hơn để đạt mức tăng trưởng nguồn điện mới

Do đó ngành điện sẽ có đủ nguồn phát để đáp ứng nhu cầu điện dự báo và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của đất nước

Cuối cùng, tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện, giảm áp lực tăng giá điện; đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy và chất lượng ngày càng cao; và đảm bảo phát triển ngành điện bền vững Bằng việc đưa cạnh tranh vào hoạt động điện lực và thực thi các quy định kinh tế về dịch vụ truyền tải và phân phối, ngành điện sẽ phải cải thiện hiệu quả và giảm sự gia tăng chi phí cung cấp điện mới Trong môi trường cạnh tranh sẽ buộc các đơn vị tham gia hoạt động điện lực phải cạnh tranh nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cắt giảm chi phí, nhờ đó các đơn vị này sẽ có khả năng định giá điện của họ một cách cạnh tranh và vẫn thu được lợi nhuận Mức tăng chi phí dịch vụ điện trong tương lai sẽ thấp hơn mức tăng chi phí nếu không xây dựng và vận hành thị trường điện cạnh tranh Từng bước phát triển thị trường điện cạnh tranh một cách ổn định sẽ xoá bỏ bao cấp trong ngành điện, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện, đảm bảo phát triển ngành điện bền vững Một trong những điều kiện tiên quyết để xây dựng và vận hành mô hình thị trường điện cạnh tranh đó là phải xây dựng và ban hành Quy định (Pháp lệnh) về lưới điện Khi Pháp lệnh về lưới điện được ban hành

và cơ quan Điều tiết Điện lực hoạt động để đảm bảo thi hành Pháp lệnh về lưới điện, việc nâng cao độ tin cậy của hệ thống điện sẽ được thực hiện Thêm vào đó, chất lượng điện năng cũng sẽ được nâng cao nhờ thi hành Pháp lệnh về lưới điện

DUT.LRCC

Trang 21

1.1.5 Những yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường điện lực, bao gồm như sau:

Thứ nhất là mức độ tích cực của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng điện năng, bao gồm các nhà máy điện, các công ty cung cấp dịch vụ truyền tải và phân phối điện, các công ty điện lực phụ trách dịch vụ bán lẻ điện và khách hàng tiêu thụ điện Khi có sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, các đơn

vị từ nhiều thành phần thì sẽ gia tăng nhiều lựa chọn cho khách hàng mua điện với quy mô thị trường mở rộng hơn, đi kèm theo là sự đa dạng và sự gia tăng cạnh tranh của các nhà cung cấp trên TTĐ

Thứ hai là năng lực, trình độ và kinh nghiệm của các chủ thể tham gia TTĐ Đối với các các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng điện năng, năng lực, trình độ và kinh nghiệm thể hiện ở khả năng huy động tài chính, huy động nguồn lực triển khai thực hiện các dự án phát triển trong lĩnh vực điện năng, năng lực quản lý đầu tư, quản lý thi công hay quản lý vận hành các công trình điện Đối với các đơn vị quản lý vận hành lưới điện hay hệ thống điện, trình độ và kinh nghiệm của nhân lực, đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên cũng là những yếu tố quyết định, thiết yếu có ảnh hưởng và tác động tới sự phát triển của TTĐ

Thứ ba là sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia: do điện năng là đầu vào quan trọng ở hầu hết các hoạt động của nền kinh tế, và do đó, có sự liên hệ chặt chẽ

và tương quan giữa phát triển kinh tế - xã hội và TTĐ Một yếu tố quan trọng tác động lên phát triển của TTĐ là cơ cấu kinh tế quốc gia hay địa phương mà ở đó các

hộ tiêu thụ điện phục vụ cho mục đích sản xuất Nếu cơ cấu kinh tế bị chi phối bởi các hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng hay công nghiệp chế tạo, nhu cầu sử dụng điện cho các khu vực này cũng sẽ có tỉ trọng cao, chi phối tổng thể nhu cầu điện toàn quốc hoặc địa phương Tác động của các điều kiện kinh tế

- xã hội đối với phát triển TTĐ còn thể hiện ở mức độ sử dụng năng lượng của nền kinh tế có hiệu quả hay không Nếu nền kinh tế sử dụng năng lượng có hiệu quả, sẽ cần ít điện năng hơn để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và qua đó, tạo ra nhu cầu điện bền vững hơn và ngược lại

Thứ tư là hệ thống pháp luật, chính sách đối với ngành công nghiệp điện lực: thể hiện qua các đạo luật, chính sách được ban hành để điều chỉnh sự vận hành và phát triển của ngành Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật, chính sách quan trọng nhất

và có liên quan mật thiết tới TTĐ là Luật Điện lực, các chiến lược phát triển năng lượng như than, dầu, khí, năng lượng tái tạo, các quy hoạch phát triển phân ngành

DUT.LRCC

Trang 22

năng lượng, các quy định về lộ trình hình thành TTĐ các cấp độ, các chính sách về

an ninh năng lượng Bên cạnh đó, các chính sách và định hướng, chủ trương của Nhà nước đối với liên kết vận hành của ngành công nghiệp điện lực Việt Nam với các nước trong khu vực, bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu điện và năng lượng cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển của TTĐ Việt Nam

Thứ năm là các nhân tố về kỹ thuật - công nghệ cũng có tác động nhất định đến TTĐ và ngành công nghiệp điện lực Trong kỷ nguyên của đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực, ngành điện sẽ chứng kiến sự ứng dụng của các kỹ thuật - công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng điện năng tới khách hàng nhờ các tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực phát điện, truyền tải điện, vận hành lưới điện thông minh, quản lý nhu cầu trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thông

Cuối cùng là mô hình tổ chức quản lý, điều tiết thị trường điện: Khi phát triển TTĐ, các nội dung liên quan tới mô hình tổ chức quản lý, điều tiết thị trường đóng vai trò quan trọng thiết yếu Các nội dung này có thể bao gồm hệ thống các văn bản pháp lý quy định và điều chỉnh việc xây dựng và phát triển TTĐ; cấu trúc tổ chức các

cơ quan và các bên liên quan trong quản lý và điều tiết TTĐ

Ngoài ra, một số yếu tố như điều kiện tự nhiên, khí hậu cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của TTĐ Các khu vực có điều kiện thời tiết khắc nghiệt (quá nóng hoặc quá lạnh) thì nhu cầu tiêu thụ điện năng sẽ có xu hướng cao hơn so với các khu vực khác [5]

Các thị trường ở một số nước trên thế giới và bài học đối với thị

trường điện ở Việt Nam 1.1.6 Thị trường điện Singapore

Thị trường điện cạnh tranh Singapore đã có quá trình hình thành trong 10 năm

từ năm 1998 đến năm 2008 để có thể vận hành như ngày hôm nay Lịch sử hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh của Singapore là những bước đi thận trọng, phù hợp

và có lộ trình rõ ràng

Quá trình hình thành điện cạnh tranh ở Singapore được trình bày trong Hình 1.1

DUT.LRCC

Trang 23

Hình 1.1: Quá trình phát triển của thị trường điện cạnh tranh ở Singapore

Thời kỳ đầu của hệ thống điện Singapore, tất cả mọi khâu từ phát điện, truyền tải, phân phối đều do Temarsek nắm giữ (hay nói cách khác là Chính phủ độc quyền) Đến năm 1998 – 1999, Chính phủ Singapore tách dần các khâu ra khỏi Temarsek và giảm dần tỷ lệ nắm giữ vốn tại các Tổng Công ty, mở đường cho Thị trường điện cạnh tranh hình thành và phát triển [6]

Cấu trúc thị trường bán buôn – bán lẻ điện Singapore được mô tả trong hình dưới đây:

Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore được trình bày trong Hình 1.2

Hình 1.2: Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore ảnh

DUT.LRCC

Trang 24

Hiện nay, toàn bộ thị trường điện Singapore do Cơ quan điều tiết quản lý thị trường năng lượng EMA (Energy Market Authority) là đơn vị trực thuộc dưới quyền của Bộ Công Thương Singapore, trực tiếp giám sát và quản lý các hoạt động điện lực; các khâu: phát điện, truyền tải, vận hành thị trường điện, bán lẻ và phân phối điện được tách bạch và thực hiện bởi các đơn vị khác nhau

Trực thuộc quản lý của EMA có hai Tổng công ty nhằm đảm bảo Chính phủ nắm giữ độc quyền về truyền tải cũng như an ninh hệ thống:

+ Công ty vận hành hệ thống điện (PSO): là một đơn vị của chính phủ quản

lý (trực thuộc PSO), chịu trách nhiệm cung cấp điện năng ổn định và an ninh hệ thống

+ Công ty lưới điện quốc gia (SP Power Assets) sở hữu toàn bộ lưới điện

Singapore, có chức năng vận hành vào bảo dưỡng lưới điện; Trong SP có 02 công ty trực thuộc:

- SP service chuyên quản lý hệ thống lưới điện phân phối, điều hành hệ thống

phân phối cho các đơn vị bán lẻ điện

- Đơn vị cung cấp các dịch vụ cho thị trường (MSSL) bao gồm: (i) thanh

toán với khách hàng; (ii) đọc công tơ và quản lý dữ liệu đo đếm; (iii) cung cấp các dịch vụ cho khách hàng mới; (iv) lập hóa đơn và thanh toán phí truyền tải; (v) bán điện cho các khách hàng nhỏ và gián tiếp bán điện cho khách hàng lớn

- Công ty vận hành thị trường điện EMC (Energy Market Company) là một công ty cổ phần Tuy nhiên đến năm 2019, Trung tâm giao dịch chứng khoán Singapore - SGX sở hữu 100% cổ phần, EMA không còn tham gia quản lý EMC EMC được cấp phép thực hiện các chức năng điều hành thị trường điện Singapore EMC tương tự như một sàn giao dịch điện năng và giao dịch hợp đồng thị trường điện, cung cấp các hệ thống CNTT phục vụ giao dịch và quản lý thị trường điện

- Các Công ty phân phối (đơn vị bán lẻ điện - Retailer) thực hiện chức năng bán điện cho các khách hàng (bao gồm cả khách hàng lớn thông qua sàn giao dịch hợp đồng) và các khách hàng lẻ, hộ tiêu dùng cá nhân Hiện tại thị trường bán lẻ Singapore có 27 đơn vị bán lẻ điện được cấp phép để cung cấp điện cho khách hàng, trong đó có nhiều đơn vị sở hữu nhà máy điện được gọi là Gentailer, các đơn vị khác chỉ ký hợp đồng mua điện từ các nhà máy và bán lại cho người tiêu dùng

Những đặc điểm nổi bật Thị trường điện của Singapore:

- Chính phủ tiếp tục nắm độc quyền về Lưới truyền tải và Lưới phân phối thông qua Tổng công ty Lưới điện quốc gia Singapore (SP group), thu một mức phí

cố định với: phí truyền tải và phí phân phối

- Chính phủ tiếp tục nắm giữ một phần phân phối bán lẻ điện thông qua một Công ty cung cấp dịch vụ điện năng

- Các Công ty tham gia Thị trường có thể thực hiện cả khâu phát điện, phân phối và bán lẻ trực tiếp tới khách hàng

DUT.LRCC

Trang 25

Cấu trúc Thị trường điện Singapore được hình thành bởi: Thị trường bán buôn

và Thị trường bán lẻ Trong phạm vi bài viết này, chúng ta xét đến nhưng yếu tố của Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh Singapore, để có thể từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc hình thành và phát triển Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh của Việt Nam

Tính đến cuối năm 2017, Singapore có khoảng 27 đơn vị kinh doanh bán lẻ điện hoạt động, trong đó Công ty MSSL (Đơn vị cung cấp các dịch vụ cho thị trường)

là đơn vị bán lẻ mặc định, chỉ bán điện cho các khách hàng không tham gia thị trường bán lẻ điện theo biểu giá do nhà nước quy định, không tham gia cạnh tranh với các đơn vị bán lẻ điện khác [6]

Bắt đầu từ tháng 11/2018, Singapore bắt đầu triển khai thử nghiệm thị trường điện bán lẻ cho các khách hàng nhỏ trên 4 vùng trong cả nước và chính thức vận hành thị trường điện bán lẻ hoàn chỉnh từ tháng 5/2019 (Open Energy Market - OEM) Trong đó tất cả các khách hàng sử dụng điện được quyền lựa chọn:

Thị trường điện bán lẻ của Singapore được trình bày trong Hình 1.3

Hình 1.3: Thị trường điện bán lẻ của Singapore

Hiện tại, khoảng 76% khách hàng sử dụng điện của Singapore (chủ yếu là các đối tượng khách hàng công nghiệp, thương mại – dịch vụ và vận tải) là các đơn vị trực tiếp mua điện từ thị trường (trực tiếp hoặc thông qua đơn vị bán lẻ) Phụ tải còn lại là hộ tiêu dùng, thương mại chiếm 24% là các khách hàng không trực tiếp thanh toán trên thị trường 60% đã chuyển đổi mua điện từ thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh (OEM) của các đơn vị bán lẻ điện theo các gói 40% vẫn mua từ Tập đoàn Điện lực Singapore theo giá điều tiết của nhà nước

Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore được trình bày trong Hình 1.4

DUT.LRCC

Trang 26

Hình 1.4: Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore

Thời gian để xây dựng thị trường này của Singapore mất 21 năm từ năm 1998 đến 2019 Có thể nhận thấy một số yếu tố chính của thị trường điện bán lẻ cạnh tranh Singapore:

 Khách hàng có nhiều lựa chọn về các phương án giá và các đơn vị phân phối khác nhau

bán lẻ được điều tiết

Giá cố định hàng quý SP Group (SP Services)

2 Chọn mua từ đơn vị

bán lẻ điện

mức giá do đơn vị bán

lẻ điện đưa

ra

Khách hàng thương mại lớn: lựa chọn bất kỳ đơn vị bán lẻ điện đã được cấp phép

Khách hàng dân dụng và khách hàng thương mại quy mô nhỏ: được lựa chọn các đơn vị bán lẻ điện được EMA cấp phép

trường bán buôn điện

trường điện (theo chu kỳ

30 phút)

SP Group (SP Services)

 Chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện luôn được đảm bảo cho khách hàng kể cả khi chuyển đổi sang đơn vị bán lẻ điện khác, do việc vận hành lưới điện và cấp điện đến khách hàng tiêu thụ điện vẫn do SP Group (01 đơn vị độc lập với các bên) đảm nhận

DUT.LRCC

Trang 27

 Linh hoạt trong Biểu giá điện Các gói dịch vụ của đơn vị bán lẻ điện có thể được chia thành 02 nhóm: biểu giá điện được chuẩn hóa và biểu giá điện phi chuẩn hóa Các loại hình biểu giá điện được chuẩn hóa bao gồm:

- Mức giá điện cố định (ví dụ 20 cents/kWh) trong toàn bộ khoảng thời gian bán điện cho khách hàng theo hợp đồng đã ký;

- Tính chiết khấu theo biểu giá bán lẻ điều tiết: Giá bán điện cho khách hàng được chiết khấu giảm (ví dụ: khoảng 5%) so với mức giá bán lẻ điều tiết do Ủy ban Điều tiết năng lượng Singapore phê duyệt hàng quý

- Biểu giá cao - thấp điểm: Mức giá điện thay đổi theo các chu kỳ (ví dụ:

25 cents/kWh trong các giờ cao điểm từ 08h00 đến 20h00 và 15 cents/kWh trong các chu kỳ thấp điểm còn lại)

 Singapore không đưa các thành phần trợ giá, bù giá vào trong giá điện, nhằm mục đích định giá điện chính xác, đầy đủ, và khuyến khích sử dụng điện hiệu quả và tránh lãng phí

 Các chính sách bảo vệ quyền lợi khách hàng:

- Việc tham gia vào thị trường điện mở (OEM) là không bắt buộc

- Khách hàng sẽ không phải đối mặt với sự gián đoạn cung cấp điện nào khi thay đổi đơn vị bán lẻ điện

- Các tranh chấp giữa khách hàng và đơn vị bán lẻ nếu không được hòa giải sẽ được xử lý bởi một tổ chức trung gian

Những kinh nghiệm thực tiễn về vận hành của thị trường điện Singapore trên

cơ sở những yếu tố đặc thù về lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối cũng rất đáng xem xét để chuẩn bị cho triển khai thị trường bán lẻ điện của Việt Nam Việc tách bạch phạm vi hoạt động phân phối điện và hoạt động kinh doanh bán lẻ điện trong các Tổng Công ty Điện lực, tách bạch chi phí khâu phân phối điện và khâu kinh doanh bán lẻ điện, tách bạch chi phí thành phần công ích là những vấn đề còn có cơ chế quản lý, hệ thống pháp lý để phân định nhằm tạo dựng nền tảng vững chắc cho Thị trường Các quyết định về giá bán lẻ điện sẽ trở nên minh bạch và được quyết

định do cung cầu thị trường [6]

DUT.LRCC

Trang 28

1.1.7 Thị trường điện ở Úc

Tổng sản lượng điện trên toàn nước Úc là 253,7 TWh trong năm 2016, trong

đó tua bin hơi đốt than chiếm tỉ trọng rất cao Mạng lưới điện truyền tải điện áp cao

từ 220 kV trở lên thực hiện nhiệm vụ kết nối người tiêu dùng và nhà sản xuất điện ở các tiểu bang Queensland, New South Wales (NSW), vùng Thủ đô Úc (ACT), Victoria, Nam Úc, và (qua cáp Basslink dưới biển) Tasmania Hệ thống điện này hoạt động trong TTĐ của Úc (NEM) và là hệ thống mạng điện xoay chiều dài nhất kết nối với nhau trên thế giới, kéo dài khoảng 4.500 km [5]

Hệ thống điện Úc có độ dự phòng công suất phát điện lớn (khoảng 25%), tốc

độ tăng trưởng phụ tải thấp (khoảng 3% năm) và cơ cấu nguồn năng lượng đa dạng

Cơ sở hạ tầng của hệ thống điện phát triển ở mức cao với hệ thống SCADA và các

hệ thống đo đếm tiên tiến đã tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng thị trường thời gian thực (5 phút), giúp phát triển thị trường nhanh chóng

Từ năm 1998 đến nay Úc đã phát triển đến giai đoạn bán lẻ điện cạnh tranh Đến 2001, Chính phủ Úc đã ban hành các chính sách của chính phủ để thúc đẩy phát điện từ NLTT Tổng tiêu dùng nhu cầu điện tại Úc được dự báo sẽ tăng trưởng chậm, đạt 222 TWh vào năm 2021/2022 Một yếu tố quan trọng khác làm giảm tiêu thụ điện

là việc giá điện bán lẻ liên tục được điều chỉnh tăng do phí truyền tải gia tăng, tại một

số bang thậm chí tăng tới hơn 50% (NSW và Queensland) Phí truyền tải tăng bắt nguồn từ hoạt động đầu tư mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua vào hạ tầng lưới điện

để đáp ứng đỉnh cao nhu cầu mùa hè Hiện nay, giá điện bán lẻ bình quân áp dụng cho các hộ gia đình tại Úc là 28 AUDcent/kWh (tương đương 4.871 VNĐ/kWh) Mức giá điện bán lẻ cao hơn cũng phản ánh chi phí cho các khoản trợ cấp cho NLTT tái tạo

TTĐ quốc gia Úc (NEM) là thị trường thời gian thực vận hành theo mô hình điều độ tập trung - chào giá tự do có kèm theo hợp đồng sai khác giữa các quá trình tái cơ cấu, tài sản các đơn vị trong ngành điện Úc đều thuộc sở hữu của Nhà nước

Do nguồn than dồi dào nên nhiệt điện than chiếm một tỷ lệ lớn trong khâu phát điện tại Úc Quá trình tái cơ cấu ở Úc được tiến hành đồng thời từ cấp bang và cấp Quốc gia Năm 1995 ngành điện Úc bắt đầu quá trình chuyển dịch theo mô hình tập đoàn

và tư nhân hóa Các đơn vị truyền tải thuộc sở hữu nhà nước được hợp nhất thành Công ty truyền tải quốc gia duy nhất cùng với việc thành lập một Ủy ban quản lý lưới điện Quốc gia Năm 1994, Ủy ban quản lý lưới điện Quốc gia ban hành quy định “Tái

cơ cấu ngành điện Úc” đặt ra mục tiêu cho phát triển TTĐ Úc

TTĐ quốc gia Úc (NEM) bắt đầu vận hành từ tháng 12 năm 1998 với các mục tiêu: tạo sự cạnh tranh, cho phép các khách hàng lựa chọn nhà cung cấp, cho phép

DUT.LRCC

Trang 29

tham gia nối lưới Các đơn vị tham gia NEM gồm có Tổ chức Điều hành Thị trường Năng lượng - AEMO (Australian Energy Market Operator) vận hành TTĐ NEM AEMO thành lập năm 2009 trên cơ sở sáp nhập một số cơ quan quản lý quy hoạch của nhà nước và đơn vị vận hành thị trường khí và NEMMCO - Công ty Quản lý TTĐ quốc gia (National Electricity Market Management Company) và 15 công ty phát điện, 5 công ty cung cấp dịch vụ lưới truyền tải; các công ty cung cấp dịch vụ lưới phân phối và các khách hàng mua điện trên thị trường: bao gồm các công ty bán

lẻ điện và các khách hàng sử dụng điện lớn

Cơ chế quản lý - điều tiết TTĐ được điều chỉnh và cải tiến đầu những năm

2000 nhằm hình thành các cơ quan điều tiết cấp liên bang thay vì tiểu bang Ở hệ thống này, có ba cơ quan chính tham gia điều tiết kinh tế của mạng lưới điện tại Úc là:

Hội đồng Thường trực về Năng lượng và Tài nguyên - SCER (Standing Council of Energy and Resources): SCER có trách nhiệm tạo lập chương trình nghị

sự chiến lược quốc gia đối với lĩnh vực năng lượng và tài nguyên của Úc Thành viên của SCER là các bộ trưởng các ngành liên quan ở liên bang, tiểu bang và New Zealand

Ủy ban Thị trường Năng lượng Úc - AEMC (Australian Energy Market Commission): AEMC được trao chức năng điều chỉnh các Quy định mà không cần thông qua của Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Australia - ACCC AEMC còn

có trách nhiệm duy trì và phát triển các Quy định Điện lực quốc gia và tham mưu cho các Bộ trưởng về phương thức tốt nhất để phát triển TTĐ Đây cũng là cơ quan ban hành các quy định và phát triển TTĐ và khí

Cơ quan Điều tiết Năng lượng Úc - AER (Australian Energy Regulator): AER

có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực thi sự tuân thủ ở các TTĐ bán buôn

và thị trường khí; điều tiết các mạng lưới điện và khí theo nguyên tắc thiết lập giá tối

đa mà các công ty lưới điện được hưởng, điều tiết các TTĐ và khí bán lẻ theo Luật Bán lẻ năng lượng quốc gia [5]

1.1.8 Thị trường điện New Zealand

Thị trường điện New Zealand – NZEM là thị trường chào giá toàn phần (price based), cạnh tranh trong cả 3 khâu: phát điện, bán buôn và bán lẻ

Để đảm bảo tránh được các rủi ro do giá cả trên thị trường thay đổi quá lớn, thị trường điện New Zealand cho phép các bên mua và bán điện được mua bán điện qua các hợp đồng với giá được thỏa thuận trước Các hợp đồng này đơn thuần chỉ là

DUT.LRCC

Trang 30

các hợp đồng tài chính, không cần phải thỏa thuận cho mức công suất hoặc năng lượng mua bán sau này

Việc áp dụng hợp đồng tài chính giúp bên bán điện đảm bảo được doanh thu khi giá thị trường tụt thấp, khi đó các nhà máy không cần thiết phải ngừng phát điện

mà có thể tiếp tục phát điện để bán theo các hợp đồng với giá điện đã được thỏa thuận trước

Đối với bên mua điện là người dùng cuối cùng, việc mua điện qua các hợp đồng sẽ tránh được các rủi ro khi giá điện trên thị trường tăng quá cao Tuy vậy, người

sử dụng điện sẽ không được lợi khi giá thị trường thấp

NZEM là thị trường chào giá tự do (price based), các nhà máy điện cạnh tranh với nhau theo giá các bản chào Các bản chào được gửi tới SO theo đường internet

và được SO xử lý bằng phần mềm SPD (Scheduling, Pricing and Dispatch Model) Phần mềm sẽ tính toán trên nguyên tắc chi phí phát điện nhỏ nhất tới nơi tiêu thụ theo mỗi chu kỳ giao dịch của thị trường Kết quả của phần mềm này là lịch điều độ cho từng tổ máy, giá điện trên từng nút đấu nối vào lưới truyền tải, và nút bán điện cho mỗi chu kỳ giao dịch – 1/2 giờ Tham số cho phần mềm bao gồm giá của các bản chào, kết quả dự báo phụ tải, nghẽn mạch của lưới truyền tải và tổn thất đường dây

Thực hiện quá trình tái cơ cấu ngành điện triệt để, New Zealand đã xây dựng thành công thị trường điện cạnh tranh từ khâu phát điện đến phân phối bán lẻ Việc cải tổ ngành điện New Zealand cũng được dựa trên 2 đạo luật mạnh mẽ là Luật về các công ty cung cấp năng lượng (Energy Companies Act) và Luật điện lực (Electricity Act)

New Zealand đã giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến thủy điện Các nguồn thủy điện của New Zealand chiếm 60% công suất đặt của hệ thống, lượng nước dự trữ trong hồ không cao và cũng phải đối mặt với mùa mưa và mùa khô Tuy nhiên thị trường điện đã được vận hành theo quy tắc tối ưu giá trị nước để có giá điện toàn thị trường thấp nhất từng thời điểm và cả năm

Cơ chế hợp đồng tại New Zealand giúp cho các bên tham gia thị trường và người sử dụng điện tránh được những rủi ro khi giá cả thị trường biến động

Do đặc điểm của hệ thống điện New Zealand, các nhà máy thủy điện có hồ chứa không lớn và chịu ảnh hưởng của mùa khô nên giá thị trường biến động tăng rất cao trong những tháng mùa khô, hiện tượng sử dụng quyền lực thị trường để nâng giá cũng xảy ra tại những thời điểm này [7]

DUT.LRCC

Trang 31

1.1.9 Thị trường điện ở Trung Quốc

TTĐ Trung Quốc có quy mô lớn nhất thế giới Năm 2015, công suất lắp đặt của nhà máy điện của Trung Quốc đạt 1.5 tỷ kW, với điện năng sản xuất đạt 5,618 nghìn tỷ kWh (chiếm 24% sản lượng điện toàn cầu) Một điểm đáng lưu ý là quy mô TTĐ Trung Quốc đã liên tục tăng trưởng trong suốt 40 năm qua (kể từ năm 1968)

Hạ tầng lưới điện Trung Quốc cũng có quy mô khổng lồ, với tổng chiều dài đường dây truyền tải từ 220kV trở lên là 572,000 km tương ứng công suất truyền tải đạt 3.03

tỷ kVA Hiện nay toàn bộ các tỉnh của Trung Quốc đã kết nối lưới điện quốc gia, nằm dưới sự quản lý của hai đơn vị nhà nước là Công ty lưới điện Nhà nước và Công ty lưới điện Nam Trung Quốc [5]

Từ năm 1985, Trung Quốc đã bắt tay vào quá trình cải cách ngành điện trong bối cảnh phải đối mặt với tình trạng thiếu điện trên toàn quốc Cho đến trước khi cải cách, TTĐ Trung Quốc không có sự tham gia của tư nhân vào sản xuất điện Chính quyền Trung Quốc thực hiện các cải cách về thu hút đầu tư, cải cách cơ chế giá điện

và xây dựng các cơ quan điện lực địa phương để cải thiện năng lực sản xuất điện trên toàn quốc Các nhà đầu tư vào sản xuất điện được bảo đảm đầu ra thông qua các hợp đồng mua điện dài hạn với giá mua cố định, trong đó bảo đảm lợi nhuận trung bình trên 15%/năm Cho đến năm 1995, về cơ bản tình trạng thiếu điện tại nước này đã chấm dứt

Trong những năm 1997-1998 các chức năng và trách nhiệm của Nhà nước đã được tách ra khỏi hoạt động kinh tế trực tiếp của các DN năng lượng Một phần của

Bộ Điện lực đã được chuyển đổi thành Công ty Điện lực Trung Quốc (SPC) năm

1997 để tách doanh nghiệp ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước Một số biện pháp khác cũng được thực hiện để nâng cao khả năng kiểm soát và hiệu quả của ngành điện

Ngành Điện lực của Trung Quốc trải qua đợt cải cách thứ hai trong năm 2002, khi Hội đồng Nhà nước phê duyệt “Đề án cải cách Ngành điện” trên định hướng tách biệt các khâu sản xuất điện và truyền tải, phân phối điện SPC - là đơn vị sở hữu khoảng một nửa tài sản khâu phát điện và hầu hết hạ tầng lưới điện - được chia nhỏ thành nhiều công ty Tuy nhiên tất cả các đơn vị này vẫn thuộc sở hữu nhà nước Trên

cơ sở đó, năm công ty phát điện lớn được thành lập, sở hữu các nhà máy điện trải khắp các khu vực trên cả nước và đảm bảo nguyên tắc không đơn vị nào sở hữu quá 20% thị phần phát điện Bên cạnh đó, sáu công ty lưới điện vùng được cơ cấu lại thành hai đơn vị, đảm bảo vận hành cho lưới điện liên kết của hầu khắp các vùng trên toàn quốc Công ty lưới điện Nam Trung Quốc phụ trách các tỉnh phía Nam và Đông Nam trong khi Tập đoàn lưới điện Nhà nước chịu trách nhiệm đối với toàn bộ phần

DUT.LRCC

Trang 32

còn lại của lưới điện Trong năm 2002, Ủy ban Điều tiết điện lực Nhà nước được thành lập với chức năng giám sát và điều tiết sự vận hành của TTĐ thông qua việc xây dựng các quy định, quy tắc cho thị trường Giá mua điện từ các nhà máy điện riêng lẻ được cố định theo các thỏa thuận dài hạn và chỉ được xem xét điều chỉnh khi

có đề nghị từ nhà máy Các chính sách này phần nào khuyến khích các nhà sản xuất điện giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận Đối với giá bán điện, thời kỳ này Trung Quốc

áp dụng biểu giá khác nhau đối với từng nhóm khách hàng gồm công nghiệp, thương mại và tiêu dùng - dân cư Một điểm đáng lưu ý là các công ty quản lý lưới điện được giao thực hiện chức năng điều độ hệ thống điện và quy hoạch phát triển nguồn điện,

tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư vào các dự án phát điện Các nhà đầu tư trúng thầu không những được bảo đảm bao tiêu đầu ra (điện năng sản xuất) ra mà còn được trả phí công suất như một cách khuyến khích nâng cao độ tin cậy sản xuất điện của

hệ thống Về bản chất, các công ty lưới điện cũng thực hiện chức năng người mua duy nhất trên thị trường

Giai đoạn gần đây, Trung Quốc bắt đầu nhận thấy các vấn đề mới nảy sinh của ngành điện, thể hiện ở việc thiếu các cơ chế phù hợp cho TTĐ, các giao dịch thị trường giữa các DN sản xuất điện và người sử dụng còn hạn chế Giá điện vẫn bị ảnh hưởng lớn bởi việc điều tiết của nhà nước, không phản ánh đầy đủ các thay đổi về chi phí, cung - cầu thị trường và chi phí bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, công tác quy hoạch phát triển không đồng bộ và có độ lệch/vênh giữa các quy hoạch Những khó khăn gặp phải trong việc phát triển và sử dụng năng lượng mới và NLTT trong đó có

sự phân biệt đối xử, tiếp cận hạ tầng điện vẫn tồn tại ở TTĐ Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhìn nhận rằng ngành điện có vai trò quan trọng trong việc giúp nước này chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp và giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí Tại Thâm Quyến, chính quyền đã tiến hành thí điểm cải cách phí truyền tải và phân phối điện Sau chương trình này, phí truyền tải và phân phối giảm, kéo theo việc giảm giá bán điện tại tỉnh này [5]

Năm 2015, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng Nhà nước ban hành Văn bản số 9 về Tăng cường hơn nữa Cải cách ngành điện hay còn được gọi là Chính sách số 9 Đây là đợt cải cách toàn diện, làm nền tảng cho việc thiết lập các thị trường bán buôn và bán lẻ cạnh tranh, chú trọng vào các khâu

cơ chế giá, phân phối và bán lẻ, kinh doanh điện, buôn bán điện, nguồn điện phân tán

và các khía cạnh khác Các định hướng nổi bật của Chính sách số 9 như sau:

Thứ nhất, tách bạch phí truyền tải ra khỏi khâu bán lẻ, đưa ra nguyên tắc "chi phí được chấp thuận cộng với lợi nhuận hợp lý" và xác định mức phí truyền tải dựa trên cấp điện áp Việc tách bạch chi phí sẽ khiến cho các đơn vị vận hành lưới điện

DUT.LRCC

Trang 33

khó có thể thu lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa chi phí phát điện và giá điện bán lẻ Các công ty lưới điện sẽ thay đổi từ vai trò của đơn vị kinh doanh điện sang một nhà cung cấp dịch vụ truyền tải điện, trong đó công ty lưới điện sẽ kiếm được lợi nhuận thông qua một "mức phí" khi cung cấp dịch vụ Cơ chế này làm cơ sở cho mô hình kinh doanh điện linh hoạt, thúc đẩy sự tham gia đa dạng của nhiều thành phần kinh

tế vào thị trường điện và cải thiện khả năng huy động và sử dụng hiệu quả của toàn

bộ hệ thống điện

Thứ hai, cải cách cơ chế giá và hình thành các cơ chế giao dịch thị trường Chính sách số 9 làm rõ rằng giá điện sản xuất và giá điện bán lẻ sẽ do thị trường quyết định, trong khi phí truyền tải và giá điện phục vụ phúc lợi công cộng sẽ vẫn được điều tiết Các nhà sản xuất điện có thể đàm phán giá với các khách hàng lớn hoặc đơn

vị bán lẻ hoặc thông qua cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, việc trợ giá đối với các khách hàng cũng sẽ được cải cách

Thứ ba, tạo lập cơ chế cạnh tranh phát điện và bán lẻ điện, đa dạng hóa các tổ chức bán lẻ Bên cạnh định hướng cơ chế giá do thị trường quy định, Chính sách số

9 hướng đến mức độ tự do hóa cao hơn khi khâu quy hoạch cung điện năng và khâu bán lẻ sẽ dần được xác định bởi thị trường Sự cạnh tranh ở khâu phát điện và bán lẻ điện sẽ trở nên khốc liệt hơn Trong hệ thống mới, các khu công nghiệp công nghệ cao và các khu kinh tế, các nhà bán lẻ tư nhân, các công ty cung cấp dịch vụ năng lượng, các công ty phát điện có đủ năng lực đều có thể tham gia và cạnh tranh trong thị trường bán lẻ tương lai Năm 2015, công ty bán lẻ tư nhân đầu tiên của Thâm Quyến, Công ty TNHH Bán lẻ Điện Thâm Quyến Thẩm Quyến (Thâm Quyến Dianneng Shoudian Co Ltd.), chính thức nhận giấy phép kinh doanh và thương mại Đây cũng là công ty điện bán lẻ tư nhân đầu tiên của Trung Quốc

Thứ tư, hình thành Thị trường dịch vụ phụ trợ mới Từ trước cho đến nay tại Trung Quốc không có thị trường các dịch vụ phụ trợ Các nhà máy điện nối lưới được hưởng lợi” Người sử dụng, phù hợp với hợp đồng của họ với các công ty phát điện hoặc lưới, có thể phải chịu trách nhiệm cho một khoản phí dịch vụ phụ trợ bắt buộc, hoặc một số loại bồi thường kinh tế khác Các cơ chế liên quan cũng được cải tiến, bao gồm các cơ chế đền bù dịch chuyển đỉnh đồ thị phụ tải, khuyến khích mua trực tiếp các dịch vụ phụ trợ năng lượng sạch và thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ phụ trợ điện

Thứ năm, chú trọng hơn đến quản lý nhu cầu điện Một trong những điểm nổi bật của cải cách điện là cải cách đồng thời việc sản xuất và tiêu thụ điện Chính sách

số 9 nhấn mạnh đến việc quản lý nhu cầu cân bằng lưới điện, nhấn mạnh sự cần thiết phải thiết lập cơ chế giá theo thời gian sử dụng, khuyến khích sự tham gia của các

DUT.LRCC

Trang 34

công ty cung cấp dịch vụ điện tư nhân và thiết lập nền tảng giám sát sử dụng điện trực tuyến để thúc đẩy các giải pháp, nền tảng quản lý nhu cầu

Kết hợp với các chính sách hỗ trợ tiếp theo, đợt cải cách ngành điện lần này

có thể sẽ mang lại những tác động sâu sắc đến TTĐ và các ngành công nghiệp của Trung Quốc [5]

Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Các trường hợp và kinh nghiệm tại một số quốc gia nêu trên cho thấy những bài học kinh nghiệm hữu ích để phát triển TTĐ, không chỉ là những vấn đề cần giải quyết xét trên góc nhìn từ phía nội tại của TTĐ mà còn bao gồm các nhân tố ảnh hưởng như hệ thống chính sách quản lý, môi trường kinh doanh và đầu tư, cải thiện mức độ cạnh tranh cho TTĐ:

Thứ nhất, việc phát triển TTĐ theo định hướng tự do hóa và cải thiện cơ chế cạnh tranh là định hướng tốt, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, nền tảng đầu tiên và thiết yếu để phát triển thành công TTĐ, đặc biệt qua các thời điểm, giai đoạn chuyển đổi có tính bước ngoặt hoặc bản lề, chính

là có nguồn cung cấp điện ổn định, đa dạng, kinh tế và có dự phòng hợp lý Nói cách khác, nguồn cung ứng điện năng ổn định, bao gồm hạ tầng lưới điện được đầu tư đồng

bộ là một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển một TTĐ bền vững hơn và hiệu quả hơn Tại một số quốc gia châu Âu, bên cạnh việc bố trí nguồn lực đầu tư cho mức công suất dự phòng hợp lý, việc tham gia kết nối lưới điện để đa dạng hóa nguồn cung và tăng cường an ninh hệ thống điện thông qua xuất nhập khẩu điện với các nước trong khu vực cũng là một yếu tố nền tảng dẫn đến tự do hóa TTĐ thành công

Thứ hai, cơ chế giá điện cần được xây dựng hợp lý trong đó hướng đến mục tiêu khuyến khích hoạt động tiêu thụ điện tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời đảm bảo thu hút đầu tư, không chỉ từ các đơn vị thuộc sở hữu nhà nước mà còn từ khối tư nhân đồng thời tạo nguồn lực bổ sung để phát triển các dạng nguồn điện thân thiện hơn với môi trường như điện gió, điện mặt trời…

Thứ ba, xây dựng TTĐ phải đi đôi với quá trình cải tổ ngành điện theo định hướng phi điều tiết các khu vực phát điện và bán lẻ điện, duy trì điều tiết về chức năng và điều tiết về kinh tế đối với khâu dịch vụ lưới điện để đảm bảo các đơn vị ngoài nhà nước có điều kiện tiếp cận lưới điện như một hạ tầng dùng chung, hướng đến mục đích phục vụ lợi ích tốt hơn cho người tiêu dùng Tuy nhiên, như một số trường hợp cải cách không thành công đã nêu ở trên, cần có bàn tay của Chính phủ

và các chiến lược, phương án theo dõi, đánh giá và dự phòng cho các tình huống hoặc

DUT.LRCC

Trang 35

các nguy cơ gây mất an toàn, an ninh hệ thống điện và TTĐ để kịp thời khắc phục,

xử lý Phát triển TTĐ theo định hướng tự do hóa và cải thiện cơ chế cạnh tranh phải tính toán đầy đủ các yếu tố nội tại của mỗi quốc gia, của nền kinh tế, đặc điểm của tiêu thụ điện năng để xây dựng lộ trình, bước đi phù hợp

Cuối cùng, bên cạnh môi trường chính sách quản lý TTĐ rõ ràng và có hệ thống, cần thiết có các cơ chế và cấu trúc tốt để đảm bảo các chính sách, quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu lực cao Do vậy, các nước đều có các giải pháp xây dựng bộ máy quản lý và điều tiết có cấu trúc ổn định, được trao nhiều thẩm quyền và cơ quan điều tiết có mức độ độc lập cao so với chính quyền

Để xây dựng và phát triển thành công TTĐ, ngành điện cần có định hướng và

lộ trình bao gồm:

Tư nhân hóa các doanh nghiệp (DN) độc quyền sở hữu Nhà nước để khuyến khích nâng cao hiệu quả hoạt động và hạn chế ảnh hưởng của các quyết định chính trị tác động đến thị trường thông qua các công ty sở hữu vốn Nhà nước;

Cấu trúc lại và tách theo chiều/ngành dọc các khu vực có tiềm năng thúc đẩy cạnh tranh ra khỏi các khu vực tiếp tục phải điều tiết Ví dụ, khu vực sản xuất, bán lẻ điện thường sẽ được xây dựng để tạo sự cạnh tranh trong khi khu vực hạ tầng truyền tải, phân phối điện sẽ tiếp tục được điều tiết;

Cấu trúc lại theo chiều ngang đối với khu vực phát điện để gia tăng số lượng đơn vị phát điện cạnh tranh với nhau Điều này sẽ giúp hạn chế sự thống lĩnh thị trường của số ít các DN và tăng sự cạnh tranh của thị trường;

Sáp nhập hoặc hợp nhất các đơn vị truyền tải và vận hành lưới điện để bảo đảm/hoàn thiện phạm vi địa lý cần thiết của lưới điện và TTĐ, đồng thời xây dựng đơn vị độc lập duy nhất chịu trách nhiệm quản lý vận hành lưới Đơn vị này sẽ thiết lập lịch huy động nguồn điện để đáp ứng nhu cầu, bảo đảm các chỉ tiêu kỹ thuật của lưới điện, tham gia định hướng đầu tư phát triển hạ tầng truyền tải điện để đáp ứng các yêu cầu về độ tin cậy cung cấp dịch vụ điện năng và các chỉ tiêu kinh tế;

Tạo lập thị trường năng lượng giao ngay và thực hiện cơ chế công suất dự trữ phù hợp để cân bằng cung cầu, hỗ trợ cho việc trao đổi, giao dịch giữa các cơ sở phát điện và giữa người bán và người mua;

Áp dụng các quy chế điều tiết và cơ chế hỗ trợ để nâng cao việc tiếp cận hạ tầng lưới điện cho các đơn vị tham gia mua bán điện trên thị trường bán buôn để hỗ trợ cho khâu sản xuất và giao dịch hiệu quả trên thị trường;

DUT.LRCC

Trang 36

Minh bạch hóa và tách biệt các thành phần chi phí trong cơ cấu giá điện bán

lẻ trong đó làm rõ phần chi phí phải trả cho dịch vụ truyền tải và phân phối điện năng

- tiếp tục là đối tượng điều tiết của nhà nước;

Xây dựng và cơ quan điều tiết thị trường độc lập có khả năng kiểm soát tốt các thông tin về chi phí, chất lượng dịch vụ và hiệu quả vận hành của các DN lưới điện

Cơ quan điều tiết có thẩm quyền điều tiết phí truyền tải/phân phối và các điều kiện, điều khoản tiếp cận và sử dụng lưới điện cho các đơn vị sản xuất và mua bán điện Đây là một tiêu chí quan trọng cho việc cải cách thị trường thành công nhưng thường không được đánh giá đúng mức tại nhiều quốc gia

Tóm lại, lợi ích do cơ chế thị trường đem lại là rất to lớn Cạnh tranh làm giảm giá bán ở khâu phát điện, gia tăng hiệu quả cung cấp điện Khi đó, các công ty điện lực sẽ thực hiện các quyết định đầu tư được căn cứ trên lợi ích kinh tế, đồng thời TTĐ thu hút thêm được nguồn vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh vào lĩnh vực điện năng và khách hàng có triển vọng được hưởng giá điện hợp lý và minh bạch hơn Cuối cùng, TTĐ vận hành hiệu quả sẽ bảo đảm được đủ nguồn cung điện năng cho phát triển kinh tế - xã hội

Giới thiệu về mô hình thị trường điện cạnh tranh phát triển theo các

cấp độ

Từ giai đoạn đầu những năm 2000, cùng với việc thành lập và ra đời các đơn

vị phát điện ngoài EVN, ngành điện đã xuất hiện sự cạnh tranh nhất định trong phát điện dù chưa hình thành nền tảng giao dịch TTĐ Ở giai đoạn này các nguồn ngoài EVN chiếm khoảng 7,2% công suất hệ thống (452 MW) và sản lượng điện chiếm khoảng 9,2% tổng điện thương phẩm (2,51 TWh) Song song với việc cơ cấu lại EVN,

lộ trình xây dựng và phát triển TTĐ đã được Chính phủ ban hành tại Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006, trong đó đặt ra yêu cầu quy định và vạch ra lộ trình ba cấp độ thị trường Mỗi cấp độ được thực hiện theo hai bước: thí điểm và vận hành chính thức được trình bày trong Hình 1.5

2010 2014 2017 2021 2023

Hình 1.5: Các cấp độ xây dựng thị trường điện tại Việt Nam

Ba cấp độ thị trường điện Việt Nam như sau:

Cấp độ 1 - Thị trường phát điện cạnh tranh: Thành lập Nhà điều hành thị trường

và Đơn vị mua điện duy nhất thuộc EVN Trên cơ sở đó, đã xây dựng và vận hành

DUT.LRCC

Trang 37

Thị trường phát điện cạnh tranh, thực hiện cơ chế thị trường giao ngay để tất cả các máy phát điện có thể tham gia

Cấp độ 2 - Thị trường cạnh tranh bán buôn: Ở cấp độ này, sẽ mở rộng sự tham gia của phía cầu trong TTĐ có tổ chức Mô hình Đơn vị mua điện duy nhất được thay thế bằng một thỏa thuận theo đó người tiêu dùng có thể đàm phán mua hàng trực tiếp với đơn vị phát điện mà không phụ thuộc vào Đơn vị mua điện duy nhất Từ năm

2015 đến năm 2016 đã thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm; và từ năm 2017 đến năm 2021 sẽ thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh

Cấp độ 3 - Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Ở cấp độ này, hoạt động công ty phân phối điện sẽ được chia tách theo chức năng quản lý mạng và bán lẻ Người tiêu dùng cuối cùng được phục vụ bởi các công ty phân phối có thể sau đó tự do lựa chọn các nhà cung cấp của họ (các nhà bán lẻ) Từ sau năm 2023 sẽ thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh

Như vậy, TTĐ đã và đang chuyển đổi từ cấp độ thị trường độc quyền sang cấp

độ TTĐ cạnh tranh Cho đến nay, TTĐ đã cơ bản có sự cạnh tranh ở khâu sản xuất điện (cấp độ Thị trường phát điện cạnh tranh) và đang trải qua giai đoạn thí điểm của Thị trường bán buôn cạnh tranh, cụ thể như sau:

1.1.10 Cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh

Cạnh tranh hóa khâu Phát điện (sản xuất điện) đã được chuẩn bị và thực hiện

từ năm 2009 và vận hành chính thức từ năm 2012 với tên gọi chính thức là Thị trường Phát điện cạnh tranh tại Việt Nam Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam mở cửa thị trường sản xuất điện cho các nhà đầu tư ngoài EVN, đa dạng hóa về mặt sở hữu khâu sản xuất điện Đối tượng tham gia thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam bao gồm tất cả các nhà máy điện có công suất đặt lớn hơn 30 MW đấu nối trực tiếp vào lưới điện quốc gia (trừ các nhà máy được đầu tư theo hình thức BOT, các nhà máy điện gió, địa nhiệt,…) Từ năm 2015, các nhà máy thủy điện có công suất đặt đến 30 MW, đấu nối lưới điện cấp điện áp từ 110 kV trở lên, đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng được quyền lựa chọn tham gia TTĐ

Các đơn vị cung cấp dịch vụ trong Thị trường phát điện cạnh tranh, bao gồm: Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia đảm nhận vai trò của Đơn vị vận hành hệ thống điện và TTĐ và Đơn vị cung cấp dịch vụ thu nhập và quản lý số liệu

đo đếm điện năng;

Tổng công ty truyền tải điện quốc gia đảm nhận vai trò đơn vị cung cấp dịch

vụ truyền tải điện

DUT.LRCC

Trang 38

Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam áp dụng mô hình TTĐ tập trung toàn phần và chào giá dựa trên chi phí Tuy nhiên trong thực tế, thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam áp dụng kết hợp giữa mô hình chào giá theo chi phí biến đổi và

mô hình chào giá tự do Toàn bộ điện năng phát của các nhà máy điện được chào bán cho Đơn vị mua buôn duy nhất (Công ty Mua bán điện, thuộc EVN) trên thị trường giao ngay

1.1.11 Cấp độ thị trường bán buôn điện cạnh tranh

Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam được thiết kế và vận hành thử nghiệm từ năm 2016 và vận hành chính thức dự kiến vào cuối năm 2017, theo Quyết định số 8266/QĐ-BCT năm 2015 của Bộ Công Thương phê duyệt Thiết kế chi tiết Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Các thành viên tham gia Thị trường bán buôn điện cạnh tranh được phân loại thành 03 nhóm chính gồm bên bán điện, bên mua điện

và các đơn vị cung cấp dịch vụ

Bên bán điện bao gồm các đơn vị phát điện và các đơn vị chào giá thay cho đơn vị phát điện Bên mua điện bao gồm 05 Tổng Công ty Điện lực, các khách hàng

sử dụng điện lớn đủ điều kiện và các đơn vị mua buôn điện mới

Điểm khác biệt của Thị trường bán buôn điện cạnh tranh so với thị trường phát điện cạnh tranh là có sự cạnh tranh mua điện từ các nhà sản xuất điện của các Tổng Công ty Điện lực, thay vì chỉ có Đơn vị mua điện duy nhất như trong Thị trường phát điện cạnh tranh Năm (05) Tổng Công ty Điện lực sẽ đóng vai trò là các đơn vị mua buôn điện trong Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Trong Thị trường bán buôn điện cạnh tranh, bên cạnh các Tổng Công ty Điện lực, các đơn vị mua buôn điện mới đáp ứng các yêu cầu tài chính - kỹ thuật sẽ được xem xét cho phép tham gia thị trường theo quy định Các đơn vị mua buôn mới này có chức năng cơ bản mua điện từ các đơn vị phát điện thông qua hợp đồng hoặc qua thị trường giao ngay để bán điện cho các khách hàng lớn đủ điều kiện hoặc các Tổng Công ty Điện lực

1.1.12 Cấp độ thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Trong mô hình này, các khách hàng sử dụng điện đều có quyền lựa chọn đối tác cung cấp điện (nhà sản xuất, đơn vị bán lẻ, Công ty phân phối) chứ không bắt buộc phải mua điện từ các Công ty phân phối độc quyền như trường hợp mô hình cạnh tranh bán buôn Như vậy sự cạnh tranh đã phát triển đến tận khâu bán lẻ (đến khách hàng sử dụng điện), đòi hỏi quyền thâm nhập không chỉ ở hệ thống truyền tải

mà còn đến trực tiếp đến cả hệ thống lưới điện phân phối, trong đó diễn ra rất nhiều giao dịch song phương trên toàn lưới điện Đây là mô hình phi điều tiết hoàn toàn,

DUT.LRCC

Trang 39

giá điện không còn bị điều tiết bởi cơ quan Chính phủ mà được xác định bởi quan hệ cung cầu Đây chính là mô hình của tương lai mà đề tài này muốn đề cập đến

Mô hình này bắt buộc phải thiết lập thị trường điện tức thời để cho các nhà sản xuất điện và bán điện có thể buôn bán sản phẩm của mình trên cơ sở từng giờ (thậm chí ½ giờ) Ngoài ra, cần phải tổ chức một thị trường điện tương lai trong đó các bên

có thể ký các hợp đồng mua bán tay đôi dài hạn

Cũng như mô hình cạnh tranh bán buôn, mô hình cạnh tranh bán lẻ cũng phải

có SO, MO, TP,… Tuy nhiên, nhiệm vụ của các đơn vị này phức tạp hơn

Ưu điểm:

Các khâu trong dây chuyền sản xuất điện đã được tách ra riêng biệt, hoạt động kinh doanh độc lập do đó các đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện đã tự chủ và chủ động trong công tác quản lý

Cho phép sự tự do kinh doanh và cạnh tranh vào các khâu phát và phân phối điện Thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự đã trở thành hàng hoá, được giao dịch mua bán trên thị trường

Trong mô hình này, sự cạnh tranh sẽ quyết định giá cả của các dịch vụ và giữ

ở mức đúng là chi phí biên (nếu thừa) hoặc giá trị của dịch vụ (nếu thiếu), đó là giá đảm bảo lợi ích xã hội cao nhất

Nhược điểm:

Xây dựng thị trường sẽ rất phức tạp và tốn kém hơn rất nhiều

Yêu cầu về đo lường phải chính xác, đúng thời điểm Chi phí để hoàn thiện lại

hệ thống đo đếm là rất lớn

Kết luận chương 1

Xu hướng phát triển từ thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh sang thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (giá điện do thị trường quyết định bởi quy luật cung - cầu) là nhu cầu cần thiết, là định hướng phát triển của thị trường điện Việt Nam

Trong giai đoạn hiện tại, việc chuẩn bị cho thị trường điện bán lẻ cạnh tranh

là xu hướng tất yếu, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động điện lực, thúc đẩy phát triển kinh tế và đời sống xã hội Do vậy, việc xây dựng và hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh là một việc làm lâu dài, cần phải hết sức cẩn trọng, có lộ trình

rõ ràng và bước đi thích hợp

DUT.LRCC

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN

ÁP DỤNG CHO THỊ TRƯỜNG ĐIỆN Ở ĐIỆN LỰC

NAM SÔNG HƯƠNG

Mô hình và quá trình phát triển thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam

Mô hình thị trường bán lẻ điện Việt Nam đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Hiện nay, Chính phủ đang hoàn thiện khung pháp lý, cơ sở hạ tầng,… để phục vụ cho việc vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh, cũng như chuẩn bị dần cho việc phát triển lên thị trường bán lẻ điện cạnh tranh trong tương lai

Phát triển hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh bằng cách hoàn thiện đồng bộ hệ thống lưới điện truyền tải, phân phối, các thiết bị thông tin truyền tín hiệu

và công nghệ tin học, đảm bảo các điều kiện thiết yếu để chuyển từ thị trường điện bán buôn cạnh tranh (nhiều người bán điện cho nhiều người mua điện) sang thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

2.1.1 Mô hình thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam

Hình 2.1: Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ở Việt Nam

Trong thị trường này, các khách hàng sử dụng điện có thể lựa chọn đối tác cung cấp điện (đơn vị phát điện, đơn vị bán lẻ) để ký kết hợp đồng mua bán điện hoặc

BÁN BUÔN

DUT.LRCC

Ngày đăng: 16/06/2021, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w