1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ sở khoa học tổ chức không gian quảng trường và công viên biển ứng dụng cho trường hợp khu vực ven biển thành phố đồng hới

113 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 17,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN - ỨNG DỤNG CHO TRƯỜNG HỢP KHU VỰC VEN BIỂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI Học viên: Trần Bá Nhạc Chuyên ngành: Kiến Trúc

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN BÁ NHẠC

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN - ỨNG DỤNG CHO TRƯỜNG HỢP KHU VỰC VEN BIỂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

Đà Nẵng – Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN BÁ NHẠC

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN - ỨNG DỤNG CHO TRƯỜNG HỢP KHU VỰC VEN BIỂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

Chuyên ngành: Kiến trúc công trình (K36_KT)

Mã số: 858 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS.KTS NGUYỄN ANH TUẤN

Đà Nẵng – Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành

và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.KTS Nguyễn Anh Tuấn Các số liệu và kết quả có được trong luận văn hoàn toàn trung thực

Tác giả luận văn

Trần Bá Nhạc

DUT.LRCC

Trang 4

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN - ỨNG DỤNG CHO TRƯỜNG HỢP KHU

VỰC VEN BIỂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

Học viên: Trần Bá Nhạc Chuyên ngành: Kiến Trúc

Mã số: 858 01 01 Khóa: K36_KT Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN

Tóm tắt – Các không gian công cộng mở ngoài trời nói chung và không gian quảng trường, công viên

biển nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các đô thị, đặc biệt là những

đô thị mới, đô thị đang phát triển Hiện nay ở nước ta, sự nhìn nhận về các không gian này còn có nhiều hạn chế, đa phần không gian quảng trường, công viên biển được hình thành một cách tự phát hoặc chưa thật sự được chú trọng đầu tư do đó vừa không đáp ứng được về số lượng cũng như chất lượng Nghiên cứu này được thực hiện tại khu vực Bắc Trung bộ, một khu vực còn kém phát triển hơn

so với các khu vực ven biển khác trong nước Nghiên cứu nhằm xác định được các yếu tố, đặc trưng ảnh hưởng đến chất lượng của không gian quảng trường, công viên biển và đưa ra được các phương pháp khoa học để tổ chức các không gian này, áp dụng cụ thể vào trường hợp khu vực ven biển thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Từ khóa – Không gian công cộng; Thiết kế đô thị; Quảng trường biển; Công viên biển; Kiểu mẫu;

Phần mềm Spacy Syntax

SCIENTIFIC BASIS RESEARCH ORGANIZING SPACE SPACE AND

MARINE PARK - APPLICATION FOR CASE OF MARINE REGION OF

DONG HOI CITY

Summary - The outdoor public spaces in general and the sea squares and marine parks in particular

are play an increasingly important role in the development of urban areas, especially new urban areas and developing urban areas Currently in our country, the perception of these spaces still has many limitations, most of the sea squares and marine parks were formed spontaneously or have not really been focused on investment, therefore it can not be satisfied both in quantity and quality This study was conducted in the North Central area, a less developed area than other coastal areas in the country Research aims to determine the factors and characteristics that affect the quality of the sea squares , marine parks and propose scientific methods to organize these spaces, and especially applicable to coastal areas of Dong Hoi city, Quang Binh province

Keywords: Public spaces; Urban design; Sea Square; Marine park; Model ; Spacy Syntax software

DUT.LRCC

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước 1

2 Tính cấp thiết của đề tài 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ HIỆN TRẠNG CÁC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN TẠI CÁC ĐÔ THỊ BẮC TRUNG BỘ 7

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các không gian công cộng ngoài trời 7 1.2 Vai trò của không gian công cộng ngoài trời ven biển 8

1.3 Các yêu cầu cơ bản khi tổ chức không gian công cộng ven biển 9

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của các đô thị duyên hải Bắc Trung Bộ 10 1.4.1 Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa 10

1.4.2 Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An 11

1.4.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 12

1.5 Thực trạng các không gian quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ 13

1.5.1 Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa 13

1.5.2 Thị xã Cửa Lò, thành phố Vinh 15

CHƯƠNG 2 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN CHO CÁC ĐÔ THỊ DUYÊN HẢI BẮC TRUNG BỘ 21

2.1 Cơ sở lý thuyết cho việc tổ chức không gian quảng trường và công viên biển 21

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến không gian công cộng ngoài trời ven biển 21

2.1.2 Các khái niệm về kiến tạo không gian kiến trúc cảnh quan 22

2.2 Cơ sở pháp lý 22

2.3 Tổng quan về phần mềm space syntax 24

2.3.1 Lý thuyết của Christopher Alexander về ngôn ngữ kiểu mẫu và tính toàn thể 24

2.3.2 Ngôn ngữ kiểu mẫu và xây dựng ngôn ngữ kiểu mẫu 24

2.3.3 Lý thuyết của Bill Hillier và các cộng sự về Space Syntax 25

2.3.4 Khả năng ứng dụng ngôn ngữ kiểu mẫu và Space Syntax trong thiết kế Không gian công cộng 25

DUT.LRCC

Trang 6

2.3.5 Một số ví dụ điển hình về việc ứng dụng Space Syntax vào vấn đề giao

thông đô thị 26

2.4 Các cơ sở về điều kiện tự nhiên của khu vực Bắc Trung bộ 27

2.4.1 Vị trị địa lý và giới hạn lãnh thổ 27

2.4.2 Địa hình 27

2.4.3 Khí hậu 28

2.5 Các cơ sở về kinh tế - văn hóa – xã hội của khu vực Bắc Trung bộ 28

2.5.1 Kinh tế 28

2.5.2 Văn hóa – xã hội 28

2.5.3 Cơ sở bản đồ 28

2.6 Các điều kiện tự nhiên của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 29

2.6.1 Địa hình 29

2.6.2 Khí hậu 29

2.6.3 Địa chất 30

2.7 Các cơ sở văn hóa- lịch sử, kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 30

2.7.1 Cơ sở văn hóa- lịch sử 30

2.7.2 Cơ sở kinh tế - xã hội 31

2.8 Kết luận chương 2 33

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN TẠI CÁC ĐÔ THỊ BẮC TRUNG BỘ - TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 34

3.1 Mục tiêu và yêu cầu đặt ra 34

3.1.1 Mục tiêu 34

3.1.2 Các yêu cầu cần giải quyết 35

3.2 Đề xuất các ngôn ngữ kiểu mẫu cho Quảng trường và công viên biển 38

3.3 Ứng dụng cho trường hợp khu vực ven biển thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 62

3.3.1.Tổng quát về không gian nghiên cứu 62

3.3.2 Đề xuất phương án vị trí 67

3.3.3 Đề xuất phương án tổ chức không gian quảng trường và công biển 68

3.3.4 Sử dụng các phương pháp khoa học để đánh giá chất lượng không gian quảng trường và công viên biển 70

3.4 Kết luận chương 3 77

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

4.1 Kết luận 79

4.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm phát huy các kết quả đạt được của đề tài 80

DUT.LRCC

Trang 7

4.3 Đề xuất và kiến nghị 82

4.3.1 Đề xuất 824.3.2 Kiến nghị 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TẢI (BẢN SAO)

DUT.LRCC

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

hình Tên hình Trang

2.3

Áp dụng Space Syntax để thực hiện phân tích chiến lược về các đề xuất thiết kế mạng lưới giao thông ở Chengdu, Wenjiang

27

DUT.LRCC

Trang 10

Số hiệu

hình Tên hình Trang

Trang 11

Tại Mỹ sau thời kỳ cách mạng công nghiệp, các thành phố ở Mỹ đã phát triển một cách ồ ạt, quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế đã hình thành nên các thành phố giàu có Tuy nhiên, trong khoảng đầu thế kỷ XX, đa phần các đô thị của nước Mỹ phát triển một cách dàn trãi và được kết nối với nhau bằng những tuyến đường cao tốc, đường sắt, điều này dẫn đến việc con người ngày càng tách rời các không gian công cộng Tại các thành phố ven biển, các không gian tiếp giáp biển hầu như không sử dụng cho cộng đồng mà chủ yếu dành cho cho các bãi đỗ xe, các công trình hạ tầng và ngày càng ô nhiễm do hoạt động xả thải của con người trong quá trình phát triển Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ XX, các không gian này bắt đầu có sự thay đổi

Trong tác phẩm “The death and life of Great American cities”, nhà tư tưởng Jane

Jacob đã viết “…Trong khi ngành quy hoạch đô thị chỉ làm cho mình mắc kẹt trong sự

thiếu hiểu biết về bản chất căn bản nhất của vấn đề mà nó phải đương đầu, thì các ngành khoa học sự sống… đã và đang cung cấp một số khái niệm mà quy hoạch đô thị cần tới…”

Nhà quy hoạch nổi tiếng Kevin Lynch trong tác phầm “hình ảnh của đô thị” (The Image of the city), sau năm năm nghiên cứu đã báo cáo rằng con người thực sự hiểu môi trường xung quanh khi di chuyển tại các con đường quen thuộc, theo lý thuyết về hình ảnh đô thị của Kevin Lynch bất cứ một nhân tố hoàn cảnh nào để tạo nên hình tượng câu trúc không gian và hình ảnh đô thị cần hội đủ 3 điều kiện: Bản sắc (Identity), cấu trúc (Structure) và ý nghĩa (Meaning) và bao gồm 5 nhân tố cấu thành sau đây: Lưu tuyến (Path), khu vực hay mảng (Distric), cạnh biên (Edgẽ), nút (Node)

và cột mốc hay điểm nhấn (Landmark) Tác phẩm "The Image of the City "đã có ảnh hưởng quan trọng và bền vững trong các lĩnh vực quy hoạch đô thị và tâm lý hoàn cảnh

Bên cạnh đó một số nghiên cứu của các học giả nổi tiếng như William Whyte, Eliel Saarinen, Christopher Alexander đã đề xuất hướng đi vững chắc cho một công cuộc cải cách, các thành phố của nước Mỹ đã bắt đầu thay đổi bằng các chính sách như khuyến khích mở các không gian công cộng như quán cà phê, xây dựng các công viên có quy mô lớn, những thành phố ven biển cũng đã chú trọng hơn đến việc khai

DUT.LRCC

Trang 12

thác không gian mặt nước để xây dựng các công tình công cộng phục vụ cộng đồng

So với Mỹ, ở các nước Phương Tây, do đặc tính ưa thích các hoạt động sinh hoạt ngoài trời, trong tổ chức đô thị thường chú ý nhiều đến các không gian cộng cộng như

quảng trường, công viên, các không gian mặt nước Đó có thể là các Agora (quảng

trường thương mại), Acropole (quảng trường tôn giáo) thời Hy Lạp cổ đại hoặc các Plazza (quảng trường), Forum thời La Mã cổ đại Nhưng thực tế các hoạt động diễn ra

ở đây chủ yếu mang tính công cộng hơn là tính cộng đồng và mang nặng yếu tố giai cấp, lấy tiêu chuẩn để phân tách dựa trên các tầng lớp trong xã hội Bên cạnh sự phát triển, sự phân hóa hóa chia rẽ sâu sắc về giai cấp đã khiến cho các không gian công cộng trong đô thị dường như chỉ phục vụ cho giai cấp quyền lực Các không gian ven biển, cây xanh, mặt nước thường được sử dụng cho các công trình công và các gia đình

có thế lực Trải qua nhiều thế kỷ, khi mà sự phân chia giai cấp trong xã hội đã không còn như trước, các không gian đô thị tại Châu Âu đã có tính đa dạng về chức năng sử dụng Các quảng trường, không gian cây xanh, công viên ven biển không chỉ sử dụng phục vụ cho người dân bản địa mà còn là tạo nên những điểm đến du lịch hấp dẫn

Từ những bài học trên thế giới đã cho chúng ta thấy được, con người ngày càng quan tâm hơn đến sự phát triển các không gian công cộng, các quốc gia có điều kiện vị trí giáp biển đã biết cách tận dụng các không gian này để tổ chức những không gian dành cho cộng đồng và một phần nào đó tạo dựng được hình ảnh của đô thị, qua đó đúc rút được những kinh nghiệm cần thiết trong việc phát triển của nước ta

1.2 Trong nước

Ở nước ta, đi cùng với sự phát triển kinh tế, các không gian công cộng đô thị ven biển là cũng ngày càng được chú trọng, và cũng đã có nhiều hơn các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về đề tài này, góp phần thay đổi cách nhìn nhận và sử dụng không gian ven biển ở nước ta hiện nay

Hội thảo quốc tế “Không gian công cộng hướng đến đô thị tăng trưởng xanh và phát triển bền vững” (tháng 11/2018) diễn ra tại Hà Nội đã nói lên tầm quan trọng của việc phát triển không gian công cộng, đó là một thành tố không thể tách rời trong phát triển đô thị, là điểm kết nối đô thị, gắn với đời sống của tầng lớp người dân đô thị, đồng thời góp phần hình thành, tạo nên giá trị văn hóa xã hội và tạo dựng bản sắc riêng cho đô thị Tại hội nghị cũng đã nhìn nhận thấy thực trạng của các không gian công cộng đô thị tại nước ta hiện nay đa phần còn thiếu so với nhu cầu của người dân Nhiều địa phương có xu hướng sử dụng không gian công cộng sai mục đích, không vì lợi ích cộng đồng, kiến trúc cảnh quan thiếu đặc sắc chưa phù hợp với không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Đồng thời cũng đã có nhiều tham luận, ý kiến tìm nhằm tìm ra các giải pháp, các cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng của các không gian công cộng cho các đô thị tại Việt Nam

DUT.LRCC

Trang 13

Luận văn thạc sỹ “Giải pháp thiết kế đô thị tuyến cảnh quan ven biển khu du lịch

Xuân Thành, tỉnh Hà Tỉnh” của Lê Thăng Long đã nêu lên các giải pháp thiết kế cảnh

quan cho khu vực ven biển tại khu du lịch Xuân Thành phục vụ không chỉ cho nhu cầu sống của người dân địa phương mà còn đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Tác giả đã

đề xuất các giải pháp thiết cảnh quan kế hướng đến việc gìn giữ và bảo tồn những nét lịch sử và văn hóa đặc trưng của khu vực ven biển Bắc Trung bộ, hài hòa với thiên nhiên và hạn chế các tác động đến cảnh quan hiện có và môi trường của khu vực nhằm hướng đến việc phát triển đô thị một cách bền vững

Bài viết “Hướng đi nào cho kiến trúc đô thị biển Việt Nam” của tác giá Phạm Thanh Huyền đăng trên tạp chí Kiến trúc Việt Nam có đoạn như sau: Có một tư tưởng

đã trở thành khái niệm là “Không gian mặt tiền hướng biển của đô thị dù theo định

hướng xây dựng cao tầng hay thấp tầng trước tiên cần được quy hoạch tạo thành các không gian công cộng dành cho toàn bộ người dân đô thị, khách du lịch”, cần hạn chế

sự chiếm hữu không gian này cho các mục tiêu và mục đích của cá nhân hay các nhóm lợi ích thiểu số”

Qua các luận văn, bài báo và các tham luận tại các hội thảo khoa học liên quan đến nội dung đề tài đã cho thấy ngày càng có nhiều hơn sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước nghiên cứu về vấn đề này

1.3 Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài của chủ nhiệm và những thành viên tham gia nghiên cứu

- Luận án Tiến sĩ của NCS Đỗ Tú Lan với đề tài “Nghiên cứu sinh thái đô thị du lịch trong QHXD đô thị ven biển Việt Nam – lấy ví dụ thành phố Nha Trang” (2004);

- Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Chương với đề tài “Khai thác yếu tố nơi chốn nhằm tạo lập bản sắc đô thị - lấy Tp Đà Nẵng làm địa bàn nghiên cứu” (2011);

- Luận án Tiến sĩ của NCS Tạ Duy Thịnh với đề tài “Mô hình tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc khu vực du lịch sinh thái biển (lấy ví dụ khu vực Hạ Long – Quảng Ninh 2000 – 2010)” (2000);

- Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Văn Hiến với đề tài “Nghiên cứu mô hình tổ chức không gian lang ngư dân ven biển khu vực Nam Trung bộ” (2017);

- Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Thị Việt Hà với đề tài “Kiến tạo không gian công cộng ngoài trời ven biển Nha Trang” (2016);

- Luận văn Thạc sỹ của Lê Thăng Long với đề tài “Giải pháp thiết kế đô thị tuyến cảnh quan ven biển khu du lịch Xuân Thành, tỉnh Hà Tỉnh” (2016);

- Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Đăng Mạnh Hoàng với đề tài “Tổ chức không gian cảnh quan 02 bên bờ sông Nhật Lệ thành phố Đồng Hới’ (2011);

- Bài báo: Không gian cảnh quan mở dưới góc nhìn tâm lý học môi trường (Nghiên cứu trường hợp Đại học Havrard và Học viên Công nghệ Massachusetts) Tác

DUT.LRCC

Trang 14

giả: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Tạp chí kiến trúc ngày 12/7/2019;

- Bài báo: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa biển trong quy hoạch không gian đô thị ven biển Tác giả PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng, Tạp Chí Quy hoạch xây dựng, số 74;

- Bài báo: Nhận diện nơi chốn trong không gian đô thị Tác giả: TS Nguyễn Văn Chương Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 5/2009;

- Bài báo: Suy nghĩ về cấu trúc không gian đô thị Đà Nẵng Tác giả: GS

TS.KTS Nguyễn Văn Thông, TS.KTS Trương Văn Quảng Tạp chí kiến trúc Việt Nam số 02-2009;

- Bài báo: Không gian công cộng trong các khu đô thị Tác giả: ThS.KTS Trần Trung Hiếu Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 8/2012

2 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước Việt Nam với bờ biển kéo dài khoảng 3000km đã hình thành nên một

hệ thống các đô thị duyên hải với địa hình đặc trưng mạng đậm yếu tố vùng miền Các

đô thị duyên hải với vị trí địa lý giáp biển đã tạo nên một lợi thế lớn trong việc hình thành, phát triển đô thị cũng như sự hấp dẫn, thu hút du lịch đến các đô thị này Tuy nhiên trong lịch sử hình thành Người Việt chúng ta ít nhiều giao thương qua đường biển, song chưa bao giờ coi kinh tế biển là yếu tố quan trọng sống còn Làm chủ giang sơn 2 phía là biển, ông cha ta ít hướng ra biển, co cụm trong đất liền, các đô thị biển chỉ thực sự bắt đầu hình thành từ nữa sau thế kỷ thứ XIX

Vấn đề về các không gian công cộng ngoài trời ven biển không phải là một vấn

đề mới trong việc xây dựng đô thị trên thế giới, song ở nước ta đặc biệt là các đô thị duyên hải miền Trung còn bộc lộ nhiều bất cập hạn chế, các không gian này chưa đáp ứng được về số lượng, quy mô sử dụng, đa phần được hình thành một cách tự phát, manh mún theo thói quen sinh hoạt của người dân tại địa phương, dẫn đến chưa khai thác hết được những lợi thế, điểm mạnh của những đô thị này trong việc nâng cao chất lượng sống và phát triển kinh tế, xã hội

Có thể nói, không gian quảng trường và công viên là những không gian công cộng ngoài trời không thể thiếu trong mỗi đô thị Các đô thị duyên hải với thế mạnh về

du lịch sẵn có, vai trò của các không gian công cộng ngoài trời này càng trở nên quan trọng, nó góp phần tạo dựng nên hình ảnh một đô thị biển, không những góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân trong đô thị mà còn tạo nên sức hút đối với khách du lịch

Trong quá trình phát triển đô thị, áp lực từ việc đô thị hóa, phát triển công nghiệp, gia tăng dân số, các không gian công cộng ngoài trời ven biển nói chung nếu không được chú trọng đúng mức sẽ có nguy cơ ngày càng thu hẹp

Ngày 30/7/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số

DUT.LRCC

Trang 15

1270/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Đồng Hới là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Bình Cũng như nhiều đô thị khác, thành phố Đồng Hới đi lên từ trong hoang tàn đổ nát của chiến tranh, qua nhiều năm phát triển đến nay thành phố Đồng Hới đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Quảng Bình Trong những năm gần đây, diện mạo đô thị Đồng Hới đã thay đổi một cách nhanh chóng Đóng góp một phần không nhỏ vào sự thay đổi đó là hoạt động tích cực và có hiệu quả của công tác quy hoạch xây dựng Hình ảnh đô thị ngày hôm nay là một hình ảnh đô thị trẻ trung, đầy sức sống và phát triển theo hướng hiện đại Bên cạnh đó, thành phố Đồng Hới với lợi thế giáp biển, giáp sông phần nào có nhiều nét tương đồng với thành phố Đà Nẵng, nơi được gọi là thành phố đáng sống của nước ta, qua đó đã thấy được những tiềm năng, những yếu tố đặc thù để góp phần định hướng xây dựng một hình ảnh đô thị Đồng Hới của tương lai

Nhưng công cuộc đổi mới phát triển kinh tế xã hội bền vững, đã đặt ra một vai trò lớn cho thành phố Đồng Hới Phát triển đô thị là yếu tố không thể thay đổi Tuy nhiên, việc phát triển đô thị đòi hỏi phải luôn gắn liền với yếu tố phát triển không gian

đô thị nhất là các không gian mở trong đô thị và các không gian ven biển của thành phố cần phải được chú trọng hơn

Thành phố Đồng Hới nói riêng và các đô thị ven biển Bắc Trung bộ nói chung phải chịu ảnh hưởng lớn từ khí hậu, theo báo cáo về chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm

2010 do tổ chức Germanwatch công bố ngày 08/12/2009 trong cuộc hội thảo bên lề hội nghị lần thứ 15 của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (COP15) diễn ra tại thủ đô Copenhagen - Đan Mạch, thì Việt Nam là 1 trong 13 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu cực đoan trong hai thập kỷ trở lại đây và đứng thứ 3 nếu tính riêng năm 2008, Bộ tài nguyên và môi trường đã đưa ra kịch bản biến đổi khí hậu và đặc biệt là nước biển dâng cho Việt Nam, khuyến nghị các ban ngành, địa phương xây dựng phương án, kế hoạch để ứng phó với các hiện tượng này, đây cũng là một trong những khó khăn trong công tác quy hoạch, tổ chức các không gian công cộng ven biển cho thành phố Đồng Hới

Để góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu

cơ sở khoa học tổ chức không gian quảng trường và công viên biển - Ứng dụng cho trường hợp khu vực ven biển thành phố Đồng Hới” là cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ sở khoa học để tổ chức các không gian công cộng là quảng trường và công viên biển cho các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ, ứng dụng thể cho trường hợp khu vực ven biển thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Với mục đích đó, đề tài có 3 mục tiêu chính sau:

(1) Xác định được các đặc trưng của không gian quảng trường và công viên biển

DUT.LRCC

Trang 16

đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng sử dụng;

(2) Xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng các không gian chức năng của quảng trường và công viên biển;

(3) Đề xuất những phương pháp tổ chức không gian quảng trường và công viên biển cho các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ - Ứng dụng dụng cho trường hợp khu vực ven biển thành phố Đồng Hới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các không gian quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ bao gồm 06 tỉnh thành kéo dài từ tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Thừa Thiên Huế về các nội dung như vị trí, hình thái, chức năng sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức các không gian này

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận

Đề tài nghiên cứu này sử dụng cách 2 tiếp cận:

- Từ thực tiễn tổng hợp, phát triển bổ sung lý thuyết đưa ra giải pháp: Đây là hướng tiếp cận nhằm nhận diện và đánh giá được chất lượng của các quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ

- Tiếp cận từ lý thuyết ứng dụng vào thực tiễn giải pháp tổ chức: Tìm kiếm các phương pháp quy hoạch, thiết kế đô thị để tổ chức, nâng cao hiệu quả cho các quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

(1) Phương pháp khảo cứu tài liệu khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Phương pháp này nhằm thu thập các thông tin, số liệu tổng quát liên quan đến các không gian quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ để

có được cái nhìn tổng quan nhất về đề tài nghiên cứu;

(2) Phương pháp đối soát tương quan, phương pháp này sử dụng nhằm so sánh các đô thị duyên hải khác với các đô thị duyên hải vùng Bắc Trung bộ để rút ra được những kinh nghiệm phục vụ cho việc thực hiện đề tài;

(3) Phương pháp điều tra xã hội học nhằm có được cách nhìn thực tế nhất về nhu cầu hoạt động của các đối tượng sử dụng tại các không gian quảng trường và công viên biển;

(4) Phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm tạo ra số liệu thực tế, sau đó phân loại theo các mục tiêu nghiên cứu đề ra

DUT.LRCC

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ HIỆN TRẠNG CÁC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN TẠI CÁC ĐÔ THỊ BẮC TRUNG BỘ

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các không gian công cộng ngoài trời

Không gian công cộng là các không gian chung của mọi người, những không gian công cộng đầu tiên là những quảng trường xuất hiện cách đây hơn 6000 năm dưới thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, cùng với sự ra đời của những thể chế chính trị đầu tiên tại châu Âu Quảng trường thời Hy Lạp cổ đại được biết đến với tên gọi Agora Mặt bằng của những không gian này thường được quy hoạch hình chữ nhật hoặc hình vuông Quảng trường thời kỳ này là những không gian ngoài trời thường được đặt tại trung tâm thành phố, là giao của những trục giao thông quan trọng, dễ dàng tiếp cận từ mọi hướng Về mặt xã hội, ngay từ những khái niệm đầu tiên, Agora đã được coi là biểu tượng cho sự dân chủ của người Hy Lạp cổ đại Tất cả các hoạt động chính trị, thể thao, văn nghệ quan trọng đều diễn ta tại đây và tất cả mọi tầng lớp dân cư đều có quyền tham gia Sau đó có thể kể đến các không gian công cộng ngoài trời thời La Mã, với tên gọi forum, cũng là nơi tụ họp dân chúng và diễn ra những hoạt động chính trị, văn hóa quan trọng của thành phố

Trên đà phát triển đó, đến thời kỳ trung đại vào khoảng thế kỷ 13, trên khắp châu

Âu đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt quảng trường tại Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, …, tuy nhiên các không gian công cộng này vẫn chưa có tên gọi cụ thể

Hình 1.1 Quảng trường St Peter thành phố Roma

(Nguồn trang web: www.tapchikientruc.com.vn)

Cho đến những năm 1960, khi thiết kế đô thị được xem là một Lĩnh vực chuyên

DUT.LRCC

Trang 18

môn Ban đầu, việc thiết kế đô thị tập trung vào những yếu tố vật thể như hình dạng đô thị, tính thẩm mỹ, bố cục các công trình kiến trúc và không gian giữa chúng Ngày nay, chất lượng của không gian công cộng bắt đầu được lưu tâm, hoạt động của con người trong không gian công cộng càng được được chú trọng Lĩnh vực thiết kế đô thị

đã góp phần kiến tạo những không gian công cộng nhân văn hơn trong cuộc sống của những đô thị hiện đại

Tại nước ta, đi cùng với sự phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh kéo theo sự phát triển dân số tại các đô thị của nước ta, đô thị vốn đã chật chội nay lại càng chật chội hơn, điều nay dẫn đến các không gian công cộng dành cho người dân đô thị ngày càng bị thu hẹp và luôn bị tranh chấp bởi các lợi ích kinh tế khác Thực trạng chung của các không gian công cộng tại Việt Nam vẫn là vấn đề sử dụng chưa đúng hoặc sai mục đích, những vấn đề này luôn là những vấn đề tồn tại của các quốc gia đang phát triển

Trong những năm gần đây, chúng ta đã có sự nhìn nhận đúng hơn đối với vai trò của không gian công cộng đô thị, đã có nhiều hội thảo, đề tài có chất lượng về vấn đề này, các đô thị đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi tư nhân tham gia vào công tác phát triển các không gian công cộng, các không gian công cộng đã có nhiều hơn sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quá trình phát triển Tuy nhiên, việc phát triển không gian công cộng thế nào cho phù hợp với hiện tại và vì lợi ích tương lai của toàn

xã hội vẫn là một thách thức lớn đối với nhiều đô thị Việt Nam

1.2 Vai trò của không gian công cộng ngoài trời ven biển

Không gian công cộng ngoài trời ven biển bao gồm những không gian bên ngoài công trình tại khu vực ven biển, là vườn hoa; công viên; quảng trường; bãi cát; sân chơi trong giới hạn của đề tài chỉ đề cập đến 02 đối tượng là Quảng trường và công viên biển, các không gian công cộng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên các không gian sinh hoạt đa dạng ngoài trời ven biển:

(1) Đáp ứng nhu cầu của cộng đồng:

Các không gian công cộng nói chung và Quảng trường, công viên biển nói riêng

là nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng, nơi mà người dân có thể đến để thực hiện các hoạt động khác nhau như vui chơi, nghĩ ngơi thư giản, giao lưu, tổ chức các hoạt động cộng đồng, nhóm Các không gian này mang lại lợi ích vô cùng to lớn, nó giúp cho người dân sử dụng không gian biển biển một cách tốt nhất, là nơi người già có thể nghĩ ngơi, thư giản, là nơi người trẻ giao lưu, học hỏi, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, rèn luyện thể chất Nói tóm lại, các không gian này đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người dân tại khu vực ven biển

(2) Thu hút khách du lịch, phát triển kinh tế:

Các không gian công cộng ven biển góp phần nâng cao chất lượng của khu vực

DUT.LRCC

Trang 19

ven biển, tạo nên địa điểm thu hút khách du lịch đến với địa phương Bên cạnh đó, nếu

có các không gian công cộng tốt sẽ thúc đẩy việc phát triển các hoạt động thương mại dịch vụ ở các khu vực lân cận, nâng cao giá trị bất động sản tại khu vực ven biển (3) Tạo cảnh quan cho đô thị:

Các không gian ven biển thường có cảnh quan tự nhiên sẵn có, việc tổ chức, sắp xếp lại một cách hợp lý không chỉ góp phần gìn giữ vẽ đẹp sẵn có của các không gian này mà còn tăng giá trị của chúng, đó là những không gian công viên ngập tràn bóng mạt, đó là những quảng trường toáng đãng để ngắm nhìn ánh bình minh tỏa sáng (4) Gìn giữ, bảo vệ môi trường:

Qua việc tổ chức các không gian công cộng như công viên cây xanh, quảng trường góp phần cải tạo khí hậu cho khu vực ven biển, tăng cường mảng xanh cho đô thị, nếu có các giải pháp tổ chức hợp lý sẽ góp phần chống lại các hoạt động biến đổi khí hậu, nước biển dâng, góp phần bảo vệ cho đô thị sống bên trong

(5) Góp phần gìn giữ và phát triển các bản sắc riêng của đô thị biển:

Đến với các đô thị biển, việc tiếp cận các không gian ven biển và biển là không thể thiếu đối với bất kỳ ai Việc xây dựng các không gian này bỡi các nét đặc trưng riêng về văn hóa, lịch sử, tự nhiên và con người của địa phương sẽ góp phần gìn giữ và phát triển các bản sắc riêng này tạo nên những ấn tượng, những kỷ niệm mà các đô thị khác không mang lại

1.3 Các yêu cầu cơ bản khi tổ chức không gian công cộng ven biển

Tổ chức không gian công cộng ngoài trời ven biển phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau:

Các không gian này phải kết hợp hài hòa giữa chức năng và cái đẹp, phải thật sự

có bộ mặt hấp dẫn và đặc biệt các không gian công cộng ngoài trời phải thật sự có tác động tốt đến tâm lý và nhận thức của con người Đó có thể là những điểm nhấn, những không gian mềm, không gian đệm Và tầm nhìn, ánh sáng, màu sắc, cây xanh, mặt nước…

(3) Môi trường sinh thái đô thị:

Trong việc tổ chức không gian ven biển, việc đầu tiên cần lưu ý đó chính là việc bảo tồn những hàng phi lao chắn cát, những hàng dừa và những loại thực vật đặc trưng của khu vực này, cùng với đó là việc tổ chức, sắp xếp lại các không gian xanh khác

DUT.LRCC

Trang 20

nhằm cải thiện vi khí hậu cho khu vực cũng như cả đô thị Ngoài ra, các yếu tố về Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan ven biển, kiến trúc cảnh quan khu vực này cũng phần nào phản ánh được các điều kiện khí hậu trực tiếp ảnh hưởng đến nó

(4) Bản sắc riêng:

Mỗi đô thị luôn có những bản sắc riêng về các yếu tố địa lý, lịch sử và tự nhiên sẵn có Do đó việc tổ chức không gian cảnh quan luôn cần phải để tâm đến việc thể hiện được những bản sắc riêng đó, đây chính là những ấn tượng mang lại lợi thế riêng cho mỗi khu vực

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của các đô thị duyên hải Bắc Trung

Bộ

Bắc Trung bộ là phần phía Bắc của miền Trung Việt Nam, có địa bàn kéo dài từ tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Thừa Thiên Huế, so với các khu vực ven biển khác, thì khu vực Bắc Trung bộ là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai và các hoạt động biến đổi khí hâu, điều này đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành, phát triển kinh tế

- xã hội của các địa phương này so với các khu vực khác ở nước ta như Nam Trung bộ hay Nam bộ, nơi có các đô thị biển thực sự Tuy nhiên, bên cạnh các khó khăn, Bắc Trung bộ cũng được thiên nhiên ưu ái với việc sở hữu các bãi tắm đẹp như Sầm Sơn; Cửa Lò; Đá Nhảy và nguồn hải sản mà không nơi nào có được

Nhìn chung tại nước ta, các đô thị biển thực sự phát triển thường tập trung ở Nam Trung bộ và Nam bộ đất nước như thành phố Đà Nẵng; thành phố Nha Trang và gần đây là thành phố Phan Thiết, các đô thị biển ở Bắc Trung bộ nhìn chung sự phát triển còn nhiều hạn chế so với lợi thế và tiềm năng sẵn có Hiện nay, trong 06 tỉnh thành thuộc vùng Bắc Trung bộ chỉ có 03 đô thị ven biển được công nhận là đô thị loại III trở lên, cụ thể:

1.4.1 Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Thành phố Sầm Sơn được thành lập vào năm 2017 trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Sầm Sơn theo Nghị quyết số 368/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Thành phố hiện là đô thị loại III và là một địa điểm du lịch biển nổi tiếng tại Việt Nam Thành phố Sầm Sơn có vị trí như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Hoàng Hoá;

- Phía Nam và phía Tây giáp huyện Quảng Xương;

- Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ

Trước thế kỷ 20, thành phố Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương và chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm (Sầm Sơn), địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng

DUT.LRCC

Trang 21

gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ) Từ năm 1907, người Pháp đã nhận thấy và bắt đầu khai thác giá trị du lịch của bãi biển Sầm Sơn để xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ người Pháp và vua quan Triều Nguyễn Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của du lịch Sầm Sơn

Trước Cách mạng tháng Tám (năm 1945), vùng đất Sầm Sơn thuộc tổng Giặc Thượng, sau đổi là Kính Thượng, rồi Cung thượng

Sau Cách mạng tháng Tám, vùng đất Sầm Sơn được đặt tên mới là xã Lương Niệm, thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá

Ngày 19 tháng 4 năm 1963, Hội đồng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Quyết định số 50/CP thành lập thị trấn Sầm Sơn bao gồm khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn

Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18 tháng 12 năm 1981 theo Quyết định số 157-HÐBT trên cơ sở tách thị trấn Sầm Sơn và 3 xã: Quảng Tường, Quảng Cư, Quảng Tiến và xóm Vinh Sơn (xã Quảng Vinh) thuộc huyện Quảng Xương

Ngày 23 tháng 4 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 378/QĐ-BXD công nhận thị xã Sầm Sơn là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Thanh Hóa Ngày 14 tháng 5 năm 2015, thị xã Sầm Sơn được mở rộng thêm trên cơ sở sáp nhập thêm 6 xã: Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Hùng, Quảng Đại thuộc huyện Quảng Xương

Ngày 19 tháng 4 năm 2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 368/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập các phường Quảng Cư, Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh thuộc thị xã Sầm Sơn và thành phố Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa Theo đó, chuyển 4 xã: Quảng Châu, Quảng Cư, Quảng Thọ, Quảng Vinh thành 4 phường có tên tương ứng và chuyển thị xã Sầm Sơn thành thành phố Sầm Sơn

Thành phố Sầm Sơn có 44,94 km² diện tích tự nhiên và 172.350 nhân khẩu với

11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 8 phường và 3 xã Như vậy, Sầm Sơn là thành phố có diện tích nhỏ nhất hiện nay tại Việt Nam

(Nguồn: Tham khảo trang web: www.wikipedia.org)

1.4.2 Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

Thị xã Cửa Lò nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 16km

về phía Tây, Thị xã nằm giữa hai con sông lớn là sông Cấm ở phía bắc và sông Lam ở phía nam Cửa Lò nổi tiếng với bãi biển, khu nghỉ mát và cảng biển sầm uất, vị trí địa

lý như sau:

- Phía Đông giáp biển Đông;

- Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc;

- Phía Nam giáp huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

DUT.LRCC

Trang 22

Dựa vào những di chỉ và dấu vết cổ sử - khảo cổ học, các nhà sử học thuộc Viện

Sử học Việt Nam đã thống nhất rằng, từ xa xưa nơi đây là một trong nhiều địa điểm tụ

cư của các nhóm dân có nguồn gốc Mã Lai - Đa Đảo Cửa Lò thật ra là một địa danh Việt hóa từ Kuala (tiếng Malay: Bãi bồi có nhiều cát sỏi) Tuy nhiên có nơi ghi là

Lò là tên Nôm của Hoàng La, tục gọi là làng Lò, một ngôi làng cổ của Diễn Châu Ngày 29-8-1994, tách toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Cửa

Lò và 4 xã: Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Hòa, Nghi Hải; 50 ha diện tích tự nhiên và 2.291 nhân khẩu của xã Nghi Quang thuộc huyện Nghi Lộc để thành lập thị xã Cửa

Lò Khi mới thành lập, thị xã có 5 phường: Nghi Hải, Nghi Hòa, Nghi Tân, Nghi Thủy, Thu Thủy và 2 xã: Nghi Hương, Nghi Thu Trong đó 3 phường: Nghi Tân, Nghi Thủy, Thu Thủy được thành lập trên cơ sở giải thể thị trấn Cửa Lò; 2 phường Nghi Hải

và Nghi Hòa được thành lập trên cơ sở 2 xã có tên tương ứng

Ngày 12 tháng 3 năm 2009, thị xã Cửa Lò được công nhận là đô thị loại III Ngày 30-9-2010, chuyển 2 xã Nghi Hương và Nghi Thu thành 2 phường có tên tương ứng Thị xã Cửa Lò hiện nay có 7 phường với tổng diện tích là 27,81 km²và dân

- Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch;

- Phía Nam giáp huyện Quảng Ninh;

- Phía Đông giáp biển;

- Phía tây giáp huyện Bố Trạch, huyện Quảng Ninh

Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Quảng Bình Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thành phố Đồng Hới vẫn không ngừng phát triển Trong thời kỳ 1964 - 1975, cùng với Quảng Bình, Đồng Hới vừa là tuyến đầu đánh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng, nơi đã có những phong trào “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu, tiếc xương”, “chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi”… những tên làng, tên đất, tên người như: dòng Nhật Lệ, Trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em bé Bảo Ninh; các anh hùng: Quách Xuân Kỳ, Trương Pháp, Lê Trạm, Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Thị Khứu, Phạm Dung Hạnh, Phạm Thị Nghèng… đã đi vào lịch sử

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, năm 1976 tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, thành phố Đồng Hới chỉ giữ vai trò trung tâm kinh tế văn hoá của

DUT.LRCC

Trang 23

các huyện, khu vực phía Bắc Sau ngày tái lập tỉnh Quảng Bình (tháng 7/1989), Đồng Hới trở lại vai trò là trung tâm tỉnh lỵ, nơi có vai trò là động lực phát triển của cả tỉnh Đồng thời xây dựng thành phố Đồng Hới theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đô thị hạt nhân, tác động thúc đẩy tiến trình đô thị hoá trên địa bàn toàn tỉnh

Ngày 28/10/2003 Bộ Xây dựng có quyết định công nhận Đồng Hới là đô thị loại III và chỉ 10 tháng sau, ngày 16/8/2004, Chính phủ đã có Nghị định thành lập thành phố Đồng Hới trực thuộc tỉnh Quảng Bình Đây là niềm tự hào và vinh dự lớn, là mốc son quan trọng đánh dấu quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân thành phố Đồng Hới nói riêng, tỉnh Quảng Bình nói chung, đồng thời là động lực thúc đẩy đảng bộ, quân và dân thành phố tiếp tục phấn đấu xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh

Trên đà phát triển, đến ngày 30 tháng 7 năm 2014, Thành phố Đồng Hới đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1270/QĐ-TTg công nhận là đô thị loại

II trực thuộc tỉnh Quảng Bình

Hiện nay, thành phố Đồng Hới bao gồm 10 phường và 06 xã với Tổng diện tích 155,71 km², nội thị là 55,47 km², diện tịch đất ngoại thị là 100,24 km²; Tổng dân số năm 2013 là 160.000 người, dân số thành thị là 120.000 người, nông thôn là 40.000 người

Có thể nói, các đô thị ven biển Bắc Trung bộ đều đa phần là các đô thị trẻ, đã và đang phát triển, với quá trình phát triển trãi qua nhiều khó khăn từ chiến tranh cho đến thiên tai lũ lụt đã hình thành nên những đô thị thích nghi dần với các điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu Với các lợi thể sẵn có, các đô thị này có tiềm năng phát triển rất lớn, do đó cần có sự đầu tư nghiên cứu, tổ chức thực hiện công tác quy hoạch, tổ chức lại các không gian ven biển nhằm khơi dậy tiềm năng của các đô thị này

(Nguồn: Tham khảo trang web: www.wikipedia.org)

1.5 Thực trạng các không gian quảng trường và công viên biển tại các đô thị duyên hải Bắc Trung bộ

1.5.1 Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Nói đến thành phố Sầm Sơn chúng ta có thể hình dung đến ngay đến một thành phố ven biển, sở hữu một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam, do đó thành phố Sầm Sơn nằm trong chiến lược phát triển du lịch, kinh tế văn hóa, theo định hướng trở thành đô thị du lịch cấp quốc gia Đây cũng là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa, tác động đến phát triển vùng Bắc Trung Bộ và cả nước

Hiện nay, tại bờ biển Sầm sơn, ngoài các khu vực được quy hoạch xây dựng khu

du lịch nghĩ dưỡng thì hiện trạng các khu vực khác hiện chưa được đầu tư, tổ chức một cách bài bản Dọc theo tuyến đường ven biển Hồ Xuân Hương các không gian công

DUT.LRCC

Trang 24

cộng hiện chỉ là các không gian tự có, đó là những khoảng không tập trung đông người tại nơi giao nhau của những tuyến đường giao thông khác với đường Hồ Xuân Hương, hay tại những hàng cây dừa, phi lao tự nhiên sẵn có

Hình 1.2 Bãi biển thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

(Nguồn: trang web: www.wikipedia.org)

Trên cơ sở quy hoạch chung đô thị Sầm Sơn đến năm 2040 được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tại Quyết định số 2525/QĐ-UBND ngày 17/7/2017, ngày 04/7/2018 UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu đô thị sinh thái, nghĩ dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp và du lịch biển Sầm Sơn làm cơ sở

để thực hiện dự án Quảng Trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố Sầm Sơn và khu đô thị sinh thái nghĩ dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp và du lịch biển Sầm Sơn giai đoạn 1 được triển khai với diện tích 495,6ha Cụ thể, UBND thành phố Sầm Sơn cho biết trong quý III/2019 sẽ triển khai khởi công dự án này, theo đó Quảng trường biển với quy mô 2,02ha sẽ được triển khai xây dựng

Hình 1.3 Quy hoạch chi tiết quảng trường biển thành phố Sầm Sơn

(Nguồn: trang web“www.truyenhinhthanhhoa.vn”)

DUT.LRCC

Trang 25

Nhìn chung thực trạng không gian quảng trường và công viên biển thành phố Sầm Sơn hiện nay chỉ là các không gian tự phát, chưa được tổ chức xây dựng Tuy nhiên, chính quyền địa phương đã có sự quan tâm đến vấn đề này qua việc lập quy hoạch và có kế hoạch triển khai xây dựng dự án tại khu vực ven biển, trong đó có quảng trường biển

Hình 1.4 Quảng trường Bình Minh

(Nguồn: trang web“www.tienphong.vn”)

Bên cạnh đó, dọc theo tuyến đường Bình Minh ven biển rộng 28m, kéo dài hơn 9km là các không gian xanh, liền kề phía Tây Bắc quảng trường Bình Minh được bố trí công viên biển với diện tích khoảng 1,5ha bố trí cây xanh vườn hoa kết hợp đường dạo bộ, kết hợp với quảng trường Bình Minh tạo nên một không gian sống phục vụ nhu cầu của người dân địa phương cũng như khách du lịch khi đến biển Cửa Lò

DUT.LRCC

Trang 26

Hình 1.5 Công viên biển Sầm Sơn

(Nguồn: trang web“www.cualo.vn”)

Vào thời điểm cuối tháng 4, đầu tháng 5, thời điểm bắt đầu của mùa du lịch cũng

là lúc mà vùng bờ biển Cửa Lò ngập tràn sắc vàng, sắc cam rực rỡ của loài hoa cúc biển Các khu vực này được tổ chức để hình thành nên các công viên hoa cúc biển đặc trưng của biển Cửa Lò Các không gian này là nơi mà mọi người đến để thư giãn, nghĩ ngơi cũng như lưu lại những hình ảnh mà chỉ nơi đây mới có

Hình 1.6 Công viên Hoa cúc biển

(Nguồn: trang web“www.baonghean.vn”)

DUT.LRCC

Trang 27

Có thể nói, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là một đô thị sớm nhìn nhận được lợi thế

và tầm quan trọng của biển, sử dụng các không gian ven biển một các có tổ chức Trong tương lai, khi mà thành phố Vinh mở rộng, nâng cấp thành đô thị loại I, biển Cửa Lò sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trong trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và các không gian Quảng trường; công viên cây xanh này chính là những nét đặc trưng, quan trọng không thể thiếu

1.5.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình:

Thành phố Đồng Hới có thể coi là đô thị biển phát triển nhất tại khu vực Bắc Trung bộ, thành phố hiện là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Bình Với lợi thế thành phố 2 bên bờ sông, lại có đường bờ biển tiếp giáp kéo dài, thành phố Đồng Hới có nhiều nét tương đồng với thành phố Đà Nẵng, một thành phố đáng sống Tuy nhiên, không gian ven biển của thành phố Đồng Hới mới chỉ thực sự được chú trọng hơn trong những năm gần đây

Tại khu vực ven biển trên tuyến đường Trương Pháp hiện nay hầu như chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ lưu trú và nhà hàng, các không gian công cộng phục vụ cho người dân như công viên cây xanh, quảng trường chưa được tổ chức bố trí, chính quyền địa phương trong thời gian qua chỉ mới thực hiện được công tác sắp xếp, chỉnh trang lại khu vực các nhà hàng chứ chưa thực hiện bố trí, xây dựng công trình công cộng phục vụ cho cộng đồng

Hình 1.7 Không gian ven biển Nhật Lệ

(Nguồn Tác giả)

DUT.LRCC

Trang 28

Các không gian công cộng được thành phố định hướng xây dựng tại khu vực biển thuộc xã Bảo Ninh, trên cơ sở các quy hoạch đã được phê duyệt, năm 2014, thành phố Đồng Hới đã đầu tư xây dựng quảng trường biển Bảo Ninh với diện tích hơn 1ha, đi kèm với quảng trường là 02 công viên cây xanh với diện tích gần 03 ha với mục đích xây dựng một không gian công cộng tạo điểm nhấn cho đô thị tại vị trí cuối trục đường Trần Hưng Đạo rộng 36m Tuy nhiên hiện nay, mới chỉ quảng trường được đầu tư xây dựng, công viên cây xanh thì vẫn là bãi đất trống, dẫn đến cảnh quan khu vực này còn hạn chế, đa phần phục vụ cho các hoạt động của người dân địa phương, chưa có nét đặc sắc, dấu ấn riêng để thu hút khách du lịch

Hình 1.8 Quảng trường Biển Bảo Ninh

(Nguồn Tác giả)

Theo quy hoạch phân khu xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỷ lệ 1/2000 thì cuối tuyến đường đi qua cầu Nhật Lệ 2 sẽ bố trí thêm một quảng trường biển với diện tích 2,53ha Tuy nhiên đến nay, mới cơ bản thực hiện xong phần giao thông kết nối Không gian công công ven biển tại thành phố Đồng Hới hiện nay chưa được chú trọng đúng mức, chưa đáp ứng được hết nhu cầu của người dân địa phương, chưa thu hút được khách du lịch

1.5.4 Đánh giá chung về hiện trạng không gian công cộng tại các đô thị ven biển Bắc Trung bộ:

Không gian công cộng, cụ thể là quảng trường và công viên biển tại các đô thị khu vực Bắc Trung bộ còn hạn chế, chưa được đầu tư đúng mức, ngoại trừ thị xã Cửa

Lò, thành phố Vinh đã và đang xây dựng được những không gian công cộng này một cách đúng nghĩa, thể hiện được vai trò của không gian công cộng ven biển đối với sự phát triển của địa phương, các đô thị còn lại hầu như còn thiếu hoặc chưa được tổ chức đúng cách

Tại 02 địa phương là thành phố Sầm Sơn và thành phố Đồng Hới chỉ mới tổ chức được các tuyến đường giao thông tiếp giáp, cảnh quan và các không gian công cộng

DUT.LRCC

Trang 29

ven biển vẫn mới chỉ dựa trên điều kiện tự nhiên sẵn có, có rất ít sự đầu tư vào các không gian này Trường hợp thành phố Đồng Hới, tuy là đô thị loại II nhưng các khu vực ven biển chưa được chú trọng đầu tư, phía Bờ biển Nhật Lệ, tuy địa phương đã lập quy hoạch chi tiết và tổ chức chỉnh trang lại khu vực các nhà hàng ven biển còn các không gian công cộng chưa được đầu tư tại đây; phía bờ biển Bảo Ninh đã được đầu tư xây dựng quảng trường biển vào năm 2014, tuy nhiên quảng trường này chỉ mới giải quyết được vấn đề làm điểm nhấn cho cuối trục đường Trần Hưng Đạo chứ chưa thật

sự là một không gian công cộng đóng góp nhiều ý nghĩa, một phần do khu vực này còn thiếu đi các khu chức năng khác, dẫn đến sự thiếu đa dạng trong các hoạt động công cộng ngoài trời

Nhìn chung, so sánh với các đô thị biển phát triển như thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang thì các khu vực ven biển của các đô thị khu vực Bắc Trung bộ còn một khoảng cách lớn

Trong những năm gần đây, vấn đề này đã được chú trọng thực hiện, đã có các quy hoạch, các dự án được đầu tư xây dựng tại khu vực ven biển và các không gian công cộng như quảng trường, công viên biển là những thành phần không thể thiếu

1.6 Kết luận chương 1

Qua tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của các không gian công cộng trên thế giới cũng như trong nước cũng như đánh giá được tình hình phát triển của các công trình này tại khu vực nghiên cứu đã xác định được những vai trò cũng như các yêu cầu cơ bản của việc tổ chức không gian công công ngoài trời ven biển, từ đó rút ra được những vấn đề cần nghiên cứu sau:

(1) Địa điểm bố trí các không gian công cộng: Các không gian công cộng nói chung và quảng trường, công viên biển nói riêng đều được ưu tiên tại các vị trí để dễ dàng tiếp cận nhất, nó thường được bố trí tại điểm cuối của các trục đường chính của

đô thị kết nối với biển, nơi giao nhau với tuyến đường ven biển Cùng với các công trình kiến trúc đi kèm, nó đóng vai trò như là một điểm nhấn cuối tuyến đường Ngoài

ra, cần cân nhắc bố trí các không gian này liên kết với nhau tạo sự đa dạng trong chức năng sử dụng, phù hợp với nhu cầu của người sử dụng chúng

(2) Hình thái tổ chức không gian: Đó chính là yếu tố thẩm mỹ trong thiết kế cảnh quan cho công trình công cộng, tạo nên sự thu hút, nét đặc sắc riêng gắn liền với đô thị đó

(3) Gìn giữ và khai tác các yếu tố tự nhiên hiện trạng: Tại khu vực ven biển, các

yếu tố như địa hình, thực vật, mặt biển…tạo nên bản sắc khu vực, hệ thực vật tại khu vực biển Bắc Trung bộ đa phần là các dãy phi lao chắn gió lâu năm, đặc biệt hơn như tại khu vực Cửa Lò là loài hoa cúc biển Do vậy trong việc tổ chức không gian công cộng ven biển cần gìn giữ và khai thác hợp lý các giá trị tư nhiên sẵn có này

(4) Đa dạng trong chức năng: Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc tổ

DUT.LRCC

Trang 30

chức không gian công cộng ven biển Mỗi người, tùy theo lứa tuổi, tùy theo tính cách, tâm trạng sẽ tìm đến không gian này với những mục đích khác nhau Một số không gian ven biển tại Bắc Trung bộ do hạn chế về chức năng sử dụng nên càng ngày càng

ít được quan tâm, sử dụng Do vậy, cần phải nghiên cứu tổ chức được các không gian

đa dạng về sử dụng, bao gồm các không gian chung, các không gian riêng và các không gian hỗn hợp để đáp ứng nhu cầu của con người

(5) Thích ứng với điều kiện khí hậu và thời tiết: Thời tiết của khu vực Bắc Trung

bộ khắc nghiệt hơn so với các khu vực khác, khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa, lại thường xuyên hứng chịu các đợt bão và nguy cơ biến đổi khí hậu, nước biển dâng Do vậy, việc tổ chức cần cân nhắc các điều kiện này để bố trí

hệ thực vật, vị trí không gian, vật liệu công trình phù hợp Ngoài ra cần nghiên cứu các phương án cho các công trình để thích nghi với điều kiện khí hậu của khu vực biên Bắc Trung bộ Điều này sẽ giúp gia tăng thời gian sử dụng của con người, cũng như giúp các không gian này tồn tại và thích nghi với các điều kiện khí hậu

(6) Các dịch vụ đi kèm: Tại các không gian công cộng này cần cân nhắc bố trí xen lẫn thêm các chức năng khác để nâng cao chất lượng phục vụ cộng đồng như giải khát, vui chơi giải trí…

DUT.LRCC

Trang 31

CHƯƠNG 2 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN QUẢNG TRƯỜNG VÀ CÔNG VIÊN BIỂN CHO CÁC ĐÔ THỊ

DUYÊN HẢI BẮC TRUNG BỘ

2.1 Cơ sở lý thuyết cho việc tổ chức không gian quảng trường và công viên biển

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến không gian công cộng ngoài trời ven biển

2.1.1.1 Khái niệm khu vực ven biển:

Khu vực ven biển là nơi tương tác giữa biển và đất liền, bao gồm các môi trường ven bờ cũng như vùng nước kế cận Khái niệm khu vực ven bờ biển thường được xác định một cách tùy tiện, khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp

lý và ranh giới hành chính Ngoài ra, còn có những sai khác về địa văn, sinh thái và kinh tế giữa các vùng khác nhau, do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về khu vực ven bờ biển Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét Giới hạn nghiên cứu của đề tài là các không gian mở tại khu vực ven biển, do đó việc việc xác định phạm vi nghiên cứu có vị trí tại đường bờ biển, ranh giới về mặt không gian là phần đất liền sát bờ biển tính từ mức thủy triều đến tuyến đường giao thông liền kề

2.1.1.2 Khái niệm không gian công cộng ngoài trời:

Không gian công cộng có nguồn gốc từ phương Tây, được xuất hiện đầu tiên thời

Hy Lạp cổ đại với những Agora (quảng trường công cộng, chợ, sảnh hội họp,…) Thời

cổ đại La Mã, các forum (quảng trường lớn) gắn liền với những con đường giao nhau, nơi diễn ra các hoạt động công cộng Có thể hiểu không gian công cộng là không gian chung của mọi người là nơi diễn ra những hoạt động chung của cộng đồng như nghỉ ngơi thư giãn, vui chơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng và tương tác xã hội…Không gian công cộng bao gồm không gian công cộng bên trong công trình và không gian công cộng ngoài trời

Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến 02 loại hình không gian công cộng ngoài trời là quảng trường và công viên

2.1.1.3 Khái niệm quảng trường:

Quảng trường là không gian hoạt động công cộng ngoài trời của đô thị, được tạo nên bởi các sự kết hợp hoặc hạn định của kiến trúc thích hợp xung quanh, gắn kết với mạng lưới giao thông, kết nối những thành tố độc lập thành một tổng thể Đây là nơi diễn ra các hoạt động chính trị, là nơi tổ chức các lễ hội, vui chơi, biểu diễn, giao tiếp,

DUT.LRCC

Trang 32

2.1.1.4 Khái niệm công viên

Công viên là một từ Hán – Việt, có nghĩa là một khu vườn công cộng, bao gồm các nguồn thiên nhiên tự có hoặc nhân tạo, là nơi vui chơi, giải trí, nghĩ ngơi của cộng đồng

2.1.2 Các khái niệm về kiến tạo không gian kiến trúc cảnh quan

2.1.2.1 Cảnh quan

Cảnh quan là không gian chứa đựng vật thể nhân tạo, thiên nhiên và những hiện tượng xảy ra trong quá trình tác động giữa chúng với nhau và giữa chúng với bên ngoài

2.1.2.2 Cảnh quan thiên nhiên

Cảnh quan thiên nhiên là một bộ phận của bề mặt trái đất, có những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, động thực vật

2.1.2.3 Cảnh quan nhân tạo

Cảnh quan nhân tạo là cảnh quan được hình thành do hệ quả của quá trình tác động của con người làm biến đổi cảnh quan thiên nhiên

2.1.2.4 Kiến trúc cảnh quan

Kiến trúc cảnh quan là hoạt động có định hướng của con người tác động vào môi trường nhân tạo để làm cân bằng mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo, nhằm mang lại sự tiện nghi trong sử dụng, môi trường trong lành và có giá trị thẩm mỹ nhất định

2.2 Cơ sở pháp lý

Hiện nay ở nước ta, các quy định về thiết kế đô thị đã được quy định trong các đồ

án quy hoạch chi tiết, cụ thể là tại Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ban hành ngày 17/6/2009, trong thời gian qua đã được điều chỉnh tại Luật số 35/2018/QH14 Ban hành ngày 20/11/2018 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch; Văn bản hợp nhất số 49/VBHN-VPQH năm 2018 do Văn phòng Quốc hội ban hành hợp nhất Luật Quy hoạch đô thị; trên cơ sở đó Chính phủ và Bộ Xây dựng đã có những văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện, cụ thể:

- Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ về việc Lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị Nghị định này đã quy định cụ thể các nội dung về lập, thẩm định, trong đó phân định rõ chức năng nhiệm vụ của các cấp

có liên quan, năng lực của đơn vị tư vấn cũng như nội dung của các đồ án quy hoạch là

DUT.LRCC

Trang 33

quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết;

- Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về việc về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị Nghị định quy định cụ thể về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan tại các khu vực trong đô thị đồng thời quy định quyền, nghĩa

vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị;

- Nghị định số 39/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về việc về quản lý dụng và về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị, trong đó khái quát những quy định về quản ý không gian xây dựng ngầm tại các đô thị ở Việt Nam;

- Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng, Nghị định này đã đề cập đến nội dung lấy

ý kiến của người dân cho các đồ án quy hoạch khu chức năng đặc thù;

- Nghị định số 72/2019/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/8/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị và nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng;

- Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD về việc ban hành Quy chuẩn Việt Nam số 01/2008/BXD, trong đó quy định chi tiết các nội dung về mật độ xây dựng, chiều cao công trình, khoảng cách công trình…

- Quyết định số 1538/QĐ-UBND ngày 06/7/2012 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Đồng Hới và vùng phụ cận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035;

- Quyết định số 1174/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng khu vực phía Đông tuyến đường 60m xã Bảo Ninh;

- Quyết định số 2849/QĐ-UBND ngày 18/11/2013 của UBND tỉnh Quảng Bình

về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phân khu phía Bắc xã Bảo Ninh;

- Quyết định số 3678/QĐ-UBND ngày 17/12/2014 của UBND tỉnh Quảng Bình

về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu vực hai bên tuyến đường 36m xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới (đoạn từ đường qua cầu Nhật Lệ I đến đường quy hoạch 32m thôn Sa Động), tỷ lệ 1/500;

- Quyết định số 3039/QĐ-UBND ngày 28/10/2014 của UBND tỉnh Quảng Bình

về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu dân cư thôn Sa Động, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỷ lệ 1/500;

DUT.LRCC

Trang 34

2.3 Tổng quan về phần mềm space syntax

2.3.1 Lý thuyết của Christopher Alexander về ngôn ngữ kiểu mẫu và tính toàn thể

Christopher Alexander là một nhân vật kiệt xuất trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch đô thị và khoa học máy tính trong thời đại chúng ta Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu ông còn là tác giả của hơn 200 công trình kiến trúc trên các châu lục, với quy mô từ nhà ở đến những khu đại học hay các cộng đồng rộng lớn Phương pháp generative của ông chú trọng đến sự phát triển từng bước của cấu trúc đô thị, coi trọng sự phát triển của cái toàn thể trong đó số lượng và chất lượng của các trường trung tâm có tính quyết định Hai khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của quá trình generative là ngôn ngữ kiểu mẫu và tính toàn thể

(1) Ngôn ngữ kiểu mẫu:

Christopher Alexander và đồng sự (1977) cho rằng kiến trúc và các thành phần

đô thị được tạo nên bởi các kiểu mẫu Đó chính là các giải pháp không gian và xã hội cho những vấn đề kiến trúc và quy hoạch Các kiểu mẫu được tổ chức trong một hệ thống kết nối với nhau và mang tính tầng bậc, hệ thống này cho phép tạo nên một số lượng vô hạn các cách phối hợp Một tập hợp các thực thể với kiểu trật tự như vậy gọi

là ngôn ngữ kiểu mẫu

(2) Tính toàn thể:

Các thành phần cụ thể, mang tính cục bộ tồn tại chủ yếu trong mối quan hệ với toàn thể, hành vi, cũng như tính chất và cấu trúc của chúng được xác định bởi cấu trúc toàn thể bao trùm Alexander cho rằng cái toàn thể là tính chất của một cấu trúc sở hữu những liên hệ toàn cục giữa các thành phần của cấu trúc và các thực thể khác trong khi duy trì mức độ trật tự và cố kết (coherence) cao bên trong bản thân cấu trúc

2.3.2 Ngôn ngữ kiểu mẫu và xây dựng ngôn ngữ kiểu mẫu

Cấu trúc điển hình của một kiểu mẫu:

- Tên: Tên của kiểu mẫu thường mang tính chất mô tả, nêu rõ bản chất của giải

pháp không gian mà kiểu mẫu mang đến

- Hình minh hoạ kiểu mẫu

- Liệt kê các kiểu mẫu trước Các kiểu mẫu này là các kiểu mẫu lớn mà kiểu mẫu

đang xét có nhiệm vụ hỗ trợ

- Vấn đề gặp phải: Nêu lên vấn đề gặp phải và nhiệm vụ mà kiểu mẫu phải giải

quyết

- Phân tích: Phân tích vấn đề dựa trên quan sát hoặc các bằng chứng khoa học

Việc phân tích này nhằm đưa ra giải pháp không gian

- Giải pháp: Là phần tiếp nối của phân tích và thường bắt đầu bằng cụm từ “vì

thế” Phần này đưa ra giải pháp không gian cho vấn đề dựa trên phân tích trước và

DUT.LRCC

Trang 35

thường kèm theo hình minh hoạ giải pháp

- Các kiểu mẫu theo sau: Nêu lên các kiểu mẫu theo sau

2.3.3 Lý thuyết của Bill Hillier và các cộng sự về Space Syntax

Space Syntax là một công cụ phân tích Các lý thuyết về không gian được đưa vào phần mềm máy tính, sự liên kết giữa “cú pháp không gian – Space Syntax” với các

mô phỏng đồ họa cùng với những thuật toán sẽ đưa ra các dữ liệu đầu ra cho các nhà nghiên cứu và thiết kế, nhằm hiện thực hoá lý thuyết mới về sự logic giữa không gian

đô thị và cuộc sống xã hội Giúp nghiên cứu sâu rộng về bản chất cốt lõi của không gian và sự vận hành của các công trình và đô thị, nhằm mở rộng phạm vi ứng dụng trong thiết kế kiến trúc và thiết kế đô thị

Phương pháp Space Syntax phân tích mối quan hệ không gian và tất cả các thành phần khác trong mạng lưới thông qua các thuật toán Giao thông trong đô thị được xem như mạch máu của thành phố và tạo ra các kiểu thức giao tiếp của con người Có

2 thuộc tính chủ chốt của không gian là di chuyển tới và di chuyển qua

- Sự lựa chọn một điểm đến từ một nơi đi (origin) Quyết định sẽ đi đến đâu, ta gọi đó là thành tố “di chuyển tới” của chuyến đi

- Sự lựa chọn không gian để đi qua trong quá trình di chuyển đến đích: lựa chọn tuyến Các nhà nghiên cứu gọi đó là thành phần “di chuyển qua” của chuyến đi Địa điểm nào có khả năng tiếp cận càng cao càng nhận được nhiều sự di chuyển

Chính vì vậy cần nghiên cứu kỹ bố cục không gian đó là yếu tố quan trọng trong thiết kế tác động đến hành vi của con người nhằm có định hướng tốt và khai thác hiệu quả các thuộc tính xã hội, kinh tế và môi trường tạo động lực cho sự phát triển toàn diện của đô thị

2.3.4 Khả năng ứng dụng ngôn ngữ kiểu mẫu và Space Syntax trong thiết kế Không gian công cộng

Không gian công cộng chưa có một quy chuẩn hay khái niệm cụ thể trong hệ thống quy hoạch và thiết kế chính thống của Việt Nam Chính vì vậy, việc đầu tiên là tạo ra các kiểu mẫu dựa trên điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội và nhu cầu của người dân, sau đó xây dựng mội liên hệ giữa các kiểu mẫu, thông qua các phép thử và sai, liên tục tiến hoá để hoàn thiện Từ đó, đề xuất một hệ thống kiểu mẫu phù hợp nhất với địa phương, thay vì kế thừa các quy chuẩn thiết kế của các địa phương khác một cách máy móc

Với điều kiện về quy mô, tài chính và đa dạng về đặc điểm của Không gian công cộng khu vực trung tâm thành phố Đồng Hới, việc thiết kế theo ngôn ngữ kiểu mẫu có tính khả thi cao vì mỗi kiểu mẫu có mối quan hệ nửa tầng bậc với các kiểu mẫu khác, người thiết kế có thể linh hoạt thêm, bớt liên kết các kiểu mẫu phù hợp với từng không gian, từng điều kiện cụ thể

DUT.LRCC

Trang 36

Dựa vào kết quả đánh giá Space Syntax thực trạng giao thông trong đô thị được phản ánh tương đồng với thực tiễn, việc sử dụng phương pháp này nhằm rút ngắn thời gian khảo sát, phát hiện nhanh những điểm bất cập Giai đoạn đề xuất phương án sẽ có tính khả thi cao nhờ việc giả định phương án, chạy kiểm tra tính hiệu quả của phương

án, lặp lại liên tục cho đến khi cho kết quả tối ưu nhất Với công việc như vậy nếu kiểm chứng bằng thực nghiệm sẽ mất rất nhiều kinh phí và kéo dài nhiều năm để có thể cho ra kết quả tương tự

2.3.5 Một số ví dụ điển hình về việc ứng dụng Space Syntax vào vấn đề giao thông đô thị

Hình 2.1 Sử dụng Space Syntax để đánh giá về vấn đề giao thông đô thị tại

thành phố Đà Nẵng

(Nguồn: spacesyntax.com)

Hình 2.2 Sử dụng phần mềm Space Syntax để tư vấn quy hoạch các thành phố mới

và không gian công cộng ở London

(Nguồn: spacesyntax.com)

DUT.LRCC

Trang 37

Hình 2.3 Áp dụng Space Syntax để thực hiện phân tích chiến lược về các đề xuất

thiết kế mạng lưới giao thông ở Chengdu, Wenjiang

(Nguồn: spacesyntax.com)

Ứng dụng phần mềm Space Syntax để đánh giá chất lượng về các yếu tố giao thông, tầm nhìn, khả năng tiếp cận của các phương án tổ chức không gian quảng trường, công viên biển từ đó có được sự đánh giá mang tính định lượng về việc bố trí,

tổ chức quảng trường, công viên biển

2.4 Các cơ sở về điều kiện tự nhiên của khu vực Bắc Trung bộ

2.4.1 Vị trị địa lý và giới hạn lãnh thổ

Bắc Trung bộ là vùng lãnh thổ kéo dài trên nhiều vĩ độ, từ dãy núi Tam Điệp đến dãy núi Bạch Mã, có tổng diện tích tự nhiên là 51.513km2 bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, có ranh giới như sau:

- Phía Tây giáp dãy núi Trường Sơn Bắc, giáp với Lào;

- Phía Đông giáp biển Đông;

- Phía Bắc giáp vùng đồng bằng sông Hồng;

- Phía Nam giáp vùng duyên hải Nam Trung bộ

Bắc Trung bộ nằm trên trục đường giao thông xuyên Việt (quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất) có nhiều tuyến đường ngang Đông – Tây từ cảng biển đến nước bạn Lào như đường số 7, số 8, số 9

2.4.2 Địa hình

Phía Tây là vùng núi gò đồi thuộc dãy Trường Sơn Bắc, tiếp đến là dải đồng bằng nhỏ hẹp, ở giữa và cuối cùng là dải cát, cồn cát ven biển

DUT.LRCC

Trang 38

Lãnh thổ hẹp, ngang Địa hình bị chia cắt bởi các con sống và dãy núi đâm ngang

ra biển Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi, sườn Đông hướng ra biển có độ dốc lớn, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt, sông suối dốc chảy xiết thường gây ra lũ lụt

2.4.3 Khí hậu

Vùng Bắc Trung bộ thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng khắc nghiệt nhất

so với các vùng trên cả nước, mùa đông ít lạnh nhưng mưa nhiều, mùa hè khô nóng Thường xuyên gánh chịu thiên tai, bão lụt, gió phơn Tây Nam và hạn hán

2.5 Các cơ sở về kinh tế - văn hóa – xã hội của khu vực Bắc Trung bộ

- Hệ thống giao thông vận tải có ý nghĩa kinh tế và quốc phòng đối với toàn vùng

và cả nớc, trung chuyển hàng hóa, dịch vụ du lịch;

- Có nhiều thắng cảnh, di sản thiên nhiên, đường bờ biển kéo dài với nhiều bãi tắm đẹp, có nhiều lợi thế để phát triển du lịch

2.5.2 Văn hóa – xã hội

Bắc Trung bộ là địa bàn cư trú của 25 dân tộc, chủ yếu là người Kinh sống ở đồng bằng ven biển, vùng núi gò đồi phía Tây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người chủ yếu là Thái, Mường, Tày, Mông, Bru – Vân Kiều,…

Đời sống người dân nhất là vùng cao, biên giới, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn, trên một số chỉ tiêu phát triển dân cư xã hội, Bắc Trung bộ vẫn là vùng khó khăn của

cả nước Tuy nhiên, người dân Bắc Trung bộ có truyền thống hiếu học, có trình độ học vấn tương đôi cao; Bản chất cần cù, chịu khó, dũng cảm giàu nghị lực đối phó với thiên nhiên và giặc ngoài xâm

Bắc Trung bộ cũng có nhiều di tích gắn liền với lịch sử, văn hóa và di sản thế giới (cố đô Huế; Phong Nha – Kẻ Bàng…)

(Nguồn: tham khảo trang webwww.vungoi.vn)

2.5.3 Cơ sở bản đồ

- Bản đồ điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Đồng Hới và vùng phụ cận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035;

DUT.LRCC

Trang 39

- Bản đồ điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng phía Đông tuyến đường rộng 60m xã Bảo Ninh - thành phố Đồng Hới, tỷ lệ 1/2000;

- Bản đồ dự án đầu tư xây dựng tuyến đường 60m xã Bảo Ninh, tỷ lệ 1/500;

- Bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân khu phía Bắc xã Bảo Ninh, tỷ lệ 1/2000;

- Bản đồ quy hoạch chi tiết khu vực hai bên tuyến đường 36m xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới (đoạn từ đường qua cầu Nhật Lệ 1 đến đường quy hoạch 32m thôn Sa Động), tỷ lệ 1/500;

- Bản đồ quy hoạch chi tiết khu dân cư thôn Sa Động xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỷ lệ 1/500;

2.6 Các điều kiện tự nhiên của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Vùng bán sơn địa và đồng bằng: Là một vòng cung gò đồi không cao lắm (độ cao trung bình 10m), bao bọc lấy khu vực đồng bằng từ Đông Bắc - Bắc đến Tây Bắc - Tây Nam và Nam - Đông Nam, bao gồm các xã, phường Bắc Lý, Nam Lý, Nghĩa Ninh, Bắc Nghĩa, Đức Ninh, Đức Ninh Đông, Lộc Ninh và Phú Hải Diện tích đất tự nhiên 6.287ha, chiếm 40,2% so với diện tích toàn thành phố

- Vùng đồng bằng: Thành phố Đồng Hới có vùng đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai kém phì nhiêu; độ cao trung bình 2,1m, dốc về hai phía trục đường Quốc lộ 1A, độ dốc nhỏ, chỉ khoảng 0,2% Diện tích tự nhiên khoảng 576ha, chiếm 3,8% so với diện tích toàn thành phố Đây là nơi tập trung dân cư và các

cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của thành phố

- Vùng cát ven biển: nằm ở phía Đông của thành phố, gồm các xã, phường Bảo Ninh, Quang Phú, Hải Thành, có diện tích 2.198ha, chiếm 14,3% so với diện tích của thành phố Đây là vùng biển vừa bãi ngang vừa cửa lạch; địa hình có những đụn cát cao liên tục (cao nhất 24,13m); giữa các đụn cát thỉnh thoảng có những hồ nước, khe nước ngọt tự nhiên, quanh năm có nước (bàu Tró, bàu Nghị, Bàu Tràm, bàu Thôn, Bàu Trung Bính…)

2.6.2 Khí hậu

Đồng Hới nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Nằm trong đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới nóng ẩm, Quảng Bình có khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam với nét đặc trưng là vào tháng lạnh nhất, nhiệt độ đã vượt quá 18oC Tuy nhiên, do trông cực đới vẫn còn

DUT.LRCC

Trang 40

ảnh hưởng tương đối mạnh, nên vào mùa đông có ngày nhiệt độ xuống khá thấp Đồng Hới có khí hậu đặc trưng của Quảng Bình Nhiệt độ trung bình năm 24,4oC, lượng mưa trung bình từ 1.300 đến 4.000mm, tổng giờ nắng 1.786 giờ/năm,

độ ẩm trung bình trong năm khoảng 84% và thuộc chế độ gió mùa: gió Đông Nam (gió nồm), gió Tây Nam (gió Nam), gió Đông Bắc Mặc dù nằm trong biên độ nhiệt độ cao Tuy nhiên, Đồng Hới nằm tại vị trí thuận lợi là sát biển, lại có các con sông chảy qua điều hoà vi khí hậu thành phố nên xét trên tổng thể khí hậu Đồng Hới dễ chịu hơn Phù hợp cho việc phát triển du lịch

2.6.3 Địa chất

Nền đất xây dựng ổn định, cường độ chịu tải của nền đất tốt (R≥ 1kg/cm2) Mực nước ngầm sâu, trữ lượng ít, các tính chất lý hoá của nước ngầm không ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng

Với điều kiện địa chất ổn định, cường độ chịu tải cao do đó rất phù hợp cho việc xây dựng hệ thống cảnh quan và các công trình ven biển Tránh được chi phí cao khi xây dựng như ở các khu vực khác trong việc xử lý nền đất và móng

2.7 Các cơ sở văn hóa- lịch sử, kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

2.7.1 Cơ sở văn hóa- lịch sử

Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử như Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, thành Nhà Ngô, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, đường Hồ Chí Minh v.v

Là vùng đất đã một thời là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ Quốc Quảng Bình ngày nay còn giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hóa của nhiều thời đại khác nhau Nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, Quảng Bình mang những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa khu vực này Nhiều lễ hội gắn bó với cuộc sống sông nước như lễ hội cầu mùa, lễ cầu ngư Tuy nhiên, Quảng Bình cũng là một địa phương có nhiều dân tộc cư trú, vì vậy truyền thống văn hóa cũng khá phong phú Kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian đa dạng, thể hiện qua nhiều loại nhạc cụ như trống, thanh la, chiên núm, kèn, đàn Đặc biệt trong tỉnh có nhiều làn điệu dân ca khác nhau Hát sim là hình thức hát đối nam nữ của người Bru - Vân Kiều sống ở tỉnh Quảng Bình Người Chứt có làn điệu dân ca Kà-tưm, Kà-lềnh; các truyền thuyết và truyện cổ dân gian dồi dào gồm nhiều đề tài khác nhau; nhạc cụ có khèn bè, đàn ống,

lồ ô, sáo 6 lỗ

Quảng Bình còn là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng như Lễ Thành Hầu,

DUT.LRCC

Ngày đăng: 16/06/2021, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Nguyễn Văn Chương (2009), “Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị”, Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị”, Tạp chí "kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Năm: 2009
[5]. Nguyễn Văn Chương (2009), “Nhận diện nơi chốn trong không gian đô thị”, Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nơi chốn trong không gian đô thị”, Tạp chí "kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Năm: 2009
[7]. Nguyễn Trung Dũng, “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa biển trong quy hoạch không gian đô thị ven biển”. Tạp Chí Quy hoạch xây dựng, (số 74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa biển trong quy hoạch không gian đô thị ven biển”. Tạp Chí" Quy hoạch xây dựng
[8]. Lê Anh Ðức (2007), “Ðặc trưng nơi chốn và tạo lập bản sắc đô thị”, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (số 5/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ðặc trưng nơi chốn và tạo lập bản sắc đô thị”, Tạp chí "Kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Lê Anh Ðức
Năm: 2007
[10]. Trần Trung Hiếu (2012) , “ Không gian công cộng trong các khu đô thị”, Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian công cộng trong các khu đô thị”, Tạp chí "kiến trúc Việt Nam
[14]. Ngô Lê Minh (2006), “Lý luận học và phương pháp phân tích Spacy Syntax”, Tạp chí kiến trúc (Số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận học và phương pháp phân tích Spacy Syntax”, Tạp chí "kiến trúc
Tác giả: Ngô Lê Minh
Năm: 2006
[17]. Nguyễn Thế Phương (2019), “Suy nghĩ về đô thị biển”, Tạp chí kiến trúc Việt Nam tháng 9/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về đô thị biển”, Tạp chí "kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Phương
Năm: 2019
[1]. Chính phủ (2009), Luật quy hoạch đô thị, số 30/2009/QH12 Khác
[2]. Bộ Xây dựng (2008), Quyết định về việc ban hành: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về quy hoạch, số 04/2008/QĐ-BXD Khác
[3]. Chi cục Thống kê thành phố Đồng Hới (2018), Niên giám thống kê thành phố Đồng Hới năm 2018 Khác
[6]. Christopher Alexander, Sara Ishikawa, Murray Silverstein with Max Jacobson, Ingrid Fiskdahl-King, Shlomo Angel, A Pattern Langue (1977) Khác
[9]. Trần Thị Việt Hà (2016), Kiến tạo không gian công cộng ngoài trời ven biển Nha Trang, Luận án Tiến sĩ Khác
[11]. Nguyễn Đăng Mạnh Hoàng (2011), Tổ chức không gian cảnh quan 02 bên bờ sông Nhật Lệ thành phố Đồng Hới, Luận văn Thạc sỹ Khác
[12]. Jane Jacobs, The Death and life of Great American Cities (1961) Khác
[15]. Nguyễn Hồng Ngọc, Vượt lên trên quan điểm cơ giới: Cái toàn thể và phẩm chất trong tư tưởng của Whitehead, Bohm và Pirsig Ý nghĩa và mối quan hệ với cách tiếp cận của Alexander về kiến trúc Khác
[16]. Nguyễn Hồng Ngọc, Thiết kế đô thị, phương pháp Generative và ngôn ngữ kiểu mẫu: Từ lý thuyết đến thực hành Khác
[18]. Nguyễn Anh Tuấn (2019), “Không gian cảnh quan mở dưới góc nhìn tâm lý học môi trường (Nghiên cứu trường hợp Đại học Havrard và Học viên Công nghệDUT.LRCC Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w