1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng thoát nước và đề xuất nâng cao tỷ lệ đấu nối nước thải khu vực phía bắc quận ngũ hành sơn thành phố đà nẵng

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 5,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống thu gom chung nước mưa và nước thải của Thành phố Đà Nẵng xây dựng từ nhiều năm trước, cùng với các dự án cải tạo chắp vá, không đồng bộ, chất lượng và cao trình thoát nước khôn

Trang 1

NGUYỄN MINH QUỲNH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO TỶ

LỆ ĐẤU NỐI NƯỚC THẢI KHU VỰC PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN MINH QUỲNH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO TỶ LỆ ĐẤU NỐI NƯỚC THẢI KHU VỰC PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Quỳnh

DUT.LRCC

Trang 4

TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO TỶ LỆ ĐẤU NỐI NƯỚC THẢI KHU VỰC PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Học viên: Nguyễn Minh Quỳnh Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường ứng dụng

Mã số: Khóa: K36 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Tóm tắt – Mục đích của đề tài là đánh giá hiện trạng thoát nước khu vực phía Bắc

quận Ngũ Hành Sơn Qua đánh giá về hệ thống thoát nước hiện trạng lưu vực, các dự

án cải tạo nâng cấp và xây mới, tác giả nhận thấy hiện nay tỷ lệ đấu nối nước thải của các đơn vị thoát nước vào hệ thống chung của thành phố gần như hoàn toàn đối với nước thải xám và chiếm tỷ lệ nhỏ cho nước thải đen Điều này gây ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường đô thị Đồng thời, tại các CSO, nước thải thường xuyên tràn ra môi trường sau những trận mưa lớn đang là vấn đề bất cập của thành phố Để cải thiện môi trường và đạt được chiến lược đã đề ra của thành phố về môi trường trong thời gian tới, tác giả đã đưa ra giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý thiết thực và có tính khả thi cao Trong đó giải pháp nâng cao tỷ lệ đấu nối nước thải từ bể tự hoại ra hệ thống cấp ba được chú trọng; Tuy giải pháp này đòi hỏi kinh phí đầu tư và những khó khăn khi thi công ban đầu nhưng đây là giải pháp không thể thiếu vì nó mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện chất lượng môi trường cũng như hiệu quả xử lý nước thải đô thị

Từ khóa – hệ thống thoát nước, đánh giá hiện trạng, tỷ lệ đấu nối, cải thiện môi

trường, quận Ngũ Hành Sơn

EVALUATION OF CURRENT DRAINAGE STATUS AND PROPOSED IMPROVEMENT OF WASTEWATER CONNECTION RATE IN THE NORTHERN COUNTY OF NGU HANH SON DISTRICT, DA NANG CITY

Student: NGUYEN MINH QUYNH Major: Environmental engineering applications No: Class: K36 Da Nang University of Technology

Abstract: The purpose of the project is to assess the current state of drainage in the

northern area of Ngu Hanh Son district Through the assessment of the drainage system of the current status of the basin, the projects of upgrading, and new construction, the author finds that the current ratio of wastewater connection of the drainage units to the common system of the city is most of gray wastewater and accounts for a small percentage for black wastewater This affects the urban environmental sanitation In CSOs, wastewater often spills into the environment after heavy rains, which is an imperative issues of the city In order to improve the environment and achieve the city's proposed environmental strategy in the near future, the author has put forward practical and highly feasible technical and management solutions In particular, the solution to improve the connection rate of wastewater from septic tanks to the tertiary system is focused; Although this solution requires investment costs and difficulties in the initial construction, this solution is indispensable because it brings a clear effect in improving environmental quality as well as urban wastewater treatment efficiency

Keywords - drainage system, assessment of current situation, connection rate,

environmental improvement, Ngu Hanh Son district

DUT.LRCC

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN ii

MỤC LỤC iiii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU vii

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Nội dung nghiên cứu 3

7 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1.Tổng quan về nước thải và hệ thống thoát nước đô thị 4

1.1.1.Tổng quan về nước thải 4

1.1.2 Khái niệm về Hệ thống thoát nước 5

1.2 Hệ thống thoát nước đô thị ở Việt Nam 11

1.3 Hiện trạng hệ thống thoát nước thành phố Đà Nẵng 13

1.4 Chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển hệ thống thoát nước của thànhphố Đà Nẵng 16

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC KHU VỰC PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 18

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội 18

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 18

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 20

2.2 Đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước khu vực nghiên cứu 22

2.2.1 Hiện trạng lưu vực và mạng lưới thoát nước chính 22

2.2.2 Chất lượng các công trình 23

2.2.3 Tình trạng đấu nối của các đơn vị thoát nước 31

2.2.4 Đặc điểm tính chất nước thải 34

2.2.5 Đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước thải 38

2.2.6 Hiện trạng ngập úng cục bộ 41

2.3 Hệ thống xử lý nước thải 42

2.3.1 Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn 42

2.3.2 Công trình cải tạo nâng cấp Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn 44

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỶ LỆ ĐẤU NỐI VÀ HIỆU QUẢ THOÁT NƯỚC KHU VỰC PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 46

DUT.LRCC

Trang 6

3.1.1 Một số giải pháp quản lý 46

3.1.2 Giải pháp kỹ thuật 46

3.2 Giải pháp hạn chế hiện tượng ngập lụt cục bộ tại khu vực nghiên cứu 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1.KẾT LUẬN 60

2 KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 63 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

DUT.LRCC

Trang 7

CSO : Combined Sewer Overflow (giếng tách dòng)

DO : Nồng độ Oxy hòa tan trong nước

pH : Chỉ số đo độ hoạt động của các ion hydro

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

UBND : Ủy ban nhân dân

UPVC : Unplasticized Polyvinyl Clorua

XLNT : Xử lý nước thải

XDCB : Xây dựng cơ bản

DUT.LRCC

Trang 8

2.2 Mực nước triều cao nhất tại trạm Sơn Trà và Cẩm Lệ 20

2.5 Tuyến cống thuộc tuyến đường Lê Văn Hiến 24

2.9 Bảng thống kê vị trí ngập úng năm 2019 của quận Ngũ

2.10 Lưu lượng nước thải được bơm từ các trạm bơm về trạm

3.1 Khái toán kinh phí đấu nối hệ thống thoát nước 56

3.2 Biện pháp chống ngập úng tại những khu vực thường xuyên

DUT.LRCC

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

1.5 Sơ đồ cấu tạo hệ thống thu gom nước thải bằng nhựa

2.2 Sơ đồ mạng lưới thoát nước của khu vực nghiên cứu 22

2.6 Mạng lưới cấp 3 bị hư hỏng, bồi lấp tại đường Nguyễn

2.13 Nước thải tràn ra biển tại các giếng tràn nằm tại khu vực

2.14 Hình ảnh của thu nước mưa bị bịt lại bởi rác và hư hỏng 29 2.15 Loại 1 – Cửa thu dạng bó vỉa, không có lưới chắn rác 29 2.16 Loại 2 - cửa thu nước có song chắn rác 30 2.17 Loại 3 - Cửa thu nước dạng bó vỉa hợp khối với hố ga 30 2.18 Tỷ lệ nước thải đen đấu nối vào hệ thống cống chung 33 2.19 Tỷ lệ đấu nối nước thải xám vào hệ thống cống chung 33

2.23 Ảnh hoạt động lấy mẫu và phân tích tại phòng thí nghiệm 38 2.24 Biểu đồ lưu lượng nước thải bơm về Trạm XLNT Ngũ

2.25 Sơ đồ quy trình công nghệ Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn 44

DUT.LRCC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đà Nẵng nằm ở vùng Nam Trung Bộ, là một trong những thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam và là trung tâm lớn trong nhiều lĩnh vực Thành phố Đà Nẵng đang thực hiện đề án hướng tới “Thành phố Môi trường” với định hướng ngành

du lịch, dịch vụ là ngành mũi nhọn mang lại nguồn thu chính cho thành phố Quận Ngũ Hành Sơn là một trong những quận trọng điểm về phát triển du lịch và đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng Những năm gần đây sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách du lịch và cơ sở hạ tầng đã gây áp lực ngày càng nặng nề cho việc thu gom và xử lý nước thải

Hiện nay hệ thống thoát nước trên toàn bộ TP Đà Nẵng chủ yếu là hệ thống thoát nước chung Chỉ có một phần rất ít các khu Quy hoạch mới thiết kế hệ thống thoát nước riêng Tỷ lệ thu gom đấu nối từ hộ gia đình vào mạng lưới cấp 3 còn thấp Phần lớn nước thải sau bể tự hoại của các hộ gia đình vẫn còn thấm xuống đất gây ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước ngầm Do đó nồng độ và lưu lượng nước thải thu gom

về Trạm xử lý không đúng theo thông số thiết kế làm ảnh hưởng đến hiệu suất, hiệu quả xử lý của Trạm xử lý nước thải tập trung

Hệ thống thu gom chung nước mưa và nước thải của Thành phố Đà Nẵng xây dựng từ nhiều năm trước, cùng với các dự án cải tạo chắp vá, không đồng bộ, chất lượng và cao trình thoát nước không đảm bảo, không đủ đáp ứng thu gom lượng nước thải tăng theo tốc độ đô thị hóa nhanh chóng hiện nay và thường xảy ra sự cố quá tải tràn ra biển gây ô nhiễm môi trường Đồng thời việc bố trí các cửa xả ven biển nhằm thoát nước vào những ngày mưa lớn, đây chính là điểm khó khăn mà thành phố đang đối mặt, bởi vị trí các cửa xả nằm bên cạnh những bãi tắm đẹp phục vụ du lịch Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến ngành du lịch, dịch vụ của thành phố, cũng như nhu cầu giải trí của người dân Đà Nẵng

Mặc dầu có nhiều Dự án đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước, hệ thống thu gom và trạm XLNT đã và đang được triển khai cho thành phố UBND thành phố cũng đang trong quá trình xây dựng quy hoạch thoát nước chung cho toàn bộ thành phố Đà Nẵng đến năm

2030 và định hướng năm 2050 Tuy nhiên, để giải quyết triệt để những bất cập còn tồn tại cần có những giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý phù hợp

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng thoát nước và đề xuất nâng cao tỷ lệ đấu nối nước thải tại khu vực phía Bắc quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng” nhằm đưa ra một số giải pháp phù hợp đối với điều kiện của

người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả thoát nước của lưu vực và chất lượng nước thải thu gom, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường thành phố Đà Nẵng, cũng như phù hợp với chiến lược quản lý nước thải thành phố Đà Nẵng

DUT.LRCC

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nhằm nâng cao tỉ lệ đấu nối mạng lưới cấp ba vào hệ thống thoát nước thành phố khu vực phía Bắc quận Ngũ Hành Sơn, bảo vệ môi trường nước và vệ sinh đô thị, góp phần cải thiện chất lượng nước thải thu gom về Trạm xử lý

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đánh giá được hiện trạng thoát nước tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý phù hợp góp phần cải thiện môi trường vệ sinh đô thị

- Các đề xuất có thể làm cơ sở cho thành phố Đà Nẵng trong việc quản lý, đầu

tư xây dựng các mạng lưới thoát nước trên địa bàn thành phố

- Từ các số liệu tác giả đã nghiên cứu, phân tích sẽ đóng góp vào kho tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực thoát nước thải đô thị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đặc điểm địa hình-địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn

- Hệ thống thoát nước mưa và nước thải của khu vực phía Bắc quận Ngũ Hành Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Theo giới hạn vị trí địa lý: Khu vực phía Bắc quận Ngũ hành Sơn giới hạn bởi đường Võ Văn Kiệt, Phạm Cự Lượng, Nguyễn Văn Thoại, Chương Dương, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đức Thuận, Võ Nguyên Giáp

Diện tích lưu vực nghiên cứu: 846 ha

Thời gian: từ tháng 7/2019 – 3/2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân số tại khu vực nghiên cứu (nguồn: báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội của Quận Ngũ Hành Sơn 6 tháng đầu năm 2019)

- Thu thập tài liệu liên quan đến các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển thoát nước của thành phố mới nhất (nguồn: Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng)

DUT.LRCC

Trang 12

thải của thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là khu vực quận Ngũ Hành Sơn (nguồn: Công ty Thoát nước và Xử lý nước thải Đà Nẵng, Ban Quản lý các dự án Đầu tư CSHT ưu tiên)

- Thu thập bản đồ nền quận Ngũ Hành Sơn: (nguồn: UBND quận Ngũ Hành Sơn, Ban Quản lý các dự án Đầu tư CSHT ưu tiên)

5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát và đo đạc thực địa

- Khảo sát, điều tra nhằm đánh giá hiện trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải ở các lưu vực quận Ngũ Hành Sơn Đo đạc diện tích lưu vực nghiên cứu

- Điều tra bằng phiếu câu hỏi đã lập sẵn nhằm đánh giá tỷ lệ phần trăm đấu nối vào mạng lưới cấp 3, từ bể tự hoại của hộ gia đình đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải lưu vực nghiên cứu

5.3 Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu

Sau khi thu thập các tài liệu, số liệu liên quan, các thông tin này sẽ được thống

kê, tổng hợp, đánh giá, phục vụ cho mục đích phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng giải quyết

6 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

- Lập phiếu điều tra khảo sát tỷ lệ thu gom từ mạng lưới cấp 3, nhu cầu sử dụng nước, quá trình xử lý sơ bộ của các đối tượng xả nước thải vào nguồn nước

- Đánh giá hiện trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải của khu vực nghiên cứu

- Đánh giá tình trạng ngập úng cục bộ

- Đề xuất giải pháp nâng cao tỷ lệ đấu nối nước thải vào hệ thống thoát nước cấp 3

- Đề xuất giải pháp chống ngập úng cục bộ ở một số điểm ngập

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm có các chương như sau:

Chương 1 Tổng quan

Chương 2 Đánh giá hiện trạng thoát nước khu vực phía bắc quận Ngũ Hành Sơn Chương 3 Đề xuất các giải pháp nâng cao tỷ lệ đấu nối thoát nước khu vực phía bắc quận Ngũ Hành Sơn

DUT.LRCC

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nước thải và hệ thống thoát nước đô thị

1.1.1 Tổng quan về nước thải

1.1.1.1 Khái niệm nước thải:

Nước đã qua sử dụng cho các nhu cầu khác nhau có lẫn thêm chất bẩn, làm thay đổi tính chất hóa – lý – sinh so với ban đầu được gọi là nước thải

Để đảm bảo vệ sinh đô thị và các điểm dân cư, công nghiệp, nước thải phải thu dẫn một cách nhanh chóng ra khỏi phạm vi đô thị và xử lý, khử trùng sau đó

1.1.1.2 Phân loại

Nước thải đô thị có nhiều loại với thành phần và tính chất khác nhau, thường được phân loại theo nguồn gốc phát sinh của chúng: [1]

Nước thải sinh hoạt: được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người

Nước thải sinh hoạt là nước đã qua quá trình sử dụng cho mục đích tắm giặt, ăn uống,

vệ sinh nhà cửa,… được phát sinh tại hộ gia đình, cơ sở dịch vụ, công trình công cộng Trong nước thải sinh hoạt, được phân ra thành nhiều loại:

+ Nước thải đen: nước thải từ quá trình tiêu hóa của con người

+ Nước thải xám: nước thải từ quá trình tắm giặt, vệ sinh nhà cửa

Nước thải bệnh viện: nước thải phát sinh từ bệnh viện, từ hoạt động ăn uống tắm

giặt của bác sĩ, y tá, bệnh nhân và người nhà, từ hoạt động vệ sinh bệnh viện, từ quá trình phẫu thuật

Nước thải công nghiệp: Nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất công

nghiệp, như: nước làm sạch sản phẩm, nước giải nhiệt, làm lạnh, làm sạch bụi, vệ sinh nhà xưởng, nguyên liệu sản xuất còn thừa, nước thải từ hoạt động tắm giặt, ăn uống của công nhân Trong nước thải công nghiệp có thể phân chia ra làm 2 loại dựa vào thành phần tính chất của nước thải, cụ thể:

+ Nước thải sản xuất không bẩn (quy ước sạch):nước làm nguội thiết bị, nước giải nhiệt, nước ngưng tụ từ hơi nước,…

+ Nước thải sản xuất bẩn: nước thải chứa nhiều tạp chất với nồng độ khác nhau, như nước thải từ quá trình giết mổ, sản xuất bia, dệt nhuộm,…

Nước mưa chảy tràn: nước mưa chảy tràn trên mái nhà, sân vườn, đường xá cuốn

theo chất bẩn, chúng được thu gom bằng hệ thống cống dọc đường hoặc cho chảy tràn trên mặt đất, hoặc tự thấm xuống đất

Nước thải thấm qua: là lượng nước ngầm thấm vào hệ thống cống của thành phố

bằng nhiều cách khác nhau, qua mối nối, vết nứt,… của hệ thống thoát nước

DUT.LRCC

Trang 14

Nước thải chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường và gây nên mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người Theo đó thì các chất Nitơ, Photpho và nhiều chất độc khác có trong nước thải sẽ gây rất nhiều bệnh lý nghiêm trọng như: dị ứng, nhiễm trùng da hay là nguy cơ gặp các bệnh về đường ruột như: Tả, tiêu chảy hay là mắc phải các loại giun, sán Nước thải tràn ra môi trường bốc mùi hôi thối và phát sinh

ruồi muỗi, gây mất mỹ quan đô thị

Sự tích lũy nước thải trên mặt đất và trong lòng đất, ở các nguồn nước mặt sẽ gây ô nhiễm môi trường xung quanh và khí quyển Kết quả là không thể sử dụng các nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt và kinh

tế Đó là nguyên nhân gây ra các bệnh dịch, truyền nhiễm

Hàm lượng cặn, rác thải trong nước thải sinh hoạt sẽ gây bồi lắp sông hồ, giảm dòng chảy, gây úng ngập Nước thải sinh hoạt còn giảm hàm lượng oxy trong nước gây ra hiện tượng phú dưỡng dẫn đến sinh vật chết hàng loạt

Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất độc, kim loại nặng khi vào nước sẽ gây hại cho sinh vật sống trong đó Sau đó theo chuổi thức ăn sẽ vào và tích tụ trong cơ thể con người, gây hại cho sức khỏe con người, có thể dẫn đến tử vong hoặc ảnh hưởng tới đời sau

Các bể tự hoại của hộ gia đình khi không được xây dựng đúng cách, nước thải sẽ thấm vào nước ngầm và gây ô nhiễm nước ngầm và lâu dài ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường đô thị

Nước mưa chảy tràn nếu không thoát được kịp thời sẽ gây ngập úng ảnh hưởng tới quá trình đi lại, sản xuất, sinh hoạt của con người, còn gây thiệt hại về tài sản gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra lũ lụt, ngập úng sẽ mang chất bẩn từ hố ga, hệ thống cống rãnh, hố xí ra ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường đất, nước Vào mùa mưa nước thải đô thị cùng với nước mưa cuốn trôi các rác thải ra môi trường tiếp nhận sông và biển, đặc biệt chất thải nhựa gây nguy hại đến đời sống thủy sinh và cảnh quan du lịch

1.1.2 Khái niệm về Hệ thống thoát nước

a Khái niệm: hệ thống thoát nước là tổ hợp những công trình, thiết bị và các giải

pháp kỹ thuật được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ thoát nước [2]

b Thành phần hệ thống thoát nước bao gồm:

- Mạng lưới đường ống, cống, mương, rãnh và các thiết bị thu nước thải;

- Tuyến đường cống mương và các trạm bơm dẫn nước thu được từ mạng lưới thu nước về trạm xử lý (hoặc đổ thẳng vào các ao, hồ, sông, biển…);

- Trạm xử lý nước thải trước khi thải ra các ao, hồ, sông, biển

c Nhiệm vụ của hệ thống thoát nước: thu gom, vận chuyển nhanh chóng mọi

loại nước thải ra khỏi khu vực đông dân cư, cơ quan, xí nghiệp công nghiệp, đồng thời

xử lý và khử trùng nước thải đạt yêu cầu vệ sinh, quy chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn tiếp nhận (ao, hồ, sông, biển…)

DUT.LRCC

Trang 15

d Điều kiện thu nhận nước thải vào mạng lưới thoát nước và vào nguồn tiếp

nhận:

Điều kiện thu nhận nước thải vào mạng lưới thoát nước:

- Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp bẩn không được xả vào mạng lưới thoát nước mưa Nước thải từ các đài phun tạo cảnh, nước thấm và nước rửa đường thường xả vào mạng lưới thoát nước chung hoặc mạng lưới thoát nước mưa thành phố

- Nước thải công nghiệp chứa các chất độc hại không được xả vào mạng lưới thoát nước chung và phải xử lý tại nhà máy xử lý tập trung

- Nước thải công nghiệp chỉ được xả vào mạng lưới riêng hoặc chung khi đảm bảo không gây tác hại tới vật liệu làm cống và công trình xử lý cũng như không phá hoại chế độ làm việc bình thường của HTTN: không chứa những chất ăn mòn vật liệu không chứa những chất làm tắc cống hoặc những chất khí tạo thành hỗn hợp dễ nổ và cháy; nhiệt độ không vượt quá 40oC; không chứa những chất làm ảnh hưởng xấu đến quá trình xử lý sinh học nước thải; hỗn hợp nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp phải đảm bảo nồng độ kiềm pH =6,5-8,5

- Các loại rác, thức ăn thừa trong gia đình, chỉ được xả vào mạng lưới khi đã được nghiền nhỏ với kích thước 3 - 5mm và pha loãng bằng nước với tỷ lệ 1 rác 8 nước (1/8)

Điều kiện xả thải nước thải vào nguồn tiếp nhận (sông, hồ, biển):

- Tính chất và nồng độ nhiễm bẩn của nước thải nhất là các chất nhiễm bẩn hữu

cơ có ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái sông, hồ Nếu như chất thải xả vào nguồn tiếp nhận ngày càng nhiều thì quá trình oxy hóa diễn ra ngày càng nhanh, lượng oxy dự trữ trong nguồn nước chi phí cho quá trình oxy hóa bị cạn kiệt dần và sau đó là quá trình

kỵ khí xảy ra Quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ cacbon tạo thành CH4, CO2, các chất chứa lưu huỳnh tạo thành H2S có mùi hôi và rất độc hại đối với sức khỏe của con người và các sinh vật Như vậy nguồn nước đã bị nhiễm bẩn

- Nguồn nước bị nhiễm bẩn, tức là đã làm mất đi cân bằng sinh thái tự nhiên ở

đó Để có sự cân bằng như ban đầu, trong nguồn nước xảy ra một quá trình tái lập tự nhiên Theo thời gian, qua nhiều sự biến đổi sinh hóa, hóa lý và hóa học xảy ra ở trong nguồn nước, chất nhiễm bẩn do nước thải mang vào tuần tự được giảm dần Khả năng của nguồn nước tự giải phóng khỏi những chất nhiễm bẩn và biến đổi chúng theo quy luật oxy hóa tự nhiên gọi là khả năng tự làm sạch của nguồn nước

- Chúng ta có thể lợi dụng khả năng này để xử lý nước thải Tuy nhiên, cũng như các công trình xử lý, khả năng tự làm sạch của nguồn nước là có giới hạn và phụ thuộc vào thành phần, tính chất, công suất nguồn nước, vào thành phần tính chất nước thải

và quan hệ về vật chất giữa nước thải và nguồn nước Như vậy nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải chỉ có thể tải được một lượng chất thải nhất định Vượt quá giới hạn đó nguồn nước sẽ bị quá tải và bị ô nhiễm

DUT.LRCC

Trang 16

Hệ thống thoát nước đô thị là tổ hợp các công trình, thiết bị, giải pháp kỹ thuật để thực hiện nhiệm vụ thoát nước thải Tùy thuộc vào hình thức thu gom và vận chuyển nước thải mà phân loại các hệ thống thoát nước đô thị

 Hệ thống thoát nước chung

Các loại nước thải bao gồm nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp được thu gom và vận chuyển trong cùng một hệ thống đường cống tới trạm xử

lý nước thải hoặc thải trực tiếp ra môi trường

Có thể bổ sung giếng tràn để tách nước mưa tại điểm cuối của hệ thống trước khi

xả ra môi trường hoặc điểm cuối các ống nhánh thu gom để tách một phần nước mưa

và toàn bộ nước thải đưa về xử lý Phần còn lại nước mưa được xả trực tiếp ra môi trường Giải pháp này để giảm chi phí xử lý cũng nhưng chi phí thu gom nước thải

Hình 1.1 Mạng lưới thoát nước chung

1- Mạng lưới đường phố 2- Giếng thu nước mưa 3- Cống góp chính 4- Giếng tràn nước mưa 5- Cống xả nước mưa

6- Mương rãnh thu nước mưa 7- Mạng lưới thoát nước công nghiệp 8- Cống xả

Trang 17

khô thì có rất ít nước thải nên tốc độ dòng chảy nhỏ gây lắng cặn Lưu lượng biến động lớn còn ảnh hưởng tới vận hành trạm bơm, giếng tràn và trạm XLNT Chi phí đầu tư vận hành trạm XLNT lớn

Nước mưa và nước thải chảy trong cùng hệ thống dẫn tới mùi hôi trong cống dọc đường, cống dễ lắng cặn

Phạm vi áp dụng

Hệ thống thoát nước chung phù hợp với giai đoạn đầu xây dựng của hệ thống thoát nước riêng, trong nhà có bể tự hoại, khu đô thị có nhiều nhà cao tầng, yêu cầu về nước sau xử lý thấp, điều kiện địa hình thuận lợi cho thoát nước, hạn chế số lượng trạm bơm, khu vực có cường độ mưa nhỏ

 Hệ thống thoát nước riêng

Là hệ thống có hai hay nhiều mạng lưới thoát nước thải Trong đó có ít nhất một mạng lưới dùng để vận chuyển nước thải (nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp)

để thu gom nước thải về trạm XLNT để xử lý trước khi được xả ra môi trường Và có một mạng lưới đường ống dùng để vận chuyển nước tương đối sạch (nước mưa, nước ngưng,…), không cần qua trạm XLNT và thải trực tiếp ra ngoài

Hình 1.2 Mạng lưới thoát nước riêng

1 - Mạng lưới thu gom nước thải sinh hoạt,

2 - Mạng lưới thoát nước mưa 3- Đường ống áp lực

4- Cửa xả nước sau xử lý, 5- Cửa xả nước mưaTXL-Trạm xử lý nước thải

Ưu điểm

Do trạm XLNT chỉ xử lý cho nước thải sinh hoạt mà không phải xử lý nước mưa, nên giảm chi phí xây dựng và vận hành trạm xử lý Quản lý mạng lưới thoát nước hiệu quả do chế độ thủy lực ổn định Xử lý được nước thải cả trong lúc mưa

DUT.LRCC

Trang 18

Hệ thống thoát nước riêng không xử lý được nước mưa đợt đầu Chi phí đầu tư mạng lưới cao do có nhiều hơn 2 mạng lưới trong khu đô thị

Phạm vi áp dụng

Áp dụng cho các khu vực đô thị lớn, độ tiện nghi cao và cho các khu công nghiệp, khu vực có cường độ mưa lớn, khu vực có địa hình không thuận lợi cho thoát nước, cần nhiều trạm bơm, nước thải cần xử lý sinh hóa

 Hệ thống thoát nước nữa riêng

Hệ thống thoát nước nữa riêng là hệ thống giao thoa giữa hệ thống thoát nước chung và hệ thống thoát nước riêng Hệ thống bao gồm nhiều hơn 2 mạng lưới thu gom nước mưa và nước thải, và xây dựng giếng tràn tách nước mưa Khi lưu lượng mưa ít (hoặc giai đoạn đầu của các cơn mưa kéo dài), nước mưa này được chảy vào giếng tràn và vận chuyển vào hệ thống cống thu gom nước thải để chảy về trạm xử lý nước thải Khi lưu lượng mưa lớn (các cơn mưa kéo dài hay sau 20 phút ban đầu của cơn mưa), một phần hỗn hợp nước mưa và nước thải sẽ tràn qua giếng, phần còn lại sẽ chảy vào hệ thống cống thu gom và vận chuyển về trạm xử lý Nước thải tràn qua giếng tràn ra nguồn tiếp nhận có chất lượng nước tương đối sạch

Hình 1.3 Mạng lưới thoát nước nữa riêng

1- Mạng lưới thoát nước sinh hoạt,

2- Mạng lưới thoát nước mưa

3- Ống áp lực,

4-Cửa xả nước sau xử lý,

5-Giếng tràn nước thải, 6-Cửa xả nước mưa, 7- Trạm bơm chính,TXL -Trạm xử lý nước thải

Trang 19

Chi phí vận hành hệ thống xử lý cao do phải xử lý thêm nước mưa Giếng tách dòng thường bị tắc, cát bồi lắp vì vậy phải vệ sinh thường xuyên

Phạm vi áp dụng

Phù hợp với đô thị có dân số >50.000 người, nguồn tiếp nhận nước thải trong đô thị nhỏ và không có dòng chảy Nhưng nơi có nguồn nước dùng vào mục đích thể thao, tắm Yêu cầu tăng cường bảo vệ nguồn nước khỏi bị nhiễm bẩn do nước thải

 Hệ thống thoát nước chân không

Hệ thống thoát nước chân không là hệ thống thu gom, vận chuyển nước thải trong môi trường chân không Nguyên tắc hoạt động của hệ thống là duy trì một áp suất chân không trong hệ thống để thu gom và vận chuyển nước thải Nước thải từ hộ gia đình, cơ sở công cộng, … tự chảy vào hố chứa nằm trong hố ga chân không Khi mực nước trong hố dâng cao, van chân không mở ra, nhờ sự chênh lệch áp suất mà nước thải được hút vào hệ thống chân không Khi mực nước trong hố thu hạ thấp, van chân không đóng lại Dưới áp suất chân không, nước thải và bùn cặn được thu gom về trạm bơm chân không, ở đây nước thải được bơm về trạm XLNT để xử lý trước khi

đưa vào môi trường

Hình 1.4 Mạng lưới thoát nước chân không

Ưu điểm

Cống thoát nước đặt ở độ sâu nhỏ, hào đào không rộng nên hạn chế chi phí đào, đắp Hệ thống ống trong mạng chân không nhỏ, không cần giếng thăm Hệ thống kín hoàn toàn nên không bị rò rĩ nước thải ra môi trường Không bị ảnh hưởng bởi độ dốc địa hình, có thể chảy ngược địa hình Hạn chế nước ngầm thấm vào hệ thống giảm chi phí xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải

Hạn chế

Chi phí đầu tư cao do cần lắp đặt nhiều hố van chân không Công nghệ mới nên khó làm quen để vận hành và bảo dưỡng Khi xảy ra sự cố thì các hộ gia đình sẽ không được thoát nước thải

DUT.LRCC

Trang 20

Hệ thống thoát nước chân không áp dụng cho khu vực đất không ổn định, mặt đất bằng phẳng hoặc ngược dốc, mực nước ngầm cao, điều kiện xây dựng khó khăn, nền

đá, hệ thống thoát nước cắt ngang tầng chứa nước, hệ thống thoát nước xây dựng trong vùng môi trường nhạy cảm

1.2 Hệ thống thoát nước đô thị ở Việt Nam

Theo thống kê của Bộ xây dựng năm 2018, hệ thống thoát nước phổ biến nhất ở các đô thị của Việt Nam là hệ thống thoát nước chung Phần lớn những hệ thống này được xây dựng cách đây khoảng 100 năm, chủ yếu để thoát nước mưa, ít khi được sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng nên đã xuống cấp nhiều; việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp vá, không theo quy hoạch lâu dài, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị Các dự án thoát nước đô thị sử dụng vốn ODA (cho khoảng 10 đô thị) đã và đang được triển khai thực hiện thường áp dụng kiểu hệ thống chung trên cơ

sở cải tạo nâng cấp hệ thống hiện có Tuy nhiên, cá biệt như thành phố Huế áp dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn [18]

Đối với các khu công nghiệp, được xây dựng từ 1994 đến nay, việc tổ chức hệ thống thoát nước theo dạng phổ biến trên thế giới Thông thường có hai hoặc ba hệ thống thoát nước riêng biệt:

- Trường hợp ba hệ thống cho ba loại nước thải: nước mưa, nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt

- Trường hợp hai hệ thống: nước mưa thoát riêng, còn nước thải sản xuất sau khi đã

xử lý sơ bộ trong từng nhà máy thì thoát chung và xử lý kết hợp với nước thải sinh hoạt

Để đánh giá khả năng thoát nước, người ta thường lấy tiêu chuẩn chiều dài bình quân cống trên đầu người Các đô thị trên thế giới tỷ lệ trung bình là 2m/người, ở nước

ta tỷ lệ này tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng là 0,2 đến 0,25m/người, còn lại chỉ đạt từ 0,05 đến 0,08m/người Mặt khác trong từng đô thị, mật

độ cống thoát nước khác nhau, khu trung tâm đặc biệt là các khu phố cũ, mật độ cống thoát nước thường cao hơn các khu vực mới xây dựng Ngoài ra, nhiều đô thị gần như chưa có hệ thống thoát nước, nhất là các thị xã tỉnh lỵ vừa được tách tỉnh Theo thống

kê sơ bộ của các công ty tư vấn và từ những báo cáo của các sở xây dựng, một số đô thị có hệ thống thoát nước hết sức yếu kém như: Tuy Hoà (Phú Yên) Hệ thống thoát nước mới phục vụ cho khoảng 5% diện tích đô thị, các thành phố Quy Nhơn (Bình Định) 10%, Ban Mê Thuột (Đắc Lắc) 15%, Cao Bằng 20% Các đô thị có hệ thống thoát nước tốt nhất như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị nhỏ như Lào Cai, Thái Bình cũng chỉ phục vụ khoảng 60% [19]

Theo đánh giá của các công ty thoát nước, công ty môi trường đô thị tại các địa phương và các công ty tư vấn, thì có trên 50% các tuyến cống đã bị hư hỏng nghiêm trọng cần phải sửa chữa, 30% các tuyến cống đã xuống cấp, chỉ khoảng 20% vừa được xây dựng là còn tốt

Các kênh rạch thoát nước chủ yếu là sử dụng kênh rạch tự nhiên, nền và thành bằng đất do vậy thường không ổn định Các cống, ống thoát nước được xây dựng bằng

DUT.LRCC

Trang 21

bê tông hoặc xây gạch, tiết diện cống thường có hình tròn, hình chữ nhật, có một số tuyến cống hình trứng Ngoài ra tại các đô thị tồn tại nhiều mương đậy nắp đan hoặc mương hở, các mương này thường có kích thước nhỏ, có nhiệm vụ thu nước mưa và nước bẩn ở các cụm dân cư Các hố ga thu nước mưa và các giếng thăm trên mạng lưới bị hư hỏng nhiều ít được quan tâm sửa chữa gây khó khăn cho công tác quản lý Theo báo cáo của các công ty thoát nước và công ty môi trường đô thị, tất cả các thành phố, thị xã của cả nước đều bị ngập úng cục bộ trong mùa mưa Có đô thị 60% đường phố bị ngập úng như Buôn Mê Thuột của Đắc Lắc TP Hồ Chí Minh (trên 100 điểm ngập), Hà Nội (trên 30 điểm), Đà Nẵng, Hải Phòng cũng có rất nhiều điểm bị ngập úng Thời gian ngập kéo dài từ 2 giờ đến 2 ngày, độ ngập sâu lớn nhất là 1m Ngoài các điểm ngập do mưa, tại một số đô thị còn có tình trạng ngập cục bộ do nước thải sinh hoạt và công nghiệp (Ban Mê Thuột, Cà Mau) Ngập úng gây ra tình trạng ách tắc giao thông, nhiều cơ sở sản xuất dịch vụ ngừng hoạt động, du lịch bị ngừng trệ, hàng hoá không thể lưu thông Hàng năm thiệt hại do ngập úng theo tính toán sơ bộ lên tới hàng nghìn tỷ đồng

Hiện nay việc đầu tư đường ống nhựa và hố ga nhựa UPVC để thay thế cho hệ thống thu gom bằng bê tông cốt thép cũ đã và đang triển khai ở một số tỉnh thành và các khu nghỉ dưỡng, đô thị cao cấp trong cả nước Việc lắp đặt hệ thống hố ga nhựa UPVC nhằm khắc phục các nhược điểm của hệ thống cũ bằng bê tông cốt thép [4]

Hình 1.5 Sơ đồ cấu tạo hệ thống thu gom nước thải bằng nhựa UPVC

Hình 1.6 Dự án thu gom xử lý nước thải của Thành phố Tây NinhODA Italia)

DUT.LRCC

Trang 22

Hình 1.7 Dự án TP Buôn Ma Thuột, DaklakODA Đan Mạch)

Mặc dù có quá trình hình thành và phát triển lâu dài nhưng có thể nói hệ thống thoát nước của thành phố Đà Nẵng chỉ được đầu tư mạnh mẽ từ giai đoạn

1995 cho đến nay Hệ thống cống hiện trạng khu vực đô thị thành phố dài khoảng

960 km, bao gồm 904 km tuyến cống hộp và cống tròn, 30 km kênh mương hở Trong đó khoảng 40 km tuyến cống được xây dựng trước năm 1994, bằng loại đá hộc được che đậy bằng tấm đan bê tông cốt thép Các tuyến cống được xây dựng sau này sử dụng các loại vật liệu có độ bền cao (bê tông cốt thép, HDPE) và có kích thước phù hợp [12]

Trong thời gian qua, mặc dù được sự ưu tiên trong việc đầu tư xây dựng và cải tạo, hệ thống thoát nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bởi tốc độ đô thị hóa tại thành phố Đà Nẵng đang diễn ra nhanh chóng, yêu cầu về nguồn lực đầu tư rất lớn

Tại các khu công nghiệp, bệnh viện và các khu đô thị mới, Thành phố yêu cầu xây dựng hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để Tại các khu công nghiệp nước thải sau khi xử lý cục bộ được xả trực tiếp ra nguồn tiếp nhận, còn tại các khu đô thị mới (khu đô thị sinh thái Hòa Xuân, Khu đô thị Phước Lý, …) thì tuy mạng cống thoát nước xây dựng riêng nhưng hầu hết chưa có trạm xử lý vì vậy vẫn

xả chung ra môi trường, một số được bơm về trạm xử lý nước thải tập trung của thành phố, nước thải bệnh viện sau khi được xử lý sơ bộ được xả chung vào mạng lưới thoát nước thành phố

Khu vực trung tâm Thành phố gồm các quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ nơi đã bố trí hệ thống giếng tách và cống bao

để thu gom nước thải, hệ thống thoát nước đã được xây dựng và tổ chức theo kiểu hệ

DUT.LRCC

Trang 23

thống thoát nước chung có cống bao thu gom nước thải, sơ đồ tổ chức tổng quát

được trình bày trong các sơ đồ sau:

Đối với các khu vực sử dụng hệ thống cống chung mà chưa bố trí được hệ thống thu gom nước thải, nước mưa và nước thải vẫn được đưa ra cùng một nguồn tiếp nhận theo sơ đồ tổ chức thoát nước được tổ chức như sau:

Thành phố Đà Nẵng có địa hình tự nhiên tương đối thuận lợi cho việc thoát nước mưa Chiều dài các tuyến thoát nước nước mưa nhìn chung là ngắn, xả nước ra dải bờ biển phía Đông, Vịnh Đà Nẵng, sông Hàn, hệ thống sông Cu Đê, hệ thống sông Cầu

Đỏ, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Cổ Cò và các phụ lưu cũng như hệ thống hồ bố trí rải rác trong thành phố Tuy nhiên, do hạ lưu khá bằng phẳng, thượng lưu là vùng đồi núi độ dốc lớn cộng với cửa xả hạ lưu bị khống chế bởi mực nước sông và triều nên ảnh hưởng đến khả năng thoát nước khi triều lên gặp mưa lớn

Mặc dù Đà Nẵng đã cố gắng xử lý dứt điểm các vị trí ngập úng cục bộ Tuy nhiên, năm 2019 tình trạng ngập úng cục bộ vẫn diễn ra ở 18 điểm trên toàn thành phố [5] Các nguyên nhân ngập úng khá đa dạng nhưng bao gồm các vấn đề chính như sau:

+ Tiết diện cống chưa được hợp lý và thiếu đồng bộ (tiết diện cống nhỏ so với yêu cầu thoát nước, cống hạ lưu nhỏ hơn thượng lưu); Đầu các cống còn bất cập (cao độ cống hạ lưu cao hơn thượng lưu), cao độ đường nơi đặt cống cao hơn nền khu dân cư;

+ Ảnh hưởng của mưa và triều kết hợp;

+ Các tuyến thoát nước chưa được kiên cố, cứng hóa dẫn đến bị bồi lắng, lấn chiếm; các cống quá cũ, hư hỏng mà không được cải tạo, bảo dưỡng kịp thời, một số khu vực chưa có cống thoát nước

+ Các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật được duyệt nhưng triển khai không đồng bộ (phải thực hiện phân kỳ đầu tư do thiếu nguồn vốn) hoặc đang triển khai thi công dở dang, phải tạm dừng thi công (do vướng giải phóng mặt bằng), gây ngập úng

Ngoài các nguyên nhân trên, một phần là do các cửa thu nước mưa bị bịt lại để tránh mùi hôi làm giảm khả năng thoát nước của hệ thống và hệ thống thoát nước không được nạo vét

ML cấp 1

Giếng tràn

Cống thu gom nước thải dẫn đến TXL

Giếng tràn

TXLNT

Mạng lưới thu

(có hoặc không)

Nguồn tiếp nhận (sông, biển)

DUT.LRCC

Trang 24

Hình 1.8 Bản đồ ngập lụt thành phố Đà Nẵng

Các dự án của Ngân hàng Thế giới đã triển khai hệ thống cống bao cấp 1 dọc bờ biển và sông, hồ để đảm bảo thu gom toàn bộ nước thải về trạm xử lý nước thải Tuy nhiên hệ thống này chỉ thu gom nước thải vào mùa khô, khi có mưa, nước thải sinh hoạt và nước mưa sẽ hòa trộn vào nhau và tràn qua giếng tràn để xả ra nguồn tiếp nhận Các giếng tràn có van lật ngăn triều đang có nhiều vấn đề về bồi lắp cát và khả năng thoát nước qua van lật

Do thành phố đang sử dụng hệ thống thoát nước chung nên các hộ gia đình đều phải xây dựng bể tự hoại Nước thải sinh hoạt hộ gia đình đều được xử lý sơ bộ bằng

bể tự hoại trước khi được thấm xuống đất hoặc đấu nối ra hệ thống thoát nước chung Nước thải từ nhà hàng, khách sạn hay bệnh viện được xử lý trước khi đấu nối vào hệ thống thoát nước của thành phố

Đà Nẵng hiện có 6 khu công nghiệp tập trung gồm KCN Hòa Cầm, KCN Hòa Khánh, KCN Đà Nẵng, KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng, KCN Liên Chiểu và KCN Hòa Khánh mở rộng Các KCN đều buộc phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường Lượng nước thải ở các khu công nghiệp theo số liệu tổng hợp được là dao động khoảng 1.000 – 6.000 m3

/ngày đêm

Các cơ sở công nghiệp nhỏ, phân tán trong đô thị hầu hết không có giải pháp xử

lý triệt để hoặc xử lý cục bộ nước thải trước khi xả ra môi trường Nước thải của các đơn vị công nghiệp phân tán thường được xả vào hệ thống thoát nước chung của Thành phố, và trong một số trường hợp có chứa các hợp chất độc hại, không có lợi cho quá trình xử lý sinh học ví dụ như các cơ sở sơn mạ, sửa chữa ắc quy, sản xuất hóa chất, chất kháng sinh v.v…

Sự phát triển mở rộng đô thị làm cho Đà Nẵng giảm số lượng hồ điều tiết trong thành phố từ 42 hồ còn 30 hồ, tương ứng với diện tích hồ còn khoảng gần 200ha, với

DUT.LRCC

Trang 25

dung tích tối đa khoảng 3,5 triệu m3 Các vùng đất trũng thấp chứa nước của đô thị cũng dần bị mất đi thay vào đó là mật độ bê tông hóa cao dẫn đến mất hệ số thấm, tăng tốc độ chảy tràn, nước tràn xuống cống nhanh và nhiều hơn gây ngập, nghẽn, tê liệt toàn bộ hệ thống cống

Về tổng quan, phần lớn hệ thống thoát nước của thành phố Đà Nẵng là hệ thống thoát nước chung và được xây dựng từ nhiều năm nên bộc lộ rất nhiều các bất cập trong quá trình vận hành hệ thống thu gom Thời gian qua, thành phố phải đối mặt với các vấn đề môi trường nghiêm trọng như ngập úng cục bộ, phát sinh mùi hôi từ các tuyến cống, nước thải tràn ra các cửa xả ven sông và biển du lịch, kênh mương và ao

hồ điều hòa bị ô nhiễm Vì vậy, thành phố cần có nhiều giải pháp giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường và tình trạng ngập úng cục bộ nhằm trở thành một đô thị phát triển bền vững

1.4 Chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển hệ thống thoát nước của thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, khoa học, giáo dục và công nghệ của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Là đô thị loại một trực thuộc Trung ương, trong những năm qua Thành phố đã có bước phát triển vượt bậc về tăng trưởng kinh tế và xây dựng đô thị để trở thành một trong những đô thị hiện đại và đồng bộ bậc nhất ở Việt Nam Cùng với sự phát triển của quy mô đô thị theo chiều rộng, Thành phố luôn chú trọng xây dựng đồng bộ theo chiều sâu các cơ sở hạ tầng đô thị như hệ thống giao thông đối ngoại, hệ thống giao thông nội thị, hệ thống chiếu sáng, cây xanh, hệ thống cấp thoát nước, thu gom và xử lý nước thải Nhiều dự án trong lĩnh vực hạ tầng đô thị

đã và đang được đồng loạt triển khai trong đó có các dự án phát triển hạ tầng đồng bộ gồm nhiều hợp phần như: Dự án cơ sở hạ tầng ưu tiên TP Đà Nẵng, Dự án Phát triển bền vững Thành phố Đà Nẵng Làm cơ sở cho sự phát triển đồng bộ, bền vững, Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và định hướng đến năm

2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 4/12/2013, đây là một trong những cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học quan trong trong việc phát triển thành phố Đà Nẵng cho các giai đoạn phát triển đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 Để đảm bảo tính bền vững dài hạn cũng như tính đồng bộ, thống nhất với Điều chỉnh quy hoạch chung, Thành phố đã và đang thực hiện các quy hoạch chuyên ngành như quy hoạch giao thông, quy hoạch cấp nước đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ trong quyết định 2357/QĐ-TTg Đối với lĩnh vực thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, Thành phố đã có quyết định số 8438/QĐ-UBND ngày 3/11/2010 phê duyệt Chiến lược quản lý nước thải thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 định hướng đến năm

2040, đồng thời thành phố cũng đã ban hành nhiều chính sách về quản lý như quy chế quản lý vận hành mô hình thủy lực hệ thống thoát nước, quản lý mạng lưới thoát nước, quản lý đấu nối hộ gia đình v.v Các cơ chế chính sách thành phố ban hành trong thời gian qua đã đem lại hiệu quả to lớn giải quyết cơ bản tình trạng ngập lụt trong khu vực nội thành, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường làm cho Đà Nẵng trở thành thành phố đáng sống nhất của Việt Nam [7]

DUT.LRCC

Trang 26

lực từ ngày 1/1/2015) đối với cấp đô thị của thành phố Đà Nẵng quy hoạch thoát nước mưa, nước thải phải được lập như một đồ án quy hoạch riêng Vì vậy, việc thực hiện

"Quy hoạch thoát nước Thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050" cho thành phố Đà Nẵng là hết sức cần thiết và cấp bách Quy hoạch thoát nước Thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là một tầm nhìn tổng thể về hệ thống tiêu thoát nước và xử lý nước thải trong một thời gian dài Trên cơ sở Quy hoạch thoát nước, kế hoạch phát triển dài hạn có thể phân chia thành các giai đoạn đầu

tư (hoặc còn gọi là chu kỳ đầu tư) thường kéo dài 4 đến 5 năm Sau mỗi chu kỳ sẽ được xem xét, đánh giá hiệu quả đầu tư và nếu cần thiết phải có sự điều chỉnh

Thành phố mới đây đã ban hành Quyết định số 46/2018/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc Quy định về quản lý thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 410/QĐ-SXD ngày 7/9/2017 về việc phê duyệt quy hoạch thoát nước thải tỷ lệ 1/500 công trình Hệ thống thu gom nước thải riêng khu vực Mỹ Khê, Mỹ An;

Nhìn chung trong thời gian qua, Thành phố đã có những chiến lược, chính sách

và các quyết định nhằm cải tạo nâng cấp Hệ thống thu gom và xử lý nước thải Tập trung ngân sách đầu tư vào các Dự án hạ tầng kỹ thuật Môi trường nhằm giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường và tình trạng ngập úng cục bộ Tuy nhiên, thành phố vẫn

chưa có sự phân cấp đồng bộ trong quản lý và còn nhiều chồng chéo Theo quyết định

46/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định về quản lý thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đã quy định tuyến đường trên 10,5 m thuộc Công ty Thoát nước và XLNT Đà Nẵng quản lý, các tuyến đường dưới 10,5m thuộc Quận quản lý

Do đó trong quá trình quản lý còn gặp nhiều vấn đề chồng chéo, không thống nhất Bên cạnh đó, Các Dự án triển khai không đồng bộ dẫn đến vấn đề khớp nối các cao trình thoát nước không đảm bảo

DUT.LRCC

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC KHU VỰC

PHÍA BẮC QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Ngũ Hành Sơn là một quận nội thành thuộc thành phố Đà Nẵng, Việt Nam Quận

có diện tích 37 km² và dân số 105.237 người, là quận ít dân nhất trong các quận của Đà Nẵng và gồm có 4 phường: Hòa Hải, Hòa Quý, Khuê Mỹ, Mỹ An [8]

Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía đông nam của thành phố Đà Nẵng:

- Phía Đông giáp Biển Đông;

- Phía Tây giáp quận Cẩm Lệ;

- Phía Tây Nam giáp huyện Hòa Vang;

- Phía Bắc giáp quận Sơn Trà;

- Phía Tây Bắc giáp quận Hải Châu;

- Phía Nam giáp thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Quận Ngũ Hành Sơn nằm dọc theo con đường chính nối giữa thành phố Đà Nẵng và phố cổ Hội An của tỉnh Quảng Nam.Quận cũng có các bãi biển đẹp như bãi biển Bắc Mỹ An, Non Nước và sân bay Nước Mặn là một căn cứ không quân quan trong thời chiến tranh Việt Nam Bên cạnh đó có quần thể Ngũ Hành Sơn là danh thắng nổi tiếng đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử quốc gia Quận không chỉ

có vị trí và điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch, nghỉ dưỡng Đây còn là địa bàn thuận lợi cho việc phát triển, mở rộng không gian đô thị của thành phố về phía Đông Nam

Hiện nay, trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như: khu đô thị Làng Châu Âu, khu đô thị Phú Mỹ An, khu đô thị Nam cầu Tuyên Sơn, khu đô thị Sơn Thủy, khu đô thị Han River Riverside, khu đô thị Da Nang Pearl, khu đô thị FPT City Da Nang, khu đô thị Hòa Quý, khu đô thị Premier League

DUT.LRCC

Trang 28

Nam đường Phan Tứ, khu tái định cư DBC, khu Bắc Mỹ An 3, các khu tái định cư Hòa Hải 1, 3, Làng đá mỹ nghệ Non Nước, vệt du lịch bờ biển Đây là vùng địa hình tương đối bằng phẳng không bị ngập lụt, cao độ nền xây dựng thấp nhất là +3,70m, cao nhất là +10,20m

Khu vực phía Tây: Khu đô thị Nam cầu Trần Thị Lý, các khu 1, 2, 4 Nam cầu Tuyên Sơn, khu phố chợ Hòa Hải, khu dân cư Đông Trà và Đại học Đà Nẵng Cao độ tối thiểu thay đổi theo hướng cao dần về phía thượng lưu sông Cụ thể là : Tại khu đô thị Nam cầu Trần Thị Lý, cao độ tim đường thấp nhất là +2,70m, tại khu phố chợ Hòa Hải, cao độ tim đường thấp nhất là +3,20m Tại khu Đại học Đà Nẵng, cao độ tim đường thấp nhất là +4,50m Hướng thoát nước là tập trung đổ ra sông Hàn và sông Cổ Cò

c) Khí hậu

Đà Nẵng là thành phố nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, thừa hưởng một chế độ bức xạ năng lượng mặt trời rất phong phú của vùng nhiệt đới, đồng thời còn chịu sự chi phối chủ yếu của các hoàn lưu gió mùa, tín phong và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhiễu động nhiệt đới như: bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, Thời tiết khí hậu quận Ngũ Hành Sơn nằm trong vùng khí hậu của khu vực duyên hải Miền Trung, là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 Tổng lượng mưa trung bình năm phổ biến ở đồng bằng từ 2000 đến 2500mm Trung bình hàng năm, thành phố chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới có gió mạnh từ cấp 6 trở lên

Khu vực có một nền nhiệt độ trung bình 26,30C và ít biến động trong năm Từ tháng 1 nhiệt độ bắt đầu tăng cho đến tháng 6, tháng 7, sau đó giảm dần cho đến cho đến tháng 1 năm sau

+ Về mùa đông: Nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 12 từ 21,5-22,0 0

DUT.LRCC

Trang 29

Bảng 2.1 Các mức thủy triều tại Đà Nẵng Các mức thủy triều tại Đà Nẵng Đặc tính Mức chuẩn tại Đà Nẵng (m)

Thủy triều cao nhất đo được (Vịnh Đà

Thủy triều cao nhất điển hình 0,0 đến 0,6

Thủy triều cao nhất điển hình -0,6 đến -0,2

Nguồn: Trung tâm Quốc gia về Khí tượng thuỷ văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường

năm 2018 Với một khu vực có cao trình cao, chu kỳ lặp lại một trận lũ chỉ phụ thuộc kích cỡ tuyến cống Các tuyến cống lớn hơn sẽ có khả năng chuyển tải nhiều nước mưa hơn để đưa nước mưa về nguồn nước tiếp nhận Nhưng tại một khu vực thấp, như các khu vực ven sông hay ven biển, thủy triều đôi khi lên quá cao đến nỗi không có đủ mức chênh lệch cao độ cần thiết giữa khu vực cần thoát nước đi và nguồn tiếp nhận Do vậy, tại các khu vực này, các mức thủy triều có tác động quan trọng đến sự ngập úng Bảng thống kê mực nước tại các trạm Sơn Trà và Cẩm Lệ được thể hiện trong bảng 2.2:

Bảng 2.2 Mực nước triều cao nhất tại trạm Sơn Trà và Cẩm Lệ

Chu kỳ Mức nước triều tại trạm

đổ ra biển Chế độ dòng chảy sông Hàn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chế độ thuỷ triều vùng biển Đà Nẵng

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Trang 30

(683.798 lượt khách nước ngoài); tổng doanh thu 47,415 tỷ đồng, đạt 58% kế hoạch, lượng khách tăng 4% so với cùng kỳ; hệ thống thang máy phục vụ 654.814 lượt khách, tổng thu phí dịch vụ thang máy 9,822 tỷ đồng

Công tác thu thuế, các loại phí tại chợ ước thực hiện 628.626.000 đồng, đạt 44,90%

kế hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng ước thực hiện 3.223 tỷ đồng, đạt 52,18% kế hoạch và tăng 20,29% so với cùng kỳ

2 Ngành Công nghiệp - TTCN - XDCB

GTSX ngành Công nghiệp - TTCN- Xây dựng cơ bản ước thực hiện 389,20 tỷ đồng đạt 47,02% kế hoạch, tăng 11,61% so với cùng kỳ Trong đó: GTSX ngành CN-TTCN ước thực hiện 235,2 tỷ đồng, đạt 50,69% kế hoạch, tăng 11,35% so với cùng kỳ; GTSX ngành XDCB thực hiện 154 tỷ đồng, đạt 42,33%, tăng 12% so với cùng kỳ

3 Ngành Nông nghiệp - Thủy sản

GTSX ngành Nông nghiệp - Thủy sản ước thực hiện 51,63 tỷ đồng, đạt 78,82%

kế hoạch, tăng 6,7% so với cùng kỳ

Tổng diện tích cây trồng vụ Đông Xuân năm 2018-2019 đã sản xuất 252ha 2 Các diện tích lúa đã thu hoạch 100% diện tích, năng suất đạt 63 tạ/ha, riêng năng suất mô hình lúa hữu cơ đạt 67 tạ/ha và được triển khai nhân rộng mô hình trong vụ Hè Thu 2019 Diện tích nuôi trồng thủy sản: nuôi cá nước ngọt diện tích 02ha; nuôi tôm nước

lợ 11ha (08 hộ nuôi) tập trung tại phường Hòa Quý Các loại thủy sản nuôi trồng đang phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh

Tình hình khai thác thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm, thời tiết thuận lợi, thời gian đi biển của các tàu kéo dài, sản lượng khai thác ước thực hiện đạt 820 tấn thủy sản các loại

4 Công tác xây dựng cơ bản

Tiếp tục triển khai thi công các công trình mới do UBND quận làm chủ đầu tư đảm bảo chất lượng và hiệu quả Đối với 05 công trình chuyển tiếp từ năm 2018 sang năm 2019 đến nay đã thi công xong, hoàn thiện hồ sơ bàn giao đưa vào sử dụng Đã triển khai thi công 24/37 công trình ghi vốn (thành phố và quận) thi công mới trong năm 2019 Các công trình còn lại đang làm công tác đấu thầu và sẽ được triển khai thi công đúng theo kế hoạch năm 2019

Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quận năm 2019 là 97,551 tỷ đồng, trong đó:

+ Nguồn vốn ngân sách tập trung thành phố năm 2019 là 48,907 tỷ đồng

+ Nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung của quận năm 2019 là 48,644 tỷ đồng Ước 06 tháng đầu năm, tiến hành thanh toán 17,303 tỷ đồng vốn thành phố đạt 44,47% kế hoạch thành phố và giải ngân 15,179 tỷ đồng vốn quận đạt 31,21% kế hoạch quận Ước thực hiện sẽ hoàn thành kế hoạch giải ngân trong năm 2019

b) Văn hóa – xã hội

Lĩnh vực đền bù giải tỏa, quản lý đô thị, xây dựng cơ bản, tài nguyên-môi trường tiếp tục có những chuyển biến tích cực Đặc biệt, chỉ đạo quyết liệt tăng cường công tác tuyên truyền trực quan, đẩy mạnh các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh trong cộng đồng Lĩnh vực văn hóa, xã hội được chăm lo đúng mức, đã thực hiện

DUT.LRCC

Trang 31

thành công Đề án xây dựng, sửa chữa nhà cho hộ có công cách mạng năm 2019 Công tác cải cách hành chính có những nỗ lực vượt bậc, tiếp tục thực hiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục đem lại sự hài lòng cho người dân Tình hình an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội được giữ vững

Các lĩnh vực văn hóa xã hội, giáo dục, y tế tiếp tục có nhiều khởi sắc Tình hình

an ninh trật tự được đảm bảo; thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, hỗ trợ sửa chữa và xây mới 69 nhà ở cho người có công…

Về công tác giảm nghèo: Toàn quận có có 1.169 hộ nghèo còn sức lao động và

569 hộ cận nghèo; phấn đấu năm 2019 giảm 240 hộ nghèo và giảm 160 hộ cận nghèo UBND quận tiếp tục triển khai các giải pháp giúp đỡ hộ nghèo, rà soát hộ cận nghèo; Tiếp tục thực hiện chương trình an sinh xã hội và thực hiện mục tiêu “thành phố 4 an”

Tổ chức vận động và cấp phát quà Tết của các Doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đóng góp trao tặng cho hộ nghèo, hộ chính sách khó khăn và các đối tượng Bảo trợ xã hội được 2.845 suất quà

2.2 Đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước khu vực nghiên cứu

Hệ thống thoát nước khu vực nghiên cứu là hệ thống thoát nước chung Trong đó nước mưa và nước thải được đi chung một hệ thống cống và tại khu vực cửa xả dọc sông và biển sẽ bố trí các giếng tràn nước thải để đưa về trạm xử lý nước thải Ngũ Hành Sơn

Hình 2.2 Sơ đồ mạng lưới thoát nước của khu vực nghiên cứu

2.2.1 Hiện trạng lưu vực và mạng lưới thoát nước chính

Khu vực nghiên cứu nằm giữa sông Hàn và biển Đông, có độ dốc nghiêng về hai phía với đường phân thủy là đường Ngô Quyền với hai lưu vực thoát nước chính là lưu vực phía Đông và lưu vực phía Tây Khu vực nghiên cứu bao gồm các lưu vực sau: [12]

 Lưu vực 1:

- Phạm vi lưu vực: Giới hạn bởi các đường Võ Văn Kiệt, Ngô Quyền, Hồ Xuân Hương và đường ven biển Diện tích lưu vực 305ha, lưu vực này thoát nước ra biển Đông qua 02 cửa xả của các tuyến cống chính:

+ Tuyến cống Nguyễn Công Trứ - Lê Hữu Trác: Tuyến cống hộp bắt đầu từ đường Phạm Văn Đồng chạy dọc đường quy hoạch T20, Lê Hữu Trác và đổ ra biển Đông, Khẩu độ đoạn Nguyễn Công Trứ - Lê Hữu Trác 2x2,5x1,5m, đoạn Lê Hữu Trác 3x3,0x1,5m

Cống thu gom nước thải dẫn đến

DUT.LRCC

Trang 32

đường Nguyễn Văn Thoại, chạy dọc đường An Thượng đổ ra Biển Đông qua cửa xả CX4 trên đường Ngô Thì Sĩ, khẩu độ tuyến cống từ 2x2,0x1,5m đến 3x3,0x1,5m

Hình 2.3: Bản đồ thoát nước lưu vực 1 (Nguồn từ Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn và

được đính kèm ở mục A của phần Phụ lục) [17]

 Lưu vực 2:

- Phạm vi lưu vực: Giới hạn bởi các đường Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Ngũ Hành Sơn, Hồ Xuân Hương Diện tích lưu vực 210ha Lưu vực này thoát nước ra sông Hàn qua 8 cửa xả của các tuyến cống chính:

+ Hai Tuyến cống dọc đường Phạm Hữu Kính đổ ra sông Hàn với khẩu độ D800 đến D1500

+ Tuyến cống trên đường Lê Văn Hưu đổ ra sông Hàn với khẩu độ D800 đến D1500

+ Và các tuyến cống trên đường An Tư Công Chúa; Mỹ An 17; Mỹ An 10; Mỹ

An 9; Hàm Tử; một số tuyến cống dọc đường Chương Dương Các cửa xả có khẩu độ B=1,0m-4,2m

Hình 2.4: Bản đồ thoát nước lưu vực 2 (Nguồn từ Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn và

được đính kèm ở mục A của phần Phụ lục) [17]

 Lưu vực 3:

- Phạm vi lưu vực: Phía Bắc giới hạn bởi đường Hồ Xuân Hương, phía Tây giới hạn bởi sông Cổ Cò, phía Nam giới hạn đường Nguyễn Đức Thuận và phía Đông giới hạn đường Trường Sa, Võ Nguyên Giáp Diện tích lưu vực 321ha Hướng thoát nước của lưu vực này thoát nước ra biển Đông và sông Cổ Cò

Hình 2.5: Bản đồ thoát nước lưu vực 3 (Nguồn từ Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn và

Lưu vực trạm xử lý nước thải Ngũ Hành Sơn:

+ Tuyến Chương Dương: thu gom nước thải phía đông sông Hàn từ cầu Trần Thị

Lý đến cầu Tiên Sơn, chảy tới tuyến cống trên đường Lê Văn Hiến về trạm xử lý nước thải Ngũ Hành Sơn Tuyến cống bao gồm các loại ống:

DUT.LRCC

Trang 33

Bảng 2.3: Tuyến cống thuộc tuyến Chương Dương [15]

+ Tuyến ven biển: tuyến cống đặt trên đường Võ Nguyên Giáp thu gom nước thải khu vực ven biển từ đường Nguyễn Văn Thoại đến khách sạn Furama, chảy tới tuyến cống trên đường Lê Văn Hiến về trạm xử lý nước thải Ngũ Hành Sơn Tuyến cống bao gồm các loại ống:

Bảng 2.4: Tuyến cống thuộc tuyến ven biển [12]

+ Tuyến Lê Văn Hiến: thu gom nước thải từ 2 tuyến Chương Dương và ven biển, chảy về trạm xử lý Ngũ Hành Sơn Tuyến cống bao gồm:

Bảng 2.5: Tuyến cống thuộc tuyến Lê Văn Hiến

Tuy nhiên, hiện nay hệ thống đường ống cấp 1 thu gom nước thải về Trạm xử lý không đáp ứng được yêu cầu do sự gia tăng về lượng khách du lịch và sự đô thị hóa tại khu vực nghiên cứu Các bơm bơm nước thải hiện đã bơm hết công suất, do đó chỉ còn phương án xây dựng mới các đường ống thu gom

2.2.2.2 Mạng lưới cấp 2 và 3

Mạng lưới thoát nước cấp 2 bao gồm các cống nằm dọc hai bên đường Do đặc

DUT.LRCC

Trang 34

trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo tiền đề phát triển du lịch biển Nên mạng lưới cấp 2 của khu vực được xây dựng với mật độ cao, đặc biệt ở các khu tái định cư, khu dân cư mới (phường Mỹ An- Mỹ Khê) Tuy nhiên do cống được xây dựng qua nhiều thời kỳ nên không đồng nhất về tiêu chuẩn, chất lượng cũng như hiệu quả vận hành Một số tuyến khớp nối chưa hợp lý, thậm chí ngược cao độ Công tác bảo dưỡng vận hành chưa đảm bảo yêu cầu vì vậy nhiều tuyến cống bị bồi lắng hoặc thậm chí bị lấp, tắc, nhất là các tuyến mương đất hở

Mạng lưới cấp 3 là hệ thống cống nằm trong kiệt hẽm Đối với khu dân cư mới, trước và sau nhà đều có hệ thống thoát nước, nước thải được thu gom bởi hệ thống cống sau nhà sau đó đấu nối vào cống thoát nước mưa trước nhà Tuy nhiên sự phân định này chỉ có tính tương đối, vì không có quy định nào người dân không được dấu nối nước mưa vào mương sau nhà Đối với khu dân cư hiện trạng, là hệ thống cống trước nhà để vận chuyển cả nước mưa và nước thải Mạng lưới cấp 3 ít được quan tâm, bảo dưỡng nên dễ bị hư hỏng và tắc nghẽn Phần lớn các cống cấp 3 trên địa bàn hiện

bị tắc nghẽn do bùn, cát và gạch đá xây dựng Đặc biệt khu Nam cầu Trần Thị Lý, hiện tượng tắc nghẽn thường xuyên xảy ra

Hình 2.6: Mạng lưới cấp 3 bị hư hỏng, bồi lấp tại đường Nguyễn Tư Giãn

Vào mùa khô, mạng lưới vận chuyển nước thải sinh hoạt và nước ngầm thấm vào làm tăng lưu lượng nước thải cần bơm về trạm xử lý nước thải Vào mùa mưa, có trường hợp nước thải sẽ theo nước mưa dâng lên miệng hố ga, cửa thu nước mưa tràn

ra lòng đường

2.2.2.3 Trạm bơm

Các trạm bơm nước thải xây dựng dọc theo tuyến cống bao, mục đích để bơm dâng nước thải, giảm chiều sâu chôn cống Thành phố Đà Nẵng sử dụng các trạm bơm chìm bằng bê tông cốt thép hình tròn, dạng giếng chìm, nằm dưới mặt đất, đường kính trạm bơm từ 4 - 6m Loại trạm bơm này không chiếm nhiều diện tích vì phần lớn nó nằm dưới đất Hầu hết các trạm bơm khi xây dựng đều được lắp đặt hệ thống truyền tín hiệu (SCADA) về trung tâm dữ liệu được đặt tại TXL nước thải Hòa Cường

DUT.LRCC

Trang 35

Hình 2.7: Sơ đồ hệ thống các trạm bơm nước thải hiện trạng khu vực nghiên cứu

- Hệ thống thu gom của trạm bao gồm 6 trạm bơm nước thải: SPS3, SPS4,

- Các trạm bơm được xây dựng nhằm thu gom nước thải từ các tuyến cống thu gom nước thải từ các tuyến cống thu gom hoặc cấu trúc chuyển dòng

- Mỗi trạm bơm làm bằng bê tông cốt thép và được trang bị gồm:

+ Một hoặc nhiều bơm làm việc đặt chìm và một bơm đặt chìm dự phòng

+ Mỗi bơm có một van cổng và một van một chiều để không cho nước thải chảy ngược vào bơm khi ngưng vận hành

+ Van chính hai chiều để làm trống các tuyến ống nâng chính

+ Một tủ điện điều khiển và một quạt thông gió được đặt bên trong tủ điện

Hình 2.8: Hình ảnh tủ điện

DUT.LRCC

Trang 36

Giếng tách được đặt trước các cửa xả, có chức năng tách và thu nước thải cùng với một phần nước mưa đợt đầu vào tuyến cống bao để đưa về trạm xử lý nước thải tập trung Khu vực nghiên cứu có 8 cái giếng tràn được bố trí tại dọc tuyến sông Hàn thuộc tuyến đường Chương Dương và 3 cái giếng tràn tại tuyến biển thuộc tuyến đường Võ Nguyên Giáp Cấu tạo của giếng tràn như hình 2.9 và hình 2.11:

Hình 2.9: Cấu tạo Giếng tràn thuộc tuyến sông tại tuyến đường Chương Dương

Giếng tách loại này có tường tràn hầu hết tại cao độ +0,6m, không có cửa lật ngăn nước chảy ngược từ nguồn tiếp nhận vào hệ thống cống bao

Hình 2.10 Giếng tràn thuộc tuyến sông tại tuyến đường Chương Dương

Cao độ tường tràn tại +0,60m là phù hợp với thủy triều cao điển hình tại sông Hàn Tuy nhiên, tần suất 2 năm, thủy triều cao hơn mức +0,60m có nguy cơ tràn nước sông vào hệ thống cống bao, làm tăng lưu lượng tại các trạm bơm và TXLNT, gia tăng chi phí hoạt động và ảnh hưởng đến chất lượng nước thải đầu vào TXL Cùng với đó, việc đặt cao độ tường tràn tại mọi giếng đều như nhau, khiến cho những giếng có độ sâu đáy cống thấp (nhỏ hơn 0,00m) tất cả nước mưa chảy tràn vào hệ thống cống bao

DUT.LRCC

Trang 37

Hình 2.11: Giếng tràn SPS 3, SPS 4, SPS 34 tại tuyến biển

Bố trí nơi có địa hình trũng thấp, cao độ đáy cống thấp hơn +1.50, Dự án đầu tư cơ

sở hạ tầng ưu tiên xây dựng giếng tách này có thêm van lật ngăn triều, ngăn chặn nước biển cũng như cát tràn vào hệ thống cống bao Khi mưa lớn, áp lực nước mưa sẽ đẩy mở cửa lật, nước xả ra ngoài Do vậy, giếng tách này đã phát huy được hiệu quả Tuy nhiên, vẫn có hiện tượng một số cửa lật bị kẹt bởi rác, gạch đá, không mở được khi mưa to hoặc không đóng chặt được gây nước nguồn bị tràn ngược vào hệ thống Cần có đội ngũ vận hành, bảo dưỡng các giếng tách này một cách thường xuyên hơn nữa

Hình 2.12: Giếng tràn và cửa xả tuyến biển

Hiện nay do quá trình đô thị hóa tăng nhanh, lượng nước thu gom trong hệ thống thu nước vượt quá thiết kế ban đầu Đặc biệt những ngày mưa lớn nước thải kết hợp với rác trong cống thu gom chảy về cơ cấu tách dòng quá nhiều dẫn đến tràn ra ngoài gây mất mỹ quan khu vực (tại bãi biển Mỹ Khê, khu Resort Furama ); bốc mùi hôi thối ảnh hưởng đến các hộ dân kinh doanh xung quanh khu vực

Hình 2.13: Nước thải tràn ra biển tại các giếng tràn nằm tại khu vực tuyến biển

DUT.LRCC

Trang 38

Hệ thống thoát nước được xây dựng qua nhiều thời kỳ, các cửa thu nước mặt đường có nhiều loại cấu tạo và kích thước khác nhau Hầu hết các cửa thu không có chức năng ngăn mùi hoặc nếu có thì hoạt động không hiệu quả Các tấm đan mương thu và cửa thu đã bị hỏng, vỡ gây hở làm phát sinh mùi hôi từ cống thoát nước bốc lên Mùi hôi trong cống bốc lên đang gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống người dân xung quanh Để tránh mùi hôi, rất nhiều cửa thu đã bị người dân bịt lại bằng bao bì, áo mưa, bạt nhựa thậm chí dùng cả gạch và vữa xi măng làm cho nước mưa không chảy vào được hệ thống cống gây ngập úng khi mưa lớn Bên cạnh đó cửa thu

có lưới chắn được xây dựng các năm trước đây trong quá trình thu nước đã làm ứ đọng nước do rác và lá cây quấn vào gián tiếp gây ra tình trạng ngập úng

Hình 2.14 Hình ảnh của thu nước mưa bị bịt lại bởi rác và hư hỏng

Qua khảo sát thực tế, hiện nay các cửa thu nước mưa được chia thành 3 loại chính như sau:

Hình 2.15 Loại 1 – Cửa thu dạng bó vỉa, không có lưới chắn rác

DUT.LRCC

Trang 39

Hình 2.16 Loại 2 - cửa thu nước có song chắn rác

Hình 2.17 Loại 3 - Cửa thu nước dạng bó vỉa hợp khối với hố ga

Hệ thống thoát nước khu vực nghiên cứu là hệ thống chung có giếng tràn, hệ thống được chia ra là 3 cấp: mạng cấp 3 và đấu nối hộ gia đình (tập hợp các tuyến cống nhỏ đấu nối giữa các hộ hoặc một nhóm hộ gia đình với mạng lưới thoát nước), mạng cấp 2 (cống chuyển tải nước thải từ mạng cống cấp 3 đến các giếng tràn), mạng cấp 1 (các tuyến công bao thu gom nước thải từ các tuyến nhánh và tập trung về trạm xử lý)

Về việc triển khai xây dựng thí điểm hệ thống thoát nước thải riêng kết hợp với Trạm Xử lý nước thải được đầu tư xây dựng mới trên địa bàn Quận Ngũ Hành Sơn

DUT.LRCC

Trang 40

được môi trường

2.2.3 Tình trạng đấu nối của các đơn vị thoát nước

2.2.3.1 Hiện trạng đấu nối

Hệ thống thoát nước trong nhà người dân Đà Nẵng thường có 2 hệ thống thoát nước độc lập là hệ thống thoát nước tắm rửa Hệ thống thoát nước nhà vệ sinh thường được xây dựng bao gồm 3 bể: bể chứa, bể thấm, bể lắng Các bể hay được gọi là các bi thường được xây dựng bằng các cống bê tông có đường kính D800 và dài 1,2m, mỗi

bể sử dụng từ 2-3 cống đặt chồng lên nhau Bể chứa và bể lắng đều được đổ bê tông lót đáy còn bể thấm thường được đặt thẳng xuống nền cát để nước thải sau khi đi qua

hệ thống các bể sẽ ngấm xuống đất

Ngoài ra hệ thống các bể này còn được xây dựng theo dạng hình hộp được xây bằng gạch và đổ bê tông đáy với hình dạng và kích thước khác nhau Đối với hệ thống thoát nước thải tắm rửa thường được xây dựng 2 bể là bể chứa và bể thấm Các bể này đều được đặt ngay phía sau nhà cạnh khu vực nhà vệ sinh và nhà tắm, nhà bếp Các đường ống thoát nước trong nhà sử dụng ống nhựa uPVC đường kính D60-D150 Hệ thống thoát nước tắm, nước rửa mới chỉ được lắp đặt các phễu thoát sàn mà không lắp đặt các xiphong để đảm bảo hiệu quả ngăn mùi tốt Các ống thoát nước thường được đăt sau từ 0,2-1m so với nền nhà Các hộ gia đình đều lắp đặt ống thông hơi cho các bể

xử lý nước thải

2.2.3.2 Nguồn phát sinh nước thải

a Nước thải sinh hoạt hộ gia đình

Nước thải sinh hoạt trong hộ gia đình bao gồm hai nguồn nước thải là nước thải đen (nước xả của các bồn cầu, chậu tiểu, ) và nước thải xám (nước từ nhà tắm, chậu rữa, phòng bếp, )

Để đánh giá công tác đấu nối nước thải của hộ/đơn vị thoát nước Tác giả đã triển khai 2 đợt khảo sát vào ngày 16-19/8/2019 và ngày 20-23/9/2019, số lượng phiếu khảo sát là 100 phiếu ngẫu nhiên nằm rãi rác trên toàn bộ khu vực nghiên cứu

Bảng 2.7: Kết quả điều tra đấu nối hộ/đơn vị

(%)

I Điều kiện thoát nước hộ/đơn vị

1

Nước thải từ nhà vệ sinh, bồn

rửa,… của hộ/đơn vị được thải

vào đâu?

Hệ thống thoát nước chung 93 Thải trực tiếp ra bên ngoài nhà 7

2 Nhà vệ sinh của hộ/đơn vị thoát

nước có bể tự hoại hay không?

3 Nước thải từ bể tự hoại của Thải trực tiếp ra bên ngoài nhà 0

DUT.LRCC

Ngày đăng: 16/06/2021, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w