1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận chung về sản xuất hàng hóa. Thử đặt mình vào vị trí nhà sản xuất để làm rõ trách nhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa.

9 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 323,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu lí luận về sản xuất hàng hóa, ta nhận ra rằng sản xuất hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển đời sống con người, giúp con người ngày càng sống thoải mái hơn, thỏa mãn nhiều nhu cầu hơn, và một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thành công ấy chính là nhà sản xuất. Nhà sản xuất hay các doanh nghiệp giữ vị trí thiết yếu, điều khiển tiết nền sản xuất hàng hóa, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, điều gì cũng có hai mặt. Trong xã hội, bên cạnh những nhà sản xuất tích cực kinh doanh theo cách lành mạnh thì vẫn luôn tồn tại những nhà sản xuất làm ăn gian trá, chạy theo lợi nhuận mà gây ảnh hưởng tiêu cực tới người tiêu dùng. Đóng vai một nhà sản xuất, để thực hiện trách nhiệm xã hội với người tiêu dùng, em sẽ thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trên 4 khía cạnh sau: • Khía cạnh kinh tế • Khía cạnh pháp lý • Khía cạnh đạo đức • Khía cạnh nhân văn, từ thiện. 1.Khía cạnh kinh tế Đóng vai nhà sản xuất, đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh: • Cung cấp những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng cần, nghiên cứu về sự thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng và nhanh chóng bắt kịp. • Cung cấp sản phẩm chất lượng tốt trên thị trường, đảm bảo tốt các tiêu chuẩn đầu ra của sản phẩm, không cung cấp hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. • Nếu hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật thì cần kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường, thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và kịp thời thu hồi. Đồng thời bồi thường thỏa đáng cho những người tiêu dùng đã mua phải hàng có khuyết tật. • Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ để người tiêu dùng có thể so sánh giá và đưa ra lựa chọn tối ưu. • Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, không cung cấp thông tin sai sự thật, phóng đại về lợi ích của hàng hóa, dịch vụ. • Không thực hiện các hành vi đầu cơ, tích trữ, gây khan hiếm hàng hóa sau đó đẩy giá lên cao thu lợi nhuận. Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý. 2.Khía cạnh pháp lý. Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Những điều luật như thế này sẽ không những bảo vệ khách hàng, người tiêu dùng mà còn bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự. Cụ thể trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Luật số: 59/2010/QH12. Đóng vai là nhà sản xuất, ta cần tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó gây dựng được lòng tin với người tiêu dùng, mang lại uy tín cho doanh nghiệp, nhờ vậy mới có thể phát triển lâu dài và bền vững. 3. Khía cạnh đạo đức. Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật. Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật. Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của công ty. Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên hữu quan.Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật lệ và quy định.Nhưng vì đạo đức kinh doanh liên quan đến lợi nhuận nên khó có nhiều doanh nghiệp thực sự có đạo đức kinh doanh. Khi đạo đức kinh doanh tăng lên một phần lợi nhuận kinh doanh sẽ giảm đi do doanh nghiệp chi trả nhiều hơn cho chi phí: bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng hàng hóa,... Chính vì vậy, khi vận dụng đạo đức vào kinh doanh cũng cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng. Nhưng ngày nay, lòng tin của người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp đang bị tổn thương nghiêm trọng trước tình trạng làm ăn gian dối, thiếu trách nhiệm với cộng đồng đã trở nên phổ biến. Mối đe dọa về hàng kém chất lượng, nhất là những sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, và tình trạng môi trường sống bị hủy hoại nghiêm trọng đang ngày càng tăng lên. Nguyên nhân gây ra chủ yếu liên quan tới vấn đề đạo đức kinh doanh: • Chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả mà sản xuất ra các sản phẩm kém chất lượng, gây nguy hiểm đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của người tiêu dùng. • Sản xuất hàng nhái bán với giá rẻ, lừa người tiêu dùng cả tin. • Cắt bớt các khoản chi phí cho việc xử lí chất thải, gây ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng tới sức khỏe con người... Từ đó ta cần rút ra rằng, mỗi nhà sản xuất phải luôn có cho mình đạo đức kinh doanh, để làm được như vậy thì trong vai trò là nhà sản xuất, ta cần: • Ý thức rõ ràng về phạm trù đạo đức cơ bản, phổ biến trong truyền thống luân lý tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa như: sự phân biệt thiện và ác, lương tâm, nghĩa vụ, nhân đạo… • Cần tiếp thu đạo đức phát sinh trong xã hội mới nước ta, các chuẩn mực đạo đức mới để áp dụng vào kinh doanh như: tính trung thực, tính tập thể,… • Tính trung thực: Nhất là trong công việc kinh doanh thì không nên sử dụng các triêu trò, mua gian, bán dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ đúng lời thề hẹn và lời hứa với các khách hàng của công ty mình, nhất quán kể cả trong từng lời nói và cách làm. Trung thực trong việc chấp hành luật kinh doanh của nhà nước, không buôn gian bán dối, không làm những công việc trái lương tâm và trái với quy định pháp luật cho phép, không buôn lậu thuế. Không thực hiện những điều trái với thuần phong mỹ tục cũng như làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam, trung thực trong từng cử chỉ và giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phán, kí kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp, trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô… • Tính tôn trọng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng.  Các chuẩn mực đạo đức kinh doanh là cơ sở tình cảm và trí tuệ cụ thể định hướng trong các hoạch định của tổ chức kinh doanh để đảm bảo được sự phát triển kinh tế xã hội cho doanh nghiệp của minh.4. Khía cạnh nhân văn, từ thiện. Một trong những biện pháp hữu hiệu để thực hiện trách nhiệm xã hội với người tiêu dùng đó chính là hoạt động từ thiện: • Tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật • Hỗ trợ trẻ em mồ côi • Xây dựng nhà tình nghĩa • Ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai... • Đặc biệt trong thời kỳ dịch Covid xảy ra thì các doanh nghiệp còn có thể ủng hộ vào quỹ vaccin ngừa Covid-19, ví dụ như công ty Golf Long Thành ủng hộ 500 tỷ, hay Tập đoàn Vingroup 450 tỷ,... Quan trọng hơn cả, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực tới người tiêu dùng, hay chính là giảm bớt ngoại ứng tiêu cực (ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp gây bất lợi, áp đặt chi phí lên người tiêu dùng)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Bài Tập Lớn Môn : Kinh tế chính trị

Đề tài 1: Lý luận chung về sản xuất hàng hóa Thử đặt

mình vào vị trí nhà sản xuất để làm rõ trách nhiệm xã

hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất

hàng hóa

Họ và tên:

Mã sv:

Lớp:

Hà Nội 2021

Trang 2

Lời mở đầu

Ngày xưa, nhu cầu của con người thường được ông cha ta gói gọn trong câu: “Ăn no, mặc

ấm” nhưng ngày nay, qua một thời kỳ dài phát triển kinh tế, nhu cầu ấy đã trở thành: “Ăn ngon, mặc đẹp” Vậy sự thay đổi này là do đâu? Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, sản xuất xã

hội mang tính tự cung tự cấp, nhu cầu của con người bị gói gọn trong một giới hạn nhất định do sự hạn chế của lực lượng sản xuất Chỉ đến khi lực lượng sản xuất phát triển và có những thành tựu nhất định, nhu cầu của con người mới dần được đáp ứng nhiều hơn Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng chính là nhân tố dẫn đến đến sự thay đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa Có thể nói sự xuất hiện của nền kinh tế sản xuất hàng hóa không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn Nghiên cứu về nền sản xuất hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế Trong bài tiểu luận này, em xin trình bày lí luận chung về sản xuất hàng hóa và trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa Do sự hạn chế về hiểu biết nên bài viết này của em có thể khó tránh khỏi những sai sót, em mong sẽ nhận được sự góp ý của cô để bài viết trở nên hoàn thiện hơn

I Lí luận chung về sản xuất hàng hóa

1 Sản xuất hàng hóa và tính tất yếu

Khái niệm: Theo C.Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất

ra sản phẩm không nhằm phục vụ mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán

Tính tất yếu:

Ở thời kỳ đầu của lịch sử loài người, sản xuất tự cung tự cấp chiếm vị trí chủ yếu, sản phẩm của lao động chỉ để phục vụ trực tiếp nhu cầu của chính người sản xuất ra chúng Đây là kiểu tổ chức sản xuất tự nhiên khép kín trong phạm vi từng đơn vị nhỏ, không cho phép mở rộng quan hệ với các đơn vị khác Vì vậy nó có tính chất bảo thủ, trì trệ, bị giới hạn ở nhu cầu hạn hẹp

Sản xuất tự cung tự cấp thích ứng với thời kỳ lực lượng sản xuất còn chưa phát triển, khi mà lao động thủ công chiếm địa vị thống trị Nó có trong thời kì công xã nguyên thủy và tồn tại chủ yếu trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Trong thời kỳ phong kiến, sản xuất tự cung tự cấp tồn tại dưới hình thái điền trang, thái ấp của địa chủ và kinh tế nông dân gia trưởng

Khi lực lượng sản xuất phát triển cao, phân công lao động được mở rộng thì dần dần xuất hiện trao đổi hàng hóa Khi trao đổi hàng hóa trở thành mục đích thường xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hóa ra đời theo đúng quy luật tất yếu của nó

2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội khi có những điều kiện nhất định Theo C Mác thì sự ra đời và tồn tội của sản xuất hàng hóa phụ thuộc vào hai điều kiện cơ bản sau:

• Phân công lao động xã hội:

+Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội vào các ngành nghề khác nhau trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định

+ Biểu hiện của sự phân công lao động xã hội: trình độ phân công lao động xãhội ngày càng chi tiết

Trang 3

+ Cơ sở của sự phân công lao động xã hội dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên; khả năng

kỹ thuật; sở trường năng khiếu của từng người, từng đơn vị,…

+ Vai trò: Sự phân công lao động xã hội là tiền đề của sản xuất hàng hóa vì kéo theo chuyên môn hóa sản xuất Mỗi người, mỗi đơn vị chỉ sản xuất một hoặc vài loại sản phẩm nhất định tuy nhiên nhu cầu cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều sản phẩm khác nhau, do đó dẫn đến nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất Từ đây trao đổi hàng hóa xuất hiện dẫn đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa Điều này còn góp phần tăng năng suất lao động chính vì vậy ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư được mang đi trao đổi

 Như vậy, có thể nói, phân công lao động xã hội chính là cơ sở, là tiền đề, là điều kiện cần của quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa

• Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất

+ Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa

+ Những người sản xuất hàng hóa có quyền độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm Khi sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản xuất tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích của họ Điều đó chỉ

có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá, có đi có lại tức làtrao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa Sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất trong xã hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm giữa họ trở thành trao đổi hàng hóa và do đó sản xuất sản phẩm giữa họ là sản xuất hàng hóa

+Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về quyền sở hữu

+ Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất biểu hiện ra là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thuộc về các chủ thể (các cá nhân, các gia đình…) trong xã hội Do sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng thì sự tách biệt về kinh tế không chỉ ở sự khác biệt về quyền sở hữu mà còn khác biệt ở quyền sử dụng những khối lượng tư liệu sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu Xã hội loài người càng phát triển, càng làm cho sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, nền sản xuất hàng hóa vì thế càng ngày càng phát triển phong phú

 Vì vậy, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển

➢ Kết luận: Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa

Trang 4

Cả hai điều kiện không được thiếu một điều nào, thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ

không có sản xuất hàng hóa

3.Đặc trưng của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

• Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ

chức kinh tế đối lập với sản xuất tự cung tự cấp trong thời kì đầu của lịch sử loài người Sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu

dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán

• Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã

hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm

ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Còn tính tư nhân thể hiện ở việc sản xuất cái gì, như thế nào ? Đây là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa

• Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải giá trị sử

dụng

4.Ưu thế của sản xuất hàng hóa

So với nền sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có những ưu điểm nổi bật sau:

• Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con người:

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng gia tăng cả về lượng và chất, sản xuất hàng hóa giúp cho họ có nhiều sự lựa chọn hơn để đáp ứng nhu cầu của mình Góp phần cải thiện đời sống xã hội đồng thời làm tăng khả năng lao

động của xã hội

• Hai là, kích thích sự năng động, sáng tạo của con người: Trong nền sản xuất hàng

hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng,hiệu quả kinh tế ngày càng

cao

• Ba là, sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn rộng mở, từ góp phần

thúc đẩy văn minh cho con người: Do sản xuất hànghoá dựa trên sự phân công lao

động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự

nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng,sâu sắc.Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh

thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn

Trang 5

➢ Kết luận:Như vậy, sản xuất hàng hóa có hiệu quả hơn hẳn tự cung, tự cấp và tạo động lực

phát triển sản xuất, thay đổi diện mạo nền kinh tế

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng có mặt trái và tác động tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như:

• Phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất

• Chạy theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, thậm chí hàng hóa độc hại cũng có thể đem ra trao đổi gây tổn hại cho xã hội

• Sản xuất không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh thái…

 Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước

II Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong việc sản

xuất hàng hóa

Tìm hiểu lí luận về sản xuất hàng hóa, ta nhận ra rằng sản xuất hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển đời sống con người, giúp con người ngày càng sống thoải mái hơn, thỏa mãn nhiều nhu cầu hơn, và một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thành công ấy chính là nhà sản xuất Nhà sản xuất hay các doanh nghiệp giữ vị trí thiết yếu, điều khiển tiết nền sản xuất hàng hóa, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Tuy nhiên, điều gì cũng có hai mặt Trong xã hội, bên cạnh những nhà sản xuất tích cực kinh doanh theo cách lành mạnh thì vẫn luôn tồn tại những nhà sản xuất làm ăn gian trá, chạy theo lợi nhuận mà gây ảnh hưởng tiêu cực tới người tiêu dùng Đóng vai một nhà sản xuất, để thực hiện trách nhiệm xã hội với người tiêu dùng, em sẽ thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trên 4 khía cạnh sau:

• Khía cạnh kinh tế

• Khía cạnh pháp lý

• Khía cạnh đạo đức

• Khía cạnh nhân văn, từ thiện

1.Khía cạnh kinh tế

Đóng vai nhà sản xuất, đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng

và cạnh tranh:

• Cung cấp những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng cần, nghiên cứu về sự thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng và nhanh chóng bắt kịp

• Cung cấp sản phẩm chất lượng tốt trên thị trường, đảm bảo tốt các tiêu chuẩn đầu ra của sản phẩm, không cung cấp hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng

• Nếu hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật thì cần kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường, thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và kịp thời

Trang 6

thu hồi Đồng thời bồi thường thỏa đáng cho những người tiêu dùng đã mua phải hàng có khuyết tật

• Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch

vụ để người tiêu dùng có thể so sánh giá và đưa ra lựa chọn tối ưu

• Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, không cung cấp thông tin sai sự thật, phóng đại về lợi ích của hàng hóa, dịch vụ

• Không thực hiện các hành vi đầu cơ, tích trữ, gây khan hiếm hàng hóa sau đó đẩy giá lên cao thu lợi nhuận

Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động của doanh nghiệp Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý

2.Khía cạnh pháp lý

Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan Những điều luật như thế này sẽ không những bảo vệ khách hàng, người tiêu dùng mà còn bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự

Cụ thể trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Luật số: 59/2010/QH12

Đóng vai là nhà sản xuất, ta cần tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó gây dựng được lòng tin với người tiêu dùng, mang lại uy tín cho doanh nghiệp, nhờ vậy mới có thể phát triển lâu dài và bền vững

3 Khía cạnh đạo đức

Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật

Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua

cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật

Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của công ty Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên hữu quan

Trang 7

Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật lệ và quy định.Nhưng vì đạo đức kinh doanh liên quan đến lợi nhuận nên khó có nhiều doanh nghiệp thực sự có đạo đức kinh doanh Khi đạo đức kinh doanh tăng lên một phần lợi nhuận kinh doanh sẽ giảm đi do doanh nghiệp chi trả nhiều hơn cho chi phí: bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng hàng hóa,

Chính vì vậy, khi vận dụng đạo đức vào kinh doanh cũng cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng

Nhưng ngày nay, lòng tin của người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp đang bị tổn

thương nghiêm trọng trước tình trạng làm ăn gian dối, thiếu trách nhiệm với cộng đồng đã trở nên phổ biến Mối đe dọa về hàng kém chất lượng, nhất là những sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, và tình trạng môi trường sống bị hủy hoại nghiêm trọng đang ngày càng tăng lên Nguyên nhân gây ra chủ yếu liên quan tới vấn đề đạo đức kinh doanh:

• Chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả mà sản xuất ra các sản phẩm kém chất lượng, gây nguy hiểm đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của người tiêu dùng

• Sản xuất hàng nhái bán với giá rẻ, lừa người tiêu dùng cả tin

• Cắt bớt các khoản chi phí cho việc xử lí chất thải, gây ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Từ đó ta cần rút ra rằng, mỗi nhà sản xuất phải luôn có cho mình đạo đức kinh doanh, để làm được như vậy thì trong vai trò là nhà sản xuất, ta cần:

• Ý thức rõ ràng về phạm trù đạo đức cơ bản, phổ biến trong truyền thống luân lý tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa như: sự phân biệt thiện và ác, lương tâm, nghĩa vụ, nhân đạo…

• Cần tiếp thu đạo đức phát sinh trong xã hội mới nước ta, các chuẩn mực đạo đức mới để áp dụng vào kinh doanh như: tính trung thực, tính tập thể,…

• Tính trung thực: Nhất là trong công việc kinh doanh thì không nên sử dụng các triêu trò, mua gian, bán dối, xảo trá để kiếm lời Giữ đúng lời thề hẹn và lời hứa với các khách hàng của công ty mình, nhất quán kể cả trong từng lời nói và cách làm Trung thực trong việc chấp hành luật kinh doanh của nhà nước, không buôn gian bán dối, không làm những công việc trái lương tâm và trái với quy định pháp luật cho phép, không buôn lậu thuế Không thực hiện những điều trái với thuần phong

mỹ tục cũng như làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam, trung thực trong từng cử chỉ và giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phán, kí kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp, trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô…

• Tính tôn trọng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng

 Các chuẩn mực đạo đức kinh doanh là cơ sở tình cảm và trí tuệ cụ thể định hướng trong các hoạch định của tổ chức kinh doanh để đảm bảo được sự phát triển kinh tế xã hội cho doanh nghiệp của minh

Trang 8

4 Khía cạnh nhân văn, từ thiện

Một trong những biện pháp hữu hiệu để thực hiện trách nhiệm xã hội với người tiêu dùng đó chính là hoạt động từ thiện:

• Tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật

• Hỗ trợ trẻ em mồ côi

• Xây dựng nhà tình nghĩa

• Ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai

• Đặc biệt trong thời kỳ dịch Covid xảy ra thì các doanh nghiệp còn có thể ủng hộ vào quỹ vaccin ngừa Covid-19, ví dụ như công ty Golf Long Thành ủng hộ 500 tỷ, hay Tập đoàn Vingroup 450 tỷ,

Quan trọng hơn cả, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực tới người tiêu dùng, hay chính là giảm bớt ngoại ứng tiêu cực (ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp gây bất lợi, áp đặt chi phí lên người tiêu dùng)

Ví dụ :

Nếu doanh nghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà cơ sở tiêu thụ và tìm cách cải thiện nó, ngoài ra còn phải tìm biện pháp bảo đảm tính mạng người tiêu dùng khi sử dụng phương tiện này

Doanh nghiệp sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu và tìm cách xử lý nó ngoài ra cần xem sản xuất bao nhiêu, khai thác bao nhiêu là đủ để không gây ra nạn phá rừng, làm sụt giảm cây xanh, ảnh hưởng tới bầu khí quyển, gián tiếp ảnh hưởng sức khỏe con người

Có thể nói doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới người tiêu dùng Lợi ích của người tiêu dùng là do doanh nghiệp quyết định, vậy nên mỗi nhà sản xuất cần phải thực hiện đúng pháp luật kinh doanh, kinh doanh một cách tích cực, lành mạnh, đảm bảo cho lợi ích người tiêu dùng

➢ Kết luận:

• Lợi ích của người sản xuất thống nhất với lợi ích của người tiêu dùng

• Người sản xuất phải thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng

• Người tiêu dùng đến lượt mình lại thúc đẩy sự phát triển sản xuất

Hết

Ngày đăng: 16/06/2021, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w