1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng đồ thị phụ tải điển hình, ứng dụng tại công ty điện lực thừa thiên huế

86 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 10,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này, tác giả đề xuất phương pháp để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình dựa trên số liệu thu thập được từ hệ thống quản lý công tơ đo đếm từ xa, kết quả đạt được có thể phục

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



NGUYỄN THANH MINH

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI ĐIỂN HÌNH,

Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện

Mã số: 8520201

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỮU HIẾU

Đà Nẵng – Năm 2019

DUT.LRCC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan công trình nghiên cứu này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu – Hiệu phó Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng Đây là đề tài làm mới, không sao chép hay trùng với đề tài nào đã thực hiện, chỉ

sử dụng những tài liệu tham khảo như đã nêu trong bản thuyết minh

Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2019

Học viên thực hiện

Nguyễn Thanh Minh

DUT.LRCC

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Mục lục

Tóm tắt luận văn

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI VÀ ĐỒ THỊ PHỤ TẢI 3

1.1 Tổng quan về hệ thống lưới điện phân phối 3

1.1.1 Đặc điểm của lưới điện phân phối 3

1.1.2 Những yêu cầu đối với lưới điện phân phối 3

1.2 Lý thuyết về đồ thị phụ tải 4

1.2.1 Khái niệm về đồ thị phụ tải 4

1.2.2 Đồ thị phụ tải điển hình 5

1.3 Các thành phần phụ tải 5

Chương 2: LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 7

2.1 Tổng quan lưới điện 7

2.1.1 Đặc điểm nguồn điện khu vực 7

2.1.2 Đặc điểm lưới điện trung áp 8

2.1.3 Công tác quản lý vận hành lưới điện 9

2.2 Đặc điểm phụ tải sử dụng điện 10

Chương 3: XÂY DỰNG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI ĐIỂN HÌNH 12

3.1 Dữ liệu về phụ tải trong quá khứ 12

3.1.1 Thu thập dữ liệu từ hệ thống DSPM 12

3.1.2 Khôi phục dữ liệu bị mất 15

3.2 Phát triển các thuật toán để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình 17

3.2.1 Một số thuật toán trong bài toán phân nhóm 19

3.2.2 Xây dựng đồ thị phụ tải điển hình bằng thuật toán K-means 21

3.2.3 Tóm tắt thuật toán sử dụng 28

Chương 4: ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THỪA THIÊN HUẾ 30

4.1 Đồ thị nhóm phụ tải Nông - Lâm - Thủy sản 33

4.2 Đồ thị nhóm phụ tải Công nghiệp - Xây dựng 35

4.3 Đồ thị nhóm phụ tải Thương mại dịch vụ 41

4.4 Đồ thị nhóm phụ tải Nhà hàng – Khách sạn 43

4.5 Đồ thị nhóm phụ tải Sinh hoạt 45

DUT.LRCC

Trang 4

4.6 Đồ thị nhóm phụ tải Hoạt động khác 47

4.7 Đồ thị phụ tải tỉnh Thừa Thiên Huế 9 tháng đầu năm 2019 49

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

BẢN SAO KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

DUT.LRCC

Trang 5

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI ĐIỂN HÌNH,

ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THỪA THIÊN HUẾ

Học viên: Nguyễn Thanh Minh Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện

Mã số: 8520201 Khóa: K34.KTĐ, Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN

Tóm tắt - Xây dựng đồ thị phụ tải điển hình là nhu cầu rất cần thiết hiện nay của ngành điện

nói chung và Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế nói riêng Đồ thị phụ tải điển hình là thông số quan trọng, là đầu vào cho các chương trình tính toán lưới điện để tính toán tối ưu hóa vận hành lưới điện cũng như dự báo thị trường điện trong tương lai

Trong luận văn này, tác giả đề xuất phương pháp để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình dựa trên số liệu thu thập được từ hệ thống quản lý công tơ đo đếm từ xa, kết quả đạt được có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Phương pháp đề xuất được xây dựng trên nền phần mềm Matlab và được ứng dụng thực tế từ số liệu có được của Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế Kết quả có được đã minh chứng cho tính đúng đắn và khả thi của phương pháp được đề xuất và đã được Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế áp dụng vào chương trình quản lý lưới điện phân phối DMS (Distribution Management System) để phân tích, tính toán, đưa ra các chế độ vận hành lưới điện tối ưu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ khóa – đồ thị phụ tải điển hình; hệ thống quản lý công tơ đo đếm từ xa; cụm dữ liệu;

K-means; Fuzzy K-means

RESEARCH TO CALCULATE TYPICAL LOAD CURVES, APPLY AT THUA THIEN HUE POWER COMPANY Abstract – Calculating typical load curves is a crucial need for the electric power industry in

general and for Thua Thien Hue Power Company in particular The typical load curve is an important parameter and input for grid-calculation programs to calculate and optimize the grid operation as well as forecast the future of electricity markets

In this thesis, the author proposes a method for calculating a typical load curve based on data collected from Automatic Meter Reading (AMR) System, the results can be used for many different purposes The proposed method is calculated on Matlab software and applied practically from data obtained from Thua Thien Hue Power Company The results demonstrate the correctness and feasibility of the proposed method and have been applied by Thua Thien Hue Power Company to the Distribution Management System (DMS) for analysis, calculate and propose optimal grid operation modes in Thua Thien Hue province

Key words – typical load curve; automatic meter reading (AMR) system; cluster; K-means;

Fuzzy K-means

DUT.LRCC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Các trạm biến áp 110kV, 220kV cấp điện cho lưới điện tỉnh

DUT.LRCC

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Số hiệu

1.1 Biểu đồ tỷ lệ tổn thất điện năng giai đoạn 2016-2019 của

2.1 Sơ đồ tổng quan lưới điện tỉnh Thừa Thiên Huế 7 2.2 Tỷ lệ số lượng khách hàng giữa các thành phần phụ tải 11

2.3 Tỷ trọng điện thương phẩm giữa các thành phần phụ tải 11

3.5 Sơ đồ một số phương pháp thông dụng trong thuyết tự học

3.6 Sơ đồ một số thuật toán trong bài toán Phân nhóm

3.7 Ví dụ về phân cụm dữ liệu (cluster) của thuật toán K-means 22

4.1 Đồ thị phụ tải theo các tiêu chí của nhóm phụ tải

Trang 8

Số hiệu

4.8 Đồ thị phụ tải theo các tiêu chí của nhóm phụ tải sản xuất

4.9 Đồ thị phụ tải điển hình của nhóm phụ tải sản xuất khác 40

4.10 Đồ thị phụ tải theo các tiêu chí của nhóm phụ tải Thương

4.17 Đồ thị phụ tải điển hình của nhóm các phụ tải Hoạt động

khác vào các ngày làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 48

4.18 Đồ thị phụ tải điển hình của nhóm các phụ tải Hoạt động

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Theo lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ở Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg ngày 08/10/2013, thị trường bán lẻ điện cạnh tranh sẽ bước vào giai đoạn thí điểm từ năm 2021 đến năm

2023, từ sau năm 2023 là giai đoạn thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh Để đi đúng theo lộ trình này, ngành điện cần chủ động trong việc dự báo được xu hướng phát triển của các thành phần phụ tải để có kế hoạch kinh doanh hiệu quả, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường điện cạnh tranh

Bộ Công thương cũng đã ban hành Thông tư số 19/2017/TT-BCT ngày 29/09/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 16/11/2017, quy định nội dung, phương pháp

và trình tự thực hiện nghiên cứu phụ tải điện, trong đó nêu rõ yêu cầu cần phải xây dựng đồ thị phụ tải điện để làm căn cứ nghiên cứu phụ tải, nhằm hỗ trợ công tác dự báo nhu cầu phụ tải điện phục vụ vận hành hệ thống điện và thị trường điện

Đồ thị phụ tải điển hình là thông số quan trọng, là đầu vào cho các chương trình tính toán lưới điện như PSS/Adept, DMS để tính toán tối ưu hóa vận hành lưới điện cũng như dự báo thị trường điện gồm dự báo giá bán, công suất, sản lượng trong giờ tới, ngày tới, tuần tới

Với sự phát triển, ứng dụng của khoa học công nghệ, Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế đã thực hiện việc đo đạc và lưu trữ các dữ liệu công suất cũng như điện năng tiêu thụ của các hộ tiêu thụ Đây là cơ sở quan trọng để tiến hành phân tích cũng như xây dựng đồ thị phụ tải điển hình

Vì vậy, việc xây dựng đồ thị phụ tải điển hình dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn của Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế là rất cần thiết, phục vụ cho nhiều nhu cầu khác nhau trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngành điện

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

Dữ liệu về công suất và điện năng của 1.226 điểm đo phụ tải sử dụng điện

Phạm vi nghiên cứu:

1.226 phụ tải sử dụng điện đang quản lý đo đếm từ xa qua hệ thống DSPM do Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế quản lý Thời gian lấy số liệu từ 01/01/2018 đến 30/06/2019

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Xây dựng đồ thị phụ tải điển hình dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn về công suất và điện năng tiêu thụ

DUT.LRCC

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu:

Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, các qui định, sách báo,… có liên quan đến đồ thị phụ tải và các hệ thống quản lý đo đếm từ xa

Phân tích điện năng và công suất các phụ tải từ cơ sở dữ liệu có sẵn của chương trình quản lý đo đếm từ xa DSPM

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

6 Cấu trúc luận văn:

Luận văn được xây dựng gồm 4 chương chính như sau:

• Chương 1: Khái quát về lưới điện phân phối và đồ thị phụ tải

• Chương 2: Lưới điện phân phối tỉnh Thừa Thiên Huế

• Chương 3: Xây dựng đồ thị phụ tải điển hình

• Chương 4: Ứng dụng tại Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế

DUT.LRCC

Trang 11

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI

VÀ ĐỒ THỊ PHỤ TẢI

1.1 Tổng quan về hệ thống lưới điện phân phối

Phân phối điện là khâu cuối cùng của hệ thống điện để đưa điện năng trực tiếp đến người tiêu dùng Lưới điện phân phối bao gồm lưới điện trung áp (6, 10, 22, 35 kV) và lưới điện hạ áp (220/380V) Theo tính toán của EVN, từ nay đến năm 2020 mỗi năm cần đầu tư 7,9 tỷ USD, trong đó 25% vốn đầu tư cho giảm tổn thất điện năng trên lưới điện và nghiên cứu đưa vào vận hành thử nghiệm thị trường điện cạnh tranh

Các chương trình điện nông thôn của Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạng phát triển lưới điện phân phối, đảm bảo 100% số xã huyện được cấp điện Cùng với tổng sơ đồ quy hoạch phát triển điện lực phê duyệt kế hoạch cải tạo và phát triển lưới điện trung

áp Khối lượng lưới điện phân phối dự kiến xây dựng đến năm 2020 sẽ bao gồm hơn 120.000km đường dây trung áp, gần 85.000 MVA trạm phân phối và gần 93.000 km đường dây hạ áp Với lưới điện phân phối có quy mô ngày càng mở rộng, các công ty Điện lực và các Điện lực tỉnh, thành phố sẽ phải đối diện với những khó khăn nhất định trong công tác quản lý và phải chú trọng ngay từ giai đoạn chuẩn bị hiện nay Trong những năm tới, khi đưa vào thí điểm thị trường điện cạnh tranh thì công tác dự báo, tối ưu hóa lưới điện phân phối là vấn đề thiết yếu và sẽ là trọng tâm trong công tác điều hành quản lý Để giải quyết vấn đề này, các công ty Điện lực cần tìm hiểu, áp dụng các biện pháp công nghệ hiện đại để ngày càng nâng cao chất lượng điện năng, vận hành ổn định và tối ưu cho hệ thống lưới điện phân phối

1.1.1 Đặc điểm của lưới điện phân phối

Lưới điện phân phối có các đặc điểm về thiết kế và vận hành khác với lưới điện truyền tải Lưới điện phân phối phân bố trên diện rộng, thường vận hành không đối xứng và có tổn thất lớn Vấn đề tổn thất trên lưới phân phối liên quan chặt chẽ đến các vấn đề kỹ thuật của lưới điện từ giai đoạn thiết kế đến vận hành Do đó trên cơ sở các

số liệu về tổn thất có thể đánh giá sơ bộ chất lượng vận hành của lưới điện phân phối

từ đó khi xây dựng các đồ thị phụ tải điển hình có thể chính xác hơn

Phụ tải của lưới điện phân phối đa dạng và phức tạp, các phụ tải sản xuất, kinh doanh dịch vụ, ánh sáng sinh hoạt có thể cùng tồn tại trong một hộ tiêu thụ Điều đó dẫn đến gây khó khăn cho việc tính toán và xây dựng các đồ thị phụ tải đặc trưng

1.1.2 Những yêu cầu đối với lưới điện phân phối

Yêu cầu chính của lưới phân phối là đảm bảo cấp điện liên tục cho hộ tiêu thụ với chất lượng điện năng nằm trong phạm vi cho phép

DUT.LRCC

Trang 12

➢ Độ tin cậy cung cấp điện

Hộ tiêu thụ loại 1: Là những hộ tiêu thụ mà khi có sự cố ngừng cấp điện có thể

gây nên những hậu quả nguy hiểm đến tính mạng con người, làm thiệt hại lớn về kinh

tế, dẫn đến hư hỏng thiết bị, gây rối loạn quá trình công nghệ phức tạp hoặc làm hỏng hàng loạt sản phẩm, hoặc có ảnh hưởng không tốt về phương diện chính trị Đối với hộ tiêu thụ loại 1 phải được cấp điện với độ tin cậy cao, thường dùng hai nguồn đi đến, đường dây hai lộ đến, có nguồn dự phòng nhằm hạn chế mức thấp nhất về sự cố mất điện Thời gian mất điện thường được xem bằng thời gian tự động đóng nguồn dự trữ

Hộ tiêu thụ loại 2: Là những hộ tiêu thụ mà nếu ngừng cung cấp điện chỉ liên

quan đến hàng loạt sản phẩm không sản xuất được, tức là dẫn đến thiệt hại về kinh tế

do ngừng trệ sản xuất, hư hỏng sản phẩm và lãng phí sức lao động Hộ tiêu thụ loại này có thể dùng phương án có hoặc không có nguồn dự phòng, đường dây một lộ hay

lộ kép Việc chọn phương án cần dựa vào kết quả so sánh giữa vốn đầu tư phải tăng thêm nguồn dự phòng và giá trị thiệt hại kinh tế do ngừng cấp điện

Hộ tiêu thụ loại 3: Là tất cả hộ tiêu thụ còn lại ngoài hộ loại 1 và loại 2, tức là

những hộ cho phép cấp điện với mức độ tin cậy thấp, cho phép mất điện trong thời gian sửa chữa, thay thế thiết bị sự cố, nhưng thường không cho phép quá một ngày đêm (24 giờ) như các khu nhà ở, các kho, các trường học, hoặc lưới cấp điện cho nông nghiệp Đối với hộ tiêu thụ loại này có thể dùng một nguồn điện, hoặc đường dây một

lộ

➢ Chất lượng điện

Chất lượng điện được thường đánh giá qua hai chỉ tiêu là tần số và điện áp Phải đảm bảo điện áp và tần số ở định mức Trong điều kiện vận hành bình thường của hệ thống điện, điện áp đặt vào thiết bị điện chỉ được phép dao động ±5% so với định mức

và tần số được phép dao động ±0,2Hz để đảm bảo cho thiết bị điện và hệ thống điện vận hành tối ưu nhất Có những thiết bị điện chỉ cho phép điện áp dao động ±2,5% so với định mức (thiết bị chính xác cao, đèn trong các xí nghiệp…)

➢ Hiệu quả kinh tế và vận hành

Tránh được nguy cơ làm hại thiết bị (quá tải, quá áp…) Thất thu ít nhất (do mất trộm điện năng)

Vận hành dễ dàng, linh hoạt phù hợp với việc phát triển lưới điện trong tương lai

Chí phí xây dựng lưới điện là kinh tế nhất

An toàn cho lưới điện và con người

1.2 Lý thuyết về đồ thị phụ tải

1.2.1 Khái niệm về đồ thị phụ tải

Đặc điểm của sản xuất điện năng là sản xuất và tiêu thụ điện phải thực hiện đồng thời Tại mỗi thời điểm, hộ tiêu thụ (kể cả tổn thất) tiêu thụ bao nhiêu điện năng thì nhà máy điện phải sản xuất ra lượng điện năng tương ứng Trong thực tế, lượng

DUT.LRCC

Trang 13

điện năng tiêu thụ trong một ngày đêm thay đổi rất nhiều Quy luật biến thiên của phụ tải được biểu diễn trên hình vẽ gọi là đồ thị phụ tải Trục tung của đồ thị biểu diễn các đại lượng cần đo của phụ tải (công suất, sản lượng); trục hoành của đồ thị biểu diễn thời gian theo giờ hay ngày

Có thể phân loại đồ thị phụ tải theo nhiều cách: Theo công suất; theo sản lượng tiêu thụ; theo thời gian (ngày, năm hoặc mùa); theo vị trí trong hệ thống (đồ thị phụ tải của hệ thống, nhà máy điện, trạm biến áp, hộ tiêu thụ, …)

Đồ thị phụ tải ngày có thể vẽ theo phương pháp từng điểm, nghĩa là cứ sau một khoảng thời gian nhất định thì ta ghi lại trị số của phụ tải rồi biểu diễn từng điểm trên

hệ trục tọa độ Nối các điểm lại sẽ có đường gãy khúc biểu diễn phụ tải một cách gần đúng Phương pháp vẽ này tuy không chính xác nhưng trong thực tế lại dùng rất phổ biến do dễ thực hiện Để thuận tiện cho việc ứng dụng vào việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh, thực tế người ta biến đường gãy khúc thành đường bậc thang Khi biến đổi phải đảm bảo hai điều kiện: Một là, diện tích giới hạn bởi đường mới và đường cũ với trục tọa độ phải bằng nhau; hai là, các điểm cực đại và cực tiểu của đường cũ phải nằm trên đường mới

1.2.2 Đồ thị phụ tải điển hình

Đồ thị phụ tải điển hình là đồ thị phụ tải đặc trưng cho một nhóm đồ thị phụ tải trong một khoảng thời gian nhất định Đồ thị phụ tải điển hình đó có thể đại diện cho một đồ thị bất kỳ nào đó trong nhóm hay đại diện cho cả nhóm đồ thị để thực hiện một mục đích nhất định nào đó

1.3 Các thành phần phụ tải

Theo quy định tại Thông tư số 19/2017/TT-BCT ngày 29/09/2017 của Bộ Công thương quy định nội dung, phương pháp và trình tự thực hiện nghiên cứu phụ tải điện, các phụ tải điện được chia thành 6 thành phần:

+ Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Thủy sản + Công nghiệp – Xây dựng

+ Thương mại – Dịch vụ + Sinh hoạt

+ Nhà hàng – Khách sạn + Các hoạt động khác Mỗi thành phần phụ tải cũng được quy định chi tiết về từng nhóm nghề được liệt kê cụ thể tại Phụ lục 1

Hiện nay, với quy mô ngày càng mở rộng, lưới điện phân phối sẽ đối mặt với vấn đề lớn về tổn thất điện năng Hơn thế nữa, theo kế hoạch thì vào đầu năm 2021, thị trường điện bán lẻ cạnh tranh sẽ được thí điểm vận hành Chính vì vậy, nghiên cứu xây dựng đồ thị phụ tải điển hình luôn là vấn đề được quan tâm của các đơn vị ngành Điện cũng như trong phát triển thị trường điện và các vấn đề liên quan

DUT.LRCC

Trang 14

Hình 1.1: Biểu đồ tỷ lệ tổn thất điện năng giai đoạn 2016-2019 của

Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, muốn việc giảm tỷ lệ tổn thất điện năng và áp dụng vào thị trường điện bán lẻ cạnh tranh một cách hiệu quả cần phải có một đồ thị phụ tải chính xác, hay còn được gọi là đồ thị phụ tải điển hình Nhưng trong thực tế, việc chọn đồ thị phụ tải điển hình được thực hiện bằng hai cách sau: chọn đồ thị phụ tải một ngày bất kì trong năm hoặc dùng đồ thị phụ tải cực đại Việc chọn bất kì một đồ thị phụ tải làm đồ thị phụ tải điển hình sẽ gây nên sai số trong việc bù công suất phản kháng như: sai dung lượng, đặt không đúng vị trí, đóng cắt tụ bù liên lục gây giảm tuổi thọ tụ bù cũng như các thiết bị đóng cắt Hơn thế nữa, việc thiếu thu thập dữ liệu một cách liên tục là hết sức khó khăn do việc cập nhật dữ liệu là mỗi 30 phút một lần nên dữ liệu được xây dựng không thể hoàn hảo 100% do đó việc mất dữ liệu là việc thường xuyên xảy ra Tất cả những nội dung đó càng cho thấy sự cần thiết phải có phương pháp để xây dựng

đồ thị phụ tải điển hình có tính chính xác cao

DUT.LRCC

Trang 15

Chương 2: LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Tổng quan lưới điện

2.1.1 Đặc điểm nguồn điện khu vực

Do sự phân bố dân cư trên địa bàn cũng như tính chất đa dạng của các hộ tiêu thụ, các nhà máy, khu công nghiệp được xây dựng và đã đi vào hoạt động nên nhu cầu phụ tải tăng nhanh và phức tạp hơn Có nhiều nhóm phụ tải được hình thành như: phụ tải công nghiệp, phụ tải khu dân cư, phụ tải dịch vụ và các ngành khác Nguồn cung cấp chính cho lưới điện phân phối Tỉnh Thừa Thiên Huế là từ các thanh cái phía hạ áp trạm 110kV, 220 kV và các Nhà máy Thủy điện trên địa bàn Tỉnh

Hình 2.1: Sơ đồ tổng quan lưới điện tỉnh Thừa Thiên Huế Tính đến tháng 9/2019, lưới điện phân phối tỉnh Thừa Thiên Huế được cấp từ

12 trạm 110kV và 02 trạm 220kV, với tổng công suất đặt 603MVA, trong đó có 03 TBA chuyên biệt cấp điện cho sản xuất xi măng, dệt may là 110kV Văn Xá (Nhà máy

Xi măng Luks), 110kV Đồng Lâm (Nhà máy xi măng Đồng Lâm) và 110kV Dệt Huế (Công ty Dệt may Huế) Lưới điện phân phối tỉnh Thừa Thiên Huế hiện đang vận hành

ở các cấp điện áp 35, 22kV với 54 xuất tuyến trung thế từ các TBA 110kV

Ngoài ra, lưới điện phân phối tỉnh Thừa Thiên Huế còn được cấp điện từ các nhà máy thủy điện nhỏ đấu nối vào, gồm A Roàng (2x3,6MW), Thượng Lộ (1x6,0MW), A Lin Thượng (1x2,5MW)

DUT.LRCC

Trang 16

Bảng 2.1: Các trạm biến áp 110kV, 220kV cấp điện cho lưới điện tỉnh TT-Huế

2.1.2 Đặc điểm lưới điện trung áp

Tính đến tháng 9/2019, Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế đang quản lý khối lượng đường dây, trạm biến áp thống kê tại Bảng 2.2

Bảng 2.2: Khối lượng quản lý đường dây và trạm biến áp

Đường dây (km) Tổng trạm

Rec LBS RMU Trung

thế Hạ thế

Tổng trạm Máy

Tổng dung lượng

Trang 17

TT Đơn vị

Đường dây (km) Tổng trạm

Rec LBS RMU Trung

thế Hạ thế

Tổng trạm Máy

Tổng dung lượng

Khu vực phía Nam tỉnh TT-Huế được cấp nguồn từ TBA 220kV Huế 1 (40+40)MVA, 110 kV Phú Bài (40+40)MVA, 110kV Huế 3 (25 MVA), 110kV Lăng

Cô (25 MVA), 110 kV Cầu Hai (25 MVA) và 110kV Chân Mây (25 MVA)

2.1.3 Công tác quản lý vận hành lưới điện

Vận hành hệ thống điện:

a) Vận hành lưới điện: Công ty đã đảm bảo cung cấp điện cho nhu cầu sinh hoạt, SXKD Đặc biệt vào các ngày lễ lớn, các sự kiện diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh TT-Huế, cấp điện mùa khô và các trường hợp xảy ra thiên tai

c) Vận hành hệ thống SCADA/Trung tâm điều khiển (TTĐK):

- Số lượng TBA và thiết bị phân đoạn trên lưới được kết nối SCADA về TTĐK phát triển 197 điểm nút Bao gồm: 01 TBA 220kV, 10 TBA 110kV, 04 NM Thủy điện,

10 TG/TC, 40 RMU, 51 LBS và 81 Recloser

- Thực hiện thao tác các thiết bị trên hệ thống SCADA với tỷ lệ thành công:

+ Thiết bị TBA 110kV: 207/207 lần thành công, đạt 100%

+ Thiết bị lưới phân phối: 312/312 lần thành công, đạt 100%

DUT.LRCC

Trang 18

- Hệ thống đã phát huy được hiệu quả trong vận hành lưới điện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, ước SAIDI thực hiện giảm 30,1 phút (lũy kế năm 2019 giảm 147,2 phút)

Thực hiện các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện

Các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện thống kê đến tháng 9 năm 2019 của Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế như sau:

- MAIFI (Momentary Average Interruption Frequency Index) - Tần suất trung

bình của mất điện thoáng qua: 0,882/1,46 lần chiếm 60,4% kế hoạch

- SAIDI (System Average Interruption Duration Index) - Thời gian ngừng cung

cấp điện trung bình của hệ thống: 216,774/290 phút chiếm 74,7% kế hoạch

- SAIFI (System Average Interruption Frequency Index) - Tần suất ngừng cung

cấp điện trung bình hệ thống: 1,958/7,62 lần chiếm 25,7% kế hoạch

Dự kiến thực hiện chỉ tiêu SAIDI tổng hợp cho lưới điện toàn tỉnh đến năm

2020 phấn đấu đạt 281 phút, tương đương với các thành phố lớn trong cả nước

2.2 Đặc điểm phụ tải sử dụng điện

Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, tính đến tháng 9 năm 2019, Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế đang quản lý bán điện cho 303.770 khách hàng Trong đó nhóm khách hàng sinh hoạt mặc dù số lượng chiếm 91,27% nhưng sản lượng điện thương phẩm chỉ chiếm 35,06%, ngược lại khách hàng nhóm công nghiệp xây dựng tuy chỉ chiếm 2,71% về số lượng nhưng đóng góp đến 52,07% tỷ lệ điện thương phẩm

Bảng 2.3: Thống kê tỷ lệ khách hàng và điện thương phẩm

Các tiêu chí

Khách hàng Điện thương phẩm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng (triệu kWh)

Tỷ lệ (%)

Trang 19

Hình 2.2: Tỷ lệ số lượng khách hàng giữa các thành phần phụ tải

Hình 2.3: Tỷ trọng điện thương phẩm giữa các thành phần phụ tải

NN-LN-TS, 0,59%

CN-XD, 2,71% KD-DV,

1,62%

SH, 91,27%

Khác, 3,81%

NN-LN-TS, 2,320%

CN-XD, 52,070%

KD-DV, 6,010%

SH, 35,060%

Khác, 4,540%

DUT.LRCC

Trang 20

Chương 3: XÂY DỰNG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI ĐIỂN HÌNH

Theo Thông tư 19, xây dựng đồ thị phụ tải điện được thực hiện bằng cách sử dụng kết hợp giữa hai phương pháp từ dưới lên (Bottom-up) và phương pháp từ trên xuống (Top-down), cụ thể như sau:

- Phương pháp từ dưới lên là phương pháp chính để thực hiện nghiên cứu phụ tải điện: Số liệu đo đếm, tiêu thụ điện quá khứ của mẫu phụ tải điện được thu thập, tổng hợp làm số liệu đầu vào để xây dựng biểu đồ phụ tải điện cho mẫu phụ tải điện, phân nhóm phụ tải điện, thành phần phụ tải điện và hệ thống điện

- Phương pháp từ trên xuống là phương pháp được sử dụng để hỗ trợ kiểm chứng, hiệu chỉnh kết quả xây dựng biểu đồ phụ tải điện của phương pháp từ dưới lên

có xét đến các yếu tố về phát triển kinh tế, xã hội: Số liệu đo đếm, tiêu thụ điện quá khứ của hệ thống điện, phụ tải điện được thu thập để đối chiếu, hiệu chỉnh kết quả xây dựng biểu đồ phụ tải điện của hệ thống điện, thành phần phụ tải điện, nhóm phụ tải điện và phân nhóm phụ tải điện đã được thực hiện từ phương pháp nghiên cứu phụ tải điện từ dưới lên

Như vậy, để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình ta cần phải có được 2 yếu tố:

- Dữ liệu về phụ tải trong quá khứ

- Phát triển các thuật toán để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình

3.1 Dữ liệu về phụ tải trong quá khứ

3.1.1 Thu thập dữ liệu từ hệ thống DSPM

Hệ thống DSPM gồm 3 module chính:

o DSPMComms: Module thực hiện kết nối để thu thập dữ liệu trực tiếp theo thời gian thực đến từng công tơ (Elster, LandisGyr, EDMI, ) bằng các đường truyền khác nhau như: ADSL, cáp quang, GSM, GPRS, EDGE, 3G Network

o DSPMAnalyze: Module thực hiện chức năng phân tích số liệu mà module DSPMComms thu thập về để đưa vào cơ sở dữ liệu lưu trữ

o DSPM: Module quản lý và khai thác số liệu đo đếm, bao gồm các tính năng chính sau đây:

▪ Xem các thông số vận hành như công suất, phản kháng, dòng, áp, cosphi theo thời gian thực Thông tin chỉ số chốt tháng

▪ Khai báo điểm đo và lập yêu cầu để lấy số liệu của điểm đo

▪ Kết nối với hệ thống Quản lý khách hàng để đưa chỉ số vào hệ thống tính hóa đơn

▪ Đặc biệt là chức năng cảnh báo của chương trình theo các sự kiện công tơ ghi nhận được và cảnh báo theo thông số vận hành và được gửi đến người có trách nhiệm qua Email, SMS, qua chương trình,

DUT.LRCC

Trang 21

▪ Cung cấp cho khách hàng giao diện web để xem thông số vận hành, biểu đồ phụ tải theo thời gian 30 phút, chỉ số chốt tháng

▪ Các báo cáo của chương trình trên thông tin về sản lượng, công suất,…

Hệ thống DSPM là đầu mối chung quản lý dữ liệu công tơ từ nhiều nguồn thu thập khác nhau gửi về (từ nhiều HES – Head End System)

Hiện nay, Tổng Công ty Điện lực miền Trung đang quản lý và thu thập dữ liệu từ các HES như:

- HES IFC có chức năng thu thập dữ liệu công tơ nhà máy thủy điện; trạm biến

áp công cộng; trạm biến áp chuyên dùng; khách hàng có sản lượng lớn;

- HES RF-EMEC có chức năng thu thập dữ liệu công tơ 3 pha 3 giá qua bộ thu thập tập trung;

- HES DSPM có chức năng thu thập dữ liệu công tơ các trạm biến áp 110kV trở lên;

- HES EVNHES có chức năng thu thập công tơ trạm biến áp công cộng đang thử nghiệm các điểm đo nghiên cứu phụ tải

Hình 3.1: Nguyên lý hệ thống DSPM

Hệ thống DSPM sẽ đồng bộ số liệu từ các HES đổ về định kỳ 30 phút về cơ sở

dữ liệu chung để người dùng khai thác cho dù công tơ được thu thập từ HES nào đi chăng nữa

Hệ thống DSPM được triển khai đồng thời tại 2 site: Data center (DC) và Data Center Disaster Recovery (DR) trên các máy chủ theo mô hình Active-Standby Tại mỗi địa điểm, các thành phần của hệ thống được xây dựng tương đồng, trong đó mỗi site gồm 2 server được cài đặt và cấu hình các thành phần sau: 01 server được cài đặt

DUT.LRCC

Trang 22

và cấu hình OracleDB 12c; 01 server được cài đặt và cấu hình Weblogic 12c; 01 server được cài đặt và cấu hình Web proxy (Apache)

Hình 3.2: Mô hình vận hành tổng thể của hệ thống DSPM Tại mỗi site, các thành phần máy chủ đảm nhiệm chức năng cụ thể như sau:

- Web proxy server: Đóng vai trò làm front-end, đảm nhận việc hứng các request

từ phía user và chuyển tiếp đến application server Cụ thể hơn là các yêu cầu truy cập vào ứng dụng được triển khai trên application server

- WebLogic Server: Server đóng vai trò làm môi trường cho ứng dụng DSPM Ứng dụng DSPM sẽ được cài đặt trên Weblogic Server Các HES sẽ thực hiện việc tương tác với hệ thống DSPM bằng cách kết nối trực tiếp đến Application Server thông qua port 7501/7502 hay 7503

- Oracle Database: Đóng vai trò là cơ sở dữ liệu của ứng dụng DSPM

- Oracle DataGuard được sử dụng để đồng bộ dữ liệu từ DC sang DR thông qua giao thức kết nối TCP cổng 1521 Mọi thay đổi về dữ liệu được thực hiện ở DC sẽ được đồng bộ sang DR theo thời gian thực Để đảm bảo tính đồng nhất về dữ liệu giữa

2 site, database tại DC được bật ở chế độ read/write (cho phép đọc và ghi dữ liệu) và database tại DR được bật ở chế độ read-only (chỉ cho phép đọc dữ liệu)

Hệ thống vận hành chính thức được lưu trữ tại DC và hệ thống dự phòng lưu trữ tại DR tại 2 địa điểm vật lý cách xa nhau Hai hệ thống luôn hỗ trợ cho nhau mỗi khi một trong hai có sự cố Khi hệ thống DC gặp trở ngại sẽ được cấu hình để chuyển sang

sử dụng hệ thống DR và ngược lại Dữ liệu tại 2 hệ thống luôn luôn được đồng bộ online với nhau do đó đảm bảo được tính toàn vẹn và nhất quán dữ liệu Mã định danh của điểm đo được hệ thống DSPM lưu trữ chính là mã điểm đo hiện có trên hệ thống Quản lý khách hàng và mã định danh công tơ được kết hợp theo quy tắc Mã chủng loại công tơ + Năm sản xuất công tơ + Số chế tạo công tơ tạo thành 1 chuỗi mã công tơ đảm bảo tính duy nhất của mã công tơ trên hệ thống Điều này đảm bảo nguyên tắc

DUT.LRCC

Trang 23

một công tơ không được phép tồn tại 2 điểm đo trên hệ thống DSPM Ngoài ra, dữ liệu công tơ chính mà hệ thống DSPM quản lý là dữ liệu thu thập được từ các HES hằng giờ đổ về DSPM, bao gồm các thông số vận hành, chỉ số công tơ, chỉ số chốt tự động trong thanh ghi công tơ, biểu đồ phụ tải và các sự kiện cảnh báo trong công tơ cũng được DSPM quản lý chặt chẽ

Hình 3.3: Bộ chỉ số mô phỏng lấy từ chương trình DSPM

3.1.2 Khôi phục dữ liệu bị mất

Cơ sở dữ liệu về công suất, sản lượng điện tiêu thụ của các phụ tải được trích xuất từ hệ thống quản lý đo đếm từ xa DSPM Tuy nhiên việc lấy dữ liệu phụ tải liên tục nhiều năm của tất cả phụ tải trên địa bàn toàn tính là một công việc hết sức khó khăn vì dữ liệu được cập nhật 30 phút một lần, 48 lần/ngày nên dữ liệu được xây dựng không thể hoàn thiện 100%, việc mất dữ liệu là điều chắc chắn xảy ra

Do đó, xử lý dữ liệu bị thiếu hay mất là vấn đề vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo được nguồn dữ liệu lâu dài cũng như độ chính xác của kết quả xây dựng đồ thị phụ tải điển hình

Hình 3.4: Dữ liệu thu thập được bị mất

Dữ liệu

bị mất

DUT.LRCC

Trang 24

3.1.2.1 Quy định của Bộ công thương về khôi phục dữ liệu

Điều 16 – Thông tư 19 quy định 6 phương pháp hiệu chỉnh và ước lượng số liệu

đo đếm như sau:

➢ Nội suy tuyến tính: Nội suy từ đường đặc tính xu thế tiêu thụ điện

➢ Ngày tương đồng: Sử dụng dữ liệu ngày tương đồng của tuần hiện tại hoặc tuần trước

➢ Tự động ước lượng: Sử dụng trong trường hợp dữ liệu bị thiếu không quá

➢ Hiệu chỉnh ước lượng giá trị trung bình các tuần của ngày tham chiếu: Căn

cứ vào dữ liệu của 04 tuần gần nhất

3.1.2.2 Các phương pháp khôi phục dữ liệu

• Phương pháp xóa hàng và cột:

Phương pháp này thường được sử dụng để xử lý các giá trị null Ở đây, chúng ta

sẽ xóa một hàng hay một cột cụ thể nếu hàng hoặc cột đó có hơn 70-75% giá trị bị thiếu Phương pháp này chỉ được khuyến nghị khi có đủ mẫu trong tập dữ liệu Phải đảm bảo rằng sau khi chúng ta xóa dữ liệu, không có sự chênh lệch nào Xóa dữ liệu sẽ dẫn đến mất thông tin sẽ không mang lại kết quả như mong đợi khi dự đoán đầu ra

- Mất thông tin và dữ liệu

- Hoạt động kém nếu tỷ lệ phần trăm thiếu giá trị cao (ví dụ 30%), so với toàn

bộ dữ liệu

• Phương pháp thay thế bằng giá trị trung bình:

Phương pháp này được áp dụng khi thiếu một vài điểm dữ liệu, chúng ta có thể tính giá trị trung bình hoặc trung vị của dữ liệu và thay thế nó bằng các giá trị còn thiếu Đây là một phương pháp xấp xỉ nên có thể thêm phương sai vào tập dữ liệu Nhưng việc mất dữ liệu có thể được phục hồi bằng phương pháp này mang lại kết quả tốt hơn so với việc loại bỏ các hàng và cột Một cách khác là ước tính nó với độ lệch của các giá trị lân cận Điều này hoạt động tốt hơn nếu dữ liệu là tuyến tính

Ưu điểm:

DUT.LRCC

Trang 25

- Đây là một cách khắc phục tốt khi kích thước của tập dữ liệu nhỏ

- Nó có thể hạn chế mất dữ liệu dẫn đến việc loại bỏ các hàng và cột

Nhược điểm:

- Đưa ra các giá trị gần đúng thêm phương sai và sai lệch

- Hoạt động kém so với các phương pháp đa mục tiêu khác

• Phương pháp ngày tương đồng:

Ở đây, chúng ta thay thế dữ liệu còn thiếu bằng các dữ liệu liền kề nó Phương pháp này sẽ thêm nhiều thông tin hơn vào bộ dữ liệu, khắc phục được lượng dữ liệu bị thiếu Với đặc thù lấy mẫu theo thời gian ngắn và chênh lệch nhỏ thì đây là một phương pháp rất hiệu quả

Ưu điểm:

- Phương sai thấp vì dữ liệu mang tính xấp xỉ

- Loại bỏ việc mất dữ liệu bằng cách thay thế nó bằng dữ liệu liền kề

3.2 Phát triển các thuật toán để xây dựng đồ thị phụ tải điển hình

Đề tài này đề xuất phương án xây dựng đồ thị phụ tải điển hình bằng phần mềm MATLAB dựa trên thuyết tự học của máy móc (Machine Learning Theory) trên dữ liệu thực tế thu thập được từ các công tơ đo xa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Hình 3.5: Sơ đồ một số phương pháp thông dụng trong thuyết tự học của máy móc

Thuyết tự học của máy móc

(Machine Learning Theory)

Trang 26

Tự học có giám sát (Supervised Learning)

Supervised Learning là phương pháp dự đoán đầu ra (output) của một dữ liệu mới (new input) dựa trên các cặp (input, output) đã biết từ trước Cặp dữ liệu này còn được gọi là (data, label), tức (dữ liệu, nhãn) Supervised Learning là nhóm phổ biến

nhất trong các phương pháp Machine Learning

Một cách toán học, Supervised Learning là khi chúng ta có một tập hợp biến đầu vào X = {x1,x2,…,xN} và một tập hợp nhãn tương ứng Y = {y1,y2,…,yN}, trong đó xi,

yi là các vector Các cặp dữ liệu biết trước (xi, yi) ∈ X×Y được gọi là tập training data (dữ liệu huấn luyện) Từ tập training data này, chúng ta cần tạo ra một hàm số

ánh xạ mỗi phần tử từ tập X sang một phần tử (xấp xỉ) tương ứng của tập Y: Yi ⋍ f(xi),

Ɐi = 1,2,…,N

Mục đích là xấp xỉ hàm số f thật tốt để khi có dữ liệu x mới, chúng ta có thể tính được nhãn dán tương ứng của nó y = f(x)

Ví dụ: Thuật toán dò các khuôn mặt trong một bức ảnh đã được phát triển từ rất

lâu Thời gian đầu, facebook sử dụng thuật toán này để chỉ ra các khuôn mặt trong một bức ảnh và yêu cầu người dùng tag friends - tức gán nhãn cho mỗi khuôn mặt Số lượng cặp dữ liệu (khuôn mặt, tên người) càng lớn, độ chính xác ở những lần tự động tag tiếp theo sẽ càng lớn

Phương pháp Supervised Learning còn được tiếp tục chia nhỏ ra thành hai loại

chính:

• Classification (Phân loại)

Một bài toán được gọi là Classification nếu các label của input data được chia

thành một số hữu hạn nhóm Ví dụ: Gmail xác định xem một email có phải là spam hay không; các hãng tín dụng xác định xem một khách hàng có khả năng thanh toán nợ hay không

• Regression (Hồi quy)

Nếu label không được chia thành các nhóm mà là một giá trị thực cụ thể Ví dụ:

một căn nhà rộng x m2, có y phòng ngủ và cách trung tâm thành phố z km sẽ có giá là bao nhiêu?

Tự học không được giám sát (Unsupervised Learning)

Trong phương pháp này, chúng ta không biết được outcome hay nhãn mà chỉ có

dữ liệu đầu vào Phương pháp Unsupervised Learning sẽ dựa vào cấu trúc của dữ liệu

để thực hiện một công việc nào đó, ví dụ như phân nhóm (clustering) hoặc giảm số chiều của dữ liệu (dimension reduction) để thuận tiện trong việc lưu trữ và tính toán

Một cách toán học, Unsupervised Learning là khi chúng ta chỉ có dữ liệu

vào X mà không biết nhãn Y tương ứng

Những thuật toán loại này được gọi là Unsupervised Learning vì không giống như Supervised Learning, chúng ta không biết câu trả lời chính xác cho mỗi dữ liệu

DUT.LRCC

Trang 27

đầu vào Giống như khi ta học, không có thầy cô giáo nào chỉ cho ta biết đó là chữ A hay chữ B Cụm không giám sát được đặt tên theo nghĩa này

Các bài toán Unsupervised Learning được tiếp tục chia nhỏ thành hai loại:

• Clustering (Phân nhóm)

Một bài toán phân nhóm toàn bộ dữ liệu X thành các nhóm nhỏ dựa trên sự liên quan giữa các dữ liệu trong mỗi nhóm Ví dụ: phân nhóm khách hàng dựa trên hành vi mua hàng Điều này cũng giống như việc ta đưa cho một đứa trẻ rất nhiều mảnh ghép với các hình thù và màu sắc khác nhau, ví dụ tam giác, vuông, tròn với màu xanh và

đỏ, sau đó yêu cầu trẻ phân chúng thành từng nhóm Mặc dù không cho trẻ biết mảnh nào tương ứng với hình nào hoặc màu nào, nhiều khả năng chúng vẫn có thể phân loại các mảnh ghép theo màu hoặc hình dạng

• Association (Kết hợp)

Là bài toán khi chúng ta muốn khám phá ra một quy luật dựa trên nhiều dữ liệu cho trước Ví dụ: những khách hàng nam mua quần áo thường có xu hướng mua thêm đồng hồ hoặc thắt lưng; những khán giả xem phim tại rạp thường có xu hướng mua thêm bắp ngô hay nước uống, dựa vào đó tạo ra một hệ thống gợi ý khách hàng (Recommendation System), thúc đẩy nhu cầu mua sắm

Kết luận: Thông qua các khái niệm trên ta thấy rằng phương pháp Tự học không

được giám sát mà cụ thể là bài toán Phân nhóm là phù hợp với vấn đề cần giải quyết,

bởi vì:

- Số liệu phụ tải là tập hợp các dữ liệu đầu vào (X)

- Chúng ta cần phải phân nhóm toàn bộ dữ liệu X thành các nhóm nhỏ dựa trên sự liên quan giữa các dữ liệu trong mỗi nhóm Dựa vào đó ta tìm được đồ thị phụ tải điển hình đặc trưng cho các nhóm phụ tải khác nhau

3.2.1 Một số thuật toán trong bài toán phân nhóm:

Hình 3.6: Sơ đồ một số thuật toán trong bài toán Phân nhóm (Clustering)

Clustering Methods

up

Bottom-down

Top-Density-based Methods

DBSCA

DUT.LRCC

Trang 28

Thuật toán phân vùng dữ liệu (Partitioning Methods)

Phương pháp này tiến hành phân vùng trên bộ dữ liệu, trước tiên nó tạo một bộ

dữ liệu ban đầu của phân vùng k hay còn gọi là centroids - là giá trị trung tâm của vùng đó, trong đó k là số phân vùng để xây dựng Sau đó dùng kỹ thuật di chuyển lặp lại nhằm cải thiện việc phân vùng bằng cách di chuyển các đối tượng từ nhóm này sang nhóm khác Phương pháp này gồm hai thuật toán phổ biến K-means và K-methods Thông thường K được lựa chọn ngẫu nhiên sau đó lặp lại quá trình phân cụm của các điểm dữ liệu vào các phân vùng k sao cho tối ưu hóa tiêu chí phân cụm Có nghĩa là tổng bình phương sai số giữa các đối tượng trong một phân vùng so với centroids là nhỏ nhất

Thuật toán phân cấp (Hierarchical Methods)

Phương pháp này tiến hành chia bộ dữ liệu các đối tượng thành một phân cấp của một nhóm Nút gốc thể hiện toàn bộ tập dữ liệu mỗi nhánh là một đối tượng duy nhất của bộ dữ liệu Các kết quả phân cụm có thể thu được bằng cách cấp dendrogram ở các mức khác nhau Có hai cách tiếp cận chung cho phương pháp phân cấp: sự kết hợp (từ dưới lên) và chia (từ trên xuống) Việc kết hợp hoặc chia sẽ dừng lại khi số lượng cụm mong muốn đã được hình thành Thông thường số lần lặp lại dựa trên một tiêu chí nhất định và thường là khoảng cách giữa các cụm

Phương pháp dựa trên mật độ (Density-Based Methods)

Để phát hiện các cụm có hình dạng tùy ý, các phương pháp phân cụm dựa trên mật độ đã được phát triển Phương pháp này thường coi các cụm là các vùng dày đặc của các đối tượng trong không gian dữ liệu được phân tách bởi các vùng có mật độ thấp biểu diễn nhiễu Có hai cách tiếp cận chính cho phương pháp này Đầu tiên là ghim đến một điểm dữ liệu đào tạo và các thuật toán đại diện bao gồm DBSCAN và OPTICS Phương pháp tiếp cận thứ hai là ghim đến một điểm trong không gian thuộc tính và nó gồm có thuật toán DENCLUE

• Thích hợp cho các tập dữ liệu nhỏ gọn, tách biệt tốt

• Suy thoái ở trong không gian chiều cao

• Độ nhảy cao đối với giai đoạn khởi tạo

Phân cấp

(Hierarchical)

• Tính linh hoạt cao

• Phù hợp với vấn đề liên quan đến liên kết điểm áp dụng với nhiều loại thuộc tính

• Không có khả năng sửa chữa nếu việc tách hoặc sát nhập được thực hiện

• Tiêu chí dừng còn mơ hồ

• Giá trị hàm tối ưu cao đối với các tập dữ liệu chiều cao và lớn

DUT.LRCC

Trang 29

Thuật toán Thuận lợi Bất lợi

Dựa trên mật độ

(Density-Based)

• Tìm ra được các cụm dạng tùy ý với các kích thước khác nhau

• Khả năng chống nhiễu tốt

• Độ nhạy cao với thông số đầu vào

• Không phù hợp với bộ dữ liệu chiều cao

• Mô tả cụm nghèo

Kết luận: Qua các nghiên cứu cho thấy thuật toán được sử dụng rộng rãi hiện

nay để nghiên cứu các bài toán phân nhóm là thuật toán K-Means, là một trong số các

thuật toán thuộc Unsupervised Learning Bởi vì tính đơn giản, dễ thực hiện lại có thể

xử lý được bộ số liệu khá lớn nên ta chọn thuật toán này để giải quyết vấn đề xây dựng

đồ thị phụ tải

3.2.2 Xây dựng đồ thị phụ tải điển hình bằng thuật toán K-means

Giới thiệu về thuật toán

Thuật toán K-Means là một trong những thuật toán tự học không giám sát đơn giản nhất để giải quyết vấn đề phân cụm dữ liệu với số cụm được xác định trước là K cụm

K-means thuộc nhóm phân cụm dữ liệu cứng/rõ, ý tưởng chính là để xác định k trọng tâm cho k cụm, một trọng tâm cho mỗi cụm Những trọng tâm nên được đặt ở vị trí thích hợp nhất vì vị trí khác nhau gây ra kết quả khác nhau Vì vậy, sự lựa chọn tốt hơn là đặt chúng càng nhiều càng tốt và cách xa nhau Bước tiếp theo là với mỗi điểm thuộc tập dữ liệu cho trước và liên kết nó với trọng tâm gần nhất

Trong thuật toán K-means, chúng ta không biết nhãn (label) của từng điểm dữ liệu Mục đích là làm thế nào để phân dữ liệu thành các cụm (cluster) khác nhau sao cho dữ liệu trong cùng một cụm có tính chất giống nhau

Ý tưởng đơn giản nhất về cluster (cụm) là tập hợp các điểm ở gần nhau trong một không gian nào đó (không gian này có thể có rất nhiều chiều trong trường hợp thông tin về một điểm dữ liệu là rất lớn) Hình bên dưới là một ví dụ về 3 cụm dữ liệu (cluster)

Giả sử mỗi cluster có một điểm đại diện (centroids), và những điểm xung quanh

mỗi centroids thuộc vào cùng nhóm với centroids đó Một cách đơn giản nhất, xét một điểm bất kỳ, ta xét xem điểm đó gần với centroids nào nhất thì nó thuộc về cùng nhóm với centroids đó

DUT.LRCC

Trang 30

Rd×1 và label Y của mỗi điểm dữ liệu

Với mỗi điểm dữ liệu xi đặt yi = [yi1, yi2,…, yiK] là label vector của nó, trong đó nếu xi được phân vào cluster k thì yik = 1 và yij = 0, ∀j ≠ k Điều này có nghĩa là có đúng một phần tử của vector yi là bằng 1 (tương ứng với cluster của xi), các phần tử còn lại bằng 0 Ví dụ: nếu một điểm dữ liệu có label vector là [1,0,0,…,0] thì nó thuộc vào cluster 1, là [0,1,0,…,0] thì nó thuộc vào cluster 2, …

Ràng buộc của yi có thể viết dưới dạng toán học như sau:

𝑦𝑖𝑘 ∈ {0,1}, ∑ 𝑦𝑖𝑘 = 1

𝐾

𝑘=1

(3.1)

Hàm tối ưu và bài toán tối ưu

Nếu ta coi centroids mk là centroids (hoặc representative) của mỗi cluster và ước lượng tất cả các điểm được phân vào cluster này bởi mk, thì một điểm dữ liệu xi được phân vào cluster k sẽ có sai số là (xi − mk) Chúng ta mong muốn sai số này có trị tuyệt đối nhỏ nhất nên ta sẽ tìm cách để đại lượng sau đây đạt giá trị nhỏ nhất: ‖𝑥𝑖 − 𝑚𝑘‖2

DUT.LRCC

Trang 31

Hơn nữa, vì xi được phân vào cluster k nên yik=1, yij=0, ∀j ≠ k Khi đó, biểu thức bên trên sẽ được viết lại là:

Tóm lại, chúng ta cần tối ưu bài toán sau:

Khái niệm argmin: Chúng ta biết ký hiệu min là giá trị nhỏ nhất của hàm

số, argmin chính là giá trị của biến số để hàm số đó đạt giá trị nhỏ nhất đó Nếu f(x) =f(x) = 𝑥2− 2x + 1 = (𝑥 − 1)2 ; thì giá trị nhỏ nhất của hàm số này bằng 0, đạt được khi x = 1 Trong ví dụ này minf(x) = 0 và argminf(x) = 1

Thêm ví dụ khác, nếu x1 = 0, x2 = 10, x3 = 5 Thì ta nói argminxi = 1 vì 1 là chỉ

số để xi đạt giá trị nhỏ nhất (bằng 0) Biến số viết bên dưới min là biến số chúng ta cần tối ưu Trong các bài toán tối ưu, ta thường quan tâm tới argmin hơn là min

Giải bài toán tối ưu

Bài toán (3.4) là một bài toán khó tìm điểm tối ưu vì nó có thêm các điều kiện

ràng buộc Bài toán này thuộc loại mix-integer programming (điều kiện biến là số

nguyên) - là loại rất khó tìm nghiệm tối ưu toàn cục (global optimal point, tức nghiệm làm cho hàm tối ưu đạt giá trị nhỏ nhất có thể) Tuy nhiên, trong một số trường hợp chúng ta vẫn có thể tìm được phương pháp để tìm được nghiệm gần đúng hoặc điểm cực tiểu

Một cách đơn giản để giải bài toán (3.4) là xen kẽ giải Y và M khi biến còn lại được cố định Đây là một thuật toán lặp, cũng là kỹ thuật phổ biến khi giải bài toán tối

ưu Chúng ta sẽ lần lượt giải quyết hai bài toán sau đây:

➢ Cố định M, tìm Y

DUT.LRCC

Trang 32

Giả sử đã tìm được các centroids, hãy tìm các label vector để hàm tối ưu đạt giá trị nhỏ nhất Điều này tương đương với việc tìm cluster cho mỗi điểm dữ liệu

Khi các centroids là cố định, bài toán tìm label vector cho toàn bộ dữ liệu có thể được chia nhỏ thành bài toán tìm label vector cho từng điểm dữ liệu xi như sau:

𝑌𝑖 = 𝑎𝑟𝑔𝑚𝑖𝑛𝑌𝑖∑ 𝑦𝑖𝑗‖𝑥𝑖 − 𝑚𝑗‖2

𝐾

𝑗=1

(3.6)

Thõa mãn điều kiện: 𝑦𝑖𝑗 ∈ {0,1} ∀𝑗; ∑𝐾𝑗=1𝑦𝑖𝑗 = 1

Vì chỉ có một phần tử của label vector yi bằng 1 nên bài toán (3.6) có thể tiếp tục được viết dưới dạng đơn giản hơn:

Vì ‖𝑥𝑖− 𝑚𝑗‖2chính là bình phương khoảng cách tính từ điểm xi tới centroids mj,

ta có thể kết luận rằng mỗi điểm xi thuộc vào cluster có centroids gần nó nhất Từ đó ta

có thể dễ dàng suy ra label vector của từng điểm dữ liệu

điểm tối ưu tương ứng

Đặt l(mj) là hàm bên trong dấu argmin, ta có đạo hàm:

DUT.LRCC

Trang 33

Ta thấy rằng mẫu số chính là phép đếm số lượng các điểm dữ liệu trong cluster j Còn tử số chính là tổng các điểm dữ liệu trong cluster j Hay nói cách khác: mj là trung bình cộng của các điểm trong cluster j Tên gọi K-means cũng xuất phát từ đây

Thuật toán Fuzzy K-Means

Fuzzy K-Means là một phần mở rộng của K-Means Trong khi K-Means phát

hiện ra các cụm cứng (một điểm chỉ thuộc về một cụm), Fuzzy K-Means là một phương pháp được chính thức hóa hơn và phát hiện ra các cụm mềm, trong đó một điểm cụ thể có thể thuộc nhiều hơn một cụm với xác suất nhất định

Thuật toán có thể được mô tả như sau :

• Bước 1 : Tạo ngẫu nhiên c phân vùng với c tâm vùng Vi tương ứng

• Bước 2 : Sắp xếp các đối tượng sao cho gần tâm vùng nhất, điều này có nghĩa là:

• Bước 3 : Tính toán lại tâm vùng:

• Bước 4 : Dừng nếu vùng hội tụ, quay lại bước 2 trong trường hợp khác

Như vậy với việc đưa vào G ,V và hàm mục tiêu J, ta có thể mô tả lại việc xác định tâm vùng và gom cụm như sau :

• Bước 2 : Tối thiểu hàm J với G trong khi V được cố định

• Bước 3 : Tối thiểu J với V trong khi G được cố định

Hàm tối ưu trong bài toán Fuzzy K-means:

Trang 34

Chương trình thuật toán đề xuất:

Cú pháp:

[Centers, U, objFun] = fcm(data, k, options);

trong đó: data là dữ liệu cần phân cụm

k: số cụm cần phân

options: các tùy chọn chỉnh định tham số phân cụm

Kết quả trả về:

centers: ma trận trung tâm của cụm

U: ma trận biểu thị mức độ thành viên của dữ liệu trong cụm

objFun: giá trị của hàm mục tiêu qua các lần lặp

So sánh hai thuật toán K-means và Fuzzy K-means

K-means luôn nhanh hơn Fuzzy K-means trong tất cả các bộ dữ liệu có chứa các cụm tán xạ thường xuyên hoặc mô hình không đều Fuzzy K-means là một thuật toán dựa trên các phép tính lặp đi lặp lại, do đó việc nó tìm thấy phân cụm nhanh hơn mong đợi

Một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn một thuật toán phân cụm thích hợp là hình dạng của các cụm trong bộ dữ liệu được phân tích Thất bại phân cụm của cả hai thuật toán được tìm thấy gần như bằng nhau cho tất cả các hình dạng của các cụm tán

xạ Tuy nhiên, sự phân cụm của chúng tốt hơn cho các cụm hình chữ nhật khi so sánh với các cụm elip Thêm nữa, nghiên cứu thực nghiệm nên được thực hiện để làm rõ và phát hiện bằng cách sử dụng các hình thức định mức khoảng cách khác như Manhattan

và bằng cách áp dụng các thuật toán phái sinh của K-means và Fuzzy K-means

Sivarathri & Govardhan (2014) nói rằng Fuzzy means tốt hơn so với means về độ chính xác của các cụm trên tập dữ liệu bệnh tiểu đường thu được từ kho UCI Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, cả K-means và Fuzzy K-means đã thành công khi tìm thấy các cụm lõm và các loại hình dạng tùy ý khác

K-Ví dụ, phương pháp phân cụm phổ và phương pháp kết tụ phân cấp cho các cấu trúc cụm tròn lồng nhau, phương pháp kết tụ phân cấp và mật độ dựa các phương pháp như Dbscan và Birch cho các cụm lõm có thể là các lựa chọn tốt trong phân tích cụm Trên dựa trên kết quả thử nghiệm, nên sử dụng K-means với nhiều lần khởi động vì nó thấp hơn thời gian tính toán hơn thời gian của thuật toán Fuzzy K-means cho tất cả các hình dạng và các cụm tán xạ được phân tách tốt Như được báo cáo trong nhiều nghiên cứu trong khi Fuzzy K-means sẽ cho kết quả tốt hơn đối với các bộ dữ liệu cụm ồn ào

sẽ được sự lựa chọn tốt cho các bộ dữ liệu lớn vì tốc độ thực hiện của nó Vì vậy, việc

sử dụng K-means phải là một điều tốt điểm khởi đầu cho các bộ dữ liệu nông nghiệp lớn do thời gian thực hiện nhanh

Như một kết luận cuối cùng, không có bất kỳ thuật toán nào là tốt nhất cho mọi trường hợp Do đó, các bộ dữ liệu cần được kiểm tra cẩn thận về hình dạng và sự phân

DUT.LRCC

Trang 35

tán của các cụm để quyết định một thuật toán phù hợp Để đạt được điều này, các sơ

đồ phân tán 2D và/hoặc 3D của bộ dữ liệu cung cấp ý tưởng tốt để hiểu cấu trúc của cụm trong bộ dữ liệu Khi các đối tượng đa tính năng được phân tích, để khắc phục để

vẽ đồ thị cho không gian đa chiều, một kỹ thuật giảm kích thước, chẳng hạn như chia

tỷ lệ đa chiều (MDS) hoặc phân tích thành phần chính (PCA) có thể được áp dụng để giảm kích thước của bộ dữ liệu Hơn nữa, bởi sử dụng một phương pháp lấy mẫu phù hợp, quá trình này có thể được hoàn thành trong thời gian thực hiện ngắn hơn

Thuật toán Elbow

Tuy nhiên, K-Means vẫn còn là thuật toán đơn giản, số lượng cụm K do người dùng tự quyết định Điều này dẫn đến sự phân cụm có thể đạt độ chính xác chưa cao

Do đó, khi sử dụng thuật toán này người ta sử dụng một số cách để xem K có phải là

số cụm phù hợp không Một phương pháp thường được sử dụng đó là Elbow-method

Ý tưởng của phương pháp này là chạy bài toán phân cụm cho bộ số liệu đầu vào trong một phạm vi giá trị k (ví dụ: K = 1:10) Ứng với mỗi giá trị K ta tính tổng sai số bình phương (SSE) độ lệch của các điểm dữ liệu thuộc một cụm so với giá trị trung tâm của cụm đó

Sau đó ta vẽ biểu đồ đường của SSE cho mỗi giá trị của K Nếu biểu đồ đường trông giống như một cánh tay thì “ khuỷu tay” trên cánh tay cho giá trị k là tốt nhất Ý tưởng của thuật toán này là chúng ta muốn có một SSE nhỏ, nhưng SSE sẽ có xu hướng giảm về 0 khi chúng ta tăng K

Hình 3.8: Mô tả thuật toán Elbow

Kết luận: Mục tiêu của chúng ta là chọn một giá trị K nhỏ mà SSE thấp, và

khuỷu tay (điểm trong vòng tròn màu xanh ở Hình 3.8) là giá trị mà ta cần tìm Tại đó, sai số về sau sẽ bắt đầu giảm không còn đáng kể khi chúng ta tăng K Vì vậy có sự kết hợp giữa việc sử dụng thuật toán K-means và Fuzzy K-means để tìm ra đồ thị phụ tải

DUT.LRCC

Trang 36

điển hình Đồng thời, dựa vào thuật toán Elbow để cho ra số nhóm cần phân nhóm Thông qua đó, tăng độ chính xác lên cao hơn

Để biết được số phân nhóm chính xác và hiệu quả hơn Ta tiến hành thuật toán Elbow qua đoạn chương trình bên dưới

X=xlsread('ĐƯỜNG DẪN ĐẾN FILE DỮ LIỆU EXCEL');

K-để tìm ra các giá trị J – là tổng sai số giữa các điểm dữ liệu so với trọng tâm của nhóm chúng được phân vào khi ta thực hiện phân nhóm ứng với các giá trị của K Sau đó, vẽ

đồ thị thể hiện giá trị sai số J ứng với các giá trị K khác nhau Như đã trình bày ở hình 3.8 thì tại nơi “khuỷu tay” là giá trị K chúng ta cần tìm

3.2.3 Tóm tắt thuật toán sử dụng

Đầu vào: k: số cụm X: tập dữ liệu chứa n đối tượng

Đầu ra: Một tập hợp k các cụm

Bước 0 Xác định số lượng cụm k và điều kiện dừng

Bước 1 Khởi tạo ngẫu nhiên k trọng tâm cụm

Bước 2 Gom các đối tượng vào cụm mà nó gần tâm nhất

Bước 3 Tính lại các tâm theo đối tượng đã được phân hoạch ở bước 2

Lặp cho đến khi điều kiện dừng thỏa mãn

Điều kiện dừng thường chọn các điều kiện sau:

• Số lần lăp t=Tmax trong đó Tmax là số cho trước

• |Et – Et-1|<∆ trong đó ∆ là hằng số bé cho trước

• Tới khi các cụm không đổi Khi tập dữ liệu không quá lớn thì người ta dùng điều kiện dừng thứ 3

Chúng ta có thể đảm bảo rằng thuật toán sẽ dừng lại sau một số hữu hạn vòng lặp Thật vậy, vì hàm tối ưu là một số dương và sau mỗi bước 2 hoặc 3, giá trị của hàm tối ưu này bị giảm đi Hơn nữa, số lượng cách phân nhóm cho toàn bộ dữ liệu là hữu hạn nên đến một lúc nào đó, hàm tối ưu sẽ không thể thay đổi, và chúng ta có thể dừng thuật toán tại đây

DUT.LRCC

Trang 37

Hình 3.9: Sơ đồ khối thuật toán

Hình 3.10: Mô phỏng quá trình phân cụm

Ví dụ quá trình phân cụm từ hình 3.10:

(1) Khởi tạo ngẫu nhiên trọng tâm cho mỗi cụm; ở đây là C1,C2,C3

(2) Gán mỗi đối tượng có khoảng cách gần nhất với trọng tâm vào một cụm; (3) Xác định lại trọng tâm mới bằng cách tính toán giá trị trung bình của các đối tượng trong mỗi cụm;

(4) Lặp đến khi trọng tâm cụm không đổi

các đối tượng đến tâm

Nhóm các đối tượng vào

cụm gần nhất

Thay đổi giá trị cụm?

Trang 38

Chương 4: ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THỪA THIÊN HUẾ

Dựa trên số liệu có được của 1.226 điểm đo phụ tải đang được quản lý từ xa qua hệ thống DSPM của Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế từ 01/01/2018, số lượng các điểm đo theo từng ngành nghề như sau:

• Nông - Lâm - Thủy sản: 84 điểm đo;

• Công nghiệp - Xây dựng: 688 điểm đo;

• Thương mại dịch vụ: 89 điểm đo;

• Nhà hàng Khách sạn: 171 điểm đo;

• Sinh hoạt: 9 điểm đo;

• Hoạt động khác: 185 điểm đo

Đến 30/09/2019, Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế đã có 2.851 điểm đo phụ tải quản lý trên hệ thống đo xa DSPM Điều này cho thấy quy mô phát triển ngày càng lớn của hệ thống DSPM

Với mong muốn tìm ra đường đồ thị của các ngày cao điểm và các ngày thấp điểm, ta lựa chọn giá trị K=2 ( 2 nhóm) để áp dụng cho chương trình đã nêu, chạy bài toán phân nhóm ta được các đồ thị phụ tải điển hình Số nhóm K phải lớn hơn 1, trong trường hợp K= 1 thì sẽ không có sự phân nhóm, các số liệu phụ tải thuộc về 1 nhóm duy nhất, và trọng tâm chính là trung bình cộng của tất cả dữ liệu Trường hợp K càng lớn, thì kết quả càng chính xác, nhưng ở đây mong muốn tìm ra K càng nhỏ nhưng kết quả phân nhóm vẫn chính xác Hơn nữa, từ kết quả của thuật toán Elbow, ta thấy giá trị K= 2 là hợp lý

Trên đồ thị phụ tải điển hình, các đường đồ thị màu xanh và màu đỏ đặc trưng cho các giá trị sản lượng trọng tâm, đại diện của nhóm cao điểm và thấp điểm của các phụ tải, đường nằm ở vị trị cao hơn trên đồ thị đại diện cho giá trị sản lượng cao điểm, đường nằm ở vị trí thấp hơn trên đồ thị đại diện cho giá trị sản lượng thấp điểm

❖ Phương pháp nhóm dữ liệu:

Theo 6 thành phần phụ tải:

1 Nông – Lâm – Ngư nghiệp

2 Công nghiệp – Xây dựng

3 Thương mại – Dịch vụ

4 Sinh hoạt

5 Nhà hàng – Khách sạn

6 Hoạt động khác (Trường học, bệnh viện, chiếu sáng công cộng)

Theo các ngày trong tuần:

• Ngày làm việc đầu tuần: Thứ 2

• Các ngày làm việc giữa tuần: Thứ 3, Thứ 4, Thứ 5

DUT.LRCC

Trang 39

• Ngày làm việc cuối tuần: Thứ 6

• Ngày nghỉ 1: Thứ 7

• Ngày nghỉ 2: Chủ nhật

Theo mùa:

Xét về vị trí địa lý, Thừa Thiên Huế là tỉnh cực Nam của miền duyên hải Bắc

Trung bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có hai mùa mưa nắng

rõ rệt:

• Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau;

• Mùa nắng: từ tháng 3 đến tháng 8 là mùa nắng hạn, lượng mưa ít

Sự thay đổi thời tiết theo mùa có ảnh hưởng đến việc tiêu thụ điện của các phụ tải, do đó cần thiết phân chia các phụ tải theo hai mùa để phân tích và đánh giá

❖ Nhận xét chung:

- Mỗi thành phần phụ tải khác nhau có bộ số liệu khác nhau, do đó sẽ có đồ thị phụ tải điển hình cho thành phần phụ tải

- Kết quả xây dựng đồ thị phụ tải điển hình giống với quy luật của thực tế, như:

• Nhóm phụ tải sinh hoạt: giờ cao điểm của nhóm phụ tải này từ 09h30 đến 11h30 và từ 18h00 đến 20h00 nên trong khung giờ này phụ tải tiêu thụ lượng điện năng lớn và thấp dần khi về đêm

• Nhóm phụ tải công nghiệp sợi dệt: điểm riêng biệt của nhóm phụ tải này

là sản xuất liên tục cả ngày lẫn đêm, với đặc điểm về công nghệ và máy móc thiết bị làm việc theo chế độ 3 ca/ngày, do đó đường đồ thị phụ tải điển hình gần như là một đường ngang

• Nhóm phụ tải công nghiệp sản xuất xi măng: hạn chế sử dụng điện vào các khung giờ cao điểm (từ 09h30 đến 11h30 và từ 17h00 đến 20h00) nhằm tiết giảm chi phí, do giá bán điện trong các khung giờ này là cao nhất Riêng ngày Chủ nhật không có giờ cao điểm nên các phụ tải sản xuất liên tục cả ngày, đồ thị phụ tải gần như

là một đường thẳng Về mùa mưa thì sản lượng điện sử dụng có giảm hơn so với mùa nắng

• Nhóm phụ tải Thương mại – Dịch vụ là các phụ tải thuộc các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ, du lịch do đó phụ tải sử dụng liên tục ở mức cao từ khoảng 07h00 đến 22h00 và xuống thấp từ khoảng 22h00 đến 06h00 sáng hôm sau, ngày chủ nhật có sản lượng cao hơn so với tất cả các ngày còn lại trong tuần

• Nhóm phụ tải Nhà hàng – Khách sạn có đặc điểm sử dụng điện khá tương đồng với nhóm ngành Thương mại – Dịch vụ, chỉ có điểm khác biệt là sản lượng sử dụng từ khoảng 22h00 đến 06h00 sáng hôm sau vẫn ở mức tương đối cao Tại địa phương mùa lễ hội đúng vào các tháng mùa nắng nên lượng khách du lịch tham quan, lưu trú tại địa bàn đông hơn so với mùa mưa nên dẫn đến nhu cầu sử dụng điện tăng cao hơn

DUT.LRCC

Trang 40

• Nhóm phụ tải Hoạt động khác: là các phụ tải thuộc nhóm cơ quan hành chính, bệnh viện trường học, chủ yếu sử dụng điện vào các khung giờ làm việc trong ngày (từ 07h00 đến 11h00 và 13h00 đến 17h00) Đồ thị phụ tải cũng không có nhiều khác biệt giữa các ngày trong tuần

DUT.LRCC

Ngày đăng: 16/06/2021, 10:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w